CUỒNG BÃO TUYẾT MIỀN ĐÔNG BẮC CANADA

CUỒNG BÃO TUYẾT MIỀN ĐÔNG BẮC CANADA

    ĐỀ TÀI ĐẶC BIỆT HÔM NAY:

 

1-“Bom bão tuyết” hy hữu tấn công Canada

2-Phụ nữ thực sự mong muốn điều gì nhất?

3-Ca khúc VA PIENSERO Guiseppe VERDI,

một Ca Khúc Nhớ Nước bất hủ…

4-NHỮNG VẦN THƠ THỜI THƯỢNG..

5-NGƯỜI CUỐI CÙNG

***Một số khu vực tại các thành phố St. John thuộc tỉnh Newfoundland và Labrador của Canada đã bị chôn vùi trong những lớp tuyết dày do hiện tượng hy hữu trong tự nhiên “bom bão tuyết”.

Tuyết rơi chôn vùi xe hơi (Ảnh: Reuters)

Theo Dailymail, trận “bom bão tuyết” (Bomb Cyclone) xảy ra hồi cuối tuần qua đã khiến thành phố St. John trên bị ngập trong lớp tuyết dày chưa từng có trong lịch sử. Tại một số nơi, tuyết dày thậm chí đã chặn cửa ra vào, chôn các xe hơi đậu ngoài đường.

Rob Carroll, một chuyên gia khí tượng thủy văn ở Environment Canada, cho biết trong ngày 18/1, tuyết đã rơi dày 76,2 cm ở St. John, phá kỷ lục tuyết rơi trong một ngày là 68,4 cm hồi năm 1999.

Chính quyền địa phương đã nhờ quân đội Canada trợ giúp trong khi cư dân của thành phố phải đào hầm để ra khỏi những ngôi nhà bị tuyết chôn vùi. Đoạn video ghi lại trận “bom bão tuyết” trước cửa một căn nhà cho thấy trong một khoảng thời gian không dài, tuyết đã chất lên rất cao, vùi lên xe hơi và đường phố.

Một căn nhà hoàn toàn bị cách ly với bên ngoài vì tuyết đã rơi chặn cửa (Ảnh: Reuters)

“Bom bão tuyết” hình thành khi áp suất không khí giảm xuống thấp hơn hoặc bằng 24 millibar trong khoảng thời gian 24 giờ đồng hồ.

Trong khi đó, phía cảnh sát cho biết họ ghi nhận và đang tìm kiếm một trường hợp mất tích có tên Joshua Wall, 26 tuổi, người đã đi bộ ra khỏi nhà trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Thị trưởng St. John Danny Breen cho biết ông đã dành gần như cả cuộc đời sống ở thành phố này, nhưng đây là trường hợp mà ông chưa bao giờ chứng kiến.

“Tôi chưa bao giờ trải nghiệm sự kết hợp giữa lượng tuyết rơi, tốc độ rơi và tốc độ gió lớn như những gì chúng tôi chứng kiến trong những ngày qua”, ông Breen nói.

Vào sáng ngày 18/1, ông Breen nói ông có thể nghe thấy tiếng xe hơi chạy bên ngoài nhưng không thể quan sát vì tuyết rơi quá dày.

Ông cho biết ông cao 1,78 mét nhưng “tuyết rơi ở cửa nhà tôi đã quá đầu tôi. Tôi không thể nhìn thấy xe hơi bên ngoài”.

Tuyết rơi đã khiến St.John và một số khu vực tê liệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Tuyết rơi dày gây cản trở tầm nhìn (Ảnh: Facebook)

 Xe hơi kẹt cứng trong “bom bão tuyết” (Ảnh: AP)

***

Phụ nữ thực sự mong muốn điều gì nhất?

Tịnh Văn | ĐKN

Một ngày nọ, cô giáo kể cho chúng tôi nghe câu chuyện dưới đây… 

Đức vua Arthur khi còn trẻ từng bị nước láng giềng mai phục và bắt giữ làm tù binh. Vị vua của nước láng giềng vô cùng nể phục và ngưỡng mộ trước tinh thần lạc quan và sức trẻ của Arthur, vì vậy, mà ông ta hứa sẽ để vua Arthur được bảo toàn mạng sống với điều kiện trả lời được câu hỏi hóc búa mà ông ta đưa ra.

Vua Arthur được trả tự do trong thời hạn một năm để suy nghĩ câu hỏi này. Nếu như sau một năm mà Arthur vẫn không thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng thì ngài sẽ bị hành hình. 

Câu hỏi đặt ra là: 

Phụ nữ thực sự mong muốn điều gì nhất? 

Tranh minh hoạ vẽ vua Arthur (ảnh: Kênh 14). 

Câu hỏi này đã gây khó khăn cho ngay cả những nhà thông thái bậc nhất, huống chi là một người trẻ tuổi như vua Arthur. Đối với ngài, dường như đây là một câu hỏi không có lời giải đáp, nhưng dẫu sao điều đó vẫn còn tốt hơn nhiều so với cái chết. Arthur đành tiếp nhận câu hỏi và hẹn ngày cuối cùng của kỳ hạn 1 năm sẽ đưa ra câu trả lời. 

Arthur trở về vương quốc và trưng cầu đáp án từ công chúa, kỹ nữ, trí giả, cho đến cả thằng hề cung đình… Mặc dù đức vua đã hỏi hết thảy mọi người, nhưng không một ai có thể đưa ra câu trả lời ưng ý. Cuối cùng, các quần thần khuyên đức vua đi thỉnh giáo một mụ phù thủy, bởi chỉ có mụ phù thủy ấy mới biết được câu trả lời. Nhưng có điều là, mụ phù thủy thường đưa ra điều kiện rất cao khiến không có ai dám đến gần mụ. 

