Doanh nhân Việt gốc Hoa ở Mỹ, dời nhà máy từ Tàu sang VN

*Doanh nhân Việt gốc Hoa ở Mỹ, dời nhà máy từ Tàu sang VN

*BẢN TIN THỜI SỰ NỔI BẬT HÔM NAY:

*BIẾM-MINH HỌA ĐẶC BIỆT:

*SLIDERS: ẢNH NGÀN LỜI:
*
*CLIPS QUAN TRỌNG:

* Doanh nhân Việt gốc Hoa ở Mỹ ủng hộ TT Trump, dời nhà máy từ Tàu sang VN
*“We came from China where Communism doesn’t work.”
* OBAMA-CLINTON VÔ TÌNH ĐỂ LỘ BẰNG CHỨNG, ĐỨNG PHÍA SAU VỤ 11.9
* Lộ bản thu âm điện đàm “nhạy cảm” giữa Joe Biden và Cựu tổng thống Ukraine thân Nga
* PTT Pence là bậc thầy của cô học trò Harris
* TIN VUI BẤT NGỜ BỘ TƯ PHÁP VÀO CUỘC ĐIỀU TRA CHRIS WALLACE ĐÒI LẠI CÔNG BẰNG CHO TT TRUMP
* CHẤN ĐỘNG SỰ THẬT THÁNG 10 BẤT NGỜ ĐÃ ĐƯỢC BÁO TRƯỚC TT TRUMP TUNG CHIÊU LẤY ĐỘC TRỊ ĐỘC
* TRÊN CẢ TUYỆT VỜI Đã Có PROUD BOYS Tie^u D.i.ệt BLM và Antifa.Mợ Pelosi Tham Quyền Dối Trá Rối Loạn
* KẺ RÒ RỈ TỜ KHAI THUẾ TT TRUMP CÓ THỂ BỊ Á.N T.Ù
*THAM GIA HÔI CỦA 1 ÔNG BỊ B.ẮT VỚI 14 TỘI DANH
* Bi thảm: Quyết định của một Giám Mục Hoa Lục anh hùng, lang thang đầu đường xó chợ gây xúc động mạnh
* Cộng đồng Đồng tính LGBT/ California ủng hộ TT Donald Trump, California đang chuyển qua TB đỏ.
* Clip đầy đủ anh em Việt Nam “quất” bọn BLM và Homeless Tấn Công Đoàn Diễn Hành Ủng Hộ TT. TRUMP

* FACEBOOK:

* Điều kỳ diệu đã xảy ra với vị TT này, và ông muốn cấp thuốc miễn phí cho dân Mỹ.
* Bà Mẹ Gốc Việt Xuống Đường Ủng Hộ TT Donald Trump Bất Ngờ Tiết Lộ Điều Này Khiến Nhiều Người Chợt Tỉnh Ngộ
* Anh nón cối hạch sách tiền vợ để đi “khoá học”!
*TÌM MẸ
*
**
*RELAX:
*
* Happy Trump DANCE Party Rally!!! Your Thoughts?
* MỜI XEM 2 VŨ ĐIỆU THỜI A CÒNG CHỈ Ở VN
* Seaworld SHAMU Killer Whale Show
* Cô gái Việt Quán Quân The Voice Kids Germany

*TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

*90 phút “debate”, Cụ Joe gian dối 33 lần The Total is In! Here Are All of Biden’s 33 Lies During the Debate
* TT Trump cho phép giải mật toàn bộ tài liệu điều tra Nga và Hillary
* TT Trump: Thuốc Regeneron là ân sủng từ Chúa, sẽ mau chóng cung cấp miễn phí cho người Mỹ
* Thượng Viện Mỹ Công Bố Hồ Sơ Con Trai Phó Tổng Thống Biden Nhận Tiền Triệu Từ Nga và Trung Cộng!
* VIẾT CHO TUỔI 30 -Nguyễn Tường Tuấn
TẠM BIỆT DEMOCRAT!
* BUM!-Song Thao
* NHẬN DẠNG VIỆT GIAN
* Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 424 Chuyện ngạc nhiên tháng mười?
* CUỐI CÙNG, DƯƠNG VĂN HIẾU LÊN TIẾNG
* Thắp Nén Hương Lòng
**

*TRUYỆN NGẮN HAY CHỌN LỌC

* TRÀM CÀ MAU: Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc:
* TIỂU TỬ: CON MẸ HÀNG XÓM
*PHẠM TÍM AN NINH: VÂNG! CHÚNG TÔI HÃNH DIỆN ĐÃ CÓ MỘT CẤP CHỈ HUY NHƯ THẾ!
*ÂU THỊ PHỤC AN: HỒN MA
* MÙI CỌP
*
*HỒI KÝ:

*DUY NHÂN: NGƯỜI KHÔNG NHẬN TỘI
* Chuyện Tình H.O sau 1975
* Nguyễn thị Tự Tập : Chuyện tình thời chiến tranh

*SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ

*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

* PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO* THY AN *NGUYỄN MINH THANH *ĐẶNG QUANG CHÍNH *      Ý NGA * ĐỨC HÙNG * THY AN *   *NGÔ MINH HẰNG *TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO * THA NHÂN * CHU KIM LONG* NGỌC QUYÊN * NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG * KIỀU PHONG * SA CHI LỆ *
**

                               **
*BIẾM-MINH HỌA ĐẶC BIỆT:

*Quý Bạn Zoom lớn ra sẽ thấy tên quý thiên thần áo trắng đã hy sinh nơi tuyến đầu chống ĐẠI DỊCH VUHAN*ẢNH LỊCH SỬ ĐỂ ĐỜI CỦA ĐỈNH CAO TRÍ TUỆ

*SLIDERS: ẢNH HIẾM CỦA MARYLIN MONROE

*CLIPS QUAN TRỌNG:

* Doanh nhân Việt gốc Hoa ở Mỹ ủng hộ TT Trump, dời nhà máy từ Tàu sang VN


*“We came from China where Communism doesn’t work.”

* OBAMA-CLINTON VÔ TÌNH ĐỂ LỘ BẰNG CHỨNG, ĐỨNG PHÍA SAU VỤ 11.9

* Lộ bản thu âm điện đàm “nhạy cảm” giữa Joe Biden và Cựu tổng thống Ukraine thân Nga

* PTT Pence là bậc thầy của cô học trò Harris

* TIN VUI BẤT NGỜ BỘ TƯ PHÁP VÀO CUỘC ĐIỀU TRA CHRIS WALLACE ĐÒI LẠI CÔNG BẰNG CHO TT TRUMP

* CHẤN ĐỘNG SỰ THẬT THÁNG 10 BẤT NGỜ ĐÃ ĐƯỢC BÁO TRƯỚC TT TRUMP TUNG CHIÊU LẤY ĐỘC TRỊ ĐỘC

* TRÊN CẢ TUYỆT VỜI Đã Có PROUD BOYS Tie^u D.i.ệt BLM và Antifa.Mợ Pelosi Tham Quyền Dối Trá Rối Loạn

**

* KẺ RÒ RỈ TỜ KHAI THUẾ TT TRUMP CÓ THỂ BỊ Á.N T.Ù

*THAM GIA HÔI CỦA 1 ÔNG BỊ B.ẮT VỚI 14 TỘI DANH
*
* Bi thảm: Quyết định của một Giám Mục Hoa Lục anh hùng, lang thang đầu đường xó chợ gây xúc động mạnh

* Cộng đồng Đồng tính LGBT/ California ủng hộ TT Donald Trump California đang chuyển qua TB đỏ.

* Clip đầy đủ anh em Việt Nam “quất” bọn BLM và Homeless Tấn Công Đoàn Diễn Hành Ủng Hộ TT. TRUMP

* FACEBOOK:
*
* Điều kỳ diệu đã xảy ra với vị TT này, và ông muốn cấp thuốc miễn phí cho dân Mỹ.
https://www.facebook.com/watch/?v=972343913270538
* Bà Mẹ Gốc Việt Xuống Đường Ủng Hộ TT Donald Trump Bất Ngờ Tiết Lộ Điều Này Khiến Nhiều Người Chợt Tỉnh Ngộ
https://www.facebook.com/nuocmytrolai2020/videos/756946191545927
* Anh nón cối hạch sách tiền vợ để đi “khoá học”!
https://www.facebook.com/VietnamNgayXuaVaNgayNay/videos/793057514847620/
*TÌM MẸ

“Tôi tên là Manon Maillet, tên tiếng Việt là Lâm Thị Thu Hương sinh ngày 25.11.1995 và bị bỏ lại tại Bệnh viện phụ sản Từ Dũ, Sài Gòn. Tôi được một gia đình người Pháp nhận nuôi và từng quay lại VN một vài lần với hy vọng tìm được ai đó thân thích. Mẹ tôi tên là Lâm Thị Thư, nay có lẽ khoảng 50-51 tuổi. Xin liên lạc với tôi nếu có thông tin. Nghĩa cử của bạn sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với tôi. Xin trân trọng cảm ơn!” – Manon Maillet.
P/s: Một trong những thông tin mà Thu Hương có được, là mẹ từng ghé thăm Hội dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn ở quận 3, Sài Gòn để tìm kiếm tin tức về con gái.
Rất mong cộng đồng bạn bè gần xa chia sẻ tìm kiếm giúp. Nghĩa tình của các bạn dù một lần chia sẻ sẽ có cơ hội giúp người ta đoàn tụ!
Link facebook cô ấy:
https://www.facebook.com/mann.mllt
**
*RELAX:
* Happy Trump DANCE Party Rally!!! Your Thoughts?


