BẢN TIN ĐẶC BIỆT TRONG NGÀY 20 THANG 7 NAM 2021 – NTN TONG HOP

BẢN TIN ĐẶC BIỆT TRONG NGÀY 20 THANG 7 NAM 2021 – NTN TONG HOP
Journau3Ballkreisel14

Mời quí vị tham tường những tiết mục dưới đây.Chúc quí vi và gia đình an vui hạnh phúc. Chúng tôi cám ơn quí thân hữu đã chia sẻ một trong những tiết mục trân quí này với bạn bè.
NTN
DẬY MÀ ĐI – FORMOSA GET OUT OF VIETNAM
Hồi Trống Tự Do – Lê Hoàng Trúc (Le Hoang Truc)
Việt Nam Ơi – Hợp Ca
Liên khúc Nhạc Nhật Bản : Tiễn anh trong mưa (Ribaibaru) – Tàn tro (Nokoribi)
NHỮNG CA KHÚC HAY NHẤT CỦA LAM PHƯƠNG [NEW] -2 [18 Ca Khúc]
TRĂNG HAY HOA DÒNG THƠ LƯU DUNG SA CHI LỆ VIẾT & DIỄN NGÂM
“Nếu Ngày Mai” Thơ Dương Đình Hưng. Nhạc: Nguyễn Ánh 9. Đèo Văn Sách trình bày
CHỈ LÀ BÀN TAY THÔI NHƯNG QUÁ TUYỆT VỜI !

 

 
Inline image

19JUL21: PHÁP SẼ BỎ TÙ NHỮNG AI KHÔNG CÓ PASSPORT CHỦNG NGỪA!

https://www.youtube.com/watch?v=eSIRqjV9Pww

#673 19JUL21: TEXAS CÓ THỂ SẼ KIỂM PHIẾU BẦU 2020

https://www.youtube.com/watch?v=6iilfkKKsKM

THOI SU 07-19-2021-DƯƠNG ĐẠI HẢI

https://www.youtube.com/watch?v=G4kHmy99tgw

July 19, 2021 Sonia Ohlala

https://www.youtube.com/watch?v=V80vGHM67z4

THỜI SỰ CUỐI TUẦN 18/7/2021: Bắc Kinh tập trân đe dọa Đài Loan, giữa lúc họ Tập “dịu giọng” tại APEC

https://www.youtube.com/watch?v=vzWZQtYLhoI&t=23s

Thời Sự Biển Đông – VN Bệnh Dịch Bùng Phát & Chiến Tranh Leo Thang – Ngày 20/07/2021..
LDL talkshow poster.jpg
Thân mời quý anh chị em xem buổi nói chuyện do Myseum và Làng Dưỡng Lão Tuổi Hạc Ontario kết hợp tổ chức.
Myseum là trang web gồm các sinh hoạt văn hóa của nhiều sắc dân thuộc thành phố Toronto, một Bảo tàng viện – Museum online.
Duy Hân được hân hạnh là một trong những phụ huynh cùng chia sẻ tâm tình với giới trẻ.
Buổi live stream được trực tiếp dịch ra Anh Ngữ cho người ngoại quốc cùng xem, Hân đã học được nhiều điều hay và nhất là cảm phục tinh thần của tuổi trẻ – đại diện là các thiện nguyện viên của LDL.

Trang web Myseum

Chúc tất cả vui khoẻ, mọi sự như ý
Hân
 
                           Chính sách đàn áp tù nhân chính trị tại Hiệp Chủng Quốc
 
Video clip ghi nhận buổi biểu tình lần thứ hai, trước nhà tù Washington, D.C, chống lại việc đàn áp tù nhân chính trị…
ngày Thứ Bảy, 17/07/2021…Bây giờ mới biết, không thể ngờ, Hoa Kỳ cũng có chính sách đàn áp tù nhân chính trị như thế này..