Ngày cuối cùng của kỳ hạn một năm đã đến, Arthur không còn lựa chọn nào khác nên đành đi tìm mụ phù thủy. Mụ đồng ý trả lời câu hỏi của đức vua, nhưng trước tiên, Arthur tiếp nhận điều kiện trao đổi của mụ ta. Đó là cho mụ ta được kết hôn với Gawain – một hiệp sĩ cao quý nhất trong số những hiệp sĩ Hội Bàn Tròn và cũng là người bạn thân thiết nhất của đức vua.

Vua Arthur vô cùng hoảng sợ, nhìn mụ phù thủy, lưng gù, xấu xí không chịu nổi, chỉ có một chiếc răng, trên người còn tỏa ra một mùi hôi thối như nước cống rãnh, không những thế mụ ta còn phát ra những âm thanh tục tĩu ghê rợn, Arthur chưa từng gặp một quái vật nào như thế trong đời. Arthur cự tuyệt yêu cầu của mụ phù thủy bởi vì Đức vua không muốn vì mình mà cưỡng ép người bạn thân thiết nhất phải kết hôn với mụ phù thủy đáng sợ đó để rồi phải chịu gánh nặng tâm lý khủng khiếp.

Sau khi Gawain biết được tin tức này, đã nói với Arthur: “Tôi đồng ý cưới mụ phù thủy bởi vì việc cứu được tính mạng của Đức vua và bảo vệ Hội Bàn Tròn là việc quan trọng hơn cả”. Thế là hôn lễ được tuyên bố rộng rãi trong thiên hạ và Mụ phù thủy đã trả lời câu hỏi cho Đức vua Arthur: “Điều phụ nữ thực sự mong muốn là được tự quyết định cuộc đời của mình”.

Mọi người đều hiểu ngay câu nói của Mụ phù thủy là vô cùng chính xác và Arthur sẽ được tha mạng.

Thế là vua của nước láng giềng đã cho Arthur được tự do.

Lại nói đến đám cưới của Gawain và Mụ phù thủy, đây là hôn lễ như thế nào! Ngày cử hành hôn lễ của Gawain và Mụ phù thủy, Đức vua Arthur không ngừng hối hận mà khóc lóc trong thống khổ, trong khi đó Gawain từ đầu đến cuối đều vô cùng khiêm tốn và nhã nhặn, còn mụ phù thủy thì thể hiện ra những hành vi vô duyên và tồi tệ nhất: Mụ dùng tay bốc đồ ăn, vừa ăn vừa ợ và phát phát ra những tiếng nấc khiến cho hết thảy mọi người đều không thoải mái thậm chí còn cảm thấy buồn nôn.

Đêm tân hôn cũng đã đến, Gawain vẫn kiên cường mà đối diện với nỗi kinh hoàng này, chàng đi vào phòng tân hôn và cảnh tượng gì đang đợi chàng đây! Chàng hé cửa phòng và nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần mà chàng chưa từng nhìn thấy đang nằm trên chiếc giường cưới. Gawain kinh ngạc đến ngây người, hỏi nàng rốt cuộc đây là chuyện gì? Người đẹp trả lời: “Trong một ngày, ta có nửa ngày là trong hình hài một mụ phù thủy xấu xí và nửa ngày còn lại là ở trong hình hài một mỹ nữ xinh đẹp tuyệt trần”.

Mụ phù thủy hỏi Gawain:

“Chàng muốn ta ban ngày biến thành mỹ nữ hay ban đêm biến thành mỹ nữ?”.

Ảnh minh họa: Pinterest. 

Nếu bạn là Gawain, bạn sẽ chọn như thế nào?

Tiết ngữ văn ngày thứ hai, mọi người đưa ra đủ loại đáp án nhưng chung quy lại là có hai loại: Một loại lựa chọn ban ngày là phù thủy, ban đêm là mỹ nữ, lý do đưa ra là: Vợ đã là của mình nên không cần sự ái mộ hư vô nữa, sướng khổ tự mình biết là được rồi. Một loại lựa chọn ban ngày là mỹ nữ, bởi vì như thế sẽ được mọi người ngưỡng mộ, đến buổi tối có thể mua vui bên ngoài, về đến nhà thì phòng đã tối đen nên đẹp hay xấu cũng không sao cả.

Cô giáo nghe xong tất cả câu trả lời của học sinh và không nói gì cả chỉ hỏi chúng tôi có muốn biết câu trả lời của Gawain? Mọi người nói đương nhiên là muốn, Cô giáo nói: “Gawain không chọn bất kỳ phương án nào cả, chỉ nói với vợ của chàng rằng: “Điều phụ nữ mong muốn nhất là được tự quyết định cuộc đời của mình, vậy thì nàng hãy tự quyết định đi”. Thế là mụ phù thủy lựa chọn sẽ là mỹ nữ xinh đẹp trong cả ban ngày và ban đêm.