* MỜI XEM 2 VŨ ĐIỆU THỜI A CÒNG CHỈ Ở VN

CHÓ MẮC ĐÁI 

https://www.youtube.com/watch?v=PfR8acmN5fg

GÀ RỪNG ĐẠP MÁI

https://www.youtube.com/watch?v=jTo-sX4P15Q

* Seaworld SHAMU Killer Whale Show

*Cậu bé gốc Việt thi Tìm kiếm tài năng Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=ZY96efbgn1w

Cậu bé gốc Việt hát Let It Go gây sốt tại The Voice Kids Đức

https://www.youtube.com/watch?v=EZAIQ4MJR7Y

Cô gái Việt giọng Opera thánh thót Quán Quân The Voice Kids Germany

https://www.youtube.com/watch?v=CYJa2vhfdSk

*TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

*90 phút “debate”, Cụ Joe gian dối 33 lần The Total is In! Here Are All of Biden’s 33 Lies During the Debate90 phút “debate”, Cụ Joe gian dối 33 lần The Total is In! Here Are All of Biden’s 33 Lies During the Debate

The Total is In! Here Are All of Biden’s 33 Lies During the Debate

When it comes to lying, Joe Biden has no other choice. If he told people what the Democrats were actually going to do, no one would want to vote for him. Let’s go through each of them, one by one, shall we?
Lie #1: Biden is “not opposed to the Justice”.
The Truth: Biden has been publicly opposing the nomination of Amy Coney Barrett. His running mate, Kamala Harris, also expressed her disapproval.
Lie #2: 100 million people with preexisting conditions won’t have medical insurance.
The Truth: Trump will always work to protect Americans with preexisting medical conditions.
Lie #3: Biden opined that the American people should be given the chance to wait for a new president before a new SCOTUS is selected.
The Truth: Biden previously said that presidents have an obligation to make the selection, even during an election year.
Lie #4: An expanded Obamacare plan won’t wipe out private insurance plans.
The Truth: Private health insurance plans would be crowded out.
Lie #5: Trump does not have a health care plan,
The Truth: The America First Health Care plan was unveiled on September 24. Health care is also the main focus of his second-term agenda.
Lie #6: There’s no Bernie Sanders/Joe Biden manifesto.
The Truth: A 118-page document was released by a Sanders/Biden task force, filled with all sorts of radical left policy proposals.
Lie #7: Biden claimed that Trump made no attempt to have people on the ground in China, to gauge the level of danger that the COVID-19 was posing.
The Truth: Trump attempted to send in officials during early January. Biden did not support the move until over a month had passed.
Lie #8: Scientists will be “muzzled and suppressed” under Trump.
The Truth: Public health experts and scientists are always empowered under Trump.
Lie #9: Biden said that he would not shut the economy down again.
The Truth: He has already said that he would.
Lie #10: The current economic recovery plan only benefits the most wealthy Americans.
The Truth: Trump’s economic recovery plan is specifically designed to assist all economic classes.
Lie #11: Biden said that Trump has been encouraging Americans not to wear their masks and claims he’s against social distancing.
The Truth: Trump has repeatedly encouraged Americans to wear masks and has been photographed wearing one himself.
Lie #12: The Trump administration has done nothing to assist small businesses.
The Truth: Trump started the Paycheck Protection Program, which played a key role in keeping businesses afloat during the pandemic.
Lie #13: Trump only paid $750 in taxes in 2016 and 2017.
The Truth: Trump spent millions in both years.
Lie #14: Biden said that the economy is “busted”.
The Truth: The American economy was the world’s greatest before the pandemic arrived and Trump is working tirelessly to bring it back.
Lie #15: “We handed him a booming economy,” Biden said of Trump, claiming to have inherited the worst recession short of a depression in the history of our country.
The Truth: Biden was responsible for overseeing the slowest recovery the nation has seen since the Great Depression.
Lie #16: Biden’s economic plan would provide 7 million more jobs than Donald Trump’s.
The Truth: The Biden plan would destroy the economy even further.
Lie #17: Hunter Biden did nothing wrong with Burisma.
The Truth: A wide range of State Department officials expressed concerns about the clear conflict of interest that was taking place at the time.
Lie #18: President Trump claimed that there were very fine people on both sides of the Charlottesville white supremacy protest.
The Truth: He has always condemned white supremacy in all of its forms.
Lie #19: Biden claimed that his son did not receive $3.5 million dollars during his dealings with Burisma.
The Truth: The Senate Homeland Security and Governmental Affairs Committee’s report on the matter says differently.
Lie #20: Manufacturing “went in the hole” before COVID-19.
The Truth: President Trump created 500,000 manufacturing jobs during the first three years of his presidency.
Lie #21: Biden argued that the most violent cities in America are run by Republicans.
The Truth: In reality, the exact opposite is true. 17 of the 20 most violent cities in the nation are Democrat-led.
Lie #22: Biden fired off a fake quote from Kellyanne Conway about Trump enjoying the violence because it helps his own cause.
The Truth: The comment was misconstrued and this is not even the first time that Biden has attempted to misquote her.
Lie #23: “Look, what I support is the police having the opportunity to deal with the problems they face. I am totally opposed to defunding the police officers,” said Biden.
The Truth: During his vice presidency, he oversaw numerous cuts in spending for state and local law enforcement officials.
Lie #24: Biden claimed that have gone head to head with Putin.
The Truth: In reality, he is weak on Russia and Putin is probably licking his chops at the idea of a Biden presidency.
Lie #25: Biden bristled when Trump brought up his son’s drug problem and lack of employment, calling all of it a lie.
The Truth: Hunter Biden was discharged from the United States military because of his cocaine usage.
Lie #26: Biden was sure to bring up the report about Trump calling military members “losers and suckers”.
The Truth: 14 officials who were on the infamous trip with Trump have refuted those statements, including Sarah Sanders and Dan Scavino.
Lie #27: Biden said that his energy plan would not cause any economic strife.
The Truth: His plan would cost trillions of dollars and hundreds of thousands of Americans would be out of work.
Lie #28: The Green New Deal is not Biden’s plan.
The Truth: The climate plan is listed on his own website. He has embraced the framework of the plan on numerous occasions.
Lie #29: Biden lied about calling military members “stupid bastards” in 2016.
The Truth: Biden said, “clap for that, you stupid bastards” when one of his lines did not receive applause during a speech at a base in the UAE.
Lie #30: Biden says that any mail-in ballots require postmarks and must be sent in by Election Day.
The Truth: States (such as Pennsylvania) say that postmarks are not required.
Lie #31: Amy Coney Barrett has questioned whether the Affordable Care Ac is constitutional or not.
The Truth: She has yet to venture an opinion about Obamacare and has not offered any sort of input on the case that is currently pending in the Supreme Court.
Lie #32: The United States trade deficit in China is higher than ever before.
The Truth: The trade deficit continues to fall sharply under the Trump administration.
Lie #33: Violent crime saw a 15 to 17 percent decline while Joe Biden was serving as vice president.
The Truth: This stat is being overstated and it is actually believed that the violent crime numbers rose by as much as 4 percent while Biden was in office.

https://theteapartydaily.com/all-of-bidens-33-lies-during-the-debate-exposed/?fbclid=IwAR020vkzxq1zmeO1Acd2KI86Qm3gLs97kJxn16l7zulNIcNrRj8KAsNdhxg
***
* TT  Trump cho phép giải mật toàn bộ tài liệu điều tra Nga và Hillary
https://trithucvn.org/the-gioi/tin-tuc-tg/tt-trump-cho-phep-giai-mat-toan-bo-tai-lieu-dieu-tra-nga-va-hillary.html?fbclid=IwAR0y_mMMWuJSHDa8FmQ6AjbyoiNAuk38i7-ya8SyBeicGdFHirxlqDMl_c8
*
* TT Trump: Thuốc Regeneron là ân sủng từ Chúa, sẽ mau chóng cung cấp miễn phí cho người MỹTinhhoa.net 08/10/20, 09:09 Thế giới
Tổng thống Mỹ Donald Trump mới đây đã đăng tải video chứng thực cho Regeneron – thuốc kháng thể mà ông đã được sử dụng để điều trị Covid-19. Ông Trump nói thêm rằng “Đây là ân sủng từ Chúa. Đây quả là trong họa có phúc”, đồng thời hứa sẽ nhanh chóng cung cấp miễn phí thuốc này cho người dân Mỹ.
[Video] TT Trump: Thuốc Regeneron là ân sủng từ Chúa, sẽ mau chóng cung cấp miễn phí cho người Mỹ. (Ảnh: CNN)
Vào ngày 7/10, Tổng thống Donald Trump đã đăng lên Twitter một video dài gần 5 phút mà ông gọi là “một thông điệp từ tổng thống” để chứng thực cho thuốc kháng thể Regeneron.
“Tôi đã ở đó [bệnh viện Walter Reed] 4 ngày, và khi tôi vào đó, tôi không cảm thấy quá nóng và chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, họ đã cho tôi dùng Regeneron. Nó là Regeneron và những thứ khác nữa, nhưng tôi nghĩ nó là chìa khóa. Họ đã cho tôi Regeneron và điều đó dường như là không thể tin được. Tôi cảm thấy tốt ngay tức thì. Tôi cảm thấy tốt như hiện tại vào 3 ngày trước, vì thế tôi muốn nói rằng chúng ta có Regeneron”, ông Trump nói trong video.
Sau đó, Donald Trump cho biết rằng ông muốn nhanh chóng phê duyệt sử dụng Regeneron trong điều trị Covid-19.
“Vì vậy, tôi muốn hoàn thành những điều này. Chúng tôi phải hoàn thành chúng. Chúng tôi phải làm cho chúng được chấp thuận và tôi muốn mang chúng đến bệnh viện cho những người đang cảm thấy tồi tệ [vì nhiễm Covid-19]”, ông Trump nói thêm.
“Tôi bước vào, tôi cảm thấy không ổn. 24 giờ sau, tôi lại cảm thấy rất tuyệt. Tôi đã xuất viện. Và tôi muốn tất cả mọi người cũng được đối xử giống như Tổng thống của các vị, vì tôi cảm thấy rất tuyệt. Tôi cảm thấy hoàn hảo. Vì vậy, tôi nghĩ đây là ân sủng từ Chúa. Quả là trong họa có phúc”, Tổng thống nhấn mạnh.
Thêm nữa, Donald Trump cũng hứa sẽ cung cấp thuốc điều trị Covid-19 miễn phí cho người dân Mỹ. “Nó sẽ là miễn phí. Chúng tôi sẽ đưa nó vào bệnh viện ngay khi có thể, càng sớm càng tốt, và quý vị sẽ thấy một số điều kinh ngạc bởi vì quân đội của chúng tôi đang phân phát”; Tôi muốn quý vị có được những gì tôi đã dùng và tôi sẽ [cung cấp] miễn phí, quý vị sẽ không phải trả tiền cho nó”, ông Trump khẳng định.
Trong khi gửi thông điệp tới người dân Mỹ, Tổng thống Trump cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của chính quyền Trung Quốc vì đã lây lan đại dịch ra toàn cầu.
“Điều này xảy ra không phải lỗi của quý vị. Đó là lỗi của Trung Quốc. Và Trung Quốc sẽ phải trả một cái giá rất đắt cho những gì họ đã gây ra cho quốc gia này. Trung Quốc sẽ phải trả một cái giá lớn cho những gì họ đã gây ra cho thế giới. Đây là lỗi của Trung Quốc và chỉ cần nhớ điều đó”.
Hiện tại, Donald Trump đã bắt đầu làm việc trở lại tại Phòng Bầu dục. Các nhân viên Nhà Trắng khi đến gần Tổng thống sẽ phải mang đầy đủ thiết bị bảo vệ cá nhân như áo choàng, khẩu trang và kính bảo hộ.
Trước đó, Tổng thống Trump cũng tuyên bố rằng, ông sẵn sàng tham gia cuộc tranh luận bầu cử Tổng thống vào ngày 15/10.