Look Ahead America DC Rally to #FreePoliticalPrisoners (High Quality) – July 17, 2021

Xin click vào link dưới đây:
                                                Jonathan Swift (1667-1745)
                  Nhà Văn Ái Nhĩ Lan với Tác Phẩm Các Chuyến Du Lịch của Gulliver

Jonathan Swift (1667 – 1745) là một nhà văn người Ái Nhĩ Lan, tác giả của cuốn truyện “Các Chuyến Du Lịch của Gulliver” (Gulliver’s Travels, 1726). Ông đã dùng truyện này để châm biếm sự bất công của xã hội của Anh ở thế kỷ thứ 18 và tin rằng không có hai con người bằng nhau, tức là luôn luôn có người này tài giỏi hơn, người kia tài kém hơn, bởi vì mọi người không phải sinh ra bằng nhau nhưng không đồng ý về sự ưu tiên dành cho các người sinh ra từ các gia đình quyền quý. Ông Jonathan Swift đã chỉ trích sự không công bằng giữa người giàu có và kẻ nghèo hèn, phê phán sự phân biệt giai cấp không được căn cứ trên tài năng.

Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc “Jonathan Swift (1667-1745) Nhà Văn Ái Nhĩ Lan với Tác Phẩm Các Chuyến Du Lịch của Gulliver” được biên soạn bởi tác giả Phạm Văn Tuấn về một đại tác phẩm trong nền văn chương khôi hài, châm biếm và đả kích tệ trạng xã hội.

http://www.dslamvien.com/2021/07/jonathan-swift-1667-1745-nha-van-ai-nhi.html

Guliver.jpg
Đặc San Lâm Viên

dslamvien.com

Thư số 117a gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

                                                                                                                    Phạm Bá Hoa

Tôi là người Việt Nam tị nạn cộng sản, và đang sống tại Hoa Kỳ. Ước mơ của tôi là được trở về Việt Nam, sống trên quê hương cội nguồn của mình dưới chế độ dân chủ tự do. Vì vậy mà tôi tổng hợp các tin tức và chọn lọc vào nội dung, giúp Các Anh và những thành phần chọn chế độ dân chủ tự do có nét nhìn rộng hơn và rõ hơn, về những sự kiện trên thế giới liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp đến mục tiêu ngăn chận tham vọng thống trị thế giới của Trung Cộng, mà Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển đang thực hiện. Và khi nhóm lãnh đạo Việt Cộng tự suy yếu do tội ác của họ lần lượt được nội bộ vạch trần, hoặc khi Trung Cộng suy yếu thì lãnh đạo Việt Cộng không còn chỗ dựa, đó là cơ hội cho Các Anh và toàn dân đứng lên giành lại Quyền Làm Người của mình, nối tiếp dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ ngàn năm trước.

Là Người Lính trong quân đội gắn liền với hai chữ “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc và Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Với Thư này, tôi giúp Các Anh và những thành phần đã chọn dân chủ tự do, nhìn lại xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 trên đất Bắc, và từ năm 1975 đến nay trên toàn cõi Việt Nam, từ góc nhìn của hai nhà văn nhà thơ đã một thời trong đoàn quân từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tấn công nước Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, và nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế, mà chính Tổng Bí Thư Việt Cộng là Lê Duẫn đã tuyên bố. 

Thứ nhất. Các nhóm lãnh đạo Việt Cộng dưới nét nhìn của nhà thơ Tô Hoài. 

Image result for Nhà thơ Tô Hoài. Size: 221 x 160. Source: kenh14.vn

Tô Hoài, tên thật là Nguyễn Sen, chào đời năm 1920 tại Thanh Oai, Hà Đông, trong một gia đình thợ thủ công. Bút danh Tô Hoài do gắn liền hai địa danh là “sông Lịch và phủ Hoài Đức. Đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là với truyện Dế Mèn Phiêu Lưu Ký.

Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn Hóa Cứu Quốc. Trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, ông hoạt động báo chí. Từ đó đến nay đã hơn sáu mươi năm hoạt động văn hoá, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: Truyện ngắn, truyện dài, hồi ký, viết phim bản, tiểu luận …

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời bao cấp” dưới nét nhìn của nhà văn nhà thơ Tô Hoài:

“Bao cấp”, là tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm, cho đến lương thực hàng ngày. “Bao cấp” từ năm 1945 đến năm 1975 là trên đất Bắc, và từ năm 1975  đến năm 1986 là trên toàn cõi Việt Nam”.