Tất cả mọi người đều trầm tư…

Chúng ta đôi khi có phải là rất ích kỷ không? Chỉ vì sở thích của mình mà đi chi phối cuộc đời của người khác, lại không nghĩ xem người đó có muốn như thế hay không. Vậy nên, muốn là một người thực sự được người khác chào đón, nhất định phải nắm giữ ba điều: Thấu hiểu, Tôn trọng, và Tín nhiệm

***

2020-01-17: Tất Niên Nhớ Nước:
Nhạc kịch Nabucco của Verdi và Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
 

 Ca khúc VA PIENSERO Guiseppe VERDI,

một Ca Khúc Nhớ Nước bất hủ…

 “…Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc (quốc quốc)
Thương nhà mỏi miệng cái da da (gia gia) …”
(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan 1805-1848)
Phan Văn Song
Thưa quý bà con,
 Năm ta chưa tàn, năm tây đã đến, 2020, năm nay Việt Nam thực sự đã bước vào chương trình Hán Hóa. Kể từ nay, Việt Nam xưa thân yêu, quen thuộc của chúng ta sẽ chỉ còn là những hình ảnh hoài niệm … những  “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo…” của Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh thốt : “cảnh đấy người đây luống đoạn trường” (Thanh Long hoài cổ) tiếc thời một cố đô Thanh Long  cực thịnh của Nhà Lê, nơi quê hương cũ của Bà, lúc ấy bà, là một cư dân nơi Triều đình Huế xa lạ!
Hôm nay xin giới thiệu với quý bạn ca khúc VA PIENSERO, thằng tôi người viết, xin tạm dịch là GỞI NHỚ, của Nhạc sĩ người Ý nổi danh Guiseppe Verdi (1813-1901)
Guiseppe Verdi:
– Sanh ngày 10 tháng 10 năm 1813 tại Roncole,  mất tại Milano 1901.
Ông nhạc sĩ người Ý nầy, sanh ra trong một gia đình, rất trung bình, cha mẹ làm chủ một quán ăn, gốc nông dân. Thuở nhỏ rất yêu nhạc, nên được nhạc sĩ chuyên giữ đại phong cầm nhà thờ (l’organiste) làng Roncole, nơi sanh quán ông, truyền dạy nhạc lý khi ông lên bảy. Ba năm sau, chỉ vừa đủ 10 tuổi, cậu bé Guiseppe đã đủ tài nghệ để Cha xứ làng Roncole, một làng nhỏ của tỉnh Parme, Đông Bắc Ý Đại lợi, cho phép giữ nhạc thay Thầy, trong những buổi thánh lễ. Do đó, chỉ với tý tuổi đầu mà chàng Guiseppe Verdi đã khá nổi tiếng một vùng … Từ đó như diều gặp gió, chàng từ một gia đình tầm thường lớn lên trong một làng tầm thường, biến thành một nhạc sĩ nổi tiếng với những nhạc kịch nổi tiếng. Chưa đầy 30 tuổi, chỉ mới viết được ba vở tuồng nhạc kịch mà đã thành công, chỉ với vở tuồng thứ ba Nabucco, đã tạo được một ca khúc để đời, “ Va Piensero” được truyền miệng khắp dân gian đất Ý… Một nhạc sĩ, chỉ qua một ca khúc đã biến thành một nhà chánh trị có tầm vóc, uy tín, với tiền tài và địa vị, đưa đến danh vọng; vào cuối đời chánh trị gia, chàng đã từng làm dân biếu và khi mất năm 1901, được quốc táng – cả chục ngàn người ái mộ, nhơn sĩ, chánh trị gia, quần chúng đưa tiễn.  
Tuồng kịch đã nổi tiếng mà cả những ca khúc lồng trong những tuồng nhạc kịch cũng nổ tiếng. Ngày nay, không một năm nào mà không có một tuồng của Verdi được được trình diễn cùng trên thế giới. Những ca khúc của Verdi, ai ai trên thế giới đều biết điệu hát, dù không thuộc lời … như “Va Piensero” của tuồng Nhạc Kịch – Opéra Nabucco (được nữ ca sĩ Nana Mouskouri của những năm 1960 chuyễn lời thành “Quand je Chante La Liberté – Khi tôi hát lời Tự Do” …  hay La donna è mobile – của tuồng Rigoletto (được ca sĩ Duy Khánh trình diễn ở vũ trường Ma Cabane, Sàigòn thời yêu dấu của chúng ta dạo nào!) hay ca khúc Libiamo ne’lieti calici (« Buvons dans ces joyeuses coupes » – Hãy cụng ly), thường được gọi là brindisi của La Triavata và nhiều điệu nữa như trong Aïda, hay trong Il trovatore
– Thằng tôi rất mê Opéra. Ở xứ nhà quê, làng xã tôi, không có Nhà Hát lớn, chỉ có một rạp chiếu bóng nhỏ thôi. Ngày nay, thường chiếu truyền trực tiếp, một tháng một lần, những tuồng Kịch Hát ở các Hí Viện lớn Paris, Marseille, Nice … và nhờ đó, cứu tôi, thoát đở cơn ghiền, nên cũng lai rai thường được xem những tuồng “ăn khách” như “La flute Enchantée” của Mozart, “Carmen” của Bizet, … La Traviata của Verdi …
