CDC Thông báo, tử vong chỉ 9, 683 người, không phải 182,685 như trước đây

* CDC Thông báo, tử vong chỉ 9, 683 người, không phải 182,685 như trước đây
        *BẢN TIN THỜI SỰ NỔI BẬT HÔM NAY:

1-BIẾM-MINH HỌA ĐẶC BIỆT:

*SLIDERS:

4-CLIPS QUAN TRỌNG:

*TƯỞNG NIỆM 911 – NGÀY NẦY NĂM XƯA !!!
* Toàn cảnh cuộc biểu tình ủng hộ và chống đối Tổng thống Donald Trump
* TIN CỰC NÓNG: VN B.ẮT GIỮ HẦM IN TIỀN GIẢ
LÊN ĐẾN 10 TẤN, MỆNH GIÁ 2 ĐẾN 500 NGÀN, GÂY
CHẤN ĐỘNG
* NỔI DA GÀ KHI LẦN ĐẦU GẶP BÉ THẦN ĐỒNG MỸ BIẾT NÓI 20 NGÔN NGỮ – HELLO ATLANTA
* Không tưởng tượng Joe Binden quỳ trước đưa bé.
* HÀNG TRIỆU CỬ TRI VÙNG NGOẠI Ô KÉO NHAU DỒN PHIẾU ỦNG HỘ TT TRUMP KHIẾN ĐẢNG DÂN CHỦ KHÓC RÒNG
* Bài P/V của báo chí Quận Høje Kolstrup bằng tiếng Đan Mạch bà cụ 100 tuổi 2 lần tỵ nạn Cộng sản !
* Khoác cái áo lên người là tiền vô như nước, thỏa thích ăn chơi rượu chè gái gú

5- FACEBOOK:

* Nhóm phá hoại này do vợ chồng Nguyễn Thành Tín cầm đầu đến khủng bố tinh thần gia đình luật sư Tony Phạm
* KÍNH GỞI CÁC HUYNH TRƯỞNG VÀ CÁC CHIẾN HỮU THUỘC TRƯỜNG SĨ QUAN TBTD
* JOE BIDEN QUỲ CẢ TRƯỚC CON NÍT ĐỂ XIN PHIẾU
* Tìm Cha: Thiếu Tá TRẦN ĐỨC HY. Số quân 360 – 010. Khóa 11 Trường Võ Bị Đà Lạt…4
* NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI CỦA LUẬT SƯ PHẠM THÊU
*Chân thành giới thiệu với quý vị trên diễn đàn:
*Tạp Chí VĂN HỌC MỚI SỐ 8 vừa phát hành tại Hoa Kỳ & khắp nơi trên thế giới qua AMAZON.
Điều hành: HÀ NGUYÊN DU
Đại diện phát hành tại Toronto: NGUYỄN VY KHANH
• Liên Lạc: vanhocmoi68@gmail.com

6- TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

*CDC Thông báo, tử vong chỉ 9, 683 người, không phải 182,685 như trước đây
* Cảnh báo: Trò lừa vote by Mail của Dân Chủ
* Chân dung tin tặc Việt vừa bị trục xuất sau 7 năm ngồi tù ở Mỹ
* ĐIÊU NGOA, NGANG NGƯỢC, LẠM QUYỀN – PELOSI PHẠM LUẬT CÒN HÙ DỌA DÂN!
*21 Quan Điểm của Chính Quyền Trump với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
Nguyễn Ngọc Chu
* Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp ĐẠO CAO ĐÀI”.
*TRẦN THẾ PHONG: CÂY THÂU ĐÂU
*”HỌA SỈ MAY” Duy Nhất Trên Thế Giới
* VĂN HOÁ ỨNG XỬ (CỦA NGƯỜI NHẬT)
* CUỘC ĐỜI ĐAU THƯƠNG CỦA LOÀI CHIM YẾN
* Cà pháo, cà chua, cà rốt và cà phê – hay câu chuyện về Yersin
***
*TÌM CHA
***
*Nghĩa Trang Sư Đoàn 23 Bộ binh QLVNCH tại TP. Buôn Ma Thuột đang bị bỏ hoang phế!

7-TRUYỆN NGẮN HAY CHỌN LỌC

* TRÀM CÀ MAU: Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc:
* PHẠM TÍN AN NINH: Nợ đời một nửa còn một nửa ơn em
*TIỂU TỬ: TÓC TRẮNG
*CHU TẤT TIẾN: CHUYỆN KINH DỊ: SỬA MŨI

*KÍNH MỜI GHÉ THĂM WEB MỚI
https://hangoc2020.blogspot.com/

*SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ

*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

* PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN *THANH THANH * THU MINH * BS TRẦN XUÂN DŨNG * HỒ THỤY MỸ HẠNH * TÍM * NHƯ NHIÊN * Ý NGA * ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN * KIỀU PHONG * SA CHI LỆ *
**
7-DÒNG THƠ XƯỚNG HỌA, QUÝ THI SĨ:

*TÍM * HẢI RỪNG * ANH NGUYÊN * HỒ NGUYỄN *
*THẢO CHƯƠNG TRẦN QUỐC VIỆT * NGƯỜI QUA ĐƯỜNG *

***
*BIẾM-MINH HỌA: SLIDERS

*

***
*CLIPS QUAN TRỌNG:

*TƯỞNG NIỆM 911 – NGÀY NẦY NĂM XƯA !!!


September 11, 2001 – As It Happened – The South Tower Attack


Crowds run for shelter during September 11th attacks in NYC


* Toàn cảnh cuộc biểu tình ủng hộ và chống đối Tổng thống Donald Trump

* TIN CỰC NÓNG: VN B.ẮT GIỮ HẦM IN TIỀN GIẢ
LÊN ĐẾN 10 TẤN, MỆNH GIÁ 2 ĐẾN 500 NGÀN, GÂY CHẤN ĐỘNG

* NỔI DA GÀ KHI LẦN ĐẦU GẶP BÉ THẦN ĐỒNG MỸ BIẾT NÓI 20 NGÔN NGỮ – HELLO ATLANTA

* Không tưởng tượng Joe Binden quỳ trước đưa bé.

* HÀNG TRIỆU CỬ TRI VÙNG NGOẠI Ô KÉO NHAU DỒN PHIẾU ỦNG HỘ TT TRUMP KHIẾN ĐẢNG DÂN CHỦ KHÓC RÒNG

* Bài P/V của báo chí Quận Høje Kolstrup bằng tiếng Đan Mạch bà cụ 100 tuổi 2 lần tỵ nạn Cộng sản !

* Khoác cái áo lên người là tiền vô như nước, thỏa thích ăn chơi rượu chè gái gú

***
*Nhóm phá hoại này do vợ chồng Nguyễn Thành Tín cầm đầu đến khủng bố tinh thần gia đình luật sư Tony Phạm
https://www.facebook.com/groups/Cahuvi/permalink/317418172677387/
***
*KÍNH GỞI CÁC HUYNH TRƯỞNG VÀ CÁC CHIẾN HỮU THUỘC TRƯỜNG SĨ QUAN TBTD
*Tuần qua TNV của TƯỞNG NHỚ VÀ TRI ÂN đã tiếp xúc anh Chuẩn úy Phạm Tuyết SQ 73/148126.
Vào mùa hè đỏ lửa anh đã gia nhập vào QLVNCH khóa 3/73 . Đến ngày 15/12/1973 anh tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy, và được bổ nhiêm về Sư Đoàn 2BB với chức vụ trung đội trưởng Đ Đ 3. Tiểu đoàn 2, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 2 BB do Chuẩn Tướng Trần văn Nhật là Tư lệnh Sư đoàn.
Trong một cuộc tấn công chiếm mục tiêu tại xã Tịnh Châu, quận Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi ngày 1/3/1974 anh bị thương cụt 2 chân
Sau hơn 45 qua anh cũng như các anh TPB khác, đi bán vé số dạo để nuôi 3 con và 1 vợ. Hiện nay các con của anh đã có gia đình, cũng khó khăn trong cuộc sống hiện nay..
Anh đang có những chứng bịnh thiếu màu cơ tim, bịnh viêm gan C. và thoái hóa cột sống cỏ và lưng nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn.
Hởi các bạn đồng đội xin giúp đở anh trong này, vì anh không còn sống bao lâu để chúng ta giúp
Tất cả chi tiết địa chỉ, xin inbox cho Suzie Phan
XIN CẢM TẠ VÀ GOD BLESS TO ALL
TƯỞNG NHỚ VÀ TRI ÂN

FB SUZY PHAN

https://www.facebook.com/Suephan1951
***
*JOE BIDEN QUỲ CẢ TRƯỚC CON NÍT ĐỂ XIN PHIẾU

https://www.facebook.com/100007132960169/posts/2684166668497739/

Khoi Nguyen | Facebook
***
NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI CỦA LUẬT SƯ PHẠM THÊU
https://www.facebook.com/phuonghan.nguyen.391082/posts/1041274829639165
***
*Chân thành giới thiệu với quý vị trên diễn đàn:
*Tạp Chí VĂN HỌC MỚI SỐ 8 vừa phát hành tại Hoa Kỳ & khắp nơi trên thế giới qua AMAZON.
Điều hành: HÀ NGUYÊN DU
Đại diện phát hành tại Toronto: NGUYỄN VY KHANH
Liên Lạc: vanhocmoi68@gmail.com ***
*TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

*CDC Thông báo, tử vong chỉ 9, 683 người, không phải 182,685 như trước đây

CDC thông báo. Gấp 16 lần ít hơn! Khủng khiếp! Có tin được thống kê?
Mấy ngày vừa qua, , có 1 số anh chị yêu cầu tôi bàn luận về con số thật sự tử vong mà CDC đưa ra cho năm nay là 9,683 người , chứ không phải là 182,685 người như CDC đã thông báo lâu nay.
Nhiều ngày nay, tôi tránh không muốn bàn về vấn đề này vì nhiều bạn hữu hay nổi giận bất tử, và tôi không muốn chuyện đó xẩy ra.
Bây giờ CDC đã đưa con số chính thức là 9,685 người tử vong về Covid19 rồi.
Con số này, hai anh Hoàng Cơ Định và Nguyễn Trọng Đạt có nhắc tới rồi.
Tôi chỉ muốn bàn luận lý do tại sao có sai lầm (182,685 ) gấp hơn X16 lần con sốcon số thực sự dưới 10,000 người được đưa ra lâu nay. ?
Con số 9,683 người thật sự chết vì Covid19 là 6% của tổng số (sai lầm) 182,685 tửvong mà CDC lâu nay vẫn lầm.
Thật tình ra, nếu trách CDC hoàn toàn lỗi thì cũng oan cho họ.
Họ là nơi nhận đuoc tất cả các báo cáo tử vong về Pandemic Covid19 như TT Trump đã ra lệnh cho họ.
Các báo cáo này là do các Counties làm, đưa lên văn phòng ông Thống Đốc , và từđó được chuyển lại CDC và Bộ Y Tế.
Các counties các tiểu bang có agenda riêng của họ
Con số tử vong càng lên cao, thì các counties , cung như Tiểu Bang, nhận được nhiều tiền trợ cấp của Washington.
Lâu nay, các counties phóng đại lên hơn X16 lần để lãnh thêm tiện viện trợ y tế cấp cứu.
Thật tình ra, các Tiểu Bang Cộng Hòa phóng đại “vừa phải” hay không phóng đại , còn các Tiểu Bang Dân Chủ phóng đại lên rất nhiều.
Cộng đi, cộng lại, rồi sén bớt, rồi chia ra, thì chúng ta có con số 94% phóng đại và6% tử vong thực sự.
Chúng ta có các người già cả trên 100 tuổi tại Pennsylvania , Chicago, tại LA, tai Seattle … đang nằm trong Hospices chờ chết lâu nay, nhưng khi chết thì họ được tuyên bốlà chết vì Covid19 nếu Test +.
Chúng ta thấy 1 thanh niên phóng Moto trên Freeway tại Florida test+ , cũng được liệt kê là chết vì Covid19.
Chúng ta các người chết về tai nạn lưu thông, các người chết vì say rượu, té xuống vực test + cũng được liết kê là chết vì Covid19.
Có 1 đồng nghiệp nhiều ngày trước mang ra thống kê của Nghiệp Đoàn bác sĩ Nhi Khoa để nói với tôi là có rất nhiêu em bé / nhi đồng / chết vì Covid19 , trong khi đó tờ báo cáo chỉ nói là Death associated with Covid19 mà thôi.
Các sự phóng đai này đã được nhiều người nêu lên trong mấy tháng vừa qua, nhưng vì lý do chính trị, báo chí không nhắc tới việc này hay nói là 1 sự bịa đặt / vu khống/ của các người Cộng Hòa.
Thật tình ra chỉ cần có common sense/ bon sens/ nhận xét căn bản/ là thấy ngay sựphóng đại sai lầm này.
Dân số Hoa Kỳ môi năm tử vong theo 1 cái curve và 1 thống kê có sẵn, không thay đổi nhiều về con số tổng quát, ngoại trừ có trường hợp đặc biết.
Người ta đã phân biệt ra rõ ràng hàng năm có bao nhiêu người chết về xe cộ lưu thông, bao nhiều người bị chết vì Drugs addiction dùng cần sa, ma túy, bao nhiêu người chết vì tự tử, bao nhiêu người chết về bệnh tim, bao nhiêu người chết về ung thư, bao nhiêu người chết về bệnh thận, bao nhiêu người chết vì súng ống, có sát, bao nhiêu người chết vì hỏa hoạn, thâm chí , con số bao nhiêu người chết vì chết đuối trong swimming-pool người ta cũng có.
Năm nay, Hoa Kỳ có thêm 1 yếu tố đặc biệt mới , mà mọi năm không có: đó làPandemic Covid19.
Nếu người ta lấy tổng số tử vong về tất cả lý do từ đầu năm tới nay, so sánh và trừđi con số tử vông mỗi năm trong thời gian tương tự của mấy năm qua, thì người ta có con số “đại khái” về số tử vong vì Covid19.
Nếu năm nay, các tử vong về tuổi già, về bệnh tật, về dụng xe, về cố sát , về drugs, vv…xuống rất nhiều, rất thấp, gần như zero , mà con số tử vong về Covid19 tăng vọt lên thì người ta hiểu là có cái gì sai lầm.
Các tử vong về tuổi già, về bệnh tật, về dụng xe, về cố sát , về drugs, ( không kểPandemic Covid19) vv ….nó gần như không thể thay đổi quá lố, hơn 2-3% standard deviation được.
Vì những nhận xét căn bản thường thức như vậy, người ta thấy ngay là con số tửvong Covid19 không thể là 182,000 ngàn trong khi đó, tử vong các bệnh còn lại xuống, vào khoảng 20-30 ngàn , chẳng hạn mà thôi.
Ca Sĩ Jo Marcel có gửi cho tôi 1 video trong attachment ( dài ít hơn 2 phút) , các anh chị thấy 1 cuộc họp báo / Press Conference/ tại Cook County , bao gồm tất cả vùng Chicago Metropolitan Area,
Các người lãnh đạo Y Tế cũng như Hành Chánh của Cook County, trả lời các báo chí TV, Truyền Thông, mặc nhiên công nhận là nếu ông già 100 tuổi , nằm chờ chết ( vìung thư, tim, thận,,,) trong hospice mà test+, thì certificate tử vong sẽ là Covid 19.,
Nếu 1 người say rượu đụng xe mà chết mà test+ , thì sẽ được và tử vong vìCovid19.
Merci Jo Marcel. Je t’embrasse/
Tôi viết bài này quá dài rồi, Xin phép ngưng bút nới đây
Các anh chị có thể đọc tài liệu tôi copy & paste phía dưới, hay đọc toàn diện bài nếu click vào link.
Rất thân men
Nguyen Thuong Vu
https://www.newsmax.com/us/coronavirus-covid-twitter/2020/08/30/id/984567/?ns_mail_uid=9b80e848-ae35-4feb-a395-9ca46dd29eb9&ns_mail_job=DM138753_08312020&s=acs&dkt_nbr=010502ptnnpl ¬¬¬¬¬¬
Revised CDC Figures: Fewer Deaths From COVID-19 Only
The Centers for Disease Control and Prevention issued a report late last week showing that just 9,683 Americans, or 6%, died with only COVID-19 listed on their death certificates, leading to a social media trending topic on the issue.
The other 94% of deaths were listed as having at least one additional medical condition linked to their death.
Some of the underlying diseases listed by the CDC include influenza and pneumonia, respiratory failure, hypertensive disease, diabetes, vascular and unspecified dementia, cardiac arrest, heart failure and renal failure.–
***
*Cảnh báo: Trò lừa vote by Mail của Dân Chủ.Quý vị ơi, đây là video cảnh báo của một cô người Mỹ, cô ghi danh bầu cử cho Đảng Cộng Hòa. Anh trai của cô thì theo Đảng Dân Chủ.
Họ nhận được hai cái phong bì để gửi lá phiếu bầu đi.
Nhìn bề ngoài thì hai phong bì y chang nhau, trên phong bì còn có dòng chữ trấn an tinh thần người dân rằng: Quý vị yên tâm vote qua mail, nó hoàn toàn kín đáo và an toàn. Chúng tôi cam kết …bla bla…
NHƯNG…
Quý vị nhìn kỹ hàng chữ mà cô này chỉ, giữa hai phong bì của anh cô và của cô, nó có ký hiệu để phân biệt: Phong bì của cô ký hiệu chữ R (Republican) còn phong bì của anh cô có chữ D (Democrat)

Vậy thì là lộ hàng hết rồi. Khi quý vị gửi qua bưu điện và gặp phải ai đó trong bưu điện hoặc ban nhận phiếu mà là đám Dân Chủ , thì họ vứt luôn tất cả thư nào có chữ R đi, lá phiếu của quý vị coi như không được tính, và ai biết đâu mà kiện chúng?
Thôi tốt nhất là cứ bầu trực tiếp nha quý vị, không bầu qua mail.
Tâm (click this link to watch the video clip)
https://www.facebook.com/tamankysu/videos/1842760969200103/
Tâm
Cảnh báo: Trò lừa vote by Mail của Dân Chủ Quý vị ơi, đây là video cảnh báo của một cô người Mỹ, cô ghi danh bầu…
***
*Chân dung tin tặc Việt vừa bị trục xuất sau 7 năm ngồi tù ở Mỹ
10/09/2020 11:14 GMT+7
Đứng sau một trong những hệ thống bán danh tính khách hàng lớn nhất từng tồn tại, tin tặc (hacker) Ngô Minh Hiếu kiếm được hơn 3 triệu USD trước khi bị mật vụ Mỹ bắt tại đảo Guam năm 2013.
Ngô Minh Hiếu sinh năm 1989 ở Gia Lai và có biệt danh Hieupc. Vừa được thả và trục xuất về Việt Nam sau 7 năm ngồi tù tại Mỹ, Hiếu đã liên hệ với trang KrebsOnSecurity từ nơi cậu ta đang phải cách ly bắt buộc do dịch Covid-19, để chia sẻ câu chuyện của bản thân. Hiếu hy vọng sẽ thuyết phục những người giỏi về máy tính đừng đi theo vết xe đổ của mình.