Lương Phong (t/h)
**
* Thượng Viện Mỹ Công Bố Hồ Sơ Con Trai Phó Tổng Thống Biden Nhận Tiền Triệu Từ Nga và Trung Cộng!

Mời bấm vào link:

http://www.vietnamdaily.com/?c=article&p=120530
Tuyết-Lan
**
* VIẾT CHO TUỔI 30 -Nguyễn Tường Tuấn
        TẠM BIỆT DEMOCRAT!
Chương # 57
Trực thăng “Marine One” hạ cánh trên sân cỏ Toà Bạch Cung vào lúc 18:54 p.m ET, Thứ hai 5/10/20, Tổng thống Donald Trump kết thúc bốn ngày nhập viện điều trị “China virus”. Đi bộ thoải mái lên những bực thang, ông đứng trên tiền đình, chào phi hành đoàn khi máy bay cất cánh, một hình ảnh đẹp của vị nguyên thủ quốc gia.
Ngay hôm sau, Thứ ba 6/10/20, báo chí truyền thông thiên tả đã nhanh chóng khai hoả, tấn công, về việc ông gỡ khẩu trang khi đứng một mình trên tiền đình! Thật là khôi hài và lố bịch ngoài sức tưởng tượng! Xung quanh Tổng thống, không có ai trong khoảng cách 2 thước. Cũng chính đám truyền thông thiên tả chọn thái độ im lặng, hoặc tránh làm to chuyện khi bà Nancy Pelosi không đeo khẩu trang tại tiệm e-Salon, họ cũng “câm” hoàn toàn khi nữ Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Diane Feinsten, California, không đeo khẩu trang tại phi trường (duy nhất, truyền hình Fox News đưa lên hình ảnh này). Thế có phải là thiên vị không? Báo chí vô tư ở chỗ nào? Tổng thống Trump nói và làm bất cứ điều gì cũng bị tấn công, chúng chỉ mong ông “chết”. Và Thượng Đế nói “không”. Ông phải “sống” để dọn dẹp “đầm lầy”! Ông phải “sống” để lo cho quốc thái dân an! Hỡi người chiến binh cô đơn, chúng tôi sẽ ở cùng ông, chiến đấu với ông. Donald Trump, không cô đơn! Trên chiến hào bảo vệ tự do cho đất nước Hoa Kỳ, sẽ có sự góp mặt của dòng máu anh hùng Việt Nam.
Đảng Dân chủ (hôm nay) đi vào con đường tuyệt vọng! Lĩnh tụ không có, chiến lược cũng không! Họ có một đống báo chí, truyền thông, truyền hình sau lưng, nhưng chẳng khác gì đoàn quân “ô hợp”. Chính sách tranh cử của đảng Dân chủ năm 2020 dựa trên ba nguyên tắc: 1) Tạo ra SỢ HÃI, dùng con siêu vi khuẩn “China virus” làm vũ khí tuyên truyền. 2) Tạo ra BẤT AN XÃ HỘI, qua bọn Antifa, Black Lives Matter và Anarchy, tấn công, đốt cháy, cướp giựt. 3) Tấn công cá nhân Tổng thống Donald Trump bằng hình thức NÓI DỐI, NÓI DỐI và NÓI DỐI.

I. THẤT BẠI CHÍNH TRỊ
* TẠO RA SỢ HÃI. Từ đầu năm đến nay, đảng Dân chủ như vớ được mảnh ván giữa đại dương, mang tên “China virus”. Theo “Live Science” nhân loại đã gập 20 đại dịch, khởi đầu từ 5,000 năm trước tại Trung Hoa các nhà khoa học đặt tên chung “Prehistoric epidemic: Circa 3000 B.C”. (https://www.livescience.com/worst-epidemics-and-pandemics-in-history.html). Theo truyền thống, bệnh dịch phát xuất từ nơi nào, sẽ mang tên địa danh nơi đó: Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Luân Đôn, Nhật Bản … đều có tên cả. Cho nên đừng để bọn truyền thông tuyên truyền: Tổng thống Trump đặt tên “China virus” là kỳ thị. Chúng ta có thể sinh ra trong đêm, nhưng không phải mới chào đời tối qua để dễ bị chúng lừa bịp! Rất nhiều chính trị gia Dân chủ đang phùng mang trợn má, cho là “kỳ thị” người Trung Hoa! Thậm chí, chúng lôi chung cả người Á Đông vào cùng nhóm!
Trong dòng Tweet sáng nay 6/10/20, Tổng thống Trump viết: “Mùa cúm đang đến! Hằng năm, đôi khi trên 100.000 người, và bất chấp thuốc chủng ngừa, chết vì Cúm. Chẳng lẽ phải đóng cửa đất nước của chúng ta? Không, chúng ta phải học cách sống chung với nó. Giống như chúng ta đang học cách sống chung với Covid” (@realDonaldTrump). Nhân loại đã sống chung với Cúm (Flu) cả bao nhiêu năm nay, thuốc chích ngừa cũng có, nhưng năm nào chẳng có người chết vì cúm?
Thế giới không phải là “vô nhiễm!” Con người chỉ là một trong hằng triệu sinh vật khác sống chung với nhau. Siêu vi khuẩn có hằng tỷ, tỷ con, sau “China virus” sẽ còn nhiều dịch bệnh không may khác. Lái xe ra đường có nguy hiểm không? Tai nạn có thể xẩy ra dù bạn lái rất cẩn thận, nhưng làm sao tránh được một tên say rượu? Chẳng lẽ vì tai nạn cho nên cấm mọi người lái xe? Đảng Dân chủ “chính trị hoá” (politicizing) con siêu vi khuẩn “China virus” cho mục tiêu chính trị, trong năm bầu cử Tổng thống! Để xem, thể nào bọn nhà báo cũng mồm loa mép dải phê bình câu nói của Tổng thống Trump: “Đừng sợ con vi khuẩn Covid-19 – Đừng để nó chi phối bạn”. Chúng sẽ bảo, như thế là khuyến khích dân chúng coi thường! Không đâu, bọn ngu ạ! Chúng tôi không coi thường, nhưng cũng sẽ không sợ hãi đến nỗi ru rú xó nhà, để cho bọn cầm quyền Dân chủ tha hồ đóng cửa mọi sinh hoạt xã hội! Hãy giữ bài viết, qua ngày bầu cử, cũng chính cái đảng Dân chủ này sẽ quay ra hô hào mở cửa. Qua ngày 3/11, “China virus” sẽ đi vào quên lãng, như chúng đã quên thánh George Floyd, quên sách của John Bolton, Mary Trump, hay Bob Woodward.

* BẤT AN XÃ HỘI. Những ai đã từng sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trước năm 1975 biết rất rõ điều này. Cộng sản Hà Nội đã không ngần ngại đặt bom ngay tại nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, ngày 25/6/65, giết và bị thương 123 thực khách đa số là người Việt, 12 người Mỹ chết và 48 bị thương, báo chí quốc tế gọi là “Cuộc tấn công làm thế giới rung động” (The Attack that Shook the World). Xin mời vào địa chỉ sau để xem hính ảnh và chi tiết (https://www.historynet.com/the-attack-that-shook-the-world.htm). Vào Google chúng ta sẽ tìm ra hằng ngàn câu chuyện cộng sản Hà Nội tấn công và khủng bố các đô thị Miền Nam trước năm 1975.
Đảng Dân chủ hôm nay cũng áp dụng đúng chiến thuật đó, công khai đứng sau lưng Black Lives Matter, Antifa, Anarchy, khủng bố, đốt phá và cướp giật! Mục đích, tạo ra bất an xã hội và đổ lỗi cho Tổng thống Donald Trump. Trong cuộc tranh luận lần thứ nhất, Thứ tư 30/09/20. Ứng cử viên Joe Biden từ chối không dám lên án Antifa, và gọi đó chỉ là một “lý tưởng”, bà ưcv Phó Tổng thống Kamala Harris còn cổ vũ mọi người quyên tiền để bảo lĩnh nhóm biểu tình, nổi loạn bị bắt, qua tổ chức MFF (Minnesota Freedom Fund), nơi dòng Tweet ngày 1/6/20 bà viết: “Nếu có thể, bạn hãy tham gia ngay vào @MNFreedomFund để giúp đóng tiền bảo lãnh cho những người biểu tình ở Minnesota” (If you’re able to, chip in now to the @MNFreedomFund to help post bail for those protesting on the ground in Minnesota.) Cử tri có can đảm chọn bà Phó Tổng thống là ủng hộ viên cho tội phạm không?
Tin vui cho đảng Dân chủ, theo National Insiders ngày 6/10/20, trong cuộc phỏng vấn với truyền hình ABC News, nữ Bác sĩ Melina Abdullah, Giáo sư California State University, người đồng sáng lập tổ chức “Black Lives Matter” tuyên bố: “Tôi không ủng hộ ông Joe Biden vì ông ta là một phần của chủ nghĩa cực đoan da trắng … Mọi người cảm thấy thất vọng vì sự lựa chọn trung dung, bạn biết đấy, một người theo chủ nghĩa tối cao da trắng bạo lực và một người khác đại diện cho cùng một hệ thống đó”.
Bà Melina Abdullah kêu gọi bỏ phiếu cho bên thứ ba. Theo một thăm dò (poll) vào tháng 9/20 thực hiện bởi Associated Press và NORC Center for Public Affairs Research, số người ủng hộ Black Lives Matter rớt xuống còn 39% so với 54% vào tháng 6/20. (https://www.nationalinsiders.com/blm-has-a-new-target-and-conservatives-are-celebrating/). Lực lượng xung kích nòng cốt của đảng Dân Chủ đã hoàn toàn mất chỗ dựa trong lòng dân, ngay cả với cộng đồng da đen. Đám “âm binh” được bà “phù thuỷ” Nancy Pelosi và ngài Chuck Schumer âm thầm hy vọng đã quay lại phản chủ!