 – Thằng tôi tự ví yêu Opéra, cũng như yêu Cải lương của xứ Nam kỳ mình vậy! Hai nghệ thuật rất có nhiều điểm tương đồng, đều diễn tả những cái thâm thúy tình cảm qua lời nhạc, cả hai đều rất “bình dân” điều có cả nơi anh chàng Âu Tây (của tui), cũng như cả nơi anh chàng U Tê Cu-Uống Trà Quạu (cũng của tui) – tui không dám nói ai cả –  cải lương miền Nam mình diễn tả cái tinh túy tình cảm mộc mạc của dân Nam kỳ mình. Nhưng với Opéra Tây hay như Cải lương mình, hổng phải tuồng nào mình cũng thích đâu, có lựa có chọn đàng hoàng, chẳng những do thị hiếu trường đời ảnh hưởng, nhưng cũng do sở thích cá nhơn, mà hể thích rồi thì cứ lay hoay trong các tích tuồng ấy… Âu Tây thì nơi Mozart hơi hướng Áo Đức, Verdi, Rossini, của Ý, Pháp thì Bizet với Carmen khỏi nói rồi… Cải lương miền Nam ta thì quên sao được “Lan và Điệp”…coi hoài chẳng chán… hay Đời Cô Lựu … Với những tài tử … thời mình ! Út Trà Ôn, Phúng Há… hồi xưa niên thiếu, thời đi coi với má hay đi coi cọp, hay Thành Được, Thanh Lan … thời mình lớn…sau nầy!
 – Thằng tôi có diễm phước có được một cô dâu nghệ sĩ cải lương Pháp, artiste chanteuse, danseuse d’Opérette –  từ ngữ nầy, ngày nay Mỹ hóa thành những nghệ sĩ nhạc vũ kịch – d’artistes de music hall … nên thường bị hiểu lầm là những nghệ sĩ các Cabarets kiểu Moulin Rouge hay Casino de Paris, vũ khỏa thân hay French Cancan…
– Opérette khác Opéra là có nhảy múa, nghĩa là vừa kịch nói có, vừa vũ và cả hát nữa và thường là hài kịch – comédie, vui nhộn, kết cục tốt đẹp cười vui – không có bi kịch.
– Xưa thiên hạ chia hai loại tuồng hát – Nhạc Kịch: – Opéra Ca kịch toàn Hát và – Ballet Vũ kịch toàn Vũ… giành cho khán thính giả giới cao cấp, trung thượng lưu.
Opérette trái lại, bình dân hơn, tổng hợp, vừa Hát vừa Vũ … Một ca khúc Opérette, được người Việt mình rất mê chuộng là ca khúc Mexico (được nghệ sĩ ca sĩ Cao Thái ngày xưa ngân lên… Mê xì cồ…. Mê  Xìì …. Cồ  – Cao Thái cũng một thời cũng tunh hoành ở Ma Cabane Sài gòn). Mexico được ca sĩ Luis Mariano với giọng ngân điêu luyện đưa cái note cuối cùng Contre Ut lên cao độ  đã đưa Mexico thành ca khúc bất tử. Ca khúc nầy thuộc tuồng “Le Chanteur de Mexico”.
Le Chanteur de Mexico, Nhạc kịch gồm 2 hồi và 20 màn, nhạc của Francis Lopez, trình diễn lầu đầu ở Paris 15 tháng 12 1951 ở Nhà Hát Chatelet, Paris. Luis Mariano là tài tử chánh.
– Huê kỳ tân thời hóa Opérette dưới tên Music hall nhờ phim ảnh với các điệu vũ mới qua các tài tử Fred Astaire, Gene Kelly… Giger Roger, Cyd Charisse…  và quên sao các nhịp claquette – clap … của thời niên thiếu chúng ta Sài gòn dạo nào… hay của những năm 60 với cuốn phim bất hủ West Side Story – Chuyện Phố Tây …?
Nabucco : 1842
Nhạc kịch Nabucco – tên sơ khởi là Nabuchodonosor là một nhạc kịch 4 hồi nhạc của nhạc sĩ Guiseppe Verdi, kịch bản-livret của soạn giả Temistocle Soleral, trích từ bản bi kịch Nabuchodonosor (1836) của hai tác giả người Pháp Auguste Anicet-Bourgeois và Francis Cornu –  được khai trương trình diễn lần đầu ngày 9 tháng 3 năm 1842 tại Nhà Hát La Scala ở Milano.
Nabucco nhắc chuyện trong Thánh Kinh Cựu Ước, về thời dân Do Thái đang là nô lệ ở Babylone –
điển hình với Ca khúc « Va pensiero… » – thường được gọiCa khúc của những người nô lệ – le chant des esclaves – Verdi sáng tác khúc ca ấy lúc bấy giời (1842) rất đúng với tình huống chánh trị của quần chúng và công dân Ý vùng Milano đang bị ở dưới ách đô hộ của Đế quốc ÁoHung.
 Cũng với lý do đó, ngày hôm nay đầu năm 2020, chúng tôi người viết Phan Văn Song cũng cống hiến cùng quý bà con, câu chuyện của ca khúc nầy, để nhắc nhở hoàn cảnh từ nay dân Việt ta thời nay cũng đi vào làm nô lệ cho Đế quốc Hán Cộng, như thời xưa dân Do Thái dưới thời Nabuchodonosor vậy !
Ca khúc « Va pensiero… »
 