Ngô Minh Hiếu trong bức ảnh mới đây. Ảnh: KrebsOnSecurity
Mờ mắt vì tiền
Ở thời đỉnh cao trong “sự nghiệp tội phạm mạng”, Hiếu kiếm tới 125.000 USD/tháng nhờ điều hành dịch vụ bán thông tin cá nhân chi tiết lấy được từ những công ty môi giới dữ liệu hàng đầu thế giới. Và chính lòng tham đã khiến Hiếu rơi vào bẫy của Mật vụ Mỹ.
Trong vài năm bắt đầu từ khoảng 2010, chỉ có một thiếu niên duy nhất ở Việt Nam, tên là Ngô Minh Hiếu, điều hành một trong những dịch vụ nổi tiếng và sinh lời nhiều nhất trên mạng Internet, chuyên bán “fullz” – bộ dữ liệu cá nhân đánh cắp được bao gồm tên, ngày sinh, số thẻ an sinh xã hội, email và địa chỉ thực tế của một khách hàng.
Lúc bị bắt vào năm 2013, Hiếu đã kiếm được trên 3 triệu USD nhờ bán dữ liệu cho những kẻ ăn trộm danh tính và các đường dây tội phạm có tổ chức hoạt động trên đất Mỹ.
Tháng 2/2013, đặc vụ Mỹ Matt O’Neill đã thực hiện thành công kế hoạch dụ Hiếu rời Việt Nam đến Guam, để bắt giữ và đưa ra tòa án tại Mỹ. O’Neill hiện là Giám đốc Trung tâm chiến dịch điều tra toàn cầu của Mật vụ Mỹ, chuyên hỗ trợ điều tra các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia.
O’Neill cho biết đã tiến hành điều tra dịch vụ bán danh tính do Ngô Minh Hiếu điều hành, sau khi đọc về dịch vụ này trong một câu chuyện có tựa đề “Danh tính của bạn trị giá bao nhiêu?” trên trang KrebsOnSecurit năm 2011. Theo ông, hoạt động của Hiếu đã tiếp tay cho cả một thế hệ tội phạm mạng đánh cắp các tài khoản và gian lận tín dụng lên tới hơn 1 tỷ USD.
“Tôi không rõ có tên tội phạm mạng nào gây tổn thất tài chính cho người Mỹ nhiều hơn Hiếu hay không. Cậu ta đã bán thông tin cá nhân của hơn 200 triệu người Mỹ, cho phép mọi đối tượng mua chúng chỉ với giá vài xu”, O’Neill nói.
Khi còn nhỏ, Hiếu được gia đình mua cho một chiếc máy tính và cậu ta đam mê máy tính từ đó. Lớn lên, Hiếu sang New Zealand học đại học và lúc đó, Hiếu đã là admin của nhiều diễn đàn hacker trên web đen. Trong lúc học, nam sinh viên đã phát hiện một lỗ hổng trong mạng lưới máy tính của trường làm lộ dữ liệu thẻ thanh toán. Báo cho quản trị viên IT nhưng không ai quan tâm, Hiếu bèn hack luôn cả hệ thống rồi dùng lỗ hổng đó tấn công các trang web khác và ăn trộm được rất nhiều thẻ tín dụng.
Sau khi bị nhà trường phát hiện và báo cảnh sát, Hiếu phải về nước khi hết học kỳ 1 vì không được gia hạn thị thực. Để trả thù, Hiếu tấn công trang web của trường, khiến nó tê liệt ít nhất 2 ngày.
Về Việt Nam, Hiếu đi học lại nhưng vẫn dành thời gian lần mò trên các diễn đàn tội phạm mạng. Cậu chuyển từ hack cho vui sang hack vì tiền, khi thấy dễ dàng kiếm tiền từ đánh cắp dữ liệu khách hàng. Cậu cũng giao du với một số bạn bè từ các diễn đàn ngầm và bắt đầu nghĩ đến đánh cắp dữ liệu cá nhân để bán.
“Tiền kiếm được quá nhanh đã khiến tôi mờ mắt”, Hiếu tâm sự.

Một trong những trang web của Ngô Minh Hiếu chuyên cung cấp dịch vụ đánh cắp danh tính. Ảnh: KrebsOnSecurity.
Số tiền phi pháp 3 triệu USD
Mục tiêu lớn đầu tiên của Hiếu là công ty báo cáo tín dụng MicroBilt ở New Jersey.
“Tôi hack nền tảng của họ, đánh cắp cơ sở dữ liệu người dùng để có thể dùng đăng nhập khách hàng nhằm tiếp cận dữ liệu [người dùng] của họ. Tôi đã ở trong hệ thống của họ khoảng gần một năm mà họ không hề hay biết”, Hiếu nhớ lại.
Tiếp đó, Hiếu lập trang Superget[.]info, chuyên bán hồ sơ người dùng cá nhân. Ban đầu, dịch vụ của Hiếu được thực hiện thủ công nhưng sau đó, hacker này tìm ra cách sử dụng các máy chủ mạnh ở Mỹ để tự động thu thập lượng lớn dữ liệu người dùng từ các hệ thống của MicroBilt và các hãng dữ liệu khác. MicroBilt đã phát hiện và đẩy Hiếu ra khỏi hệ thống, nhưng Hiếu trở lại được nhờ một lỗ hổng khác.
Sau này, Hiếu tìm thấy một mục tiêu hấp dẫn hơn, đó là công ty Mỹ Court Ventures chuyên lập hồ sơ công cộng từ tài liệu tòa án. Thứ Hiếu quan tâm thực chất là thỏa thuận chia sẻ dữ liệu của Court Ventures với US Info Search, vì hãng môi giới dữ liệu này có khả năng tiếp cận nhiều hồ sơ người dùng nhạy cảm hơn. Bằng một vài thủ thuật, Hiếu thuyết phục được Court Ventures tin mình là một nhà điều tra tư nhân ở Mỹ.
Năm 2012, Court Ventures được mua lại bởi Experian – một trong những tổ chức tín dụng khách hàng lớn của Mỹ. Hiếu trả cho Experian hàng nghìn đôla mỗi tháng để mua dữ liệu khách hàng, thông qua các tài khoản mới lập và đa số ở TC, Malaysia và Singapore.
Đặc vụ O’Neill cho biết, trang web của Hiếu thực hiện hàng chục nghìn lệnh truy vấn mỗi tháng và kiếm bộn tiền nhờ ăn chênh lệch. Trong khi Court Ventures thu của Hiếu 0,14USD, thì cậu ta thu của khách hàng 1USD.
Hiếu bị Mật vụ Mỹ để mắt tới và họ phát hiện một số email Hiếu gửi cho các đồng phạm, hướng dẫn cách thanh toán tiền cho Experian bằng cách chuyển khoản từ các ngân hàng Á châu . Các đặc vụ bắt đầu tìm cách đưa Hiếu vào bẫy.
Tính đến năm 2012, Hiếu đã kiếm được hơn 3 triệu USD từ các hoạt động trên mạng. Cậu nói với cha mẹ rằng mình kiếm tiền nhờ phát triển website cho các công ty.
Sa bẫy và hối hận
Cuối cùng, Hiếu đã “cắn câu” của mật vụ Mỹ khi tới Guam để gặp một hacker người Anh nhằm dàn xếp một số việc và thiết lập hợp tác. Hiếu không hay biết người này đã bị kết án và chính là “mồi nhử”, khiến cậu ta sa bẫy ngay khi bước chân xuống máy bay.
Sau khi bị tạm giam 2 tháng ở Guam, Hiếu bị đưa tới New Jersey, nơi hacker thừa nhận đã thâm nhập vào MicroBilt cùng nhiều hệ thống khác. Hiếu kể rằng, trong khi xét xử, toà án liên bang đã nhận khoảng 13.000 thư khiếu nại từ các nạn nhân. Họ trình bày mình bị mất nhà, mất việc và không còn khả năng mua nhà hay duy trì nguồn tài chính. Điều đó khiến Hiếu nhận ra mình là kẻ tồi tệ và cảm thấy rất ân hận.
“Nhà tù là một nơi khốc liệt, nhưng nó cho tôi thời gian nghĩ về cuộc đời và các lựa chọn của mình. Tôi đang cố gắng làm điều tốt và trở nên tốt đẹp hơn mỗi ngày. Giờ đây, tôi hiểu ra rằng tiền chỉ là một phần của cuộc sống, chứ không phải tất cả và cũng không mang lại hạnh phúc thực sự”.
“Tôi hy vọng những tội phạm mạng rút kinh nghiệm từ những gì tôi đã trải qua và dừng tay, thay vào đó hãy sử dụng các tài năng của mình góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn”.
Thanh Hảo***
*ĐIÊU NGOA, NGANG NGƯỢC, LẠM QUYỀN – PELOSI PHẠM LUẬT CÒN HÙ DỌA DÂN!
Tuyết-Lan
Mời bấm vào link:
http://www.vietnamdaily.com/?c=article&p=120219
***
*THÔNG BÁO

V/v: “về nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp ĐẠO CAO ĐÀI”.

Kính thưa Quý Chức Sắc Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.
Kính thưa, Quý Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại.
Kính thưa Các Nước Tự Do trên Thế Giới.
Kính thưa Quý Cơ Quan Công Quyền LHQ , Quý cơ Quan Truyền Thông Quốc Tế và tất cả Quý Vị quan tâm đến Nhân Quyền , Dân Quyền và Tự Do Tôn Giáo .

Tôi Chánh Trị Sự Hứa Phi , Trưởng Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài , Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam và Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại, xin trân trọng kính thông báo một số việc như sau.

Đối với chính sách của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam , lúc nào họ cũng muốn tiêu diệt các Tôn Giáo Chánh Truyền bằng cách họ dựng lên một số tổ chức Tôn Giáo quốc doanh làm việc cho chế độ cộng sản để họ dễ dàng kiểm soát, nên chúng tôi là những tín đồ của Đạo Cao Đài Chân Truyền giữ đúng luật của ĐỨC CHÍ TÔN khai mở Đạo Cao Đài từ năm 1926 , nên đồng đạo ở các địa phương không theo tổ chức Cao Đài quốc doanh, là Hội Đồng Chưởng Quản Cao Đài Tây Ninh, do nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam dựng lên, họ tìm đủ mọi cách để tiêu diệt.

Chúng tôi còn giữ lại một số Thánh Thất và mượn một số nhà của Đồng Đạo để sinh hoạt Tôn Giáo , nhưng nhà cầm quyền cộng sản cũng không để yên, trước đây họ đã dùng quyền lực của đời đã lấy một số Thánh Thất Lớn , gần đây vào ngày 18 / 6 / 2020 , nhà cầm quyền Tỉnh Phú Yên kết hợp với Cao Đài Quốc Danh , đến chiếm Thánh Thất Hiếu Xương ( nay Thánh Thất Phú Lâm ) thuộc Tộc Đạo Hiếu Xương , Tỉnh Phú Yên do Chánh Trị Sự Cao Minh xử lý Thường Vụ của Thánh Thất lên tiếng phản đối và được Đồng Đạo nhiều Tỉnh khác đến giúp đỡ, không cho họ chiếm nên họ quay lại đàn áp.

Ngày 21/8/2020 , công an Tỉnh Bình Định , triệu tập Chánh Trị Sự , Nguyễn Hà và Nguyễn Văn Danh lên làm việc với tội danh là ủng hộ Thánh Thất Hiếu Xương là không đúng Luật Của nhà nước.

Ngày 22/8/2020 , công an ở Huyện Vũng La tỉnh Phú Yên triệu tập Chánh Trị Sự , Huỳnh Thị Kim Xuyến và một số Đồng Đạo nơi Thánh Thất, Vũng La lên làm việc họ hăm dọa không được hỗ trợ cho Tộc Đạo Hiếu Xương.

Ngày 26/8/2020 , công an triệu tập một số Đồng Đạo ở xã Sơn Thành và ngày 3/9/2020 công an Tỉnh Phú Yên , triệu tập Chánh Trị Sự Cao Minh , Phó Trị Sự Nguyễn Thị Miễn , Thông Sự Nguyễn Thị Hồng và một số Đồng Đạo lên Phường Phú Đông làm việc với tội danh là chống lại lịnh của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Phú Yên, đưa ông Thành ở Bình Định về cai quản Đạo nơi Thánh Thất Hiếu Xương(chính Quyền Đời mà lại thuyên bổ người đạo), và gây rối mất trật tự nơi địa bàn phường.

Kính thưa Quý Chức Sắc Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam , Quý Đồng Chủ Tịch Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại, Quý Cơ Quan Công Quyền Quốc Tế , vì những việc làm sai trái của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nên Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài chúng tôi cực lực phản đối những hành vi đàn áp Tôn Giáo ở Việt Nam.

Kính mong Quý Vị quan tâm đến Quyền Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam .

Việt Nam ngày 6 / 9 / 2020 .
Người tường trình.

CTS Hứa Phi.
Trưởng Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài.
***
*TRẦN THẾ PHONG: CÂY THÂU ĐÂUCÂY THẦU ĐÂU
Trần Thế Phong

Cây thầu đâu của nhà tôi, trước sân, gần cổng đi vào không biết trồng từ lúc nào.

Khi tôi lên mười tuổi thì thân cây to hơn một vòng tay ôm của người lớn, chiều cao trên mười lăm thước. Cây thầu đâu đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được..

Quê tôi Quảng Nam gọi là cây thầu đâu. Danh từ thầu đâu tôi không biết giải nghĩa như thế nào. Tôi có hỏi nhiều người nhưng không ai biết, người xưa gọi người nay gọi theo, thành ra chết tên luôn. Người miền Bắc gọi cây sầu đông, hay cây soan (hoa soan bên thềm cũ).

Nhà thơ Hoàng Anh Tuấn có bốn câu thơ về hoa sầu đông:
Hoa sầu đông vương đầy vai đầy tóc
Áo mùa Thu bay chợt thức bơ vơ
Mình tôi về qua lối nhỏ hoang sơ
Hồn buồn đường Catina chiều chủ nhật

Danh từ cây sầu đông dễ hiểu vì đến mùa thu lá chuyển màu vàng và mùa đông rụng hết lá, còn trơ trụi những cành nên gọi là sầu đông. Mùa đông của miền Trung, miền Bắc mưa sụt sùi ba bốn tháng, có lúc mưa liên tiếp hai ba ngày, trời mưa ngồi trong nhà nhìn ra cây thầu đâu rụng hết lá trơ cành buồn kinh khủng.
Danh từ cây soan cũng dễ hiểu vì trái hình bầu dục, vỏ bóng láng. Con gái có khuôn mặt trái soan là người con gái dễ thương.

Hoa thầu đâu màu tím nhạt, nụ nhò nhỏ xinh xinh, đến mùa trổ hoa tím rực cả cây, trông rất đẹp.

Lá nhỏ, xanh mướt, đến mùa thu chuyển màu vàng rực. Lá có công dụng trừ rận. Tôi thấy quanh xóm tôi, nhà nào giường ngủ có rận đến nhà tôi xin lá thầu đâu về lót dưới chiếu là rận không còn. Gà đẻ lót lá thầu đâu dưới ổ, rận cũng tiêu tùng. Có lẽ lá thầu đâu ủ lại rất nóng, người nhà quê chặt những buồng chuối vừa ươm ươm ủ với lá thầu đâu một đêm là chín vàng.

Gỗ không thuộc vào nhóm gỗ quý, có màu vàng sáng, có vân đẹp. Thường dùng đóng bàn, ghế, nhất là đóng gường ngủ vì không có rệp, rận..

Những ngày nghỉ hè, bọn trẻ chúng tôi thường tụ tập dưới bóng mát của cây thầu đâu, đánh đáo, u mọi, nhảy dây, hoặc ngồi hóng gió…

Những năm tôi lớn lên đi học xa hay đi vào quân đôi, mỗi lần về thăm nhà, cùng những thằng bạn thân quanh làng ngồi dưới gốc cây thầu đâu tâm sự, kể chuyện buồn vui.

Những buổi sớm mai, những buổi trưa hè, chim chóc tụ về nào là chim khách, chim chìa vôi, chim chào mào, chim chèo bẻo, chim hoạch hoạch… hót vang như chào đón bình minh nghe thật vui tai. Nhất là chim cu đất đậu trên ngọn cao cất tiếng gáy từng nhịp rộn ràng. Mỗi lần chim khách kêu trên cây thầu đâu buổi sáng là mẹ tôi nóí thế nào trưa nay nhà mình cũng có khách. Mẹ chuẩn bị đồ ăn để mời khách.

Đúng y chang, không có cậu, dì, dượng thì cũng có các chú, bác hay bạn bè của cha ở xa đến thăm..

* * *

Chiến tranh tràn đến quê tôi, những trận đánh ác liệt của quân đội Quốc Gia và Cộng Sản, những tràng ca nông từ tỉnh bắn lên yểm trợ, những ngôi nhà ngói, những bụi tre già. những cây xoài, cây mít quanh làng trốc gốc, đứt ngọn, gãy cành. Mẹ tôi và dân trong làng bỏ ruộng vườn nhà cửa xuống thành phố tìm cách sinh sống để tránh đạn bom. Cây thầu đầu và cổng ngói nhà tôi vẫn còn nguyên, không có một vết đạn, mỗi năm đều ra hoa tím cả một khoảng không gian rất đẹp.

Đến ngày ba mươi tháng tư năm 1975, chế độ miền nam sụp đổ, mẹ tôi và những người dân làng trở về nhà cũ để sinh sống, Căn nhà ngói đỏ ba gian bị sập một gian mẹ sửa lại, và giữ lại ngôi nhà của ông bà để lại. Anh em tôi ở trong quân đội miền Nam nên bị tập trung đi ở tù. Mẹ tôi sống lủi thủi trong khu vườn rộng, trong căn nhà ngói quạnh hiu chờ đợi những đứa con trở về….

Sau 1975 hết bom đạn, những người dân bỏ làng xóm nhà cửa ruộng vườn đi lánh nạn trở về quê cũ làm ăn. Dù hết chiến tranh nhưng dân càng nghèo xác xơ vì tất cả đều vào hợp tác xã. Ruộng đất không còn, mẹ tôi trồng rau, nuôi heo, gà, buôn bán ở chợ Quán Rường để sống qua ngày. Hằng đêm mẹ thắp hương khấn vái tổ tiên Trời Phật phù hộ cho những đứa con đang ở tù mạnh khỏe và sớm trở về. Mẹ rất nhớ các con nhưng làm sao đi thăm nuôi được vì các con ở tù tận trong miền Nam hơn nữa tiền của đâu có mà đi thăm.

Năm 1979, tôi ra tù, vợ con sống trong nam nên phải về với vợ con. Tôi rất nhớ mẹ, nhưng làm sao về thăm mẹ vì bị một năm quản chế và tiền đâu mà đi đường. Hết quản chế, chị hai tôi gởi cho 30 đồng để mua vé tàu lửa về thăm mẹ. Tôi đi tàu nhanh mất ba ngày hai đêm mới đến nhà.