Trên đất Bắc, trước khi bước vào thời kỳ bao cấp, Hà Nội đã sống trong “ảo giác no đủ” của những ngày đầu khi từ rừng rú tiến vào Hà Nội theo Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954. Nhà văn Tô Hoài viết trong hồi ký “Cát Bụi Chân Ai”, xin tóm lược như sau:

“Chín năm ở trong rừng, không có tiền, không có lương thực, quần áo thì được phát theo mùa, xà phòng tắm và giặt cũng lấy ở kho ra từng miếng, cơ quan sắm dao kéo hớt tóc cho nhau. Khi vào Hà Nội, khó đâu chưa biết, nhưng thức ăn hàng hóa ê hề so với lúc ở trong rừng. Chiều chiều, uống bia Đức loại chai lùn bên gốc liễu nhà Thủy Tạ. Nhà hàng Phú Gia rượu vang đỏ, vang hồng, vang trắng, vỏ còn dính rơm như vừa lấy ở dưới hầm lên. Áo khoác da lông cừu Mông Cổ ấm rực, người ta mua về phá ra làm đệm ghế. Hàng Trung Hoa thôi thì thượng vàng hạ cám.

Cái cảm tưởng cả loài người tiến bộ trên thế giới đển mừng Việt Nam thắng trận Điện Biên Phủ”, chỉ là một giấc ngủ ngày, bất ngờ thiếp đi trong khoảnh khắc, để rồi bừng con mắt dậy với thực tế phũ phàng của đêm đen. Vì hàng hóa nhiều như nói ở trên, không phải do Hà Nội sản xuất, mà vì nó có sẳn trong các kho dự trữ của thực dân Pháp, và khi tiến vào Hà Nội chúng ta mở các kho là trông thấy và thụ hưởng. Vì nguồn hàng không tự mình sản xuất, nên nó cạn kiệt một cách nhanh chóng sau thời gian ngắn. Và từ đó, khởi đầu một thời kỳ tụt hậu kéo dài 21 năm trên đất Bắc (1954-1975), và 11 năm trên toàn cõi Việt Nam (1975-1986).

Nhìn lại năm 1955, công báo Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã công bố quy định của nhà nước, về sinh hoạt hằng ngày của toàn dân, như sau:

Công nhân viên, mỗi năm được cấp từ 5 đến 7 thước vải, khi sinh đẻ được cấp thêm 5 mét “diềm bâu” khổ 7 tấc. Bình quân cứ 10 người người dân đọc một tờ báo Nhân Dân và báo Cứu Quốc. Các thành phần viên chức từ Thường Vụ Ban Thường Trực Quốc Hội, Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, các chuyên gia ngoại quốc, các đoàn ngoại giao, được mua quạt điện.

Tất cả mọi hình thức kinh doanh đều được quản trị theo phương thức xã hội chủ nghĩa và do nhà nước lãnh đạo. Nhân viên làm việc trong các cơ quan, hay người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh, chỉ được nhận một phần tiền lương rất ít bằng tiền mặt, số tiền còn lại sẽ được quy ra tem phiếu, riêng gạo thì những ai được cấp “sổ mua gạo” mới được mua”.

Theo những con số thống kê trong tập san Kinh Tế Việt Nam 1955-2000, nếu so với giá trị đồng bạc năm 1978, thì mức lương năm 1980 chỉ bằng 51,1%  và năm 1984 chỉ còn 32,7% (so với năm 1978). Đó là mức suy giảm đáng sợ, khi so sánh giữa giá hàng với tiền lương.

Tập san Kinh Tế giải thích: “Không có thị trường tự do về buôn bán cũng như trao đổi các mặt hàng, điển hình là món hàng đậu phộng. Người trồng đậu phộng với số lượng thu hái được trong vụ mùa vừa qua,  sau khi để lại số lượng đậu phộng vừa đủ làm giống cho vụ sau, người trồng đậu phộng không được ăn nó, cũng không được bán nó cho người dân nào, mà phải bán cho Hợp Tác Xã theo giá mà cơ quan này qui định. Đối với đậu phộng -cũng như các nông sản khác- dùng chế biến thực phẩm đưa vào sử dụng trong xã hội, thì nhà nước quản trị chặt chẽ trên thị trường, không để ai buôn bán kiếm lời”.