Nếu Nabucco được xem, là vở nhạc kịch có tánh cách chánh trị chống đế quốc Áo Hung lúc bấy giờ, và Guiseppe Verdi là một nhà « nhạc sĩ đấu tranh chống Đế quốc », giống như bà con người Việt tỵ nạn chúng ta ngày nay ở Hải ngoại đấu tranh chống đế quốc Cộng Sản Tàu Việt vậy ! Thì ca khúc của cuối hồi 3 của tuồng Nabucco của ông, « Va piensero », là những lời ca điển hình của cuộc đấu tranh cho Tự Do một đất nước ! Khi « Va piensero » nổi lên, thật là : y như một kết luận, y như một lời kêu gọi, y như một thiên hùng ca, y như là một Quốc ca Ý thứ hai, đòi Tự Do vậy !
Để dẫn chứng :
– Ngày 12 tháng ba năm 2011, nhơn dịp lễ kỷ niệm lần thứ 150 ngày Thống Nhứt nước Ý Đại Lợi  (17 tháng 3 năm 1861) tại Teatro dell’Opera di Roma – Nhà Nhạc Kịch thành phố Roma  – vở tuồng Nabucco được trình diễn, ban nhạc được điều khiển bởi cây đủa thần của Nhạc trưởng Riccardo Mutti, với sự có mặt của Giorgio Napolitano và Silvio Berlusconi Tống thống và Thủ tưởng Ý đương nhiệm. Khi « Va piensero » nổi dậy, cả hội trường xao động, đây đó vài tiếng « Viva Italia ! – Ý quốc muôn năm » … Nhạc trường Mutti quá xúc cảm, và để tán thưởng, lần đầu tiên, nhạc trưởng Mutti, ngừng ngang bản kịch, cho hát lại – bis – và kêu gọi khán giả hát theo….
 Thật sự mà nói, khi Verdi viết kịch bản Nabucco, và cả khi ra mắt lần đầu tiên năm 1842, cả dân chúng Milano và lẫn cả Verdi cũng không thật tình, có ý thức Chống Áo. Thế nhưng vài năm sau, bắt đầu 1846, khi phong trào chống Áo lan rộng, « Va piensero » biến thành bài ca chung để diễn tả một tư tưởng hòa hợp toàn dân Ý chống ngoại xâm… Và Verdi biến thành người anh hùng chống đế quốc. Và tên Verdi cũng được dùng để ủng hộ phong trào Cần Vương ủng hộ Victor Emmanuel người lãnh tụ phong trào dựng lại nước Ý . Verdi biến thành « Victor Emmanuel Re DItalia » – Victor Emmanuel Vua nước Ý – Và  « Va piensero » là bài ca của một nguồn hy vọng, của một cuộc đấu tranh, cũng như một quốc ca, với lời than tuyệt vọng : « Oh, mia patria sì bella e perduta! » !
 Tạm kết:
 Có vài bình nhạc gia, sử gia người Pháp ví « Va piensero », như bản Marseillaise của Pháp !
Riêng thằng tôi, người viết, Phan Văn Song xin quý bà con Việt Nam ta cho phép, được ví như bản « Việt Nam Minh Châu Trời Đông » của nhạc sĩ  Hùng Lân của chúng ta vậy.
 Lời của bài ca :
1 / Lời Ý (lời chánh) :                                              2 / Lời Việt tự do của Phan Văn Song
Va, pensiero                                           Gởi nhớ
Va, pensiero, sull’ali dorate;                                        Gởi nhớ theo mây ngàn bay
va, ti posa sui clivi, sui colli                                        Nhớ rừng nhớ núi, nhớ hoài biển xanh
ove olezzano tepide e molli                                         Nhớ sao từng ngọn gió nồm
l’aure dolci del suolo natal!                                        Ngọt ngào tình nghĩa một thời ấu thơ
Del Giordano le rive saluta,                                       Thôi, chào Bến nghé Đồng nai
di Sionne le torri atterrate.                                           Biệt ly Tân Định Bến Thành Tự Do
Oh, mia patria sì bella e perduta!                           Xin chào Tổ quốc thân yêu
Oh, membranza sì cara e fatal!                                   Xin chào vĩnh biệt quê hương mất rồi !
Arpa d’or dei fatidici vati,                                           Ngẫn ngơ một tiếng nhạc sầu
perché muta dal salice pendi?                         Thẫn thờ lui tới trước sau một mình                          
Le memorie nel petto raccendi,                                  Bao nhiêu kỷ niệm bấy lâu                             
ci favella del tempo che fu!                                       Bao nhiêu ký ức chôn sâu vào lòng                      O simile di Solima ai fati                                               Bao nhiêu quá khứ vứt đi
traggi un suono di crudo lamento,                              Cố nghe giữ lấy những gì hôm nay
o t’ispiri il Signore un concento                                Lạy Cha Thiên Chúa trên trời
che ne infonda al patire virtù!                                    Cho con được hưởng cuối đời bình yên !
3 / Lời dịch Pháp :                                                              4/ Lời dịch Anh :
Va, pensée                                             Chorus Of The Hebrew Slaves      
Va, pensée, sur tes ailes dorées ;                                              Fly, thought, on wings of gold,                       Va pose-toi sur les pentes, sur les collines,                             go settle upon the slopes and the hills
Où embaument, tièdes et suaves,                                             where the sweet airs of our
Les douces brises du sol natal !                                              native soil smell soft and mild!
Salue les rives du Jourdain,                                                    Greet the banks of the river Jordan
Les tours abattues de Sion …                                                  and Zion’s tumbled towers
Oh ma patrie si belle que j’ai perdue !                                  Oh, my country, so lovely and lost!
Ô souvenir si cher et si fatal !                                                 Oh remembrance so dear yet unhappy!
Harpe d’or des devins fatidiques,                                            Golden harp of the prophetic wise men
Pourquoi pends-tu, muette, aux branches du saule ?              why hang so silently from the willows?
Ranime dans nos cœurs les souvenirs,                                    Rekindle the memories in our hearts,
Parle-nous du temps passé !                                                    tell us about the times gone by!
Ou bien, similaires au destin de Solime                                    Remembering the fate of Jerusalem 
Fais entendre quelques tristes complaintes,                             play us a sad lament 
Sinon, que le Seigneur t’inspire une harmonie                        or else be inspired by the Lord                     
Qui nous donne le courage de supporter nos souffrances !    to fortify us to endure our suffering!
Hồi Nhơn Sơn, Tất Niên Kỷ Hợi