Trời tháng mười miền trung âm u buồn tẻ. Gần tám giờ tối, tôi bước vào sân nhà trời đã tối sầm, nhìn vào nhà đèn trên bàn thờ tỏa sáng, ba cây nhang vừa mới thắp. Mẹ ngồi trên ghế của bàn xoay cạnh bàn thờ ông bà. Mẹ đang têm trầu và nói chuyện một mình. Từ khi cha tôi qua đời, một mình côi cút, mẹ thường thức dậy nửa khuya thắp hương trên bàn thờ, ngồi một mình ăn trầu và nói chuyện với cha. Bây giờ tôi nhìn lại hình ảnh nầy, tôi đứng ngoài cửa lắng nghe:

– Thời cuộc thay đổi rồi ông ơi, hai đứa con mình đi ở tù cực khổ, ông phù hộ cho tụi nó mạnh khỏe và mau trở về. Phù hộ cho mấy đứa cháu nội mau ăn chóng lớn. Tôi cũng đã già rồi, biết làm răng mà đi thăm tụi nó, cầu mong Trời Phât phù hộ cho tôi mạnh khỏe, giử lại mảnh vườn, căn nhà nầy để thờ phượng ông bà, tổ tiên. Con nó về rồi hãy tính.

Nghe mẹ nói, tôi không cầm được nước mắt khóc òa, chạy vào ôm mẹ nói thật lớn:

– Con đã về đây mẹ ơi. Mẹ tôi bỏ miếng trầu đang ngoáy dở rơi xuống sàn nhà nói lớn, đứa mô về đó và ôm tôi. Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi nước mắt chảy dầm dề.

Đêm hôm đó tôi ngủ với mẹ. Mấy mươi năm lưu lạc xa nhà, rồi lấy vợ sinh con.

Đêm nay mới nằm lại chiếc giường của mẹ ngủ từ ngày về làm dâu. Chiếc giường theo mẹ suốt cả cuộc đời. Ôm sau lưng mẹ, ngửi mùi mồ hôi thơm nồng mà hồi còn nhỏ thiếu mẹ nằm bên là con ngủ không được. Hai mẹ con nói chuyện suốt đêm.

Tôi kể hết những nhọc nhằn khổ cực, đói khát trong tù cho mẹ nghe. Mẹ biết hết rồi, mẹ biết Cộng Sản còn rành hơn tôi. Từ ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, những năm kháng chiến, những năm cải cách ruộng đất, đấu tố bà Sang ở xã Kỳ Nghĩa, những năm thối tô nhà không còn một hột lúa. Mẹ thấy, mẹ nghe, mẹ là nạn nhân và cha kể cho mẹ nghe đường lối của Cộng Sản nên mẹ không lạ gì. Thời cuộc đổi thay nên phải chấp nhận sống qua ngày.

Những ngày tôi ở bên mẹ thật là hạnh phúc. Buổi sáng tôi giúp me hái những trái đu đủ, những trái cà chua chín, cắt vạt rau húng rửa sạch bó từng bó, phụ mẹ đổ những vò giá mà tới kỳ bán được (mẹ tôi có nghề đổ giá vò rất kinh nghiệm, cọng giá to, đều đặn trắng tinh trông rất đẹp, ít người làm được công việc nầy). Chuẩn bị sẵn sàng để hai giờ chiều mẹ gánh ra chợ bán. Buổi chiều ở nhà một mình giúp mẹ tưới cây trầu, những hàng cà chua, rau cải, giàn bí, giàn bầu… Rồi ngồi ngoài hiên đợi mẹ đi chợ về. Mẹ về thường mua cho tôi cái bánh tráng, miếng kẹo đậu phụng… như hồi lên năm lên ba… Mẹ đi chợ về, đôi gióng, đòn gánh, thúng, mủng để vào góc nhà là vào bếp nấu cơm.

Mẹ biết tôi thích ăn cá nhám kho với chuối cây, cá ngạnh nấu canh với trái chuối chát, cá rô chiên dòn… Hai mẹ con ăn cơm tối bên ngọn đèn dầu hỏa hắt hiu. Mẹ kể đủ thứ chuyện cho tôi nghe. Chuyện cha đi coi mắt mẹ hồi mẹ mới có mười sáu tuổi, chuyện về làm dâu nhà bà nội khó khăn. Cha là con một đi dạy học xa nhà, mẹ quán xuyến hết công việc gia đình và đồng áng, còn chăm lo cho ông bà nội từ chén cơm bát nước. Đời mẹ cũng thật cực khổ, gian nan. Mẹ nhớ đâu kể đó, chuyện đời xưa, đời nay, chuyện bà con nội ngoại, hàng xóm láng giềng, ngày giỗ kỵ ông bà…

Một buổi tối hai mẹ con ngồi ăn cơm. Mẹ để đôi đủa xuống mâm cơm có vẻ rất quan trọng, mẹ nói:

– Mẹ nghĩ kỹ rồi, trước nhà mình còn lại cây thầu đâu đã lâu đời và to lớn, mẹ nghĩ nếu một ngày mẹ trăm tuổi già sẽ cưa cây thầu đâu, đoạn sát gốc đóng được một bộ áo quan, còn phần trên bán lấy tiền chi phí để lo ma chay. Nhưng mẹ thấy còn khỏe mạnh nên mẹ tính bán cây thầu đâu lấy tiền mua thực phẩm, hai mẹ con mình đi thăm nuôi thằng em con. Lâu quá mẹ không gặp nó mẹ nhớ quá. Con đã về rồi mẹ bớt phần lo. Thằng út còn đang ở tù đói khát khổ cực mẹ nhớ thương quá.

Tôi nghe mẹ nói mà nước mắt chảy dài trên hai gò má, nhìn mẹ cũng rưng rưng nước mắt. Tôi hỏi lại mẹ:

– Thời bây giờ ai cũng đói meo, không có gạo để ăn tiền đâu mà mua gỗ đóng bàn ghế, bán cho ai bây giờ hở mẹ.

Mẹ nói:

– Mấy ông cán bộ đi tập kết về làm lớn có tiền, ông chủ tịch xã đòi mua hoài mà mẹ không bán.

Tôi nghe mẹ đề nghị cũng có lý, tôi cũng cần thăm người em vì anh em lâu ngày không gặp nhau thấy nhớ. Còn mẹ thì càng ngày càng già yếu cũng cần thăm con một lần, tuổi già nhớ thương sức khỏe mau suy giảm. Tôi nói với mẹ:

– Mẹ tính vậy cũng phải, bán được cây thầu đâu hai mẹ con mình đi thăm em một chuyến. Sau nầy em về, con và em làm ăn dành dụm mua cho mẹ chiếc áo quan khác, mẹ đừng lo.

Sáng hôm sau, tôi thấy mẹ đội nón ra đi, khoảng một tiếng đồng hồ trở về, mẹ rất vui nói với tôi:

– Mẹ bán được cây thầu đâu rồi, bán cho ông chủ tịch xã, ba ngàn đồng, đặt cọc một nửa đủ tiền hai mẹ con đi thăm em.

Tôi cũng vui theo mẹ. Một tuần lễ chuẩn bị, mẹ mua nào thịt heo dầm nước mắm, gà luộc ướp muối, cá thu chiên, đường, bánh tráng, cám ran ngào đường, khoai chà, khoái chín, một ổ gà vừa đẻ được mười trứng mẹ cũng lấy đem theo. Tôi cũng giúp mẹ làm những công việc phụ. Trước khi đi mẹ nấu một mâm cơm cúng ông bà tổ tiên. Mời gia đình chị hai và hai người anh con bà cô đến tham dự. Một bữa tiệc đạm bạc nhưng rất vui. Sau những năm chiến tranh bom đạn tơi bời, xa nhau tứ tán, bây giờ gặp lại ai cũng mạnh khỏe, nhờ tổ tiên ông bà phù hộ.

Trước khi đi tôi căn dặn mẹ:

– Vào gặp em, mẹ không được khóc, không được nói chuyện buồn, không được nói dân ở ngoài khổ cực, không có gạo mà ăn. Phải nói nhờ cách mạng đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào thống nhất đất nước, dân được tự do sung sướng, ấm no…

– Đời mẹ ăn cục nói hòn, chưa biết nói dối, có sao nói vậy, giàu nói giàu, nghèo nói nghèo, nói láo thẹn với lương tâm. Té ra cách mạng vô giải phóng miền Nam bắt dân phải nói dối. Mẹ con lâu ngày gặp nhau nhớ thường khóc cũng không cho. Cách mạng rứa hả con.

Mẹ hỏi lại mà tôi không biết làm sao trả lời. Tôi cũng ở tù mới ra, tôi biết nội quy thăm nuôi, gia đình phải nói những gì, tù nhân phải nói cái gì. Tôi nói với mẹ cho qua chuyện:

– Mẹ không nói như vậy là không cho mẹ con mình gặp em, không cho nhận quà, lại còn bị phạt làm kiểm điểm, khổ cho em. Lần sau cũng không được thăm nuôi.

– Thôi mẹ sẽ nói như con dặn. Rồi mẹ nói lầm bậm: Đời bây giờ sao giả dối quá.

Sáng sớm thứ bảy hai mẹ con gồng gánh những thực phẩm mẹ lụi cụi chuẩn bị một tuần lễ, đón tàu lửa từng chặng, vào đến ga Tuy Hòa bảy giờ tối. Hai mẹ con ngủ lại ga Tuy Hòa, trời lạnh giá, đắp miếng áo mưa bằng vải nhựa, hai mẹ con thao thức không ngủ được, vì sợ ăn cắp hết thực phẩm thăm nuôi, và nôn nóng gặp em.

Bảy giờ sáng hôm sau chủ nhật, hai mẹ con quá giang xe chở củi lên đến trại Xuân Phước là mười giờ. Trên đường đi dặn mẹ nhớ những gì con đã nói lúc còn ở nhà.

Làm xong những thủ tục thăm nuôi. Ngồi đợi khoảng ba mươi phút, em tôi từ trong trại bước ra. Mẹ tôi không nhận ra con. Trước đây mập, cao, to, bây giờ ốm khẳng khiu như cây tre khô. Tay xách bị bao cát, đi xiêu vẹo từng bước, như xác không hồn. Mẹ nhìn con mừng tủi mà không giám khóc. Mẹ nói:

– Thấy con mạnh khỏe mẹ mừng quá, cố gắng học tập tốt, lao động tốt, cách mạng khoan hồng cho con về sớm sum họp gia đình. Mẹ ở ngoài được bà con làng xóm, cách mạng giúp đở con yên tâm. Xóm làng mình giờ vui lắm, ai cũng có công ăn việc làm. Biết mẹ đi thăm con, mấy anh công an xã, chủ tịch xã gởi lời thăm con. Mấy ông anh con đi tập kết về người nào cũng khỏe mạnh và làm lớn trong chính quyền cách mạng (không ngờ mẹ tôi nói thêm câu nầy để cho ông công an canh gác ngồi bên nghe tưởng gia đình cách mạng dễ giải hơn).

Hai mẹ con lâu ngày không gặp, mẹ kể hết bà con hàng xóm láng giềng, người mất, người còn. Vì hoàn cảnh khó khăn con còn nhỏ dại, đường xá xa xôi, vợ con không đi thăm nuôi được đừng buồn lo.

Có lẽ nghe mẹ tôi nói có mấy anh đi tập kết về là gia đình cách mạng, người công an canh giữ tin tưởng nên không để ý theo dõi bỏ đi vào láng trại. Tôi thấy không ai canh giử, tôi nói với em tôi:

– Cứ lo giữ gìn sức khỏe, đừng nghe tụi nó nói học tập tốt, lao động tốt ráng làm để được về sớm. Tụi nó xét theo ngành nghề mà mình phục vụ trước năm 1975. Chiến tranh chính trị thì cũng gỡ trên 5, 6 cuốn lịch. Đừng nôn nóng, sức khỏe là trên hết. Cũng may nhà mình còn lại cây thầu đâu mẹ bán lấy tiền đi thăm em. Vợ con em ở Sài Gòn cũng mạnh khỏe không có gì lo lắng. Dù sao ở miền Nam cũng dễ thở hơn miền Trung mình. Tôi vừa nói xong thì người công an canh giữ trở ra báo hết giờ thăm nuôi. Tôi sang những thực phẩm thăm nuôi vào hai bao cát và một giỏ lác đem theo cho em mang vào trại. Những bước đi xiêu vẹo của một người tù chưa biết ngày về, tôi nhìn theo buồn đứt ruột. Mẹ nhìn theo đứa con trai út mà mẹ thương yêu, hai giòng nước mắt chảy dài trên hai gò má nhăn nheo. Khi đi được khoảng năm thước, mẹ nhìn theo con nói thật lớn:

– Nhớ học tập tốt, lao động tốt, cách mạng sẽ khoan hồng cho về sớm sum họp với gia đình nghe con.

Hai mẹ con ra khỏi cổng trại tôi nói với mẹ:

– Công nhận hôm nay mẹ “quán triệt” đường lối của “cách mạng” nhanh thật.
Mẹ cười méo xệch, hai giọt nước mắt còn đọng trên khóe mắt héo khô…

Hai mẹ con đón xe trở về đến nhà bảy giờ tối ngày hôm sau.

Tôi ở lại chơi với mẹ được một tháng rưỡi phải trở vào Sài Gòn, vì vợ con tôi đang nheo nhóc phải cần có tôi. Ở đời nước mắt cứ chảy xuống…

Trước ngày tôi đi, mẹ nấu một mân cơm cáo tổ tiên, ông bà cô bác. Hai mẹ con đang ngồi ăn, mẹ đứng dậy đi lại tủ thờ, mở cửa lấy ra một gói giấy có quấn dây thun thật kỹ. Mẹ mở ra ba bốn lớp giấy trong đó có một xấp tiền cuộn tròn. Mẹ nói:

– Từ ngày mẹ trở về lại nhà, Trời Phật cho mẹ mạnh khỏe, mẹ trồng rau, nuôi heo, nuôi gà, buôn bán giành dụm được một ngàn rưởi mẹ cho con đem vào nuôi cháu. Mẹ ở xa quá không giúp được gì cho con cho cháu. Mẹ cũng muốn lo cho con cho cháu nhưng thời cuộc đổi thay chẳng biết làm răng được.

Tôi khóc và tôi nói không ra lời:

– Con ra tù trở về là mừng rồi, con còn khỏe mạnh, sẽ cố gắng tìm việc làm nuôi mấy đứa nhỏ. Mẹ đừng lo. Mẹ giữ gìn sức khỏe, để giành tiền phòng thân khi ốm đau. Con thật bất hiếu, chưa lo gì cho mẹ được.

Mẹ nói rất cương quyết:

– Mẹ không cho con mà cho mấy đứa cháu nội của mẹ. Cầm lấy cho mẹ vui. Mẹ sẽ có lại một ngàn rưởi, ông chủ tịch xã đón cây thầu đâu trả cho mẹ.

Tôi chảy nước mắt suốt mấy ngày trên tàu lửa đi vào Sài Gòn.

Trần Thế Phong
Mùa Vu Lan 2020
***
*”HỌA SỈ MAY” Duy Nhất Trên Thế Giới
Ngoài sức tưởng tượng !
Anh Arun Kumar Bajaj ở Ấn Độ có một kỹ năng rất đặc biệt – anh có thể vẽ tranh bằng máy may.Về lý mà nói, đó là thêu, không phải vẽ, nhưng những tác phẩm nghệ thuật của anh quá chi tiết đến nỗi chúng trông tựa như những bức vẽ siêu thực trong con mắt của các khán giả nghiệp dư. Và việc anh làm ra toàn bộ các tác phẩm bằng máy may chỉ khiến nó càng trở nên ấn tượng hơn mà thôi.Arun rất giỏi vẽ và mơ ước sẽ trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Nhưng cái chết bất ngờ của cha anh 15 năm trước đây đã làm tan nát giấc mơ này và buộc anh phải bỏ học để phụ giúp gia đình kiếm sống. Cha của anh là một thợ may và anh nối nghiệp cha, nhưng anh đã không để cho chất nghệ sĩ trong mình mai một. Thay vào đó, anh bắt đầu “vẽ tranh” bằng đường kim mũi chỉ. Nhưng thay vì dùng tay, anh quyết định dùng một phương tiện thêu khá đặc biệt – chính là máy may. Phải mất một đoạn thời gian anh mới có thể làm chủ được loại hình nghệ thuật độc đáo này, hiện nay anh được xem là nghệ sĩ sử dụng máy may duy nhất trên thế giới.“Tôi đã khâu vá được 23 năm, kể từ khi 12 tuổi”, người nghệ sĩ 35 tuổi nói với DNA India. “Cha tôi là một thợ may nhưng ông mất sớm khi tôi mới 16 tuổi, tôi đã phải bỏ học để tiếp quản tiệm may. Tôi vẽ rất khá ở trường, và đây là cách tôi kết hợp hai loại hình nghệ thuật lại với nhau.”
“Tôi không muốn làm thợ may cả đời,” Arun nói thêm. “Tôi muốn làm nên tên tuổi cho mình, kể cả khi nỗi ám ảnh đó có thể đem đến sự bấp bênh về kinh tế cho gia đình tôi.”

Bức tranh Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi do “Họa sĩ may” kỳ công lảm ra được trao cho Thủ tướng.
Thật may, sự kiên trì của anh đã được tưởng thưởng xứng đáng, những tác phẩm của anh được tìm mua khắp nơi ở cả Ấn Độ và nước ngoài. Thật đơn giản để lý giải cho điều này, vì bạn chỉ cần nhìn vào chất lượng của chúng. Nhưng điều thực sự khiến những bức tranh thêu của anh trở nên đặc biệt chính là phương tiện mà anh sử dụng.
Rất nhiều quốc gia có truyền thống lâu đời về thảm thêu, bạn có thể tìm thấy một số tấm có thể so sánh với các tác phẩm của Arun Kumar Bajaj về độ chi tiết, nhưng đố bạn tìm được cái nào được làm từ máy may. Điều đó là không thể, và có một lý do hợp lý cho điều đó.“Bạn cần phải cực kỳ chính xác, vì một khi mũi kim đã hạ xuống, thì không cách nào sửa lại được nữa… Tôi cũng không may đè lên – tất cả đều được thêu một lớp để giúp bức tranh có được chất lượng tinh xảo.”Một trong những tác phẩm ấn tượng nhất của “Họa sĩ may” là bức tranh thêu vị thần Krishna kích thước 1.8 x 1.2m, người nghệ sĩ đã phải mất 3 năm và khoảng 28.390.000m chỉ để hoàn thành. Hay bức phiên tòa Ranjit Singh kích thước 1.2m x 0.6m dựa trên câu chuyện thần thoại Maharaja của đế chế Sikh và miêu tả gần 2.000 nhân vật. Bức tranh mất 1 năm để hoàn thành.
Arun có một cửa hàng may ở Adalat Bazar bang Patiala, nhưng anh dành rất nhiều thời gian cho đam mê nghệ thuật của mình.