Bất cứ sản phẩm nào trong xã hội nói chung và trong nhà dân nói riêng, cũng bị nhà nước quản trị chặt chẽ. Với phương thức lãnh đạo này, đảng với nhà nước biến toàn dân thành một thứ đất sét, và lãnh đạo toàn quyền nhào nặn theo ý muốn của họ. Đời sống của người dân, hoàn toàn  trong tay nhà nước Nhà nước phân phối từ vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc, đến các món hàng được mua bổ sung như xà phòng giặt, giấy dầu, xi măng, khung xe đạp, võ xe đạp ..v..v…

Mỗi gia đình công nhân viên, được cấp một sổ mua gạo với số lượng tương đương theo tiêu chuẩn của các cá nhân từ 16 đến 21 kí lô mỗi tháng đối với người lớn. Tùy theo mức độ lao động, lao động nặng thì được hưởng nhiều gạo hơn. Cán bộ viên chức thì số lượng gạo được mua ít vì lao động nhẹ, nhưng lại được cấp phiếu mua các mặt hàng thiết yếu nhiều hơn người dân. Trẻ em ăn theo người trong gia đình, căn cứ theo tiêu chuẩn gạo của cha mẹ, và sẽ tùy theo lứa tuổi được hưởng  từ 10-14 kí lô mỗi tháng.

Mà mua được gạo cũng là  một vấn đề. Mỗi khu vực dân cư chỉ được mua gạo tại một cửa hàng mậu dịch lương thực do nhà nước chỉ định. Cửa hàng có quyền ấn định “lịch bán hàng” cho từng tổ. Vì vậy mà hình ảnh thường thấy là người lớn và trẻ em, phải đi xếp hàng từ 3 giờ sáng để giữ chỗ, phòng khi cửa hàng bán nửa chừng hết gạo thì nhịn đói. Mỗi người có sổ mua gạo phải dùng cục gạch, chiếc dép, hay mảnh gỗ để giành chỗ và có người đứng cạnh đó để giữ (thường là trẻ con). Khi đến giờ cửa hàng mở cửa thì “người thật” sẽ đứng vào chỗ mà mình đã giành.

Cho dẫu khi đứng trước cửa hàng, cũng không có nghĩa là được mua trước, vì có “loại sổ mua hàng ưu tiên” dành cho viên chức cao cấp, hoặc do người mua “móc ngoặc” với người bán hàng, họ vẫn được gọi vào mua trước cho dù họ đứng tuốt đằng sau cũng vậy.  

Thời bao cấp, nhà nước kiểm soát chặt chẽ cái bụng của người dân, ngang qua sổ gia đình và sổ gạo rất hữu hiệu. Cũng vì vậy mà thời ấy có thuật ngữ “buồn như mất sổ gạo”. Vì mất sổ gạo quan trọng hơn mất tiền, mà kiếm được đồng tiền không phải dễ. Khi gạo mua được dù là gạo tốt hay  gạo xấu, gạo sạch hay gạo dơ, cũng phải nhận. Đến lúc thiếu gạo, thì nhà nước thay thế bằng bột mì do Liên Xô viện trợ, bằng khoai mì khô sắt lát, bằng bắp, bo bo, hay gạo tấm. Gạo tấm, khi nấu thành cơm thì 1 lon chỉ bằng 1/3 so với gạo thường.

Những câu vè dưới đây nói lên giá trị của những mặt hàng thời bao cấp: Nhất gạo nhì rau. Tam dầu tứ muối. Thịt thì đuôi đuối. Cá biển mất mùa. Đậu phụ chua chua. Nước chấm nhạt thếch. Mì chính có đếch. Vải sợi chưa về. Săm lớp thiếu ghê, Cái gì cũng thiếu.

“Trong khi người dân thường chỉ được mua 150 gram thịt, thì cán bộ cao cấp được mua đến 6 kí lô -tức 40 lần nhiều hơn- chưa nói đến những thứ khác. Rõ ràng là nhiệt tình “cách mạng” của từng loại cán bộ, chỉ xoay quanh mục tiêu ăn uống! Vì vậy, có câu rằng: “Cán bộ cao, ăn cung cấp. Cán bộ thấp, ăn chợ đen. Cán bộ quen, ăn cổng hậu”.