Phan Văn Song 

****Thi Sĩ TRẦM VÂN                              ***

***

NGƯỜI CUỐI CÙNG

NGUYỄN VĂN LỢI
        Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả Dân Quân Cán Chính của miền Nam Việt Nam đã từng tham gia bảo vệ đất nước, chống lại quân Cộng sản xâm lược miền Bắc đều phải ngỡ ngàng uất hận xuôi tay, do lệnh đầu hàng của thượng cấp trước những người mang danh chiến thắng.
        Những ngày kế tiếp, đa số những người “thua trận” chưa từng có kinh nghiệm với chính sách cai trị của những người Cộng sản đều suy nghĩ một cách đơn giản là mong muốn được yên ổn đóng góp công sức để cùng xây dựng kiến thiết quốc gia. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng muốn ngừng, những người “chiến thắng” đã tiến hành một kế hoạch trả thù bẩn thỉu nhằm đày ải và diệt tận gốc ba đời những người anh em cùng giống nòi Lạc Việt. Bằng cách ra thông cáo “lập lờ” để kêu gọi những người từng phục vụ cho chính quyền quốc gia trước đây trình diện học tập. Họ đã từng bước dẫn dụ lùa tất cả vào các nhà tù mọc lên khắp nơi trên nước Việt Nam được gọi với mỹ từ là trại Cải Tạo. Có người nhận được “giấy mời làm việc” của nhà cầm quyền địa phương, để rồi gia đình trông đợi đến hàng chục năm mới gặp mặt hoặc không bao giờ còn thấy nhau! Thật ra họ không cần thực hiện những thủ đoạn như thế, vì hầu hết những người đã từng phục vụ dưới chế độ VNCH đều không được trang bị kiến thức về chính trị để hiểu rõ sách lược của người Cộng sản, cho nên những người miền Nam chân chất đa số đều cam phận và “hăng hái” tuân theo mọi lệnh lạc của những người cầm quyền mới.
        Xin mở ngoặc ở đây cùng để suy gẫm một vài giây, có một bài viết trong đó người ta nêu lên khuyết điểm của quân lực VNCH: Trong việc huấn luyện, các chiến sĩ được học ít nhiều về môn vượt sông, nhưng hầu như không có một chương trình nào để huấn luyện chiến sĩ của mình môn bơi lội, nên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp dở khóc dở cười vì có những chiến sĩ không biết bơi!
        Kể từ đó những người tù cải tạo được nhà nước “khoan hồng” cho tập trung học tập tại các những địa điểm trong địa phương, được thong thả như là những học viên đang dự một lớp học. Cửa không khóa, không người canh gác và được chứng kiến một số học viên ra về trước vì “học tập tốt” (về sau mới biết đó là những giáo chức, những chuyên viên mà họ cần thiết xử dụng). Trong thời gian này học viên được gởi mua những thức cần dùng và “được lén” nhờ người thông tin về nhà (một cách thức nhằm đánh lừa lòng tin của thân nhân gia đình để họ yên chí rằng người thân của mình đang yên lành không bị hành hạ tù đày).
        Thế rồi một ngày, tất cảcác Công chức, Cán bộ, Cảnh sát Quốc gia, An ninh Tình báo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa được lệnh thu dọn đồ đạc riêng tư gọn gàng để chuyển đến một nơi khác. Họ được cho biết sẽ tiếp tục học tập qua lao động sau khi đã thông suốt đường lối chủ trương của Đảng, nhà nước XHCN nhờ đã “thu hoạch” thấu đáo nội dung 10 bài chính trị. Học viên nào học tập lao động tốt một thời gian không lâu sẽ được trở về xum họp gia đình để cùng góp công sức xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Họloan báo chính sách khoan hồng nhân đạo lừa bịp của Đảng cho phép thân nhânđược thăm viếng và tiếp tế thức ăn theo qui định để giúp cho cải tạo viên (lúc nầy đã đổi danh xưng) yên tâm học tập tốt, lao động tốt và cải tạo tốt.
Nhưng bất chợt một buổi sáng, một số cải tạo viên trong mọi ngành như đã kể trên có tên trong danh sách được lệnh thu dọn tư trang ra sân xếp hàng để được kiểm kê lọc lựa những vật dụng được cho phép mang theo. Họ bị dồn lên các xe lớn được trùm vải bạt bít bùng và cứ mỗi hai người được đính với nhau bằng một cái còng nhằm gây trở ngại khó khăn khi xoay trở hoạt động hầu ngăn ngừa có người chống đối. Đến chỗ tập trung, qua vài hôm khi các nơi khác tiếp tục đưa về đông đủ, cảnh xếp hàng bày biện hành trang để kiểm tra lại tái diễn nhưng lần nầy gắt gao hơn. Từng cặp từng cặp chung còng một lần nữa bị dồn lên xe che vải bít bùng chạy vòng vòng cuối cùng được đưa xuống bến tàu ra biển. Lênh đênh, chập chờn, ngầy ngật… cuối cùng tàu cặp bến cảng Hải Phòng, đoàn tù lưu đày lếch thếch đặt chân lên đất nước của thiên đàng Xã hội Chủ Nghĩa như lời huênh hoang của bọn cán bộ Cộng sản. Với sự canh phòng cẩn mật của những tên Công an Nhân dân được trang bị tận răng đi kèm theo một số quân khuyển; từng cặp được ấn nhét vào các hàng ghế xe khách (xe đò) đi vòng vèo nhồi lên lộn xuống như xuyên Ma Thiên Lãnh âm u, núi rừng độc đạo rồi chui vào cổng Trại Cải Tạo Số 1 Lào Cai miền Thượng du Bắc Việt:
“…Cuối Thu trên đất mỹ, trời thấm lạnh
Nhớ về mùa Đông Hoàng Liên Sơn
Cuối tháng chạp, một chín bảy sáu
Hai ngàn “cải tạo viên” Miền Nam
Đáp tàu Hồng Hà ra Bắc “đi du học”
Trên sông Lòng Tàu, tràu trôi êm ả
Cửa biển Cần Giờ lướt qua lúc chiều buông
Một bạn tù thổ huyết láng lay
Trên chiếc tàu sóng vùi, gió vập lúc đêm về
Trong âm u, bổng hiện lên ánh hào quang
Quanh thân người tù nho nhã, hiền lành
Người tu sĩ thánh thiện Nguyễn Văn Thuận
Trong cõi mông lung, người tù thấy lòng êm ả
Mường tượng ánh sáng kia soi chiếu đường về
Đỗ bộ Bãi Cháy, hải Phòng
Sau ba ngày đêm lắt lay trên biển Đông
Một nửa nhắm hướng Cao Bằng Lạng Sơn thẳng tiến
Một nửa rẽ về Tây Bắc Hoàng Liên Sơn
Trung tâm Cải tạo Trung ương số 1, Lào Kay
Múa Đông năm ấy thật là khắc nghiệt
Ngày khổ sai trên đỉnh đồi gió lộng rét căm căm…”