Quốc Hùng
***
*VĂN HOÁ ỨNG XỬ (CỦA NGƯỜI NHẬT)

•Chuyện xảy ra trên một chuyến bay: Một người đàn ông Nhật đưa tro cốt của vợ về nơi an nghỉ cuối cùng ở quê nhà.
Người đàn ông ấy và vợ lấy nhau hơn 50 năm. Họ sinh sống ở Yokohama nhưng quê nhà của họ thì ở Saga, Kyushu. Khi vợ mất ông đã quyết định đem tro cốt của bà về với quê cha đất tổ. Ông biết việc vận chuyển tro cốt của người đã khuất phải làm thủ tục đặc biệt với hàng không.
Ông bỏ hũ tro vào một cái hộp nhỏ rất chắc chắn và cũng rất xinh đẹp, và khi làm thủ tục ông cũng trình bày rất rõ ràng với nhân viên hàng không.. Ðội ngũ nhân viên sân bay đã đồng ý cho ông mang hộp đựng bình tro cốt lên máy bay, nhưng với điều kiện họ phải được phép giữ và bảo quản kỹ càng chiếc hộp trong suốt chuyến bay. Ông đồng ý ngay.
Mọi thứ vẫn diễn ra bình thường cho đến khi ông ngồi xuống ghế của mình.
Một cô tiếp viên hàng không bỗng đi đến gần ông và hỏi một câu nhẹ nhàng
:- “Thưa ông, Chúng tôi đã sắp xếp một chỗ ngồi cho bà. Ông cho phép tôi chuyển bà ngồi cạnh ông nhé”.
Cô tiếp viên hỏi xong, trong lúc ông vẫn còn đang ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì thì cô tiếp viên đã nhẹ nhàng đặt chiếc hộp đựng hũ đựng tro cốt lên chiếc ghế cạnh ông. Cô còn nhẹ nhàng cài đặt dây an toàn cho cả chiếc hộp như cài dây cho một hành khách. Xong cô cúi đầu nói:
“Xin chào hai quý khách!”
.Hành động nhỏ mà vô cùng cao đẹp này của người tiếp viên và phi hành đoàn đã thắp sáng hạnh phúc tưởng chừng như tắt lụi của người đàn ông kia.
Vậy là ông vẫn còn được bay cùng bà chung 1 chuyến về thăm quê nhà.
Khi câu chuyện được chia sẻ, mọi người đều có ấn tượng tốt đẹp với cách sắp xếp và cư xử tâm lý của phi hành đoàn. Cư dân mạng không khỏi xúc động khi bình luận rằng:
– “Họ đã thật sự cho ông ấy một chuyến đi ý nghĩa nhất cuộc đời”
– “Tôi thật sự không thể cầm được nước mắt khi đọc câu chuyện này”
– “Nước mắt của tôi sao nó cứ rơi, nhưng không phải vì buồn mà vì hạnh phúc thay cho ông ấy”.

Tran Van Thu
***
*CUỘC ĐỜI ĐAU THƯƠNG CỦA LOÀI CHIM YẾNCó 1 lần lâu lắm rồi tôi có gặp người bạn nói ngày xưa ở VN trước năm 75 có lần ông trúng thầu để lấy tổ yến…
Sau lần đó ông giải nghệ luôn vì thấy ác độc quá… Ông nói tội lắm cô ơi… đôi khi phải vứt trứng yến hay chim non xuống biển để lấy tổ. Chim mẹ bay về quanh quẩn nơi tổ yến đã mất kêu thảm thiết lắm… Nghe ông nói mà tôi ứa nước mắt thương cho chim mẹ…

CHUYỆN CỦA CHIM YẾN

Câu chuyện ray rức lòng người. Xé gió biển, đôi cánh nhỏ dang rộng hết cỡ, lượn lên mất hút trên không trung rồi bất thần lao xuống hết tốc lực. Chẳng có gì ngăn cản nổi, Yến mẹ lao đầu vào vách đá dựng đứng. Để lại trên vách núi vệt máu tươi uất nghẹn và tiếng kêu khản đặc xé lòng của chim trống…Cảnh tượng đó lặp đi lặp lại trong những ngày vào mùa, mùa mà một loài hân hoan trên sự chết chóc đau thương của một loài khác. Mùa khai thác Tổ Yến.Yến, sống trung thành – chết thuỷ chung. Một đôi Yến khi đã sống cùng nhau là trọn đời trọn kiếp. Khi đã xây tổ ở đâu là vĩnh viễn không dời đi nữa. Tập tính đó giết hại Yến. Người vẫn thầm ngưỡng mộ và tự hỏi: Trong hàng ngàn chim Yến bay rợp biển kia mà vì sao các cặp đôi không bao giờ nhầm lẫn, không đời nào lang chạ? Hàng vạn tổ Yến ken đặc trên vách đá đó mà Yến luôn về đúng nhà của mình. Không bao giờ chiếm tổ chim khác? Rồi người lợi dụng triệt để đặc tính này để dụ Yến, nuôi Yến, lấy tổ Yến và vô tâm nhìn xác Yến… Nếu không may gặp một thợ hái tổ không chuyên hay thiếu kinh nghiệm. Không chừa lại một phần tổ, hoặc lấy đúng chiếc tổ của Yến sắp sinh. Chim mẹ trở về trong tình trạng mất tổ, không chịu nỗi đau đớn vì cơn chuyển dạ. Yến sẽ quẩn và chọn cách gieo mình vào vách núi, chính nơi đã xây mái ấm để quyên sinh.
Đa số chim Yến trống sau đó bay lượn điên cuồng, kêu gào thảm thiết rồi lao thẳng vào đúng chỗ vợ chết. Nên các vệt máu khô buồn in lại trên vách đá lạnh lẽo thường là vệt đôi bên nhau, thậm chí là chồng lên nhau. Nếu không tự tử, chim Yến trống sẽ sống cô độc suốt quảng đời còn lại.
Xưa, kẻ cùng đinh mạt vận mới phải ra nơi heo hút, leo trèo nguy hiểm tìm hái tổ Yến để mong đổi đời. Thường thì khi có chút vốn họ bỏ nghề và ăn năn sám hối. Họ không đời nào muốn con cái tiếp tục cái việc quá sức mạo hiểm, quá sức thất đức. Và đó là lý do không có “nghề lấy tổ Yến gia truyền” là vậy.
Nay, lòng tham con người vô cùng vô tận.
Tạo hoá không ban phát cho ai tất cả. Loài chim hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung đó lại có đôi chân cực ngắn và mềm yếu. Yến dường như không thể đậu trên mặt đất, Yến treo thân trên vách cheo leo lúc đêm về. Còn lại gần như bay suốt, liên tục từ 12-15 giờ mỗi ngày. Săn mồi và ăn trong khi đang bay, ngủ trong lúc bay, thậm chí là “làm chuyện vợ chồng” trên không luôn.
Bù lại, Mẹ Thiên Nhiên dạy Yến cách sinh tồn, mách bảo Yến sống trên cao, làm tổ nơi vách núi thẳng đứng, hẻo lánh và trơn trượt. Hòng tránh loài ăn thịt hiểm ác như rắn hay cú vọ. Có điều, ngay cả thiên nhiên cũng không biết được có loài ăn…tạp còn tàn độc hơn thú dữ. Loài có thể chinh phục bất cứ núi cao vực sâu hiểm trở nào hầu nhét cho đầy lòng tham tanh tưởi. Loài đã làm những cuộc tàn xác đẫm máu mang tên “Yến Sào”.
Yến chống chọi để tồn tại, tạo hoá không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỉ gọi đó là “Hồng Yến”.
Cuộc đời loài chim yến hiện nay thật quá thương tâm, vì lòng tham và sự tàn nhẫn của con người chưa từng giảm bớt…Hãy dừng lại việc nuôi yến, bán tổ yến cho đến tiêu thụ các sản phẩm từ chim yến.
Nhân nào quả đấy, nếu mình phá hoại nhà cửa của người ta, chia rẽ gia đình người ta, cướp đoạt cái mà chẳng phải thuộc về mình, ăn nuốt vật phẩm dựa trên máu, nước mắt và sinh mạng của chúng sanh thì tương lai gia đình mình, con cháu mình, và cá nhân mình chẳng lẽ không bị quả báo tương tự hay sao?
Vì vậy: Trước khi làm điều gì, hãy nghĩ đến hậu quả của nó.

Pham Minh Tri
***
*Cà pháo, cà chua, cà rốt và cà phê
– hay câu chuyện về YersinCà pháo, cà chua, cà rốt và cà phê
Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam.
Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương “dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ”. Ông nói “đời mà không đi, thì còn gì là đời”.
Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur “mời ăn tối và nghe báo cáo”, “thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể”. Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để “vang danh thiên hạ, giúp nhân loại”. Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.
Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để “ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời”.
Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương..
Ông cũng là người thực nghiệm nhiều giống cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình nhưng lúc đó chưa thành công), và bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu từ các nông sản này. Ông mang nhiều giống cây ôn đới trồng ở khu vực Đà Lạt vừa khám phá, như cà rốt súp lơ su su lay-ơn cẩm tú cầu xà lách xông cà chua… (hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp). Ông còn nuôi thử cừu, trồng thử nho ở Phan Rang, nuôi thí nghiệm đà điểu ở Ninh Hoà, gà Tây (turkey) ở Đồng Nai, tuy chưa thành công nhưng sau đó có người triển khai tiếp.
Ông cũng là 1 triệu phú nhờ có nhiều farm trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và đồng thời là cổ đông lớn của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng “tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân”. Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.
Với tầm nhìn vĩ đại, bác sĩ Yersin không chỉ làm khoa học mà còn giỏi nhiều thứ. Ngoài việc mang sang cho chúng ta bao nhiêu giống cây trồng vật nuôi mới lạ, khám phá và xây dựng Sapa Đà Lạt Bà Nà… thành những nơi du lịch nghỉ dưỡng, ông còn tham gia quy hoạch đô thị khu trung tâm Sài Gòn Hà Nội Nha Trang Đà Nẵng Hải Phòng, ranh giới các tỉnh… mà chúng ta ngày nay hay có cụm từ “ngày xưa người Pháp đã quy hoạch chỗ này là, chỗ kia là..”.
Ông đã giúp người Việt chúng ta có được nền tảng kinh tế ban đầu từ một nước thuần nông lạc hậu, những công trình về hạ tầng, giáo dục, y tế. Do chính quyền Pháp khi đó rất tín cẩn ông, vì ông đi nhiều khám phá nhiều. Hầu như mọi ngóc ngách ở Lào, Việt Nam và Campuchia đều có dấu chân ông. Núi cao vực sâu, thú dữ, bệnh tật… không hề làm ông nản bước.
Ông luôn yêu cầu Pháp phải xây dựng ít nhất ở mỗi tỉnh một trường trung học lớn và 1 bệnh viện đủ để chữa trị hết cho cư dân tỉnh đó. Ông còn yêu cầu chính phủ Pháp đầu tư tiền để xây đường sắt Bắc Nam từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn, hiện chúng ta vẫn còn đang khai thác. Con đường quốc lộ 1A thời đó là con đường đất nhỏ xíu (gọi là con đường cái quan) bề rộng chỉ có 2-3 mét từ thời chúa Nguyễn đã được ông “bày vẽ” cho kè đá, rải nhựa, mở rộng nâng cấp để xe ô tô có thể chạy được.
Ông nói phải ưu tiên làm con đường to nhất, tốt nhất gọi là quốc lộ, chạy ngang qua hết các tỉnh ven biển để người dân tỉnh nào cũng có thể hưởng lợi từ giao thông. Đường sắt leo dốc Phan Rang đi Đà Lạt cũng là ông tư vấn cho toàn quyền Doumer làm. Các trạm khí tượng từ Sapa đến Mẫu Sơn đến Bạch Mã, các ngọn hải đăng ngoài biển mà chúng ta thường nói “do Pháp xây” là do ông chọn vị trí. Những gì ông có thể nghĩ ra, ông đã làm tất cả cho người Việt. Không rõ dải đất hình chữ S này, dân tộc này có gì mà khiến ông yêu thương đến thế.
Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đời đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu, sự kính trọng và thương yêu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu. Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo “thôi đừng la trẻ nhỏ, mình lớn tiếng chúng sẽ sợ”.
Một lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông “dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng nhẹ để không gây thương vong cho họ”.
Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ lại thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn.. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém…. của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm.. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê hương ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới, ông vẫn khăn gói xuống tàu đi đến một miền đất nghèo xa lạ. Ông nói “tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và sẽ phụng sự tính mạng và cuộc đời tôi cho họ”.
Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nhìn những con sóng vỗ ghi dấu 1 cuộc đời dọc ngang, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang vội vã bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày, cập bến vô xóm Cồn, như cha mẹ mình mất vậy. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, cởi cái nón lá Việt Nam quen thuộc và tự động lấy khăn tang đeo lên đầu. Người dân vừa đi vừa khóc, đám tang dài hàng cây số để đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Di chúc ông ghi giản dị “Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi”.
Người dân khắp nơi yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại với điều kiện làm việc và bổng lộc hậu hĩnh, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn về một tài năng, một nhân cách lớn lao của nhân loại, một trái tim nhân ái đã ngừng đập.
Nếu bạn đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo….để ăn với mắm tôm, hem có đắp mặt được, kkk nói vui cho bớt khóc nè) thì hãy biết ơn BS Yersin nhé. Công lao của ông với dân tộc mình, với đất nước mình là không bao giờ kể hết. Các bạn có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin để thấy những tranh cãi lặt vặt, những suy nghĩ tầm thường đã phí thời gian cuộc đời mình. Sách giáo khoa nên bổ sung nhiều bài học về ông để các thế hệ mãi mãi biết ơn(vì chúng ta chưa tổng hợp tài liệu sau nhiều năm tháng chiến tranh). Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc. Các bạn đang đọc những dòng chữ này hãy nhớ là mình sống được đến giờ cũng từ những liều vắc xin của ông…
Và mỗi người, nếu đọc được những dòng chữ trên thì hãy học tập ông ở tinh thần PHỤNG SỰ, CỐNG HIẾN. Không nhỏ hẹp, vun vén cá nhân, cái xe – cái nhà – miếng đất – bằng cấp – chức vụ – công danh, thẻ xanh, tiền tài mang về cho vợ cho con tầm thường nữa. Mạnh dạn vẫy vùng biển rộng trời cao, dấn thân, xả thân vì MỘT LÝ TƯỞNG SỐNG của riêng mình. Bỏ quê hương đi đến chỗ phồn vinh thì dễ, quay về làm cho nó giàu sang văn minh thì mới khó. Mà khó cỡ nào, mình quyết tâm là làm được hết. Cuối đời, mình tự hào vì đã góp phần vô việc MAKE A BETTER VIETNAM.
Phàm làm người, ai càng sớm tìm được lý tưởng sống, thì càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn, không hối tiếc.
Xuân Kỷ Hợi, 2019
***
TÌM CHA
*Vui lòng theo dỏi Lá Thư Tìm Cha dưới đây, quan tâm và cho biết nếu có những tin tức liên quan đến:

Thiếu Tá Trần Đức Hy, Cựu SV Sĩ Quan Khóa 11 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam..

”Bố tôi nguyên trước là Thiếu Tá TRẦN ĐỨC HY – Số quân 360 – 010. Khóa 11 trường Võ bị Đà Lạt. Trước kia ông là lính LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT phòng TRUYỀN TIN.

Đơn vị cuối cùng của Bố là SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH – LIÊN ĐOÀN 77 – TIỂU KHU ĐẮC LAK. Dưới sự chỉ huy của Đại Tá NGUYỄN TRỌNG LUẬT. Trong Hồi ký của Đại Tá LUẬT đã từng nhắc tới Bố trong ngày đại chiến 10/3/1975. Mặc dù tôi chưa từng biết Đác Lak là đâu tôi rất muốn về đó để tìm nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Rất mong tất cả mọi người trong và ngoài nước nếu ai đọc và biết được nơi này xin comment chỉ đường dẫn lối để tới có thể tìn lại nơi đóng quân của Bố ngày xưa. Facebook của 1 người nào đó đã chụp được nghĩa trang QUÂN ĐỘI SƯ ĐOÀN 23, cùng 1 chút hy vọng mong manh ai đó đã chôn cất ông trong Nghĩa Trang này ( dù chỉ là suy đoán) có ai biết Nghĩa Trang này còn hay không xin giúp tôi chỉ đường.”

Mong mọi người gần xa đừng bỏ qua và chia sẻ vì một gia đình đã quá nhiều đau khổ suốt 45 năm qua.

TÌM CHA

Lại 1 lần nữa tơi đặt bút viết mấy dòng tìm cha, mong 1 chút hy vọng tìm được người cha mất tích trong chiến tranh. 45 năm qua từng ấy ngày gia đình tôi gồm 7 anh em và 1 mẹ già đã không ngừng hy vọng rồi lại thất vọng nhưng tôi vẫn không bỏ cuộc dù chỉ 1/1000 hy vọng tìm kiếm, nhiều năm trước qua những chương trình tôi cũng đã cố gắng nhưng không có kết quả. Trong đó có chương trình của đài Á CHÂU TỰ DO. Cũng có những người biết được hoàn cảnh của gia đình tôi bấy giờ cũng gọi và động viên gia đình tôi.

Hôm nay qua Facebook này tôi chân thành mong tất cả Anh, Chị, Cô Bác gần xa đọc được hoặc biết ít nhiều thông tin của bố tôi dưới đây thì giúp tôi comment để có thể biết được Bố tôi chết hiện giờ nằm ở đâu để đưa ông về gia đình nhang khói cho ông. Chiến tranh thật là oan nghiệt.

Hiện tại mẹ tôi đã 85 tuổi, qua 45 năm sống trong đau khổ và chờ đợi tin tức của chồng giờ đây bà đã nằm liệt và mù lòa. Dù mang trong người rất nhiều căn bệnh nhưng bà vẫn chưa thể yên lòng ra đi vì theo suy nghĩ của 1 người con tôi nghĩ rằng giờ phút chót của bà muốn biết rằng chồng đã mất tích 45 năm có tìm được hay không. Hiện nay mặc dù không biết bố tôi đã hy sinh ngày tháng năm nào nhưng sau năm 1975 10 năm sau ngày giải phóng chờ đợi không kết quả. Gia đình tôi đã chọn ngày 30/4 là ngày giỗ cho Bố. Mong linh hồn ông lạc loài nơi nào cũng có 1 chút ấm lòng – Thật cay đắng phải không.

Dưới đây tôi tóm tắt ít nhiều thông tin về Bố mà tôi được biết.

Bố tôi nguyên trước là Thiếu Tá TRẦN ĐỨC HY – Số quân 360 – 010. Khóa 11 trường Võ bị Đà Lạt. Trước kia ông là lính LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT phòng TRUYỀN TIN. Đơn vị cuối cùng của Bố là SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH – LIÊN ĐOÀN 77 – TIỂU KHU ĐẮC LAK. Dưới sự chỉ huy của Đại Tá NGUYỄN TRỌNG LUẬT. Trong Hồi ký của Đại Tá LUẬT đã từng nhắc tới Bố trong ngày đại chiến 10/3/1975. Mặc dù tôi chưa từng biết Đác Lak là đâu tôi rất muốn về đó để tìm nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Rất mong tất cả mọi người trong và ngoài nước nếu ai đọc và biết được nơi này xin comment chỉ đường dẫn lối để tới có thể tìn lại nơi đóng quân của Bố ngày xưa. Facebook của 1 người nào đó đã chụp được nghĩa trang QUÂN ĐỘI SƯ ĐOÀN 23, cùng 1 chút hy vọng mong manh ai đó đã chôn cất ông trong Nghĩa Trang này ( dù chỉ là suy đoán) có ai biết Nghĩa Trang này còn hay không xin giúp tôi chỉ đường.