Tóm tắt. Thời bao cấp, người dân lúc nào cũng bị đói, từ đói, dẫn đến đạo đức suy đồi, và gá trị con người càng ngày càng xuống thấp.

Vẫn trong tác phẩm “Cát Bụi Chân Ai”, Tô Hoài viết tiếp:

Trong một nhà hàng rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn để không bị ăn cắp. Trong khi các quán mậu dịch giải khát -kể cả quán cà phê- cũng phải đục một lỗ thủng các muỗng nhôm để đánh dấu, vì sợ khách hàng ăn cắp. Thật vậy, vì trong xã hội bao cấp, nạn ăn cắp bất cứ vật dụng tốt xấu, chỉ cần sử dụng được là dễ dàng bị ăn cắp, vì quá thiếu thốn. Đến mức có câu rằng: Chính sách em học đã thông. Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều”.

Việt Nam thời bao cấp, xã hội bị phân hóa không thể tưởng, đến mức nó trở thành nghịch lý với chủ trương của xã hội chủ nghĩa là cuốn mọi người vào một thế giới vô sản.

Bàn về con người và tư tưởng thời bao cấp, Vương Trí Nhàn -nhà nghiên cứu văn hoá- nhận định:

“Cái hèn mà ta vốn khinh ghét, cái hèn đó ngấm ngầm ăn vào máu ta. Hèn theo nhiều nghĩa. Lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt. Lúc ấy, mọi người chỉ dám mơ ước có được những niềm vui rất tầm thường, như:

(1) Mua được cân gạo không bị mốc, là vui.

(2) Vợ mới cưới của con trai là cô mậu dịch ở cửa hàng lương thực, là quá vui.

(3) Đi bộ hằng mấy cây số để đến nhà người bạn nghe nhờ radio -máy thu thanh- cũng là quá vui.

Và khi vui, mới nhận ra nỗi khổ đó vẫn đang luân lưu trong dòng máu của mình”.

Ký ức của một người ở Nam Định thời bao cấp.

“Mẹ tôi phải tính đến chuyện làm thêm, tăng gia sản xuất, cắt gốc rau muống, rau khoai để nuôi heo. Lột võ đậu phộng mướn cho ngành ngoại thương. Bốn mẹ con tôi chỉ có một cái giường để ngủ. Đậu phộng chất trong cao đến nóc, trong khi hai con heo nằm ngay dưới gầm giường. Cứ mỗi trận mưa to hay bão mạnh, thì giấy dầu lợp mái nhà bay tứ tung. Bốn mẹ con và hai con heo ngồi ôm nhau, vài cái xô đặt bên cạnh để hứng nước. Nước dưới chân giường chảy qua như suối, cá rô đi hàng đàn, những con “ba ba” bò lổm ngổm. Mỗi lần như vậy thì mẹ tôi chỉ ngồi khóc, và ba anh em tôi cũng khóc theo. Khóc, vì sợ nước thấm vào làm hư đậu phộng làm nỗi khổ càng cao thêm. Và khóc, cũng vì sợ hai con heo chết đi, thì cuối năm biết bấu víu vào đâu đế có tiền trả nợ”.

Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 …

Khi “chế độ bao cấp” tràn vào đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 –>, thì “vựa lúa này” bị chính sách “ngăn sông cấm chợ” của “bên thắng cuộc” bao vây, bởi lệnh cấm nông dân không được bán các loại nông sản -kể cả lúa- cho bất cứ ai, mà tất cả phải bán cho nhà nước với giá do nhà nước qui định, dưới tên gọi ”giá nghĩa vụ” hay “giá khuyến khích”. Nhưng, dưới mắt nông dân thì dù “giá nghĩa vụ hay giá khuyến khích”, cũng là cách mà nhà nước vừa mua vừa ăn cướp trên tay của nông dân. Nhưng, khi các cửa hàng mậu dịch của nhà nước bán cho người dân, giống như mậu dịch viên hách dịch như bố thí, chớ không phải trao hàng cho người bỏ tiền ra mua.