(Trích thơ đồng tù Nguyễn Thành Nhơn, Phó tỉnh Biên Hòa)

        Nhà tù cũ kỹ với mái ngói tường vôi hình như có thời Pháp thuộc, trong mỗi phòng giam chật chội khoảng 40, 50 tù nhân chen chúc trên hai sàn ngủ hai tầng, có chỗ còn thấy lờmờ tên họ ai đó được viết bằng chữ Pháp hay chữ Anh. Những kẻ bị lưu đày hết hy vọng trở về cố hương sáng sáng chiều chiều điểm danh, ăn uống rồi loanh quanh trong sân đất bao bọc bởi bốn bức tường như những người nhàn hạ. Phải chăng họ cốt ý để cho bọn tù trải qua một thời gian làm quen với khí hậu thời tiết lạnh cắt da đến nỗi mặt nước trong hồ để tắm giặt cũng đóng băng. Nhiều lần tập họp ở hội trường nghe “cán ngố” giảng bài dưới ánh sáng soi rọi nghị quyết của Đảng và chính phủ, đạo đức văn hóa cách mạng… rồi không biết từ đâu có Thỉnh Nguyện Thư đưa lên Ban Chấp Hành trại tù xin được đi ra ngoài lao động tốt theo gương người dân XHCN(?!). Mỗi lần rời trại đi ra ngoài lao động là một lần tù phả iđiểm danh báo cáo lúc đi cũng như khi về đầy đủ.
Tù được ra ngoài “hiện trường” thi đua sản xuất của cải vật chất đóng góp xây dựng Xã hội Chủ nghĩa là lúc xã hội miền Nam đã vào khuôn phép, đã kinh qua những vụ đánh tư sản mại bản, những lần đổi tiền, gia nhập hợp tác xã, xung phong đi vùng kinh tế mới… Hơn nữa, toàn cõi đất nước Việt Nam đều nằm trong vòng kiểm soát của Trung ương Đảng, các mẻ lưới đã được giăng ra cùng khắp, đủ trò đủ kiểu bắt không để sót một con cá to cá nhỏ nào, những phục quốc, tàn quân không còn có thể hoạt động dù có thể chưa bị tận diệt. Cùng lúc đó những thế lực thù địch tư bản Mỹ lên tiếng, thế là “chính sách khoan hồng nhân đạo” lại cứu xét cho thân nhân thăm gặp và tiếp tế mặc dù trước đó rất nhiều tù nhân bị ốm đói kiệt quệ mà không được ai ngó ngàng.
         Do những áp lực, kêu gọi, thương lượng, ngã giá… từ hai phía, cuối cùng từng đợt tù, người từ 3 năm trở lên, người từ 9 đến 10 năm lần lượt được tha về nhà. Họ sẽ phải tiếp tụcđược “quản chế” bằng những canh giữ, ràng buộc, kiểm soát, kiểm tra… trong một không gian rộng lớn hơn. Tuy có phần đỡ tù túng hơn so với lúc còn trong trại tù xa xôi hẻo lánh nơi rừng thiêng nước độc kia, nhưng họ phải chấp nhận sốphận nghiệt ngã tang thương hơn khi phải sống lạc loài giữa một xã hội xa lạ và bị chối bỏ.
         Thế giới vần xoay, kế hoạch kinh tế, chính trị, quân sự toàn cầu đẩy đưa đưa đẩy, thâm thụt, bàn trên tính dưới; Đảng đưa cả nước theo chủ trương kinh tế thị trường mong đi tìm một vai trò mới. Hơn ai hết, Đảng đã không còn lo sợ các thế lực thù địch, không còn vướng bận nội thù. Cuối cùng những người tù đã trải qua 17 năm được thả ra, được anh em gọi đùa là “những người đóng cửa trại” và tức tốc được sắp xếp đi định cư tại Hoa Kỳ, trong số đó có ba sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia.
        Điều đáng ghi nhận, chỉ có ngành CSQG đã có nhiều nhân viên cấp thấp và trung cấp mà phải chịu tù tội lâu dài không dưới 3 năm. Họ là những nhân viên Cảnh sát Đặc biệt đã hoạt động âm thầm, thực hiện công tác mật của ngành CSĐB. Họ là những Thiếu úy CSQG khoác áo Hoa Màu Đất Trung Đội trưởng CSDC tham gia hành quân lùng diệt giặc, những Trưởng cuộc CSQG trách nhiệm giữ gìn an ninh trật tự nơi làng xã. Thậm chí cả những chuẩn sĩ quan CSQG chưa tốt nghiệp Học viện CSQG.
        Người viết xin có lời bộc bạch, đây không phải một bài tham luận hay phân tích dông dài gây tranh luận, chỉ là những dòng chữ những câu văn ghi lại những lời bàn, những suy nghĩ của bạn bè gom góp được trong những lúc trà dư tửu hậu xin chia xẻ cùng quý vị cũng như một vài nhận xét thô thiển cá nhân.