Cháu là con gái lớn của Bố TRẦN ĐỨC HY, cũng mong là các bác bạn bè đồng nghiệp của Bố cháu vẫn còn mạnh khỏe để đọc được mấy dòng này xin giúp cháu với ạ.

Dưới đây là hình của Bố tôi thời trẻ lúc bấy giờ là TRUNG ÚY. Khi giải phóng vì quá sợ hãi mẹ tôi đã đốt hết hình ảnh cũng như những gì liên quan đến đời sống quân ngũ của Bố. Mong linh hồn ông có linh thiêng – phù hộ mọi người giúp gia đình tìm được ông đưa về. Để mẹ tôi cưới đời được nằm cạnh ông đó là mong ước cuối cùng của mẹ và anh em tối trong suốt 45 năm. Chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã dành thời gian đọc những dòng tìm cha này.

*ĐÂY LÀ SỐ ĐIỆN THOẠI LIÊN LẠC CỦA TÔI

Trần Thị Ngọc Hạnh – 0767.542.746

Trần Trung Lập – 0329.426.415
***
*Xem “Nghĩa Trang Sư Đoàn 23 Bộ binh QLVNCH
tại TP. Buôn Ma Thuột đang bị bỏ hoang phế!” trên YouTube

Nghĩa Trang Sư Đoàn 23 Bộ binh QLVNCH tại TP. Buôn Ma Thuột đang bị bỏ hoang phế!

Dang Dang Phuoc

Nghĩa Trang Sư Đoàn 23 Bô binh QLVNCH tại TP. Buôn Ma Thuột đang bị hoang phế! Là cư dân TP. BMT sống ở đây gần 20 năm, nay mình mới phát hiện được ở thành phố này có một nghĩa trang tử sỹ VNCH! Nghĩa trang này nằm trên đường Hà Huy Tập, cách giao lộ Hà Huy Tập – Y Moan khoảng 100m phía bên trái theo hướng BMT đi huyện Cư M’gar. Theo bác Cường, người hàng xóm của mình thì nghĩa trang này có trước năm 1963 (vì khi bác đến đây đã có nghĩa trang này) . Bác Thân bổ sung thêm thông tin đây là tử sỹ của Sư đoàn 23* QLVNCH. Thoạt nhìn không ai có thể biết được trong khu đất kia là khu mộ của các tử sỹ VNCH bởi lối vào chỉ là con đường mòn do 2 gia đình dựng lều tạm phía trong để ở đi lại lâu ngày mà thành. Phía bên tay trái con đường mòn đã bị cây cối xâm thực, các phần mộ không còn trông thấy rõ nữa! Phía phải con đường có khá hơn, tuy nhiên dân ở xung quanh nơi này trồng sắn, chuối lên trên cả những phần mộ nên cảnh nơi đây thật u ám! Trưa nay, trên đường đi làm về, mình ghé thăm phần mộ của những người đã bỏ mình vì cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhưng kém may mắn bởi họ là bên thua cuộc! Mình đã ngậm ngùi mà nghĩ rằng, dù hy sinh ở chiến tuyến nào chăng nữa thì những người xấu số này cũng là người VN da vàng máu đỏ! “Nghĩa tử nghĩa tận” ai lại nở để mộ phần hoang hóa, cô quạnh ko nhang khói như vậy? Điều đáng trách hơn là dân ở đây lại trồng hoa màu lên trên những phần mộ xấu số mà họ không nghĩ rằng nếu người thân mình ở đâu đó trên đất nước VN lâm vào hoàn cảnh như những tử sĩ VNCH bị đối xử như vậy thì mình có đau xót? Một số phần mộ có bia ghi năm sinh từ 1934 trở về trước, theo mình hiện nếu còn thân nhân chỉ là anh chị em ruột hoặc cháu họ của các bác ấy, chứ e vợ con thì không có vì lúc hy sinh còn quá trẻ! Xin thành kính thắp nén hương dâng lên vong linh các bác, các chú. Cầu cho hương hồn của các tử sỹ VNCH được vãng sanh cực lạc! P/S: Rất mong anh chị em share rộng rãi clip này để thân nhân của các vong linh tử sỹ có cơ hội tìm kiếm để nhang khói cho các bác! Nếu có Mạnh thường quân nào đứng ra vận động quyên góp để dọn dẹp, chỉnh trang cho các phần mộ thì cũng là một việc làm có ý nghĩa về đạo đức và nhân văn lắm lắm! Xin chân thành cảm ơn những tấm lòng vàng!
***
*TRUYỆN NGẮN HAY CHỌN LỌC:

* TRÀM CÀ MAU: Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc

 Suong Khoi Vuong Mat Ai-Final _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3 13292

 Tam Long Cau Cho-Final _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3
* PHẠM TÍN AN NINH: Nợ đời một nửa còn một nửa ơn em
*
– Phạm Tín An Ninh –
(Viết cho em và những người vợ lính trung hậu)Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc giòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu “Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”. Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì “nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng? … ”. Nhờ vậy, trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, thì làm gì có chuyện “chết trong mắt em”. Vậy rồi trời xui đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quảng Đức, Ban Mê Thuột rồi Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà cũng vì tưởng mình đã được trở về với những “hang động tuổi thơ” của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục “hát khúc quân hành”. Đoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở huấn khu Dục Mỹ. Nhưng tôi đã “ước tính tình hình” sai bét. Đoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Đại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước “thăm dân cho biết sự tình”.

Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa ”Trăng Mường Luông ”.

Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó:

Hồi nhỏ tôi rất anh hùng
Một mình dám nhảy cái đùng xuống sông
Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa dòng
Hiên ngang trấn giữ một vùng tuổi thơ
Lớn lên trở chứng ngu khờ
Mắt em nào phải bến bờ sông sâu?
Cớ sao chưa kịp lộn nhào
Đành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là…

Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Đã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi Vọng Phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.

Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho “người tình bé nhỏ” ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một cố nhân nào đó – mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ – bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.

Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng – ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.

Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý anh vì anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Vì vậy tôi không còn nhớ hết mà chỉ thuộc lòng mấy câu viết về nàng:

Tám năm áo rách bao nhiêu lượt
Em vá chồng lên những nỗi niềm
Từ thuở anh đi nhà tróc nóc
Con thơ đâu còn biết vui cười
Cô gái Ninh Hòa, thương quá đỗi
Một mình chèo chống giữa phong ba

Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, cùng một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay xở làm sao ? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng.

Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng băng tuyết mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài ba chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng.

Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn đất nước nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chì còn có tôi, người lính thất trận năm nào, đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn dông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.

Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà khổ thay, tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình. Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa. Mảnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao cuộc biển dâu.