* NÓI DỐI, NÓI DỐI và NÓI DỐI. Vũ khí “sát thương” được ứng cử viên Phó Tổng thống Joe Biden, với sự góp sức của phóng viên Chris Wallace, một đảng viên Dân chủ, thường xuyên chống đối Tổng thống Trump đã bị phản đòn ngay trong ngày tranh luận (debate) đầu tiên. Hồ sơ THUẾ! Muốn biết rõ điều này, xin mời vào địa chỉ (http://diendantraichieu.blogspot.com/) đọc bài # 145 “Fake News Thuế” của tác giả Vũ Linh.
Hận thù Tổng thống Donald Trump đến mức cụ “Joe Buồn ngủ” (Sleepy Joe) lẫn đại ký giả Chris Wallace, con ếch muốn thành con bò, trở thành ngu si, ngớ ngẩn, làm trò cười cho cả nước. Đòn “sát thương” trốn thuế không hề làm đối thủ rụng đi một sợi tóc, nhưng đã quay lại xoá đi toàn bộ uy tín của cả hai. Nhật báo The New York Times tung tin Tổng thống Donald Trump đóng thuế $750 USD trong hai năm 2016-2017, và tất cả hệ thống báo chí thiên tả bu vào đánh trống, khua chiêng chỉ hai ngày trước cuộc tranh luận lần thứ nhất giữa Tổng thống Trump và ông Joe Biden. Sau cuộc tranh luận đã phải đăng bài cải chính, hu, hu! Cộng sản Việt Nam là vua nói dối, nhưng ít nhất cũng che dấu được vài năm trước khi bị lộ. Còn đảng Dân chủ Hoa Kỳ, và đám truyền thông thiên tả, không dấu được đến một tuần! Nhục!

II. CHÍNH TRỊ LỪA BỊP!
Vị Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, Abraham Lincoln (1861-1865) người anh hùng giải phóng nô lệ da đen, và hôm nay đang bị con cháu những người ông trao cho tự do quay lại đòi phá bỏ tượng đài, lấy oán báo ân. Tổng thống Abraham Lincoln từng nói, “Bạn có thể đánh lừa tất cả mọi người một lúc nào đó, và một số người đôi lúc, nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người mãi mãi” (You can fool all the people some of the time, and some of the people all the time, but you cannot fool all the people all the time).
Một ngày sau khi xuất viện, Thứ ba 06/10/20, Tổng thống Donald Trump thông báo đến quốc dân một quyết định quan trọng, “Nancy Pelosi yêu cầu $2,4 nghìn tỷ đô la để bảo lãnh cho các hoạt động không kết quả, tội phạm cao, nơi các tiểu bang Đảng Dân chủ, khoản tiền không hề liên quan đến COVID-19. Chúng tôi đã đưa ra một lời đề nghị rất hào phóng trị giá 1,6 nghìn tỷ đô la và như thường lệ, bà ấy không thương lượng một cách thiện chí. Tôi đã từ chối yêu cầu của họ, và nhìn về tương lai của đất nước, tôi đã chỉ thị cho người đại diện của mình ngừng đàm phán cho đến sau cuộc bầu cử, ngay sau khi tôi thắng cử, chúng tôi sẽ thông qua Dự luật Kích thích lớn tập trung vào những người Mỹ làm việc chăm chỉ và doanh nghiệp nhỏ” (Nancy Pelosi is asking for $2.4 Trillion Dollars to bail out poorly run, high crime, Democrat States, money that is in no way related to COVID-19. We made a very generous offer of $1.6 Trillion Dollars and, as usual, she is not negotiating in good faith, I am rejecting their … Request, and looking to the future of our Country. I have instructed my representative to stop negotiating until after the election when, immediately after I win, we will pass a major Stimulus Bill that focuses on hard working Americans and a small Business).
Bà Chủ tịch Quốc hội Nancy Pelosi phản công bằng những luận cứ ngớ ngẩn: “Hôm nay, một lần nữa Tổng thống Trump lại cho thấy bộ mặt thật; đặt mình lên hàng đầu, trước cái giá phải trả của đất nước, với sự đồng ý tuyệt đối của các thành viên GOP của Quốc hội. Việc đình chỉ các cuộc đàm phán về virus corona chứng tỏ rằng … Rõ ràng, Toà Bạch Ốc hoàn toàn rối loạn. Đáng buồn thay, họ đang bác bỏ những báo hiệu khẩn cấp của Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang, ông Powell rằng … Quá ít giúp đỡ sẽ dẫn đến sự phục hồi yếu, tạo ra khó khăn không cần thiết cho các hộ gia đình và doanh nghiệp” (Today, once again President Trump showed his true colors; putting himself first at the expense of the country, with the full complicity of the GOP members of Congress. Walking away from corona virus talks demonstrates that … Clearly, the White House is in complete disarray. Sadly, they are rejecting the urgent warnings of Fed Chairman Powell today that … Too little support would lead to a weak recovery, creating unnecessary hard ship for household and business).
Thưa bà “Phù thuỷ” Nancy Pelosi, sở dĩ Tổng thống Donald Trump ra lệnh tạm hoãn cuộc thương thảo với bà vì một lý do rất đơn giản: Bà đòi chính phủ phải thêm vào trong ngân sách dự luật Kích thích kinh tế $400 tỷ USD để chi cho các Tiểu bang Dân chủ như Minnesota, New York, California … đền bù những thiệt hại do Black Lives Matter, Antifa, và Anarchy gây ra trong thời gian qua, dưới sự cho phép công khai của bọn cầm quyền Dân chủ nơi các tiểu bang đó. Tại sao chính phủ Liên bang phải lấy tiền thuế của dân chúng Mỹ ở các tiểu bang khác đóng góp, để chi trả cho đám đàn em của bà?
Đọc tiếp dòng Tweet đề nghị của Tổng thống Donald Trump gửi cho bà Nancy Pelosi và toàn dân ngày Thứ ba 6/10/20, “Nếu tôi gửi một ngân phiếu riêng giúp đỡ (1.200 đô la) cho những công dân tuyệt vời của chúng ta NGAY LẬP TỨC. Tôi đã sẵn sàng để ký ngay bây giờ. Bà có đồng ý không Nancy?) (If I am sent a Stand alone Bill for Stimulus Checks ($1,200), they will go out to our great people IMMEDIATELY. I am ready to sign right now. Are you listening Nancy?).
Âm mưu che dấu, đòi cho được $400 tỷ tiền thuế của toàn dân Mỹ để giúp đỡ đàn em nơi các Tiểu bang dung dưỡng bạo động, số tiền khổng lồ này, phải trả cho hết đời con và cháu của chúng ta cũng chưa xong! Vậy ai đặt quyền lợi của bản thân và đảng phái lên trên đất nước?
Cha nó lú, thì chú nó khôn. Nhưng với nhóm lĩnh đạo đảng Dân
chủ hôm nay, thì cả cha và chú chẳng ai khôn! Lú một bầy! Cụ ứng cử viên Tổng thống Joe Biden lên tiếng phụ hoạ với bà “phù thuỷ” Nancy Pelosi, “Nếu bạn mất việc, nếu doanh nghiệp của bạn đóng cửa, nếu trường học con bạn đóng cửa, nếu bạn thấy cộng đồng của bạn bị thất nghiệp, Donald Trump đã quyết định hôm nay rằng – không có vấn đề gì với anh ấy”(If you are out of work, if your business is closed, if your child school is shut down, if you are seeing lay offs in your community, Donald Trump decided today that none of that – none of it matters to him).
Đọc đến đây, chúng ta thấy rõ sự gian dối, lừa bịp và vô liêm sỉ của những chính trị gia “chuyên nghiệp” đứng đầu đảng Dân chủ. Không dám nhắc đến mục tiêu mờ ám đòi thêm $400 tỷ tiền thuế của dân. Che dấu, đổi qua chuyện khác để đổ tội cho Tổng thống Donald Trump.
Với tất cả sự kính trọng, chúng tôi xin mượn lời Tổng thống Abraham Lincoln để gửi đến bà “phù thuỷ” Nancy Pelosi và cụ ứng cử viên “buồn ngủ” Joe Biden: “Bạn có thể đánh lừa tất cả mọi người một lúc nào đó và một số người đôi lúc, nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người mãi mãi”.
Chúng tôi đã tỉnh thức! Xin chào tạm biệt đảng dân chủ qua lá phiếu ngày 3/11/20. Good bye! Sayonara! Chào chia tay!

Nguyễn Tường Tuấn
tuan@1TeamConcept.com
***
* BUM!-Song Thao
Trên báo Montreal Gazette ngày 8/8/2020 có bài viết của nữ ký giả Emma Jones: “What the Smell of Your Farts Say About You” làm tôi chúi mắt vào ngay. Chẳng là anh bạn thân với tôi từ thời Chu văn An bỗng bị đau thắt bụng, không đại tiện được qua tới ngày thứ ba. Tưởng là tuổi già, cơ thể lúc thế này lúc thế kia là chuyện thường tình, anh không quan tâm lắm. Bạn bè tứ phương áp lực anh phải đi khám coi nó là cái gì. Anh đành phải chiều ý các bạn. Kết quả anh bị xoắn ruột non. Bệnh viện mổ gấp, mang nguyên bộ đồ lòng ra, xếp lại ngay ngắn rồi thuồn vô lại. Cả bệnh nhân lẫn các bác sĩ giải phẫu sau đó chăm chăm chờ đợi. Nếu anh bum được là tai qua nạn khỏi. Nếu không thì rắc rối tiếp. Cuối cùng anh cũng nổ được khiến mọi người ngây ngất. Bài báo của bà ký giả Emma Jones cũng nói tới sự quan trọng của tiếng bum. Theo bà, chuyện tự làm phát ra tiếng nổ hay ngay cả khi không có tiếng nổ nhưng gió vi vu kín kẽ là cần thiết cho sức khỏe con người. Trung bình mỗi người cho thoát hơi 8 lần mỗi ngày, mỗi lần thải ra từ 33 tới 125 mililitre khí thải. Con số trung bình này, tôi nghĩ là quá khiêm nhường. Nhiều người rất dễ dàng vượt chỉ tiêu này gấp nhiều lần. Vẫn theo bà ký giả, nhiều người vì mắc cở nên cố nén tiếng…lòng khiến có hại cho sức khỏe. Phái nữ vốn hay giữ ý nên cố nén hơn phái nam nhưng cả hai phái đều sản xuất số lượng khí bằng nhau, không có chi khác biệt. Bà viết: “Một số nhà nghiên cứu tin rằng việc nín bày tỏ nỗi lòng gây ra một căn bệnh gọi là bệnh túi thừa (diverticular disease), một bệnh tạo ra những cái túi nhỏ bám vào thành ruột già. Trầm trọng hơn, bệnh có thể gây ra viêm ruột già, chảy máu hậu môn. Cứ tự nhiên sản xuất tiếng lòng không những chỉ làm cho chúng ta dễ chịu ngay lúc này mà còn bảo vệ chúng ta trong mai sau. Vậy cứ dõng dạc, không cần đổ thừa cho con chó đứng ngơ ngẩn bên cạnh. Sức khỏe của bạn tùy thuộc vào đó!”.