        Ghi nhớ lại những gì đã nghe thấy và đã biết về những giờ phút những ngày tháng hỗn loạn như ong vỡ tổ cận ngày 30 tháng 4 năm 1975, người Cảnh sát Quốc Gia luôn giữ vững vị trí trách nhiệm dù họ bị bỏ rơi trên Vùng 2 Cao nguyên. Người Cảnh sát Quốc Gia đã phải tự xoay sở, hoàn thành trách nhiệm và trực tiếp chiến đấu để bảo vệ dân chúng cùng thân quyến.
        Trước đó tại tỉnh Ban Mê Thuột, trước sức tấn công dữ dội của Cộng quân đại đội Cảnh Sát Dã Chiến thuộc BCH/CSQG tỉnh Ban Mê Thuột do Đại đội trưởng Đại úy CSQG Nguyễn Ngọc Tuấn chỉ huy đã cùng thuộc cấp quyết giữ vững tay súng cho đến giờ phút cuối và anh em dẫn dắt nhau tìm lối thoát khỏi đơn vị đã bị Cộng quân tràn ngập. Người CSQG các cấp thuộc Bộ Chỉ Huy Pleiku dẫn dắt nhau, tự tạo phương tiện cùng dân chúng di tản trong trật tự, tháp tùng theo là các đồng nghiệp thuộc BCH/CSQG tỉnh Phú Bổn. Ùn ùn nghẹt lối trên tỉnh lộ số 7 đầy mìn chông đã bị bỏ hoang 20 năm sau thời Pháp thuộc, dân quân vượt qua Phú Sơn đổ về bờ sông Ba, bên kia là tỉnh Tuy Hòa… Phía sau Cộng quân bắn đuổi theo và đóng chốt chận bắn đoàn người đang trốn chạy, trong số đó có Trung úy CSQG Trần Văn Kha, người bạn cùng khóa với tôi, Trung đội trưởng CSDC thuộc BCH/CSQG Pleiku. Trung úy Kha đã cùng một vài đồng đội cương quyết chống trả lại chúng đến viên đạn cuối cùng và đã xử dụng lựu đạn tự kết liễu đời mình để đổi mạng với mấy tên vây bắt anh.
Tại Cuộc CSQG Ký Thu Ôn quận 8 Saigon trong những giờ phút cuối, toàn thể anh em CSQG đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, Đại Úy CSQG Lê Văn Lời, bạn cùng khóa, bị tử thương và bị Cộng quân lôi xác trên đường phố, Đại úy CSQG Hà Xuân Thiết và nhiều chiến hữu CSQG khác bị nhiều thương tích.
        Cũng phải kể ra đây gương can đảm oanh liệt của người CSQG đã cương quyết chứng tỏ một lòng quyết không chấp nhận Cộng sản, Trung tá CSQG Nguyễn Văn Long Chánh sở Tư pháp thuộc Bộ Chỉ huy CSQG Vùng I đã chiến đấu anh dũng đến lúc cuối cùng và theo đoàn di tản về Saigon để rồi tự sát tại tượng đài TQLC trước quốc hội VNCH. Phải chăng đó là hình ảnh bi thương nhằm khơi rọi lương tâm của các thế lực quốc tế và những người “anh em”cùng sinh ra và lớn lên trên giải đất hình chữ S. Trước đó, khoảng Giáng Sinh năm 1974, Thiếu Úy CSQG Phan Đại Đồng Trưởng cuộc CSQG xã Khánh An Thới Bình tỉnh An Xuyên đã oanh liệt ngã xuống sau 25 ngày đêm cùng 8 thuộc viên tửthủ chống trả Cộng quân có một quân số cấp đại đội, cố Thiếu Úy Đồng đã được truy thăng Trung Úy. Sau đó không lâu ngày 3 tháng 5 năm 1975, vị Chỉ huy trưởng can trường của cố Trung Úy Phan Đại Đồng đã hiên ngang không chớp mắt, nhận những viên đạn thù giữa pháp trường. Đó chính là Trung tá CSQG Lê Phó, vị chỉ huy trưởng anh hùng đáng kính trọng của BCH/CSQG tỉnh An Xuyên, quyết “không bỏ thành” vẫn đối đầu với Cộng quân sau lệnh đầu hàng của Tổng thống ba ngày Dương văn Minh. (Xin xem tác phẩm “Dặm Nghìn Da Ngựa” của tác giả Vann Phan).
       Còn nhiều đơn vị CSQG đã giữ vững trách nhiệm, nhiều cá nhân CSQG đã tuẫn tiết và hy sinh trên bốn vùng Chiến Thuật trong những ngày cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam chưa được nêu cao danh tánh.
       Những chiến sĩ CSQG còn lại sau cuộc chiến chỉ biết ôm mối hận lòng, âm thầm chia tay để trở về với gia đình sau lệnh buông súng đầu hàng.
Ước mong quý Niên trưởng quý chiến hữu Cảnh sát Quốc Gia và quý thân hữu có nguồn tin nào liên quan đến các hoạt động của anh em ngành CSQG, xin cung cấp Tổng hội CSQG Hoa Kỳ để giúp cho bộ phận thực hiện Cảnh sử có dồi dào dữ kiện trong việc tìm kiếm thu thập sưu khảo hầu và đúc kết để viết nên trang “Cảnh Sử Hào Hùng” cho thế hệ mai sau rộng đường tìm hiểu.

Nguyễn văn Lợi
BCH/CSQG/PK

***