Phạm Tín An Ninh
***
*TIỂU TỬ: TÓC TRẮNG
Ông Hai vừa mở mắt thức giấc đã nghiêng đầu nhìn cái đồng hồ reo nằm trên bàn cạnh đầu giường. Đồng hồ quartz loại nhảy số. Ông nheo mắt đọc: “Chín giờ hai mươi”. Rồi nằm ngay ngắn lại, càu nhàu: “Đồng hồ gì mà không có một cây kim, không có một tiếng tích-tắc. Chẳng biết đâu mà rờ!”. Ông nhớ lại hồi còn ở bên nhà, ông cũng có một cái đồng hồ reo đặt ở cạnh đầu nằm. Nó lớn bằng bốn cái đồng hồ điện tử “mắc dịch” này. Nó hiệu Jaz, ông còn nhớ rõ. Nước xi bóng loáng, mặt dạ quang, “ban đêm thấy rõ như ban ngày”! Và khi nó reo thì… “hàng xóm còn nghe chớ đừng nói chi người nằm ngủ kế bên”. Như vậy mới gọi là đồng hồ báo thức. Chớ phải đâu như cái đồng hồ điện tử này, nó reo “bíp bíp, bíp bíp” nhỏ rí như sợ người ta nghe! Ngoài ra, cái đồng hồ reo của ông, không cần nhìn cũng biết nó đang chạy, bởi vì chỉ cần nghe tiếng “cộc cộc, cộc cộc” của nó là đủ. Phải công nhận là tiếng kêu của nó “có hơi lớn”, nhứt là về khuya, lúc thanh vắng, nghe giống như tiếng gõ mõ nhịp đôi.
Hồi xưa, hồi còn sanh tiền, bà Hai vẫn phàn nàn về vụ tiếng “cộc cộc, cộc cộc” của cái đồng hồ. Bà nói: “Cái đồng hồ reo của ông càng già càng kêu lớn. Nó giống như ông, càng về già ông càng ngáy to, chẳng để cho ai ngủ hết!” Rồi, chẳng lẽ đi chỗ khác ngủ sau mấy chục năm ngủ chung, bà Hai đã giải quyết vấn đề bằng cách… nằm ngược chiều với ông Hai, nghĩa là bà nằm xoay đầu về phía chân giường. Dĩ nhiên là ông Hai đã phật ý, không thèm nói chuyện với bà Hai hết một thời gian. Nhưng riết rồi cũng quen đi, nên không còn để ý đến tình trạng dị thường đó. Cũng như ông Hai đã quen nghe tiếng “cộc cộc, cộc cộc” của cái đồng hồ nên không nhận thấy là nó kêu lớn! Đối với ông, tiếng động quen thuộc đó chứng tỏ là cái đồng hồ còn “sống”, nghĩa là ông không có quên lên dây thiều. Và như vậy, ông mới yên lòng dỗ giấc ngủ.
Ông Hai đưa mắt nhìn quanh căn phòng nhỏ. Thời tiết đã sang xuân nên vào giờ này, trong phòng đã đầy ánh sáng. Căn phòng thật là “nhỏ xíu giống như một cái hộp”. Hồi ông mới tới Pháp, mấy con ông đi rước ở phi trường Charles de Gaulle, tíu ta tíu tít: “Tụi con đều ở chung một immeuble. Chỉ có chị Hai là ở tuốt dưới Tours. Mới đầu, tụi con định lấy một studio trong immeuble cho Ba ở, nhưng chị Ba không chịu. Nói Ba già rồi, ở một mình bất tiện, nên chị Ba dọn cho ba một phòng riêng trong appartement của chỉ, có vue xuống lac. Rồi ba coi. Dễ thương lắm!” Ông Hai chưa từng xuất ngoại nên chẳng hình dung được cái “appartement” bên Pháp nó ra làm sao, nhưng nghe các con diễn tả có vẻ “rất vừa ý cả bọn”, ông cũng nghe vui trong lòng.
Khi về đến nhà Kim – người con gái thứ nhì của ông Hai – ông tưởng như đi vào một cái hang chớ không phải một cái nhà! Cái gì mà mới bước vào là đã phải lo quẹo trái -bởi vì bên mặt là cửa vào nhà bếp- rồi bước vài bước phải quẹo mặt rồi lại quẹo mặt lần nữa để tránh nhà tắm và cầu tiêu nằm liền nhau ở góc đó, rồi đi tới mấy bước lại phải quẹo trái mới vào được căn phòng “có vue xuống lac dễ thương lắm”. Phòng nhỏ xíu vuông vức, bước có mấy bước là đụng tường, nhìn ra phía ngoài qua ô kiếng to thấy trời lồng lộng bởi vì không có nhà ở phía đối diện. Nhìn xuống bên dưới -vì nhà ở từng thứ tám- thấy toàn bộ cái hồ nhân tạo thật rộng với đồi cao trũng thấp và những con đường đất nhỏ uốn khúc quanh quanh. Thằng Út -con trai út của ông Hai, tên Tuân nhưng ở nhà quen gọi là Út, năm nay “trên hai mươi tuổi là ít”- ôm lấy lưng ông Hai đang đứng gần ô kiếng: “Ba biết không? Ở Paris khó kiếm được nhà có cái vue như vầy lắm. Và hướng này là hướng đông nam, sáng, nắng vào tận phòng. Ba có thể vừa ngồi đây sưởi nắng vừa nhìn xuống lac coi vịt, thiên nga… Tụi con biết thế nào Ba cũng thích”. Ông đưa tay vỗ vai nó – bây giờ nó cao lớn quá, không vỗ được đầu nó như hồi thuở ông đưa nó lên phi trường để “đi Tây”- gật gật đầu: “Ờ… Ba cũng thích lắm!” Nói như vậy, nhưng khi mấy con kéo hết ra phòng khách để cho ông thay đồ, ông ngồi xuống giường nhìn quanh rồi thở dài…
Mấy đứa con, vì “đi Tây” quá sớm, không biết cái nhà mà ông đã xây cất ở trên sở cao su của ông. Cái nhà đó, ông đã mơ nó từ thuở còn là thơ ký cho hãng cao-su Terre Rouge. Hồi đó mới có hai đứa con, mà đã hình dung trong đầu một cái nhà thật to, kiểu “colonial”, có hàng ba thật rộng vây quanh để tránh trời trưa hanh nắng… Cái nhà “trong mộng” đó phải to hơn đẹp hơn cái nhà của thằng chủ Terre Rouge. Mà muốn như vậy, không phải làm công suốt đời mà có được. Vậy là hai vợ chồng “thôi” Terre Rouge (bà Hai cũng làm việc cho Terre Rouge). Rồi vay nợ ngân hàng, gom góp từng đồng để xây dựng một đồn điền cao su riêng cho mình. Sau đó, phải đổ mồ hôi xót con mắt hết mười mấy năm để bắt đầu dư dả tiền bạc thực hiện “cái nhà trong mộng”.
Ông hãnh diện với cái nhà đó lắm. Ông thường nói: “Tôi đã vẽ nó trong đầu hồi tôi chỉ có hai bàn tay trắng”. Hôm ăn tân gia, ông Hai đã “mời hết cả tỉnh” đến dự, có cả mấy hãng cao su Terre Rouge, SIPH… Quan khách ai cũng trầm trồ khen ngợi, nhứt là cái phòng ngủ thật rộng trong đó có cả bộ xa long để ông Hai ngồi hút thuốc đọc báo nghe ra-dô!
Hồi 75, Việt Cộng về, vẫn cho ông ở cái nhà đó tuy rằng sở sùng đã bị tịch thu hết (Họ nghĩ tình hồi xưa ông đã “đóng góp” giúp cách mạng nên cho ông một chân trong tổ kế hoạch, suốt ngày ngồi… uống trà, hút thuốc. Vụ này đã làm cho bà Hai buồn rầu sanh bịnh rồi qua đời vào giữa năm sau…) Rồi lần lần, Việt Cộng “lấn” ông ra nhà bếp để lấy nhà trên làm trụ sở ủy ban nhân dân.
Nghĩ đến đó, ông Hai bật cười. Hồi mới đến tịch thu đồn điền, Việt Cộng chạy xe thẳng vào văn-phòng nằm cạnh con lộ cái. Ở đó, có khu nhà máy, khu nhà kho, khu cơ giới… Thấy đồ sộ như vậy, chúng nó bèn “đóng chốt” ngay ở văn phòng, ăn ngủ ở đó luôn mặc dù trong đồn điền còn có khu nhà ở, bịnh xá, trường học, câu lạc bộ… không thiếu gì nơi để ở. Đã gọi là hòa bình rồi mà tụi Việt Cộng vẫn còn lối sống dã chiến: lấn chiếm được đến đâu là “ta đóng chốt ngay ở đó thôi”. Về sau, khi chúng nó “báo cáo rằng mạng lưới tổ chức đã hoàn chỉnh” thì khu văn phòng đã biến thành nhà ở của mấy gia đình cán bộ, còn nhà ở của ông Hai được chia đôi, một bên làm văn phòng, một bên làm ủy ban nhân dân – nghĩa là làm việc ở cách nhà máy trên hai cây số!- nhà bếp của ông đã biến thành nhà kho sau khi chúng nó đã “lích” ông ra nhà kho để ở!
Cái gì cũng ngược ngạo hết. Ngược ngạo đến vô lý! Vậy mà hể mở miệng ra là chúng nó cứ tự hào là “đỉnh cao trí tuệ”!
Nắng đã bắt đầu vào đầy phòng. Căn phòng nhỏ bây giờ thật ấm. Ông Hai vẫn nằm yên, lắng nghe từng tiếng động (Đó là cái thú “nằm nướng” của ông hồi còn ở bên nhà vào những sáng Chủ nhựt rỗi rảnh). Bốn bề yên lặng. Lâu lâu nghe tiếng nước “giựt cầu” từ mấy từng lầu trên theo ống dẫn chảy ngang một cách âm thầm vội vã… Rồi hết. Yên lặng đến buồn thiu! Chẳng bằng ở bên nhà. Hừng sáng đã nghe gà gáy, không phải một con mà là ba bốn con, gáy “đối đáp” thật rộn rã. Những tiếng động đó, bây giờ, ông nằm đây trong cái yên lặng của căn phòng nhỏ, ông mường tượng như còn nghe rõ ở trong đầu. Không sót, không quên một tiếng động nào hết, kể cả tiếng đổ kiểng tòn-teng tón-teng mỗi mười lăm phút của cái đồng hồ Wesminster treo ở phòng khách nhà ông. Ờ… cái đồng hồ hồi đó ông mua ở Passage Eden đường Catinat. Thùng làm bằng gỗ quí chạm trổ thật khéo. Trên mặt có ba lỗ để lên dây thiều: một lỗ để cho máy chạy, một lỗ để đổ kiểng, một lỗ để đánh giờ.
Giờ này, nhà vắng teo. Vợ chồng Kim đã đi làm, chiều mới về. Thằng Tí, bốn tuổi, cháu ngoại của ông, đã được cô Út của nó rước về Antony hôm qua vì có ông bà nội nó từ dưới tỉnh lên chơi. Hồi ông mới qua Pháp, lần đầu gặp thằng Tí, nó thấy người lạ nên lấp ló núp sau váy của má nó, miệng cười lỏn lẻn. Má nó nói: “Ông ngoại nè con. Bonjour ông ngoại đi!” Ông ngồi xuống ghế xa-long đưa hai tay về phía nó: “Lại đây, lại đây ngoại cưng”. Má nó phải đẩy nhẹ nó mấy lần nó mới bước tới bắt tay ông Hai. Ông ôm nó vào lòng, hôn lên má phinh-phính của nó mà nghe thơm nghe ngon. Tình thương bỗng dâng tràn trong lòng.
Trong giây phút đó, ông bỗng thấy chẳng còn tiếc cái gì nữa hết, từ đồn điền cao su đến cái nhà trong mộng, mà Việt Cộng đã chiếm đoạt. Làm như đứa cháu ngoại mà ông đang ôm trong vòng tay đã mang đến cho ông một luồng sinh khí mới, một cái gì mà ngay bây giờ đã chiếm trọn tâm hồn ông. Lạ quá! Có bằng chút xíu như vậy – thằng Tí – mà đã có thể thay thế được những gì thật lớn lao thật sâu rộng mà ông đang mang mểnh trong lòng như quê hương, như sự nghiệp! Ông lại ôm hôn nó một lần nữa để nhận thấy rằng ông không lầm: tình cảm mới mẻ đó có thật như vậy. Lần này, chẳng ai bảo mà thằng Tí tự nhiên nhón chân lên hôn ông Hai. Nó hôn bằng mũi giống như ông hôn nó! Rồi nó quay lại nhìn mọi người, miệng cười lỏn lẻn.
Ông ứa nước mắt vì sung sướng và nghĩ rằng ở cái tuổi già và trong cuộc sống lưu vong, có được đứa cháu ngoại như vầy, thật là Trời còn thương ông nhiều quá! Rồi ông ví-von: quê hương của ông bây giờ là thằng cháu ngoại này. Ông sẽ vung-bồi nó như ngày xưa ông đã vun bồi chăm sóc vườn ương cao su con, để khi đem ra lô, nó sẽ lớn mau lớn mạnh. Nhứt là cái gốc Việt Nam, phải còn, phải có…
…Ông Hai vươn vai ngáp rồi ngồi dậy với lấy áo lạnh dài tay máng trên thành ghế mặc vào kỹ càng mới bước xuống giường.
Ông đốt điếu thuốc rồi vào ngồi trong cầu tiêu. Cái cầu này, ông đã để ý từ hôm mới đến, nước cứ chảy tỏn tỏn. Chắc cái clapet đóng không kín…
Ông Hai qua nhà tắm súc miệng rửa mặt, rồi vào nhà bếp kiếm cái gì bỏ bụng. Trên bàn ăn, Kim có dằn một miếng giấy chữ viết hơi to để ông đọc mà khỏi phải mang kiếng lão: “Hột gà để sẵn trong cái chảo nhỏ. Bánh mì trong four. Ba hâm cà phê sữa trong micro-ondes, nhớ vặn nút qua nấc thứ ba. Trưa, có cơm trong nồi điện, thịt kho rau sống trong frigo. Hôn ba.” Sáng nào cũng có miếng giấy dặn-dò từa-tựa như vậy, nhứt là cái điểm “nấc thứ ba trên micro-ondes”. Bởi vì hồi mới qua, ông đã làm trào sữa ở trong đó! Mấy đứa con đã chỉ thật kỹ, “làm như vầy… vặn như vầy… rồi đợi nghe một tiếng keng là xong, nhưng coi chừng phỏng tay”. Ông đã áp dụng đúng mấy cái “như vầy như vầy” nhưng khi nghe cái keng ông mở cánh cửa lò micro-ondes thì… sự đã rồi! Ông đã chùi lau rất kỹ vậy mà chiều về Kim cũng thấy. Vậy là mỗi sáng, có màn dặn dò khi cần nấu sữa nhớ để nấc số 3…
Ông ngồi ăn trứng chiên mà bỗng nghe thèm tô bánh canh của con Tư Liếu, con gái Sáu Tài thợ máy ở đồn điền (Sáu Tài có “nghề tay trái” là đờn ghi-ta cổ nhạc, nên đặt tên con là thằng Xang, thằng Xừ, con Liếu, con Xê…) Tô bánh canh của con Liếu thơm phức, nước trong veo, sợi bánh tròn đều trắng phau phau không dai không bở, thịt heo vừa mềm xắt không mỏng không dầy. Đặc biệt là mỗi miếng đều có đủ thịt mỡ và da. Chỉ cần nhai vài cái là đủ thấy cái thi vị của cuộc sống nằm hết trong răng trong nướu! Hàng bánh canh của con Liếu đặt nép dưới mái hiên của tiệm nước thằng Tỷ, người Việt gốc Hoa. Tiệm này không có bảng hiệu, nhưng vì nằm ngay dưới gốc cây điệp thật lớn nên người ta gọi là “quán Cây Điệp”. Nhưng riết rồi khách hàng chỉ gọi trổng bằng “Cây Điệp” hay “Thằng Tỷ” là hiểu ngay cái tiệm nước đó. Có lẽ tại vì chung quanh không còn cây điệp nào khác và chắc cũng không còn “thằng Tỷ” nào khác bán quán cà-phê trong cái tỉnh lỵ nhỏ xíu này!
Điểm đặc biệt là ở đây còn giữ nguyên nét “cổ điển” của tiệm cà phê: bàn gỗ vuông vuông đóng thô sơ, ghế đẩu mặt tròn, trên bàn có ống đũa bằng sành và hai chai bằng sành loại có vòi như bình trà, một đựng xì-dầu một dấm đỏ (Để phân biệt, thằng Tỷ có chấm một chấm sơn đỏ trên cái nút dẹp, cũng bằng sành, của chai dấm. Nhưng khách hàng không cần để ý tới điểm đó bởi vì đã có thói quen đưa vòi lên mũi hửi trước khi sử dụng). Cái bếp nằm ngay phía trước. Ở đó, nấu mì hủ-tiếu pha cà-phê bán thuốc lá và thâu tiền. Trên quầy có để hộp tăm xỉa răng và một hộp quẹt máy cột dính vào một cây đinh bằng sợi nhợ dài… để khách hàng đốt thuốc mà khỏi mang nó đi luôn! Hồi đó, ông Hai có cái thú dậy thật sớm lái xe xuống “Cây Điệp” uống cà-phê để nghe cái mùi tiệm nước nó đánh thức từ từ khứu giác và vị giác. Thật là đặc biệt, cái mùi tiệm nước. Mà phải là tiệm nước thuộc “loại cổ-điển” mới có cái mùi đó. Mùi ngây ngấy của bàn ghế gỗ thấm dầu mỡ lâu ngày mặc dù vẫn được lau tới lau lui. Mùi béo ngậy của giò cháo quảy bánh tiêu vừa mới chiên xong để trong dĩa trên bàn. Mùi nước lèo phất qua mỗi lần thằng Tỷ mở nấp để mút chan lên tô mì hay tô hủ-tiếu. Và đặc biệt là mùi cà-phê mà tía thằng Tỷ lược bằng dợt vải trong mấy cái siêu bằng sành da lán màu vàng sậm. Cà-phê do tía thằng Tỷ pha trộn và rang lấy theo “bí quyết gia truyền”, có phun rượu trắng và “áo” bưa Bretel, nên thơm một cách… mời mọc! Chen vào những thứ mùi đó, lâu lâu có mùi khói than trong bếp, nồng nồng cay cay… Thật là thú vị “cái mùi tiệm nước” buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa ló dạng, khi bên ngoài không khí còn ướt lạnh sương đêm. Cái mùi đó nghe “thật ấm”, làm cho hớp cà-phê đầu ngày càng thêm đậm đà…
Đối với ông Hai, cái mùi tiệm nước đó cũng mang nét quê hương như mùi đống un, mùi rơm mùi rạ, mùi bông lài bông bưởi bông cau… Những thứ mùi mà dù đi xa mấy cũng không bao giờ quên và dù thời gian cách biệt mấy cũng vẫn còn nhớ rõ. Làm như nó thấm ở đâu trong xương trong tủy… mà chỉ có trong kiếp lưu vong, con người mới nhận thấy rõ sự hiện diện của nó thôi.
Ông Hai thay đồ ấm rồi xuống đi bộ chậm chậm quanh hồ. Giờ này cũng vắng người. Trên khoảnh đất trống cạnh hồ, một bé gái tóc vàng cỡ tuổi thằng Tí đang chơi một mình với quả bóng to. Phía sau nó, trên một băng gỗ, ba bà người Pháp vừa đan áo vừa nói chuyện với nhau, trong nắng. Ông Hai dừng chân gần đó, đứng hút thuốc cạnh bờ nước nhìn bầy thiên nga trắng phau bơi trên mặt hồ nhẹ nhàng như những đám bông gòn bị gió đưa đi. Trời đã sang xuân nên cây cối quanh hồ trổ chồi non mươn mướt. Cỏ xanh được cắt xén kỹ, trải dài từ đồi nhỏ qua đồi to. Rải-rác dọc theo chân đồi là những khoảnh đất trồng bông đủ màu sắc. Mùi cỏ mới cắt thoang thoảng trong không khí, ông Hai hít một hơi dài sảng khoái.
Bỗng một vật gì chạm nhẹ vào chân ông. Nhìn xuống thì ra là quả bóng của con bé tóc vàng. Ông nhìn nó, nó cười với ông. Thấy thương quá! Ông bèn đá bóng về phía nó, nó vỗ tay nhảy lên vui mừng. Rồi chận bóng đá trở lại, nhưng vì còn vụng về nên bóng đi xéo xéo làm ông Hai phải chạy vài ba bước mới chận kịp. Thấy ông Hai chận được bóng, con bé lại vỗ tay thích chí. Vậy là ông Hai với nó đá qua đá lại một lúc. Bỗng con bé giao bóng lệch đi khá xa. Ông Hai cố sức chạy theo nhưng không kịp. Quả bóng văng luôn xuống hồ. Ông vừa thở hổn-hển vừa “bật” ra bằng tiếng Việt: “Đá như vậy, ông nội tao giờ cũng chận không kịp nữa!” Sực nhớ ra, ông quay về hướng nó, nói bằng tiếng Pháp: “Mày giao bóng xa quá mà!”. Con nhỏ mếu-máo, rồi vừa khóc vừa chạy về mấy người đàn bà. Ông thấy nó chỉ ông và ông nghe rõ nó nói: “Thằng chệt già đó làm văng bóng của con xuống hồ rồi kìa!”. Một bà đứng lên nhìn quả bóng đang bập-bềnh cách bờ hồ độ một thước rồi cau mày nhìn ông. Có lẽ bà ta thấy mái tóc bạc của ông Hai nên nét mặt hơi dịu lại. Tuy nhiên, bà cũng đi nhanh về phía ông, vừa chỉ chỏ quả bóng vừa to tiếng: “Ông làm gì quả bóng của con bé vậy? Ông đá nó xuống hồ, hả? Sao ông ác quá vậy? Hả? Hả? Rồi bây giờ lấy gì cho nó chơi Nó khóc kìa, ông thấy không?” Đằng xa, con bé vừa dậm chân vừa khóc la: “Trả bóng lại đây! Trả đây! Ư…Ư…” Ông Hai vừa ngạc nhiên vừa tức giận, nhưng cố giữ trầm tĩnh để phân trần: “ Không! Không phải tại tôi. Tại con bé đó chớ!” Người đàn bà vẫn to tiếng: “Tại nó? Vô lý. Chính nó nói là ông đã làm văng quả bóng kia mà”. Ông lắc đầu, chỉ tay về hướng con bé: “Nó đá quả bóng chớ phải tôi đá đâu! Nó nói láo đó!” Bà ta vẫn gân gân: “Trẻ con tuổi đó mà nói láo à?” Ông chưa biết phải nói làm sao thì hai bà kia đã dẫn con bé đến “tiếp sức” với bà thứ nhứt. Cả ba bà tranh nhau nói, tranh nhau lý-luận để đổ lỗi cho ông Hai. Còn con bé bây giờ đã ngồi bẹp xuống đất tiếp tục khóc la đòi bóng!
Nghe to tiếng, ông làm vườn đang trồng bông gần đó chạy đến xem. Mấy người đàn bà lại tranh nhau phân trần cho ông làm vườn. Bây giờ câu chuyện đã trở thành như sau: ông Hai giành chơi bóng của con nhỏ rồi đá bóng xuống hồ để… trả thù! Ông làm vườn phá lên cười: “Tôi xin lỗi. Mấy bà nói quá lời, đó! Làm gì có chuyện như vậy? Tôi biết ông đây mà”. Rồi quay sang bắt tay ông Hai: “ Ông mạnh giỏi? Mấy lúc sau này sao không thấy ông đưa thằng Titi đi học?” (Ông ta gọi thằng Tí là “Titi”) Ông Hai vui vẻ trả lời: “Cám ơn ông, tôi vẫn mạnh. Dạo này, mẹ nó đưa nó”. Ông làm vườn “à” rồi quay sang mấy người đàn bà: “Ông đây ở cao ốc số 28. Ông thương trẻ con lắm. Tôi biết mà. Thôi các bà yên tâm. Để tôi vớt quả bóng cho”. Mấy bà nói “vậy à” lấy lệ rồi làm ra vẻ bận lo dỗ về con nhỏ để khỏi phải chú ý đến ông Hai. Ông cám ơn ông làm vườn rồi chậm rãi đi về nhà bằng con đường tắt dẫn lên lưng chừng đồi. Ông nghe lòng nặng trĩu, và thèm chửi thề một tiếng thật lớn!
Vào nhà, ông lấy rượu chát uống ực một ly. Ông rất thích rượu chát. Ngày xưa, lúc nào trong nhà cũng có rượu chát. Bây giờ ở Pháp, các con mua cho ông loại Chateauneuf du Pape là loại mà ông thích nhứt. Ngày nào ông cũng nhâm-nhi mấy lần, kể cả khi ăn điểm tâm. Ông thường nói:“Rượu chát, phải nhìn màu nâu đỏ của nó gợn lên trong ly, phải hít nhẹ mùi thơm của nó khi đặt vành ly lên môi. Chừng đó mới hớp một hớp, ngậm một chút để nghe chất rượu tròn lên trong miệng rồi mới nuốt từ từ…” Vậy mà bây giờ, ông ực một ly giống như uống nước lạnh! Để thấy “thiệt là bực mình biết bao nhiêu”! Qua phòng khách, ông đốt điếu thuốc rồi ngồi bập liên miên. Phải chi thằng Tí đừng về nội, giờ này nó ở trường, giờ này ông đã đến thăm nó… thì đâu có chuyện gì. Phải chi ông còn đưa rước thằng Tí như dạo trước thì ông đâu cần đi lang bang… Phải chi “con Kim nó nói thiệt để mình biết tại sao nó không để mình đưa rước thằng Tí”… thì ông đâu có thắc-mắc, bởi thắc-mắc nên cứ muốn đi vòng vòng… Phải chi hồi còn “vàng son”, bay qua đây tậu một villa to cho các con, có đất rộng vườn to… thì bây giờ ông đâu gặp chuyện bực mình ở nơi công cộng… Ờ… mà phải chi miền Nam đừng bị Việt Cộng chiếm đoạt… thì ông đâu trắng tay để phải lưu vong như vầy… Phải chi… Phải chi… Ông Hai thở dài, dụi điếu thuốc rồi đưa hai tay vuốt tóc như muốn phủi xuống những cái “phải chi” đang đè nặng trên đầu. Ông nghe ở kẽ mấy ngón tay dính vài sợi tóc. Đưa ra trước mặt, nheo mắt nhìn: sợi tóc nào cũng trắng phau như cước.
Đêm đó, sau khi đưa cha vào giường nằm giữa hai lớp drap, Kim vừa tấn mí couette vừa hỏi:
– Ba có đồ giặt không?
– Có. Cái quần với cái áo sơ-mi máng trên cửa đó, con.
Kim cầm lấy quần áo thọc tay vào mấy túi để coi “ông già có để quên gì trong đó không”. Từ trong túi quần, Kim móc ra một cái đồng hồ đeo tay cũ kỹ. Ngạc nhiên, Kim hỏi:
– Ủa, Đồng hồ nào đây?
– Đồng hồ của ba, à…
– Còn cái đồng hồ Seiko điện tử mà thằng Út mua tặng ba đâu rồi?
Ông Hai nghiêng đầu về phía cái bàn con đặt cạnh đầu giường:
– Đó! Nó nằm cạnh cái đồng hồ reo, đó. Ba vẫn đeo nó chớ!
– Vậy! Còn cái này?
Ông Hai ngập-ngừng một lúc:
– Ờ… thì… ba giữ nó làm kỷ niệm.
Kim cầm đồng hồ ngấm nghía rồi cau mày:
– Ủa! Đồng hồ gì mà chạy kỳ vậy? Bây giờ mà nó chỉ 5 giờ!
– Giờ Việt Nam đó con.
Kim phì cười:
– Ở bên Pháp mà ba còn giữ giờ Việt Nam làm gì?
– Để… nhớ…
Tiếng “nhớ” nghẹn ngang ở cổ. Mặt ông Hai bỗng nhăn lại. Ông nhắm nghiền mắt để kềm cảm-xúc. Trong một khoảnh-khắc, bao nhiêu hình ảnh hiện về trong đầu ông thật nhanh, chớp tắt không thứ-tự lớp-lang: bà Hai, cái nhà, sở cao-su, tiệm nước thằng Tỷ, con nhỏ tóc vàng đòi bóng, thằng Tí đứng sau hàng rào lưới kẽm, thằng Rớt tiển ông ở phi-trường… Một lúc sau, ông mở mắt nhìn con gái, giọng buồn vô hạn:
– Ba bỏ xứ ba đi, ba chẳng còn gì để đem theo hết. Chỉ có cái đồng hồ đó là còn giữ được chút gì của Việt Nam, lâu lâu lấy ra dòm coi mấy giờ ở bên đó. Để còn có cái gì nó nhắc nhở. Và để thấy làm như mình vẫn chưa cắt lìa cuống rún đối với quê hương. Con hiểu không?
Kim cảm động nhìn cha. Mái tóc trắng càng quá trắng trên nền áo gối màu xanh sậm. Bao nhiêu nếp nhăn trên mặt trông thật rõ nét vì niềm xúc động dâng lên. Kim thấy thương cha vô cùng. Cô đem cái đồng hồ cũ của cha đến đặt một cách trang trọng cạnh đồng hồ Seiko, rồi cuối xuống vừa hôn lên trán cha vừa nói:
– Ba đừng buồn. Ở đây còn có tụi con, còn có thằng Tí…
Ông Hai xẳng giọng:
– Thằng Tí! Thằng Tí! Có mỗi chuyện đưa rước nó đi mẫu giáo mà con còn giành thì lấy gì biểu ba vui đây?
Kim quỳ xuống cạnh giường, nhìn cha một lúc rồi nói:
– Chừng thằng Tí đi nội về, con sẽ giao nó lại cho ba đưa rước.
Ông Hai ngóc đầu lên, tròn mắt ngạc nhiên:
– Thiệt hả con?
Kim gật gật đầu nghiêm giọng:
– Nhưng mà với điều kiện là ba đừng cho nó uống rượu và ba phải bớt hút thuốc đi. Trong trường, người ta than phiền là sáng nào thằng nhỏ vào đó cũng nghe mồm miệng hôi rượu và quần áo tẩm mùi thuốc lá. Vậy, ba có hứa không?
Ông Hai nhớ lại sáng nào khi ông uống rượu chát ông cũng cho thằng Tí hớp một hớp giống như khi ông ăn vặt ông thường đút cho nó vài miếng. Thằng nhỏ khoái lắm, nhảy tưng tưng. Hình ảnh đó thật là dễ thương. Bây giờ thì… thôi! Điều quan trọng là được tiếp tục đưa rước thằng cháu ngoại. Nghĩ như vậy nên ông nheo mắt mỉm cười:
– Hứa chớ sao không, con.
Bỗng cái cười của ông méo đi. Ông chớp chớp nhanh mắt. Không kịp rồi! Hai giọt nước mắt đã lăn xuống hai bên thái dương. Kim ngạc nhiên:
– Ủa! Sao ba lại khóc?
– Ờ… già rồi, kỳ lắm. Buồn thì khóc đã đành. Mà vui cũng bắt chảy nước mắt nữa con! Ba đang vui lắm đó chớ!
Kim phì cười, cuối xuống hôn cha rồi đứng lên lấy đồ giặt bước ra. Đến ngưỡng cửa, Kim quay nhìn cha mà nghe tình thương càng dào-dạt trong lòng. Kim đưa tay tắt đèn rồi đóng cửa lại nhè nhẹ. Trong bóng tối, ông Hai tự nhủ thầm: “Rồi mình cũng phải tìm cách cai thuốc lá nữa chớ! Cho con nó vui…”
Đêm đó, ông Hai ngủ thật ngon, quên luôn rằng mình đang nằm giữa hai lớp drap chớ không có chui vào hai lớp mền như thường lệ!
Tiểu Tử
***
*CHU TẤT TIẾN: CHUYỆN KINH DỊ: SỬA MŨI

Chu Tất Tiến.