Bà ký giả Emma Jones đứng trên bình diện khoa học và sức khỏe mà nói nhưng con người chúng ta lại lệ thuộc vào chuẩn mực xã hội. Nếu chúng ta lỡ…phát biểu rộn ràng một chút thì đánh chết cũng đỏ mặt. Nam cũng như nữ. Nhưng nữ thường chịu hậu quả tai hại hơn. Một tiếng nổ của các bà các cô giữa mọi người có thể sẽ đeo đuổi họ tới suốt đời. Có người bị tình phụ chỉ vì một âm thanh nhỏ nhoi. Các nam nhân được châm chước hơn khi xả ga. Nhiều chàng trai trẻ coi việc tạo ra âm thanh như một trò chơi, không một chút ngại ngùng. Tôi có một anh bạn thời trung học không bao giờ ngại ngùng trong việc sản xuất bom hơi ngạt. Anh hầu như liên tục nhấc một bên người tạo ra âm thanh. Chúng tôi đặt cho anh biệt danh trumpet! Trumpet là loại kèn lớn họng nhất trong dàn nhạc, nhất là trong một ban nhạc jazz. Sau trung học, anh gia nhập hải quân, theo học khóa sĩ quan tại Nha Trang. Ra trường, anh về gặp lũ bạn chúng tôi trước khi nhận nhiệm sở. Dĩ nhiên cuộc họp bạn bè cũ rất rộn ràng với những cú nhấc mông có phần liên tục hơn. Quả là quân trường đào tạo anh mạnh bạo hơn thời thư sinh. Nhiều người còn nửa đùa nửa thật bảo những ngày anh ở Nha Trang, Sài Gòn yên tĩnh đến phát chán. Vừa tới nhiệm sở, anh không may hy sinh ngay trận chiến đầu đời. Đám tang anh, lũ chúng tôi theo sau, buồn thì quá buồn, nhưng vẫn còn dặn nhau đừng đi gần quan tài.
Chuyện tiếng nổ phát ra hình như là một chuyện cười cợt thú vị nhất. Già trẻ lớn bé chi cũng vậy. Cứ tai nghe là miệng ngoác ra.

Khoảng hai chục năm trước, tôi vô một siêu thị tại Montreal, thấy có bán một cái gọi là whoopee cushion được để trong một bao nhựa có in chữ chỉ dẫn. Tò mò đọc, tôi mới biết đây là trò chơi…bum. Đó là một miếng cao su hình tròn và dẹp. Để dưới ghế, nếu có người vô ý ngồi lên sẽ phát ra tiếng giống hệt như tiếng trung tiện, cung bực trầm bổng thay đổi tùy sức đè. Tôi vốn có tính ngủng ngẳng nên mua về cho mỗi đứa con một cái. Chúng tụ nhau lại, ngồi lên trên, tiếng phát ra khi thì nỉ non, khi thì dũng mãnh tạo nên những trận cười lăn lộn. Đứa lớn nhất bỗng có sáng kiến đặt trên ghế, che một tấm vải lên trên, chờ tới khi có một người lớn vô tình ngồi lên trên. Tiếng động phát ra làm nạn nhân ngơ ngác và đỏ mặt. Sao mình lại có thể là tác giả của một âm thanh khó chịu như vậy trong khi cơ thể không có chuyển động chi. Lũ trẻ núp quanh đó bụm miệng ngăn tiếng cười. Khi sự việc ra ánh sáng, nạn nhân chỉ biết cười trừ!

Miếng whoopee cushion ngày đó nay đã là chuyện dĩ vãng. Thế hệ con tôi giờ đã có chồng có vợ. Tới lượt con của chúng lớn lên. Và vẫn chứng nào tật đó. Nghe thấy tiếng nổ là cười lăn cười lộn. Có thể nói chuyện cười với tiếng xì là chuyện xuyên thời gian và xuyên thế hệ. Thế hệ trước tôi, mẹ tôi cũng đã tủm tỉm cười khi chơi với cháu mà cháu thản nhiên xì xẹt cầm canh. Bà mắng yêu: “Mẹ mày! Bà chịu khó lượm chắc được cả thúng!”. Thời của miếng whoopee cushion giờ đã qua. Chuyện nổ bây giờ tân tiến hơn nhiều. Tôi có mua một cái máy Google Nest Hub để trong nhà. Cái máy này là máy đa năng, chỉ nhỏ cỡ một cuốn sổ tay, nhưng làm được rất nhiều chuyện. Chuyện tôi thích nhất là chưng bày hình ảnh di động. Đi đâu chụp hình, máy tự động lấy về mở…triển lãm. Nhưng đó chỉ là ứng dụng phổ thông nhất. Máy còn làm được rất nhiều việc hữu ích. Cứ lên tiếng “Hi Google” là nó sẵn sàng phục vụ chủ nhân. Hỏi nhiệt độ bên ngoài, tin tức thời sự mới nhất, kết quả các cuộc tranh tài thể thao hay bảo nó cho nghe nhạc, nó vâng lời tức thì. Có lần tôi thử bảo cho nghe nhạc Việt Nam, nó cũng moi ra nhạc Việt liền một khi. Nhưng có một chuyện mà tôi không biết cho tới khi mấy đứa cháu tới thăm ông bà. Thấy cái máy, chúng bảo Google cho nghe tiếng trung tiện. Máy phẹt ra liền. Chúng cười vang, đòi cho nghe một cái thiệt bự. Máy làm một cái long trời lở đất. Ông cháu cười hể hả. Tôi phải thú nhận là thỉnh thoảng nhà vắng người, tôi cũng có bắt chước các cháu, ra lệnh cho máy làm vài cái nghe cho vui tai. Có chết cái mũi nào đâu!

Chuyện máy đã vậy, chuyện người cũng chẳng khác mấy. Âm thanh lớn nhỏ của một cái bum tùy theo lượng khí phát xuất ra. Nếu cứ thả ga thì lớn chuyện, nhưng nếu biết tiết kiệm, từ tốn buông ra thì chỉ nỉ non than vãn. Khí thải trong người nhiều hay ít là do thức ăn chúng ta tiêu thụ. Có bốn nhóm thực phẩm tạo ra nhiều khí. Fructose có trong ngũ cốc như bắp, lúa mì, hành. Lactose có trong sữa, kem ngũ cốc và một số loại bánh mì. Rafinose có trong đậu, cải hoa, cải bắp và một số loại rau củ. Sorbitol có nhiều trong kẹo, kẹo cao su, nước ngọt có ga. Có lẽ cần kể thêm một thứ mà chúng ta biết công hiệu từ xưa: hạt mít!

Các nhà nghiên cứu của bệnh viện Royal Hallamshire ở Sheffield, Anh, đã làm một cuộc thử nghiệm về khí thải trong ruột con người. Họ chọn 10 người tình nguyện, 5 nam 5 nữ. Các tình nguyện viên được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm 8 người được cho ăn bình thường gồm có cả đậu. Nhóm thứ hai gồm 2 người được ăn kiêng, không chất xơ. Mỗi người được cắm một đầu ống cao su dài 4 phân vào hậu môn, đầu kia nối vào một túi nhựa. Kết quả, trong 24 tiếng, 8 người trong nhóm thứ nhất thải ra từ 476 tới 1491 mililitre khí. Số khí này lượm được trong khoảng 8 lần xì, mỗi lần từ 33 tới 125 mililitre. Lần bum có trọng lượng nhất là lần xảy ra sau khi ăn khoảng một tiếng. Hai người trong nhóm ăn kiêng chỉ có lượng khí thải trung bình 214 mililitre thôi.

Khí thải trong người ai cũng xêm xêm như nhau nếu thời cùng thứ thực phẩm như nhau. Khác nhau là cách xả ra. Thường thì chúng ta kín đáo trong chuyện tế nhị này. Nhưng nhiều khi mất cảnh giác, bom tuôn ra ngoài vòng kiểm soát dễ gây nên những cảnh cười đau khóc hận. Anh chàng ca sĩ Yatin Sangoi, 48 tuổi, của Ấn Độ là người có lòng. Nhận thấy chuyện bất cẩn xì hơi mang lại những phiền phức cho những kẻ lỡ…miệng dưới, anh muốn mọi người coi chuyện này nhẹ nhàng hơn. Muốn vậy phải cho mọi người quen với những tiếng nổ của con người, coi như chuyện thông thường hàng ngày, tự nhiên như hít thở hay ăn, ngủ. Anh mở một cuộc thi bum cho các thí sinh công khai xả hơi. Cuộc thi có tên là “What The Fart”. Những thí sinh sẽ được chấm điểm trên các tiêu chuẩn: âm lượng, độ dài và âm sắc của mỗi cú xì hơi. Trò chuyện với trang mạng VICE, anh nói: “Đang xem phim cùng gia đình thì tôi đánh ủm một cái rõ to, mọi người cười ồ lên và nói nếu có một cuộc thi xì hơi thì nhất định tôi sẽ là nhà vô địch. Từ khoảnh khắc đó, tôi mới tự hỏi tại sao Trung Quốc, Anh, Mỹ đều đã có thi xì hơi mà Ấn Độ lại không có? Thậm chí còn có cả World Cup xì hơi nữa đấy! Tôi muốn bình thường hóa việc xì hơi. Thời cổ xưa, người ta xì hơi một cách công khai, nhưng giờ đây việc đánh ủm ở nơi công cộng bị coi là chuyện gì đó rất đáng xấu hổ. Các bác sĩ cũng nói rằng xì hơi là dấu hiệu của một cơ thể khỏe mạnh, chẳng có gì xấu xa cả”. Cuộc thi được tổ chức tại thành phố Surat, tiểu bang Gujarat ở Ấn Độ. Trước ngày thi, anh Sangoi đã truyền mánh cho các thí sinh: nên ăn nhiều củ cải, đậu và khoai tây luộc. Anh phát động cuộc thi trên mạng internet và có tất cả 60 người ghi tên tham dự. Tới ngày thi vào tháng 9 năm 2019 chỉ có 20 người xuất hiện tại trường thi. Tới khi lên tranh tài trên sân khấu, trước các máy quay phim, chỉ còn 3 vị có đủ can đảm tham dự. Đó là các ông Sushil Jain đến từ Bardoli, ông Alkesh Pandya đến từ Patan và ông Vishnu Heda đến từ Syrat. Dưới ánh đèn, dàn micro và tua tủa máy thu hình, cả 3 ông đều khớp, không thể sản xuất được tí khí nào, nói chi tới chuyện to và mạnh. Vậy là chẳng ông nào ẵm được cúp. Tuy vậy, ban tổ chức cũng tặng mỗi ông một món quà khuyến khích. Chàng ca sĩ đầu têu chuyện xì hơi công khai này thất vọng não nề. Nhưng anh không nản chí và cho biết sang năm sẽ làm lại. Lần này sẽ tổ chức trong phòng kín, không có khán giả, không báo chí truyền thông chi hết, để các thí sinh được thoải mái gây tiếng nổ!