Năm 1978, giá thành 1 thước vuông vải “calicot” do công ty dệt Thành Công sản xuất với giá thành 1,5 đồng, nhưng phải bán cho nhà nước với giá 1,2 đồng. Nhìn công nhân của công ty đóng gói hàng xuất để bán cho nhà nước dưới giá thành sản xuất mà rơi nước mắt, vì theo giá bán này chỉ một thời gian ngắn trước mắt là công ty đóng cửa. Và rất có thế, đó là chính sách, “thay vì nhà nước ra lệnh đóng cửa công ty, thì nhà nước đẩy công ty vào tình cảnh họ tự đóng cửa công ty của họ”.

Tại Sài Gòn, một số cơ quan, xí nghiệp “lách luật”, bằng cách “đi đêm” với xí nghiệp bạn hoặc với tư thương, và công ty mua bán lương thực của bà Ba Thi – tức Nguyễn Thị Ráo- là trường hợp điển hình.

Năm 1980, bà Ba Thi -với trình độ lớp 4 tiểu học-  được nhà nước cộng sản cử vào chức Giám Đốc công ty để lo cung cấp lương thực cho gần 4.000.000 dân với “giá mua bán không bù lỗ”, cũng không nhằm thu lời cao. Từ đó, xã hội bắt đầu hình thành những “mafia kinh tế”, dần dần tạo ra một giai cấp mới là “tư sản đỏ lòm”.

Năm 2006, báo Tiền Phong dùng nhóm chữ “màu thời gian xám ngắt” (nhái chữ của nhà thơ Đoàn Phú Tứ “màu thời gian tím ngát” trong bài thơ Hương Thời Gian) để nhắc lại cái bóng kinh hoàng của thời bao cấp: Màu thời gian không xanh. Màu thời gian tím ngát. Hương thời gian không nồng. Hương thời gian thanh thanh.

Năm 1986, Cũng may, “người ta” -ám chỉ lãnh đạo đảng Việt Cộng- thấy được sai lầm chết người, nên mới có cái gọi là “thời kỳ đổi mới suy tư về kinh tế”. (trích dẫn và tóm lược bài của Nguyễn Ngọc Chính. Xin phép tác giả là tôi thay những chữ trong văn hoá Việt Cộng chỏi lỗ tai, bằng những chữ Việt Nam truyền thống nhẹ nhàng)’

Thứ hai. Các nhóm lãnh đạo Việt Cộng dưới nét nhìn của Bà Dương Thu Hương.  

Thưa quý vị, với nội dung này tôi trích dẫn và tóm lược bài viết trong Wikipedia + bài phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái năm 2005 + bài phỏng vấn của Nguyễn Huy Đức năm 2006 + và bài phỏng vấn của Quốc Phương đài BBC năm 2009.

Người được phỏng vấn là bà Dương Thu Hương, người phụ nữ bên thắng cuộc. (Bên Thắng Cuộc là tựa một quyển sách của Huy Đức)

Bà từng là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, bị khai trừ khỏi đảng vào năm 1989.

Năm 1994, Bà được Bộ Trưởng Văn Hoá Pháp -ông Jacques Toubon trao tặng Huân Chương Văn Hoá Nghệ Thuật (Chevalier des Arts et des Lettre). 

Tháng 4/2006, bà được mời sang Paris (Pháp), sau đó sang New York (Hoa Kỳ) dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế.

Xin có đôi lời để mong quý vị thông cảm, sở dĩ tôi giữ nguyên những chữ quá mạnh -nếu không nó là chói tai- khi Bà Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn của đài BBC, và sau đó là nhà báo Đinh Quang Anh Thái, vì đó là tính cách của Bà.

Và đây là lời của Bà Dương Thu Hương:

Tôi chào đời năm 1947 tại tỉnh Thái Bình trên đất bắc.

Năm 1955 -lúc ấy 8 tuổi- tôi trong đoàn học sinh tiểu học, do nhà trường dẫn đi dự buổi đấu tố những người bị xếp vào hàng địa chủ trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, và bị giết chết ngay tại chỗ.

  • BẢN TIN TỪ DIỄN ĐÀN