Số tôi bị Sao “Dao, Kéo” chiếu mạng nên gặp toàn chuyện hung hiểm, bị sắt thép đâm vào người hoài hoài. Hồi học lớp đệ Ngũ (lớp 8) thì vì gầy yếu, bị “bu-lì”, bắt nạt trong lớp hoà, nên một hôm tức khí lấy lưỡi lam, bẻ ra làm đôi, tay phải cầm nửa miếng dao sắt, rạch trên cổ tay trái hàng chữ “chu tat tien” thật sâu cho máu chẩy thành giọt xuống đất, rồi dí vào mặt thằng Hoàn, vua bắt nạt, làm thằng này xanh mặt. Từ đó, hết dám “bu-lì” tôi. Đến thời thanh niên thì đánh lộn lia chia, bị đâm, chém nhiều nhát, sẹo rải rác từ ngực xuống tay chân. Đi lính, rồi đi tù. Vì tính ba gai, nên bị đập hai lần. Lần đầu, vì phát biểu xin xem lễ Giáng Sinh, bị cai tù Tổng Quản Giáo kêu vào phòng đập cho môt trận, nhưng với tôi là nhẹ hều, không “xi nhê”. Lần hai, đang ngồi trên chiếu, chơi đàn một mình, bỗng bị một nhóm 5,6 mạng nhào dô, vung chân đá liên tiếp vào mặt, khi cái đầu mình vừa đúng tầm những bàn chân lực lưỡng, nên vỡ mũi, vỡ má, chảy máu tai lênh láng. Từ đó ngạt mũi liên miên, không thở được, phải ngủ ngồi cả năm. Sau, nhờ gia đình mang thuốc trụ sinh lên, mới thở được, nhưng cứ mùa lạnh là ngạt cả hai bên mũi, xức dầu xanh muốn ói luôn.
Về nhà thì lập tức đi tìm Bác Sĩ chữa mũi. Thầy đầu tiên, ở Phú Nhuận, vành mũi ra xem rồi bảo “có cục thịt lồi ra một bên, phải đốt đi.” Đốt thì đốt, sợ gì! Ông bác sĩ đưa cho một cái khăn tay, bảo hứng máu ở dưới cằm, nếu chẩy ra. Ông còn dặn: “khi đốt thịt thì phải nín thở, không hít vào, vì khói độc sẽ vào phổi, có thể chết.” Rồi ông cầm một cái dùi y như cái đầu hàn điện nhỏ, cắm dây điện vào đít dùi, rồi từ từ đâm vào mũi tôi, dí xuống miếng thịt thừa, để đốt cháy nó đi. Tôi nín thở thì được, nhưng khi miếng thịt bị đốt cháy ngay trong mũi, đau quá thì chịu không nổi, phải hét lên. Ông vội rút cái dùi điện ra, ngần ngừ một lúc rồi lại bảo: “Thôi, đốt không được thì tôi phải cắt nó! Ngày mai trở lại, tôi cắt nó cho!” Tôi lảo đảo đứng dậy, muốn té luôn, nhưng gan cóc tía, nhất định sẽ trở lại. Ngày hôm sau, ông thầy nhét một cục bông gòn ướt vào mũi, bảo: “đó là thuốc tê, tôi làm cho tê đi rồi mới cắt.” Đã chơi thì chơi tới cùng, tôi gật đầu. Chừng vài phút, thấy tê tê mũi thật, tôi ra dấu cho ông Thầy làm việc. Ông thầy cũng dùng một cái kéo điện, có dây điện cắm vào đít kéo. Ông dùng găng tay dầy, để tránh bị điện giật, rồi chọc mũi kéo vào mũi tôi, loay hoay.. cắt cái chỗ lồi lên trong mũi! Vừa xoẹt xoẹt cái kéo vài nhát, tôi nhẩy nhổm lên, gạt tay ông Thầy ra, la lớn lên: “Đau quá!” Đau kinh khủng! Dù đã bị đâm, chém, đánh nhiều lần rồi, mà chưa lần nào đau ghê gớm như vậy, vì cục thịt lồi ra là do mạch máu bị nhiễm trùng, sưng lên ở ngay trong lòng mũi, sát với óc…mà ông Bác Sĩ này định dùng kéo cắt cái chỗ thịt bị nhiễm trùng như cắt bánh vậy! May mà chưa đứt, nếu miếng thịt đứt chắc là giờ này, mộ tôi đã xanh cỏ nhiều năm. Máu mũi chẩy dòng dòng, hòa với nước mắt, nước mũi xền xệt, chàm ngoàm trên mặt tôi, rồi chẩy xuống cổ, xuống áo, đỏ lòm! Tôi ngã ngửa ra khỏi ghế, rớt xuống đất, nghe cái “bịch”, rồi nằm lăn ra luôn, co quắp. Đau thấu trời xanh! Đau tím lịm cả người!
Ông Bác Sĩ Tai, Mũi, Họng nhăn nhăn: “Thôi, ông không chịu đau được thì thôi, về đi, tôi không lấy tiền! Chữa không đấy! ” Đang lúc đau đớn muốn xỉu, nghe thấy ông Thầy nói đến tiền bạc, tôi nổi sung, tính đục ổng luôn, nhưng lại cố gượng ngồi dậy, phủi quần áo rồi thất thểu đi về, trong bụng đầy tiếng chửi không ra hơi. Đến nhà, tự lôi thuốc trụ sinh ra uống để tránh cho mũi không bị làm độc!
Chừng năm sau, chịu không nổi việc ngạt mũi trời lạnh, lại đi tìm một Bác sĩ Tai Mũi Họng khác, là bác sĩ chế độ cũ. Ông này ngon lành hơn, báo cho tôi biết phải mổ để đặt lại vách ngăn đã bị lệch. Có lý, chơi luôn! Hôm đó, đến phòng mạch ông, thấy gọn gàng và có vẻ y khoa hơn cái ông Lang Băm kia, tôi nằm xuống cho ông chích thuốc tê đàng hoàng. Đợi thuốc tê ngấm, ông mới mổ banh cái mũi tôi ra, nằm nhắm mắt, tôi chỉ nghe thấy cái dụng cụ gì của ông, đục đục, đẽo đẽo trong mũi, nhưng không thấy đau. Chừng một khoảng thời gian nào đó, ông vỗ vai tôi, cho ngồi dậy, và chỉ cho tôi thấy một đống lầy nhày trăng trắng, đỏ đỏ. Ông bảo:
“Tôi chưa đặt vách ngăn cho ông, vì khi mổ ra thấy nguyên lớp sụn bọc trên chóp mũi bị vỡ vụn, tôi phải đục và gắp ra hết! Nếu để lại, thì lúc nào đó, nó sẽ sưng lên, làm độc.”
Rồi ông cười, đùa giỡn cho tôi vui:
“Ông yên chí! Mũi ông chỉ thấp đi một chút thôi, nhưng vẫn còn cao như Tây lai.” Rồi tiếp: “Ông sẽ ngạt mũi vài ngày rồi hết. Đừng lo nhé!”
Đúng là tư cách của một Bác Sĩ chế độ Cộng Hòa, lương y như từ mẫu, khác hẳn với ông Lang Băm Xã Hội Chủ Nghĩa, Xịa Hết Chỗ nói, Xạo Hay Chơi Nổi! Từ đó, “bớt” ngạt mũi, nghĩa là thay vì ngạt hẳn hai bên mũi, thì chỉ ngạt một bên thôi. Dùng dầu cù là xức vào là hết ngạt. Cũng cám ơn ông Thầy. Rồi, tới ngày chuẩn bị đi Mỹ, tôi suy nghĩ là phải chữa tối đa cho hoàn toàn hết ngạt, kẻo sang Mỹ, lạnh lắm, thì bỏ bu! Cho nên, lại loay hoay đi tìm một Bác Sĩ khác, nghe nói ông này “mát tay lắm”. Tôi đến, kể cho ông nghe bệnh trạng của mình. Ông Bác Sĩ này lắng nghe một lúc thì phán: “Ông đã làm đúng rồi, nhưng còn thiếu một phương pháp mới, không cần mổ máy gì cả! Tôi sẽ rút máu ở tay ông rồi bơm lại vào mông, cho máu di chuyển, thì sẽ hết ngạt!” Mới đầu tôi hoang mang quá. Dù gì mình cũng có học chút chút và biết rằng lấy máu chỗ này bơm vào chỗ nọ thì có khác gì? Nhưng lúc đó, cần đi Mỹ quá, nên lú mẹ lú con. Tôi đồng ý và nghĩ rằng, biết đâu đấy? Thế là cứ 3 ngày, tôi lại đến phòng mạch ông, cho ông rút máu ở tay rồi lại cắm phập vào mông… Chích cho đến khi cái mông chai lại, ngạt vẫn hoàn ngạt. (Cũng có thể vì thế mà tôi bị viêm gan B, vì không thấy ông nấu cái kim chích gì cả!)
Rồi tới ngày đi Mỹ. Ở xứ người hai chục năm, tình hình tài chánh ổn định, lại nhớ đến cái vách ngăn mũi chưa làm, nên đọc báo rồi tìm đến một phòng mạch kia, nối liền với bệnh viện khá lớn ở quận Cam trên đường Brookhurst. Ông Bác Sĩ này tre trẻ, khoảng trên 40 thôi, trước ngực có thêu hàng chữ đỏ: “Head & Neck Surgery. Ear & Nose & Throat” A! Nếu có bằng mổ đầu, mổ cổ thì chắc phải giỏi lắm. Yên chí lớn! Tôi giao cái mạng tôi cho ông Bác Sĩ trẻ. Ngày vào bệnh viện, cũng chích thuốc mê, tôi thiếp đi, chẳng biết trời trăng gì. Tỉnh dậy, cô Y Tá đỡ tôi ngồi lên, cho đi Restroom. Tôi ngạc nhiên hết sức vì mình mổ mũi có can hệ gì đến thận, mà sao đi tiểu thấy máu đỏ lòm? Hỏi cô y tá, cô cũng lúng búng, chẳng hiểu sao. Thôi, kệ, 3 ngày sau đến rút dây chỉ khâu trong mũi ra, sẽ hỏi.
Ba ngày sau, chuyện kinh dị xẩy ra. Chuyện này còn kinh hoàng hơn hồi đốt mũi, cắt lỗ mũi nữa! Vì còn mệt lả, nên con dâu đưa đi. Đến phòng mạch của ông, không thấy y tá, ngoài ông bác sĩ. Ông đặt tôi nằm trên giường, bảo để rút chỉ ra. Cô con dâu hơi lo, nên hỏi Bác Sĩ cho ngồi ở đó, trông chừng. Ổng gắt lên bằng tiếng Anh: “Đi ra ngoài. Ngồi chở ở ghế đó, khi nào tôi gọi, thì mới được vào”. Rồi ông tống con dâu tôi ra ngoài cửa ngoài, chỗ không thể nghe thấy gì xẩy ra trong phòng khám. Đoạn ông đưa tôi một cuộn giấy Napkin lớn, bảo tôi thấm máu lấy. (Ông trao đổi với tôi hoàn toàn bằng tiếng Anh), ông cầm kéo chọc vào mũi tôi, cắt từng múi chỉ khâu ra, rút ra “bực, bực”. Xong, ông quay lại nói với tôi: “Tôi ra ngoài, ông cầm máu một lúc, tôi sẽ trở lại!” Thế là ông quầy quả đi ra, sang phòng khác, khám một bệnh nhân khác. Lúc này bắt đầu một chương truyện hãi hùng! Mới đầu, máu trong mũi tôi chẩy ra từ từ, từng giọt, từng giọt, nhưng dần dần, chuyển sang chẩy ồ ạt thành giòng. Tôi cầm nguyên một cuộn Napkin to thế, thấm liên tục mà máu cứ chẩy suốt, không ngừng. Hơi hoảng hốt, tôi ấn một cục to vào mũi, rồi ráng ngồi dậy, lúc đó đã bắt đầu chóng mặt, lê ra cửa phòng, nhìn ra ngoài hành lang, không thấy ai, tôi ráng gõ gõ “cọc, cọc” vào tường một lúc, không thấy động tĩnh gì. Dùng hết sức tàn, tôi gọi lớn: “Bá….ác Sĩ i…iĩ.. ĩ …. Ơ..i…i” Phải vài phút sau, mới thấy ông đi ra từ phòng bên cạnh, hất hàm hỏi: “cái gì vậy?”. Tôi chỉ vào đống giấy máu và những giọt máu đang nhễu nhão đầy mặt. Ông vội bước tới, đẩy tôi vào trong, cho nằm lại, rồi lấy ra một lọ bông gòn, nhét từng cục vào mũi tôi. Nhưng vì mạch máu trong mũi đã bị đứt, nên mấy cục bông gòn làm sao giữ được? Máu chẩy ra, đẩy cục bông gòn rớt ra ngoài. Lúc bấy giờ ông mới biến sắc nói bằng tiếng Việt: “Bị bể động mạch rồi, cháu phải mổ lại!” Nghe nói mổ lại, tôi hết hồn, hỏi run run:
-Thế …Có thuốc tê không?
Ông tỉnh bơ: “Không cần và cũng không kịp!”
Tôi hỏi nữa:
-Thế… có thuốc cầm máu không?
Ông cũng tỉnh bơ: “Không cần. Mau lắm!”
Rồi ông lôi ra một thùng dụng cụ mổ xẻ gì đó, ấn tôi xuống giường và bắt đầu.. mổ lại! Mổ trong mũi, không thuốc tê, không thuốc cầm máu. Ông dí cho tôi một cục Napkin lớn nữa, nói tôi tự lau máu lấy.. Các bạn hãy tưởng tượng những cơn đau kinh khiếp như thế nào, khi cái kéo, cái kìm gì đó chọc tuốt vào trong mũi, banh chỗ mổ cũ ra, cắt cắt, xén xén, rồi kim chỉ chọc vào, khâu khâu, thắt nút, rút lên, cắt chỉ……
Đau quá, đau vô cùng, đau buốt trong đầu, trong óc, trên từng thớ thịt của cơ thể, tôi muốn xỉu, nhưng vì nhớ đến vụ lau máu chan hòa trên mặt, trên môi, tràn vào miệng, qua cằm, xuống cổ… lành lạnh., tôi vận dụng hết sức bình sinh, hết tinh thần, đọc kinh, cầu Chúa: “Lạy Ngài, nếu Ngài muốn con chết vì mất máu, thì xin Ngài cho con đi ngay, đừng để con đau đớn quá thế này! Con chịu hết nổi rồi! Chúa ơi! Đau quá…” và cứ thế, tôi đọc kinh…
Cuộn giấy Napkin đã hết, ông dí cho tôi cuộn thứ hai… Không nhìn xuống, tôi cũng biết là sàn phòng đầy máu và giấy lau máu…
Cuộc tra tấn kinh dị rồi cũng qua. Có lẽ tại tôi đọc kinh liên tục, Chúa đã không để tôi chết trên giường khám bệnh. Ông thở phào: “Xong rồi, chú có thể về!” Rồi ông mở cửa, gọi con dâu tôi vào. Cháu hỏi “có xe lăn đẩy bố tôi xuống thang không?” Ông Ác Mẫu (Mẹ ghẻ) này lắc đầu rồi đi sang phòng bên cạnh, khám bệnh tiếp. Con tôi dìu tôi đứng dậy và lê lết trên sàn nhà đầy máu, ra thang máy. Từ thang máy ra đến chỗ đậu xe có hơn trăm thước mà hai bố con tôi lết đúng nửa tiếng mới tới nơi.
Về nhà, nghe con dâu tôi thuật lại chuyện kinh dị này, cả nhà phẫn nộ. Mấy người bạn tôi, cũng là Bác Sĩ, Luật Sư, nghe tôi kể, đùng đùng nổi giận, nói tôi nên viết thư tố cáo thái độ vô nhân và không chuyên nghiệp này cho “nó” mất bằng luôn, tôi cười, lắc đầu. Thôi, để Trời xử trí hắn. Làm Ác thì sẽ gặp Ác. Mê tiền, mất lương tâm chức nghiệp thì thế nào cũng bị quả báo. Còn tôi, sống sót là may rồi, có ngày kể chuyện kinh dị Sửa Mũi này cho bà con rút kinh nghiệm mà tránh.
Chu Tất Tiến. 9 tháng 9 năm 2020.
***
*KÍNH MỜI GHÉ THĂM WEB MỚI

https://hangoc2020.blogspot.com/
***
*GỬI HƯƠNG THEO GIÓ MÂY NGÀY BAY…
*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

* PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN
*THANH THANH * THU MINH * BS TRẦN XUÂN DŨNG
* HỒ THỤY MỸ HẠNH * TÍM * NHƯ NHIÊN * Ý NGA *
* ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN * KIỀU PHONG * SA CHI LỆ

**
7-DÒNG THƠ XƯỚNG HỌA, QUÝ THI SĨ:

*TÍM * HẢI RỪNG * ANH NGUYÊN * HỒ NGUYỄN *
*THẢO CHƯƠNG TRẦN QUỐC VIỆT * NGƯỜI QUA ĐƯỜNG *
***
*THI SĨ ĐA TÀI PHẠM THIÊN THƯ
*PHẠM THIÊN THƯ

HUYỀN NGÔN XANH

Ta ngồi đợi đóa hoa
Trổ vàng nơi vách đá
Ta nghe suốt mùa thu
Chờ tiếng chim trời lạ
Chờ cái gì trong ta
Ôm bạn cười ha hả

Kẻ ngâm mình dưới suối
Chẳng thấy nước qua mình
Kẻ lên núi buồn tình
Chẳng thấy áo mây trắng
Con Từ Qui thầm lặng
Có biết tại sao kêu
Hạt mưa thu rơi đều
Nào hay từ đâu đến
Biết bao đều mầu nhiệm
Kỳ thú đơm trong ta

Nước sông còn đọng đó
Sao anh đã vội về
Đầu cầu giăng sương bụi
Khoác nón – tà dương đi
Tiễn bạn cầu cỏ biếc
Giờ lối cỏ còn xanh
Ba chục năm biền biệt
Ngó nước xuôi sao đành?