Cái thứ tiếng ti tỉ, lớn nhất cũng không làm rung rinh nhà cửa được, lại đã gây ra nhiều tình huống dở khóc dở cười. Ông Eric Swalwell là một trong những ứng cử viên tranh chức đại diện đảng Dân Chủ tranh cử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ năm 2020. Trong một cuộc phỏng vấn ông tại đài truyền hình MSNBC vào tháng 11 năm 2019, người ta nghe thấy một tiếng nổ khá lớn. Người tinh mắt sẽ thấy sự ngượng ngùng trên khuôn mặt vị chính khách này. Video của buổi phỏng vấn được người ta vô coi đông đảo. Cũng phải thôi, ít khi trong chính trường có chuyện vui như vậy. Phản ứng lại, ông Eric Swalwell post trên twitter câu thanh minh thanh nga: “Không phải tôi đâu. Thậm chí tôi không nghe thấy tiếng đó trong buổi phỏng vấn!”. Vậy là dân chơi twitter chia thành hai phe. Một phe nhất quyết chính ông Eric là người thả bom. Phe kia cho đó là tiếng chi đó do máy móc của đài truyền hình tạo ra. Các nhà chuyên môn phân tích bằng các định lý âm thanh rất bài bản để kết luận chẳng ai có thể thả một trái bom nặng ký đến vậy trên micro. Đài truyền hình giải thích đó là tiếng động của chiếc ly xê dịnh trên bàn. Nhưng dân ham vui vẫn không đồng ý với lời giải thích này. Ông Eric Swalwell đã rút lui khỏi cuộc tranh cử. Không biết vụ nổ trên chốn công cộng này có vai trò nào trong việc rút lui của ông không.

Vậy là chủ nhân của tiếng nổ lớn trong vụ này vẫn chưa được rõ ràng. Không như vụ xì hơi của anh Stuart Cook xảy ra vào giữa tháng 9/2019 tại Aberdeen, Tô Cách Lan. Phải công nhận anh Stuart này ngon lành. Xe của anh đụng với một xe khác trên xa lộ. Đây chỉ là một vụ tai nạn thường, chuyện xảy ra hàng ngày. Nhưng trong khi cảnh sát đang điều tra, họ ngửi thấy trên người anh có mùi cần sa. Họ khám kỹ xe anh và thấy một lượng nhỏ cần sa. Cảnh sát dẫn anh về bót. Tại bót, cảnh sát bắt anh thoát y để khám coi có giấu cần sa trong người không. Đúng lúc viên cảnh sát đang lom khom dưới chân anh, anh cho nổ ba quả bom thúi vào ngay mặt ông này. Xong anh còn hỏi: “Ông có thích không?”. Anh bị đưa ra tòa. Bà Laura Gracie, luật sư của anh Cook, cho rằng anh hành động như vậy vì “cảnh sát đã phản ứng quá đáng” với anh khi bắt giữ. Tòa đã tuyên án anh về tội “đe dọa và cố ý thả hơi” vào nhân viên cảnh sát. Tuy nhiên tòa cũng nhẹ tay, chỉ phạt anh 75 giờ làm việc cộng đồng.

Tháng 3/2019 tại Úc đã xảy ra một vụ kiện làm ồn ào dư luận. Ông David Hingst, 56 tuổi, nhân viên của hãng Construction Engineering, đã kiện ra tòa Tối Cao Victoria ông chủ cũ Greg Short vì tội đã làm ông tổn thương tinh thần trầm trọng. Ông David nói với hãng tin APP: “Tôi ngồi đối diện với bức tường trong một căn phòng nhỏ không có cửa sổ. Ông ấy tới sau lưng tôi, âm thầm thả bom rồi bỏ đi. Ông liên tục làm như vậy mỗi ngày tới sáu bẩy lần!”. Ông David đã từng thưa kiện chuyện này nhiều lần từ năm 2017 đến 2019 nhưng các tòa đều cho rằng hành vi “thả bom” không phải là tội bắt nạt nơi văn phòng và không có căn cứ để xử. Trong khi đó, ông Greg Short thanh minh: “Tôi không nhớ chính xác mình có “thả bom” vào David hay không nhưng hình như cũng có một hai lần chi đó. Tuy nhiên, tôi không hề có ý định xúc phạm ông ta”. Lần kiện lên tòa tối cao tiểu bang Victoria này, ông đòi bồi thường tới 1 triệu 100 ngàn đô Úc. Nhưng một lần nữa ông David đã lại thất kiện.

Cũng phải thông cảm với các vị cầm cân nảy mực tại pháp đình. Chuyện như đùa mà mang ra chốn tôn nghiêm chắc chắn phải làm luật pháp bối rối. Chuyện tự nhiên của cơ thể con người đã làm các quan tòa mất tự nhiên. Biết xử thế nào cho phân minh trong khi sách vở luật không dự trù tới sự len lỏi của trái bom không gây nguy hiểm cho mạng sống con người vào chốn pháp đình. Nhưng ngoài xã hội thì khác. Các nhân viên công lực tại Tô Cách Lan trong vụ anh Stuart Cook cố tình xì hơi đã lãnh đủ hương vị của anh chàng láo lếu này. Trời chẳng bất công với ai. Đã bắt cảnh sát lãnh đủ thì cũng cho cảnh sát hưởng lợi. Sự may mắn đã tới với các cảnh sát tại hạt Clay, tiểu bang Missouri bên Mỹ.

Sự việc mới xảy ra vào tháng 2/2020. Cảnh sát đang truy nã một nghi phạm có tuyệt chiêu lẩn trốn. Được tin mật báo địa điểm nghi phạm đang ẩn nấp, cảnh sát xiết chặt vòng vây, dẫn chó đánh hơi xục xạo nhưng vẫn không có kết quả. Bất thần họ nghe thấy một tiếng bom tấn vang dội, vội xông vào nơi phát xuất tiếng nổ có trọng lượng và tóm ngay được nghi phạm.
Hay không bằng hên. Hên cho cảnh sát nhưng xui cho nghi phạm. Tại sao đã lẩn trốn mà còn rượu thịt chi cho khổ. Không biết nên trách ruột già hay ruột non. Theo khoa học thì thủ phạm tiếng nổ là anh…già! Các cụ ta thường nói: càng già càng dẻo càng dai. Không biết có phải ám chỉ chuyện nổ này không?

09/2020
***
*Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 424 Chuyện ngạc nhiên tháng mười?

Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 424 (Đời Nay ra ngày 9.10. 2020)

Chuyện ngạc nhiên tháng mười?

Tháng chín vừa đi qua, mới bước vào tháng mười được hai ngày, tin Tổng thống Trump và Đệ nhất phu nhân Melania bị nhiễm dịch phổi Tàu COVID-19 được tung ra như một quả bom 500 kí.

Trong cuộc họp báo ngày hôm trước, ông Trump trông không có vẻ gì là đau yếu và nói rằng đã có thể trông thấy trong tầm mắt ngày biến đi của dịch COVID-19.

Bs. Sean Conley, y sĩ của tổng thống, cho biết tổng thống và đệ nhất phu nhân “đều mạnh giỏi trong lúc này, và dự định sẽ lưu lại Tòa Bạch Ốc trong thời gian nghỉ dưỡng”. Ông Trump đã hủy bỏ chương trình tham dự một buổi gây quỹ và bỏ chuyến bay đi Florida để vận động tranh cử vào ngày thứ sáu.

Nhưng, chiều tối hôm đó ông Trump đã được chiếc trực thăng Marine One đưa vào Trung tâm Quân Y Quốc gia Walter Reed tại Bethesda, Maryland, không xa Tòa Bạch Ốc.Văn phòng Tòa Bạch Ốc nói rằng việc TT Trump đi bệnh viện chỉ là biện pháp cẩn trọng tối thiểu cần phải làm. Bà Melania thì vẫn ở lại Tòa Bạch Ốc và theo lời y sĩ tại đây, bà chỉ bị ho nhẹ và nhức đầu.

TT Trump đã không tạm giao quyền cho Phó Tổng thống Mike Pence, như thủ tục thông thường khi một tổng thống lâm bệnh hay đi làm một cái đó trong bệnh viện mà cần phải đánh thuốc mê.

Cố vấn An ninh Quốc gia Robert O’Brien nói rằng không có chương trình nào để ông Trump bàn giao quyền hành cho người khác trong khi nước Mỹ chờ đợi ông bình phục. Ông O’Brien nói trên chương trình “Face The Nation” của CBS: “Nhưng chúng tôi đã chuẩn bị. Hãy xem, chúng ta có một phó tổng thống tài đức. Chúng ta có một chính quyền vững vàng, và vững vàng trước tay lái.”

TT Trump được xác nhận bị lây nhiễm COVID-19 khuya hôm thứ năm và được công bố vào khoảng 1 giờ sáng ngày thứ sáu 2 tháng 10.

Sáng ngày thứ bảy, cựu cố vấn Tòa Bạch Ốc Kellyanne Conway và Bill Stepien, giám đốc chiến dịch tranh cử của ông Trump, cùng với cố vấn cao cấp Tòa Bạch Ốc Hope Hicks đều được cho biết kết quả thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona. Tại Quốc Hội, vài nghị sĩ và dân biểu thử nghiệm cũng phát hiện bị nhiễm COVID-19.

Thẩm phán Amy Coney Barrett, người vừa mới được TT Tổng thống Trump đề cử lên Tối Cao Pháp Viện, thay thế bà Ginsburg qua đời trong tháng trước. Bà Barrett cũng bị nghi đã nhiễm coronavirus vì trong thời gian vừa qua đã tiếp xúc gần cận với TT Trump và một số nghị sĩ tại Thượng viện.
Phe Dân Chủ đòi đình hoãn thủ tục chuẩn nhận tới sau ngày bầu cử, nhưng bà đã thử nghiệm và kết quả là không bị nhiễm COVID-!9. Và, Nghị sĩ Mitch McConnell, thủ lãnh khối đa số tại Thượng viện, loan báo rằng ông đã nói chuyện qua điện thoại với TTTrump và rằng thủ tục chuẩn nhận Amy Coney Barrett sẽ được tiến hành cấp tốc.

Tuy nhiên, cho đến khi ông Trump trở lại Tòa Bạch Ốc,“cái nhà” nước Mỹ như ngựa không cương như thuyền không lái, ai cũng xả rác, nhưng không ai quét dọn, ai cũng nói yêu nước thương nòi, và ai cũng chỉ tay buộc tội người khác, nhất là truyền thông báo chí phe tả coi đây là cơ hội bằng vàng để tung tin thất thiệt đánh phá ông Trump khi cuộc tranh cử đang đi vào những ngày chót.

Bên trong thì như thế, bên ngoài thì cả thế giới đã bị “sốc” trước tin con người nắm trong tay nhiều quyền lực nhất trên hành tinh này đã bi con vi khuẩn vô hình quật ngã và đã phản ứng bằng nhiều cách, tùy theo là bạn hay thù.
Bạn, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã mau lẹ gửi cho TT Trump một cái tweet “chúc người bạn của tôi @POTUS @realDonaldTrump và @FLOTUS chóng bình phục và dồi dào sức khỏe”.

Liên lạc ngọai giao giữa Hoa kỳ và Ấn Độ đã phát triển nhanh chóng từ khi ông Trump làm tổng thống và được coi như một đồng minh của Mỹ tại Á Châu để ngăn chặn sự bành trướng của Trung cộng tại lục địa này.
Bộ trưởng Nông nghiệp Úc David Littleproud xuất hiện trên truyền hình chúc Tổng thống Trump và Đệ nhất Phu nhân với những lời lẽ tốt đẹp nhất và nói rằng điều ấy đã chứng tỏ rằng không một ai được miễn trừ khỏi COVID-19 và lây nhiễm nó, và rằng nó cho thấy một bệnh dịch toàn cầu có thể tấn công bất cứ ai, kể cả tổng thống của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Thù,Trung cộng tỏ ra vui mừng nhất khi tin Tổng thống Donald Trump bị nhiễm COVID-19 được loan ra vào ngày thứ hai trong lễ quốc khánh kéo dài bảy ngày tại nước này. Hu Xijin, chủ biên tờ báo quốc doanh Global Times đã phóng ra một cái tweet bằng Anh ngữ nói rằng “Tổng thống Trump và đệ nhất phu nhân đã trả giá cho ván bài của ông ta đã chơi với việc coi thường COVID-19”, sao mà giống như luận điệu của ông Biden và truyền thông phe đảng tại Mỹ.

Còn tại Iran thì đài truyền hình quốc doanh loan tin tổng thống Mỹ bị “dính” COVID-19 với ảnh ông Trump bị bao vây giữa hình thù những con vi khuẩn corona gớm ghiếc.
Thế còn Phó Tổng thống Eshaq Jahangiri và Phó Tổng thống Massoumeh Ebtekar của Iran cùng một số quan lớn cũng đã “dính” với COVID-19 từ mấy tháng trước thì bây giờ đi đâu cả rồi?

Thật vậy, ông Trump không phải là nhà lãnh đạo quốc gia đầu tiên trên thế giới đã bị lây nhiễm coronavirus. Thủ tướng Anh Boris Johnson là nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên xác nhận bị nhiễm virus Vũ Hán. Ông đã phải vào bệnh viện một tuần hồi tháng Tư và đã được điều trị trong phòng chăm sóc đặc biệt, sử dụng bình oxy, nhưng chưa phải dùng máy trợ thở.

Tổng thống Honduras Orlando Hernandez cùng hai cộng sự thân tín đã xác nhận có kết quả xét nghiệm dương tính với vi khuẩn corona vào tháng sáu. Ông đã được đưa vào bệnh viện một thời gian ngắn và được điều trị bằng “liệu pháp MAIZ”, cách thức điều trị COVID-19 bằng việc kết hợp 4 loại thuốc microdacyn, azithromycin, ivermectin và zinc.
Ngoài tổng thống Belarus, các lãnh đạo của các nước thuộc Liên Sô cũ cũng nhiễm coronavirus là Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan và Thủ tướng Nga Mikhail Mishustin.

Tổng thống Guatemala Alejandro Giammatei đã nói ông dương tính với virus corona chủng loại mới hồi tháng Chín. Ông không bị sốt, chỉ bị ho nhẹ và làm việc từ nhà.
Tổng thống Bolivia Jeanine Anez là tổng thống tạm quyền khi bị nhiễm coronavirus hồi tháng Bảy. Bà đã được cách ly nhưng không bị trầm trọng thêm.
Trở lại với Tổng thống Trump. Ngày thứ sáu, 2 tháng 10, trước khi tới Turng tâm Quân y Walter Reed khoảng 6 giờ 30 chiều, ông Trump đã phổ biến một video ngắn trên cái tweet cảm ơn những người ủng hộ ông về những lời chúc sức khỏe với những lời lẽ như sau:
“Tôi muốn cảm ơn tất cả mọi người về sự ủng hộ lớn lao dành cho tôi. Tôi dang đi tới Bệnh viện Walter Reed. Tôi nghĩ tôi đang rất khỏe mạnh. Chúng tôi đang làm những gì để chắc chắn mọi sự đều chu đáo. Đệ nhất phu nhân đang rất mạnh khoẻ. Xin cảm ơn rất nhiều. Tôi ghi ơn về chuyện đó. Tôi sẽ không bao giờ quên. Xin cảm ơn.”

Sáng sớm ngày thứ bảy, những người ủng hộ ông Trung bắt đầu tụ họp bên ngoài Bệnh viện Walter Reed mỗi lúc một đông với quốc kỳ và biểu ngữ yểm trợ tinh thần ông tổng thống ở bên trong.

Ngày hôm sau khoảng 5 giờ chiều, ông Trump đã bất ngờ ra khỏi bệnh viện trên chiếc xe Chevy Suberban cùng hai cân vệ và vài phụ tá thân tín chạy dọc theo con đường Rockville Pike, vẫy tay chào đám đông đang tụ họp bên ngoài hàng rào bệnh viện trước sự ngạc nhiên và xúc động của họ.
Sau chuyến du hành chớp nhoáng, ông tổng thống ca ngợi đám người ủng hộ ông tụ hop bên ngoài bệnh viện là “những nhà đại ái quốc”, và nói: “Thật là một cuộc du hành đầy ý‎ nghĩa. Tôi đã học được rất nhiều điều về COVID. Tôi đã học được bằng cách tới nhà trường thực, đây là nhà trường thực sự. Đây không phải là nhà trường “Hãy đọc cuốn sách”. Và tôi đã lãnh hội bài học đó, và tôi đã hiểu, và bài học đó là điều rất có ý nghĩa.”
Có lẽ nhiều người khác cũng đã lãnh hội được bài học về việc Tổng thống Trump bi lây nhiễm vi khuẩn corona.

Đó là những chính trị gia tên tuổi lẫy lừng, suốt đời, có khi mấy đời, ngụp lặn trong cái “đầm lầy” ở Washington, ganh ghét ông Trump vì đã bị ông ta hạ đo ván trong khi họ nói ông chỉ lo kiếm tiền và tổ chức thi hoa hậu, hay chơi cù (golf), không biết “chính trị” là gì cả!
Đó là các ông bà nhà báo kênh kiệu, tự cao tự đại nghĩ rằng muốn “giết” ai cũng được, với ngòi bút dơ bẩn của họ.

Hai loại người nói trên mồm lúc nào cũng tuôn ra những điều hay đẹp cao cả, yêu nước thương dân, nhưng trong đầu họ không có gì khác, ngoài danh và lợi, hay tiền bạc và chức quyền.

Mất hai thứ đó, họ điên lên, cấu kết với nhau làm mọi cách nhằm lật đổ ông tổng thống được dân bầu ra một cách công bằng và hợp pháp, hợp hiến.
Trong gần bốn năm qua, TT Trump đã bị đánh phá tơi bời, ngày cũng như đêm, không ngừng nghỉ. Nào “fake news”, “deep state”, nào “cuộc săn bắt phù thủy” thông đồng, nào điều trần, điều tra, “đàn hặc”… vân vân
Với tất cả những đòn thù trên đây, không những ông Trump đã đứng vững mà còn làm được nhiều việc đã hứa với cử tri khi ra ứng cử.

Năm nay, 2020, ông Trump ra tái tranh cử nhiệm kỳ hai với đầy ắp những thành tích sau hơn ba năm nhậm chức, tràn trề hy vọng ở lại Tòa Bạch Ốc thêm bốn năm để hoàn tất những chương trình đang dở dang, ở trong nước cũng như quốc tế.
Nhưng, ngay từ những ngày đầu năm, cơn dịch COVID-19 bộc phát tù Vũ Hán, Trung cộng, đã lan truyền ra khắp thế giới, gieo đại họa cho con người ở mọi nơi, riêng Mỹ đã làm hơn 200 ngàn người thiệt mạng mà chưa biết bao giờ mới chặn đứng được sự lây lan.

Vụ dịch COVID-19 chưa hết thì vụ nổi loạn của BLM tại các thành phố trên nước Mỹ đã nổ ra vào cuối tháng 5 và kéo dài cho đến nay.

Trong lúc nhiều người đang chờ đợi một “chuyện ngạc nhiên tháng mười” (October Surprise), như thường xảy ra vào những năm có bầu cử tổng thống tại Mỹ xem tình hình có sáng sủa hơn không, thì “đùng một cái”, tin Tổng thống Trump bị nhiễm dịch COVID-19 được loan ra khiến mọi người sững sờ. Trong đó có nhiều người lo sợ và cầu nguyện cho ông Trump tai qua nạn khỏi và chóng bình phục. Nhưng cũng không thiếu những kẻ cười thầm như mở cờ trong bụng, thậm chí reo vang lên và tự rót một ly rượu uống mừng.
Nhưng, buồn hay vui, một tuần lễ đã trôi qua, những xúc cảm lúc đầu đã lắng xuống, và có nhiều chuyện đã xảy ra trong thời gian ấy, chắc nhiều người đã lãnh hội được bài học, như ông Trump đã nói, về dịch COVID-19?
Còn quá sớm để biết xem việc nhiễm coronavirus của TT Trump ảnh hưởng ra sao tới kết quả của cuộc bầu cử vào ngày 3 tháng 11 sắp tới. Tuy ông Trump đã rời bệnh viện và trở về Tòa Bạch Ốc hồi 6 giờ 30 chiều ngày thứ hai 5 tháng 10, nhưng không ai có thể nói chắc rằng sẽ không còn xảy ra “chuyện ngạc nhiên tháng mười” nào nữa!
Trong khi chờ đợi, chúng tôi lại xin thỉnh ý Giáo sư Trần Quang Quyến, nhà tướng số học uy tín theo tướng pháp Ngô Hùng Diễn. Dưới đây là phân tích và nhân định của GS. Quyến:
Tổng thống Donald Trump, theo TP Ngô Hùng Diễn, có tướng cầm thú hoà hợp giữa tướng rồng, tướng sư tử và một phần không nhỏ của chó sói. Khi ông quyết định ra khỏi “khu rừng” của ông để tranh đấu với “loài người” thì ông sẽ bị đuổi giết từ cả bốn phía. Nếu ông tiếp tục ở trong “rừng” của ông, thì ông dễ dàng sống trên 100 tuổi, tài sản sẽ kếch xù hơn, con cái thành đạt, hạnh phúc cho tới chết.
Tổng thống Trump là người trời sinh có tướng anh hùng, gặp thời loạn không dửng dưng hưởng thụ cho cá nhân mình được. Vì hình vuông, thần vuông nên khi gặp tấn công, người này phải đứng dậy chống đỡ kịch liệt chứ không lẩn trốn được. Người có tướng này không được làm bất cứ việc gì khuất tất dù nhỏ tới đâu đi chăng nữa, nếu không sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến danh tiếng và sự nghiệp. Mọi việc đều phải hết sức rõ ràng và minh bạch.
Nếu đắc cử nhiệm kỳ hai, Tổng thống Trump sẽ sắp xếp lại trật tự cho thế giới. ISIS sẽ bị triệt tiêu, thế giới sẽ yên bình, cộng tác hài hoà trong tiến trình phát triển.
Trung Quốc sẽ suy thoái nếu những nhà lãnh tụ của họ dùng cường lực với lòng tham lam và độc ác để thôn tính những nước nhỏ láng giềng. Mỹ sẽ không bỏ rơi vùng biển Nam Hải và Việt Nam sẽ có cơ hội khôi phục về quân sự, chính trị và kinh tế trong một thể chế dân chủ và tiến bộ. Tổng thống Donald Trump sẽ là người khai sáng một kỷ nguyên mới cho thế giới.
Tổng thống Trump sẽ đạt được những mục tiêu to lớn và sẽ trở thành một vị tổng thống vĩ đại trong lịch sử nước Mỹ, chỉ đứng sau tổng thống George Washington.
Theo tiên đoán của GS. Quyến gần đây nhất, năm 2019, ông Trump sẽ tái đắc cử với điều kiện ông phải giữ được sức khoẻ tốt, duy trì được thần khí, không để thần khí bị suy thoái. Nếu không sẽ đứt gánh giữa đường với sự nghiệp dang dở.