*PHẠM THIÊN THƯ
***
*THI SĨ & DỊCH GIẢ TRẦN QUỐC BẢO
*SANG MÙA
Thơ Trần Quốc Bảo

Mùa Hạ qua, như cô nàng khó tánh,
Giận đùng đùng !!!… rồi đỏng đảnh ra đi!
Suốt Tuần nay, khí hậu nóng lạ kỳ,
San Jose lên 104 độ F !

Đành chấp nhận! chuyển vần theo thời tiết,
Tạm chia tay với Hạ nhé, em ơi!
Rồi sang năm, sẽ gặp lại nhau thôi,
Đã vĩnh biệt em đâu, mà tiếc luyến!

Ba tháng Hạ… ối chao ôi, nhiều chuyện!
Đổ mồ hôi! vẫn phải bịt khẩu trang!
Cháy rừng Cali, khủng khiếp kinh hoàng!
Louisiana thời bão giông càn quét!

Mùa Bầu Cử, mùa Bạo Hành… hò hét!
Thế đủ rồi !!! Tạm biệt Hạ, nghe em!
Đợi sang Thu, cho khí hậu êm đềm,
Ta với Thu, vốn mộng mơ hò hẹn!

Chiều vàng Thu, chập chờn đôi cánh én,
Triền National Parks lá ửng Thu hồng!
Có phải Thu, ngoài song cửa đó không?
Ta mong chờ, làn gió Thu dịu mát!

Dáng Thu diệu huyền, mây trời bát ngát,
Sương Thu mơ màng, như cảnh Bồng Lai,
Dưới trăng Thu, êm ả chuốc men say.
Mong Thu tới, rộng vòng tay Nhân Ái!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
***
*THI SĨ TRẦM VÂN***
*THI SĨ ĐA TÀI THANH THANH   *THƠ SONG NGỮ THU MINH & THANH THANH  
NHỚ CHỊ GIỮA
MÙA THU LÁ VÀNG

Chiếc lá vàng rơi hay cánh bướm
Ðến đậu vai em một sớm Thu
Mình em trở lại con đường cũ
Kỷ niệm ─ xua đi lớp sương mù

Thương em cách trở miền quê ấm
Chẳng quản đường xa chị đến thăm
Quê hương là chị, là Hà Nội
Trà sen, hương cốm thắm ân tình

Chị chải suối tóc thời con gái
Nhẹ bay trong chiều nắng lung linh
Em ngồi ngắm chị qua khung cửa
Ấm lòng ngỡ tưởng… giữa quê mình

Chị đến ─ ngày Thu mới chớm vàng
Giờ đây Thu đổ lá mênh mang
Dòng sông nhớ chị đìu hiu chảy
Mới đấy… đã xa, thật ngỡ ngàng

Thời gian xếp lá vàng muôn lối
Nhớ chị lòng em lại bồi hồi
Những ngày bên chị ─ trăng Thu tỏ
Hỡi người chị giá mến thương ơi

THU MINH
(Pháp)

I MISS YOU
IN THE YELLOW FALL

A yellow leaf – or, is it a butterfly? –
Has alighted on my shoulder this autumn morn.
I am going back, by myself, to the old path
And my remembrance dispels the haze lorn.

Pitying me, separated from the cosy abode,
You passed long distances to visit me here:
Our mother country is you, Ha Noi City –
Lotus tea, green rice flavor – loves so dear.

In the shimmering afternoon sun, you combed
Your hair that fluttered – the light girlish strand.
Thru the doorframe, I sat contemplating you,
So heart-warming as back in our homeland.

You came – those days just grew yellowish;
Now, fall has dropped dead leaves all around.
Missing you, even the river flow is desolate:
Then there, now far-away – just to confound.

Time spreads yellow leaves on every side;
Thinking of you I feel by sadness seared.
How I remember – in the clear moonlight
Being beside you, sister, my very endeared!

Translation by THANH-THANH
Thanh-Thanh.com

NGOẠI ĐỀ:***
*BS TRẦN XUÂN DŨNG
***
*Thơ Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh: Đêm Nhớ Anh

Đà Lạt Chiều Phai
Thursday, September 10, 2020 ĐSLV , Hồ Thụy Mỹ Hạnh , Thơ

Đêm Nhớ Anh
Đêm nhớ anh
Cây đàn buồn im tiếng
Lược gương lười biếng
Rời xa tay em
Đêm nhớ anh
Gió tạt qua thềm
Lay thêm niềm nhớ
Có một vì sao vỡ
lạc vào mắt ai…
Đêm nhớ anh
Em xõa tóc dài
Tương tư từng sợi
Đêm nhớ anh
Trăng buồn mong đợi
Trên ngọn thông gầy
Chiếc lá thu bay
Nhẹ rơi ngoài ngõ
Em ngỡ là ai đó
Đường xa chợt về…
Hồ Thụy Mỹ Hạnh Đà Lạt Chiều Phai
Hôm nao em về Đà lạt
Chiều nghiêng bóng trên mặt hồ
Thành phố luôn được điểm tô
Quanh năm với ngàn hoa nở.
Ra đi mang theo nỗi nhớ
Về miền cao nguyên thân thương
Sớm mai đẫm mờ hơi sương
Giăng ngang qua tim lạnh giá.
Khi mà chỉ một chiếc lá
Cũng đánh thức nỗi cô đơn
Mùa thu ngỡ như dài hơn
Trong những buổi chiều ngơ ngác.
Hôm nao em về Đà Lạt
Hoàng hôn tím mờ chân mây
Lá vàng theo gió bay bay
Rơi vào tâm tư để ngõ…
Hồ Thụy Mỹ Hạnh
(Đặc San Lâm Viên)
***
*NỮ SĨ Ý NGA*THU NÀO CŨNG NHỚ BA MÁ

Đường này vàng lá sáng trưng,
Lối kia cam, đỏ tưng bừng sắc khoe
Hồn thơ những tưởng phai nhòe
Nào dè khe khẻ vuốt ve, lạ tề?

Hạ đi hẹn sẽ quay về
Tuổi đi chẳng hẹn, đất quê vẫn chờ
Còn hơi thở, nhớ hơi thơ
Trái tim yêu chữ mơ mơ màng màng.

Thế gian mấy tỷ chàng nàng
Yêu thơ đến thể lá vàng cũng yêu?
Tuổi nào tuổi chập choạng chiều,
Thu nào thơ bớt chắt chiu thu à?

Má ơi! Má biết chăng là
Nhờ thơ con thấy chưa già như thu,
Mượn thu ngọn gió vi vu
Gửi về phương cũ xa mù: nhớ thương!
Ý Nga, 11.9.2020. ***
*NỮ SĨ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN
Mệnh Trời

Ông ngồi ghế Tổng thống
Sắp sửa tròn bốn năm
Tâm ông trong trời đất
Sáng tỏ như trăng Rằm

Người nói ông: Đại Ngốc
Làm việc không ăn lương
Những kẻ tham tiền bạc
Thù ông đến tận xương

Người nói ông: Đại Dũng
Chính trường như chiến trường
Không giáp sắt, mũ sắt
Hàng ngày, ông tiến lên

Người nói ông: Đại Trí
Những cải cách tuyệt vời
Vì virus Vũ Hán
Đành chững lại, chờ thời

Người nói ông: Đại Nhẫn
Nan nhẫn quá đi thôi
Gán tội rồi luận tội
Chẳng có ngày nào vơi

Kẻ thù ông ác hiểm
Lắm chước quỷ mưu ma
Có kẻ trong Tam giới
Có kẻ ngoài Thiên hà

Một liên minh ma quỷ
Ngày đêm dòm và rình
Đứa vung rìu trước mặt
Đứa ném bùn sau lưng

Ông tu thân từ nhỏ
Nhân – Trí – Dũng vẹn toàn
Muốn dân mình hạnh phúc
Ông chẳng hề từ nan

Làm tiếp bốn năm nữa
Khổ nạn đấy ông ơi
Giải thể hết tà ác
Ấy là xong mệnh Trời

Ngày 09 – 11/09/2020
Đoàn Thị Lam Luyến
***
*NHƯ NHIÊN – TT TUỆ
**
Về

Người về khép lại biển dâu
Quẳng manh áo đã bạc màu phong sương
Tình tan dưới cội vô thường
Soi gương… bỗng hiện một vầng trăng xưa.

Nghìn thu đời vẫn nắng, mưa.. .
Hai bờ huyễn thực say sưa giấc đời!
Gửi đôi dép tặng luân hồi
Chừ không đi nữa.. xin rời mộng du.

Như Nhiên
***
*THI SĨ KIỀU PHONG***
*SA CHI LỆ
*VIÊN ĐẠN

Lỡ hò hẹn nên trèo rào thật sớm
Ra Gò Dầu đón xe lên Tây Ninh
Sáng chủ nhật sao ai cũng rộn thế?
Vui như ta hay đi tránh bom rơi!

Gặp em mới nghe đau ran rát
Bởi kẽm gai cũng biết làm tình
Em xúc động tuổi vừa chập chửng
Ôm vuốt ve nhầu áo nhà binh

Em hỏi ta làm sao tìm định mệnh?
Buộc hai đứa mình để khỏi mất nhau
Ta bảo rằng cuộc đời như viên đạn
Rất vô tình khi tống thật đau…

Ta bảo rằng cuộc đời như viên đạn
Rất vô tình khi được tống thật đau
Tống thật đau nên thường không trúng đích
Trúng đích rồi tan vỡ cả trăng sao!….

*UỐNG RƯỢU

Muôn nghìn ma khóc lu bù
Vây quanh sét đánh đời tư ta nhầu
Nửa đêm phát ghét binh đao
Ta bèn chĩa súng bắn sao trên trời
Bạn ơi! Hãy đến đây chơi
Cà cưa uống rượu mà nhơi hòa bình!

*LÍNH DÙ

Đêm nay đại bác bắn hoài
Không sao chợp mắt sớm mai nhảy dù
Dù năm bảy bữa vào tù
Ngâm thơ thời chiến gầm gừ tương lai
Đứng ngồi trông chẳng giống ai
Quá thương bè bạn ngủ vùi cỏ cây…

* XUÔI VỀ KHIÊM HANH

Hỡi đăm chiêu đọng vành tai tóc non
Săm soi trên đường khua hồn huyền thoại
Phủ bụi mịt mù che khuất bóng câu
Lời ẩn dụ mỉm cười sau lưng hy vọng

Gió trên đồi rộn ràng thúc hối bước âu cơ
Ôm tà áo bạch thượt liếm môi ngày tháng chập chờn
Khiêm Hanh ơi! Kỷ niệm nào bay xa và trở lại?
Luyến bóng chim hoang phế lảo đảo về dấu mặt dễ thương

Vầng trăng ngủ bên chòi xiêu tình tự
bó gối nhìn hư vô té vội bên lề
Gặm ảo tưởng, vò tình yêu giãy chết
xuống dốc tìm thổi những cánh hoa rơi

Những cánh hoa rơi một màu tím ngắt.
Tựa hòn đá cuội vỗ về chơi vơi
Ta ngẩn ngơ thấy mình chết thật rồi!
Làm sao? Mai này dìu em ra phố?
Thơm mùi áo rừng trấn đóng biên khu

Chim vò vẽ mổ hoài câu lỡ hẹn
Thơ ta bay thành khói đợi em về…

* KHÔNG NÓI MÀ SAO…

Ta thất thế nên mang nhiều thương tích
Ngẩn mặt lên hào khí đụng chân mây
Ta xua tay nuốt nghẹn đôi dòng lệ
Tự dỗ dành không thẹn chí nam nhi

Ta đã nói nhiều cũng như không nói
Không nói mà sao đến ứ tràn?
Trăm năm chắc cũng không bằng nửa
Cái mĩm cười ta hận trăm năm…

ĐƯỜNG RA MẶT TRẬN

Chiều sủi cát đứng trước trường Nguyễn Kim
Ta tự hỏi yêu ai mà cứ đợi?
Đường vào Khiêm Hanh vạn nỗi buồn tênh
Sẽ hóa thân chim kêu đời độc dược

Ta hiên ngang ra mặt trận bưng biền
Tiễn đưa ai hay một mình đưa tiễn
Súng đạn hờn, gió ngược, dáng xiêu xiêu
Mai trở lại ai biết mình lâm chiến?…

SA CHI LỆ *thơ thời chiến 1972

*Chân thành giới thiệu với quý vị trên diễn đàn:
*Tạp Chí VĂN HỌC MỚI SỐ 8 vừa phát hành tại Hoa Kỳ
& khắp nơi trên thế giới qua AMAZON.
• Điều hành: HÀ NGUYÊN DU
• Đại diện phát hành tại Toronto: NGUYỄN VY KHANH
Liên Lạc: vanhocmoi68@gmail.com
• hanguyendu@gmail.com
• https://vanhocmoi.com
***
*myhan245@gmail.com
***
*NỮ SĨ TÍM
*Gấp nè …

“Đỉnh cao trí tuệ” đám VÔ THẦN
Phản bội Rồng Tiên khỉ giả nhân
Nhận lịnh chồn Bình(*)bầy dốt nát
Nghe lời cáo Chệt lũ ngu đần
Tham quyền giử ghế Ngân buôn đất
Cố vị ôm ngôi Trọng bán dân
Chú phĩnh gian tà hành VIỆT TỘC
Tức nước vỡ bờ nhanh đứng dậy
Đuổi Tàu diệt cộng, gấp nè … cần

Tím Sept/11/2020
***
*CON SÔNG QUÊ

Con sông nước chảy cứ lình bình
Cô lái đò xưa bóng dáng xinh
Trong ký ức đời tôi thuở nhỏ
Để giờ tuổi hạc vẫn bên mình
Quê hương trắc ẩn trăm ngàn mối
Tâm thức vấn vương chỉ một tình
Dâu bể chẳng phai màu đất Mẹ
Tiếng lòng thôi thúc cuộc tồn sinh.

Hải Rừng
Bà Rịa, 12/9/2020

Bài họa:
CON SÔNG QUÊ
Ngày qua tháng lại vẫn bồng bình
Chiếc áo bà ba ánh mắt xinh
Cô lái đưa đò bên rạch xóm
Chàng trai đi học cạnh thôn mình
Sông xưa vạn thuở còn soi bóng
Chốn cũ ngàn năm vẫn năng tình
Nước loạn lên đường ngăn chống giặc
Tin về bạn cũ đã hy sinh

Tin về bạn cũ đã hy sinh
Cô lái đò xưa khóc tuyệt tình
Trọn kiếp đơn thân hờn số phận
Trăm năm chiếc bóng tùi duyên mình
Đành đau đớn liệm làn môi thắm
Để đắng cay vùi giấc mộng xinh
Một đóa hoa thơm cài trước mộ
Người đi để đất nước thanh bình
Anh Nguyen
Baton Rouge, 12/9/2020

* Khôi hài đen (thơ cổ phong)
VIỆT TỘC

Mùa Xuân thắng đại ló bầy bư
Lũ khỉ rừng xanh tưởng bảnh cừ
Thống nhứt lòi ra nòi cáo hại
Thanh bình lộ rỏ giống chồn hư
Kiêu căng trở điếc đôi tai điếc
Tự đại nên mù cặp mắt mù
Chất xám không dùng đem nhốt giết
Mùa Xuân thắng đại lộ bầy bư
*
Mùa Xuân thắng đại ló bầy bư
“Làm tốt” là hay biết nhiển nhừ
Ngộ ớn gian tà tài óc cẩu
Kỳ ghê ác độc giỏi đầu trư
Tham quyền bán nước khù khờ ngốc
Cố vị buôn dân dại dột ngu
VIỆT TỘC chồn Tàu đầu độc sắp
HỒNG BÀNG xóa sổ mất thiên thu
Tím Sept/12/2020

Xin góp bài họa

GIẤY RÁCH – XIN GIỮ LẤY LỀ
1
Lề giấy còn nguyên… giữ nếp nhà;
Chống mưu “đồng hoá” cả quê cha!
Quyết tâm hiệp lực ngăn “nguy” cận;
Bền chí chung lưng cản “họa” xa.
Huyết thống Việt Nam cần bảo vệ;
Giống giòng Đại Hán cố truyền qua.
Nghìn năm Bắc thuộc đau thương ấy!
Con cháu Rồng Tiên chớ để nhòa!

BỎ TRUYỀN THỐNG LẠC HỒNG GIỮ LẤY ĐẢNG RÁCH NÁT
2.
Sơn thủy tương liên…chuyện láng giềng;
Đứng chung giặc Hán dưới hàng hiên.
Núi sông đất Việt – Tàu gôm…bạc!
Biển đảo phương Nam – Chệt hốt…tiền!
Mộng ước xâm lăng mang vĩnh viễn;
Âm mưu đồng hóa giữ triền miên.
“Chữ Vàng” “Bốn Tốt” sao ca tụng???
Bán đứng quê nhà, giữ “đảng” riêng.

Thảo Chương Trần Quốc Việt
September 12, 2020

MÙA XUÂN và EM BÉ BÁN VÉ SỐ
1
Xuân đến hân hoan viếng khắp nhà,
Buồn vì chẳng có mẹ cùng cha.
Tay mang vé số rao vang xóm,
Mắt đảo quanh nhìn ngóng chốn xa.
Phố chợ đông người đi tấp nập,
Đường xe nhộn nhịp né băng qua.
“Mua vô, vé số!” kêu khan tiếng,
Chẳng thấy người mua- mắt lệ nhòa.

2
Bé sống cô đơn với xóm giềng,
Đêm về ủ rủ dưới hàng hiên.
Bán đôi cọc số nuôi thân đỡ,
Rữa bát làm thêm kiếm chút tiền.
Áo rách nhiều khi không có mặc,
Cơm khê thiếu thốn đói triền miên.
Xuân ai pháo nổ vang khu xóm,
Bé ước mong tìm có tổ riêng.
HỒ NGUYỄN

GIỮ LẤY LỀ
1
Thơ không chỉnh đối viết đầy nhà
Mẹ đọc rồi bàn luận với cha
Tiếc bấy tiền nhân thường sợ trước
Thương thay tổ phụ vẫn phòng xa
Thân già cẩn thận nên gìn giữ
Tuổi trẻ luông tuồng cứ vượt qua
Phép tắc người xưa hồn cốt cũ
Ôi thôi mẫu mực đã phai nhòa
2.
Đi quanh lối xóm, viếng chòm giềng
Ghé lại ngôi nhà, đứng dưới hiên
Thấy một bài thơ, nghèo chẳng đối
Nhìn hai túi áo, rỗng không tiền
Linh hồn Thi Luật khôn trường cửu
Cốt lõi Thơ Đường khó viễn miên
Tưởng nhớ người xưa mà nhỏ lệ
Ngậm ngùi cố nén nỗi niềm riêng

Người Qua Đường
September 11, 2020
***
*