Thật là một bài toán nhức óc, vì cuộc bầu cử năm nay rất phúc tạp, có nhiều rắc rối, đến nỗi bà Pelosi, chủ tịch Hạ viện, đã tuyên bố rằng bà ta sẽ lên nắm quyền!?

Ký Thiệt
***
* NHẬN DẠNG VIỆT GIAN
Hoang Le <levhoang57@gmail.com>
Kính Thưa Quí Đồng Hương.

Chúng ta đã chạy trốn cộng sản, mà bọn chúng cũng không bao giờ để chúng ta yên ổn. Bọn chúng luôn tìm mọi Âm mưu và thủ đoạn để móc nối và cài người vào trong Cộng đồng của chúng ta để đánh phá mục đích là để gây chia rẽ và hoang mang. Chúng ta chỉ cần chịu khó suy nghĩ một chút là nhận ra việt gian ngay.

– Thứ 1 : Thường những người có Tinh thần chống cộng là họ CHỐNG NGAY TỪ ĐẦU, không bao giờ có chuyện, mấy chục năm im hơi lặng tiếng, bất thình lình nhảy ra chống cộng MÀ ĐÒI LÀM LỚN như, tại Cali có tên Sam Hồ mấy chục Năm nay không ai biết mặt mũi ra sao !!! Bây giờ nhảy ra lập Liên Danh Ứng cử CT Cộng đồng. Không riêng gì tôi mà một số Bà con sáng suốt ở Cali nhận dạng tên SAM HỒ NẦY ĐÚNG LÀ VIỆT GIAN.

Khi một người đã có Tinh thần chống cộng, THÌ LÀM VIỆC GÌ CŨNG ĐƯỢC, có góp một bàn tay là vui vẻ và thỏa mãn rồi, đâu cần phải làm chức nầy chức nọ. Như tôi đây bao lâu nay tại Houston, tôi chỉ có VIỆC DỌN DẸP BÀN NGHẾ, thế thôi. Cũng có nhiều Vị Ẩn dật, nhưng thỉnh thoảng cũng có tham gia, nhưng khi đề nghị giao cho họ Chức vụ, là họ từ chối ngay.

– Thứ 2 : Người xưa có câu : HƯU XẠ TỰ NHIÊN HƯƠNG.

Bất cứ một việc gì, nếu chúng ta làm thật tâm, thì mọi người sẽ tự động biết thôi, không cần phải khoe khoang và quảng cáo. Đúng thế không Quí Vị ??? Trong công việc chống cộng cũng vậy. Tôi thấy đa phần những người nhiệt tâm, không bao giờ có ai nghĩ đến chuyện phải ĐƯỢC CA NGỢI MÌNH LÀ CHỐNG CỘNG CẢ. Họ cùng nhau làm được một việc gì đó là TRONG LÒNG CẢM THẤY THỎA MÃN RỒI.

Điều nầy Quí Vị nên để ý. Những tên lâu nay núp bóng, BÂY GIỜ MỚI NHẢY RA, mà đòi làm lớn và luôn muốn mọi người phải CÔNG NHẬN VÀ KHEN TẶNG ta đây là người chống cộng. Có tên còn TRƠ TRẺN VÀ ĐÊ HÈN sửa Email của người khác để khen tặng mình là người chống cộng. Quí Vị là những người chống cộng nhiệt tình, thì Quí Vị có chai mặt mà làm được như vậy hay không ??? Chắc chắn không bao giờ có. Vậy cho nên những thành phần trên đúng là việt gian.

– Thứ 3 : Một khi chúng ta đã LÀM VIỆC CHÍNH NGHĨA, thì không cần phải đi nịnh bợ và lấy lòng ai hết. Chúng ta hãy để ý những tên việt gian, lăng xăng lít xít, chạy qua đầu nầy nịnh bợ , chạy qua bên kia lấy lòng, đi làm quen tứ tung. Người ta có câu : CÓ TẬT THÌ GIẬT MÌNH. Bọn việt gian phải làm vậy ĐỂ CHE LẤP bản chất việt gian của bọn chúng.

Cho nên Quí Vị hãy suy nghĩ về lòng mình, thì sẽ nhận ra những tên việt gian ngay. Chúng ta đã là một người có Tinh thần chống cộng quyết liệt, thì việc gì phải bỏ công đi nịnh bợ như thế. Đúng không Quí Vị ??? Ngoài ra còn có những tên không làm gì hết mà vẫn có tiền sống, còn bỏ tiền ra chi phí nữa. Vậy tiền của ai chi ra ??? Hỏi tức là đã trả lời.

– Thứ 4 : Đây là một việc cần phải chú ý. Hiện nay đang kỳ Tranh cử, bọn chúng lợi dụng thời cơ, cũng đóng kịch ủng hộ TT Trump, chúng ta đừng vội tin. Chẳng hạn như tên Ngụy Vũ cũng ủng hộ TT Trump, nhưng lại cấm mang Cờ vàng Ba sọc Đỏ. Tại sao vậy ???

Vì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ LÀ LINH HỒN LÀ BIỂU TƯỢNG của người Việt TN cộng sản, cho nên bọn csVN đang âm mưu và cố tình đánh phá. Nếu dẹp bỏ được Cờ Vàng thì Tinh thần đấu tranh sẽ MẤT LÝ TƯỠNG VÀ CHÍNH NGHĨA. Cho nên việc Ngụy Vũ cấm Cờ Vàng, chứng tỏ NGỤY VŨ LÀ MỘT TÊN VIỆT GIAN.

Hành động tiểu nhơn và đê hèn của bọn việt gian là, mỗi khi có ai chống đối, bọn chúng dùng những lời lẻ HỒ ĐỒ, TỤC TỈU VÀ MẤT DẠY để làm cho nhiều người chán nản, không muốn dính líu vào. Tất cả đừng có sợ gì hết, hãy cùng nhau đương đầu với bọn chúng. Ta đây là Hoàng Lê SẲN SÀNG ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TẤT CẢ BỌN VIỆT GIAN.

Bây giờ chúng ta hãy chịu khó dành một chút suy nghĩ thì sẽ nhận ra việt gian ngay. Nếu những ai là thật tâm chống cộng thì hãy nghĩ về lòng mình :

– Có bao giờ muốn mọi người phải tôn vinh mình là người chống cộng hay không ???
– Khi tham gia một Tổ chức, có âm mưu len lỏi để được làm lớn hay không ???
– Có thường xuyên nịnh bợ đầu nầy, lấy lòng đầu kia hay không ???

Chắc chắn những người thật tâm chống cộng là không bao giờ có. Vậy những tên nào làm những điều như trên. ĐÓ LÀ VIỆT GIAN. Quá dễ nhận ra mà.

Tất cả hãy Đoàn kết và Sáng suốt, thì bọn việt gian sẽ không có đất sống.

Lê văn Hoàng
***
* CUỐI CÙNG, DƯƠNG VĂN HIẾU LÊN TIẾNG

Lâm Lễ Trinh

Sự tịnh khẩu từ 1963 cho đến nay của ông Dương Văn Hiếu, nguyên Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung thời Đệ nhứt Cọng hoà Việt Nam, là một cuộc hành trình xuyên sa mạc dài trên bốn thập niên. Tác giả bài này đã liên lạc lại được với ông Hiếu hiện định cư tại San Jose, Californie. « Con người biết quá nhiều, L’homme qui en savait trop » và từng bị gán biệt danh «Hùm Xám của Chế độ» đã chấp nhận trả lời nhiều câu hỏi của chúng tôi liên hệ đến một giai đoạn chính trị cực kỳ sôi động trong cuộc chiến tranh tình báo chống Bắc Việt từ 1954 cho đến tháng 11.1963. Sau vụ đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Hiếu bị Hội đồng Quân Dân Cách mạng điều tra, đưa ra Côn đảo với một số nhân vật khác của Chính phủ củ và được trả tự do năm 1964.

Đêm 28.4.1975, ông rời Việt Nam với đứa con trai đầu lòng trên một chiếc tàu Hải quân VN cùng với Trung ướng Nguyễn Văn Là, cựu Tổng Giám đốc Công An. Năm 1989, gia đình gồm có vợ và tám người con sau qua đoàn tụ với ông tại Hoa kỳ.

Ông Dương Văn Hiếu nay 81 tuổi, sức khoẻ không dồi dào như trước nhưng trí nhớ còn sắc bén khi nhắc đến ký ức xa xưa. Ông giới hạn hoàn toàn sự giao thiệp bên ngoài về mặt chính trị và đã từ chối mọi đề nghị phỏng vấn của báo chí. Sau đây là những điểm chính có thể tiết lộ trong cuộc nói chuyên có ghi âm giữa ông Dương Văn Hiếu (DVH)và tác giả (LLT):

LLT:Xin ông vui lòng cho biết sơ lược, nếu được, những năm niên thiếu của ông và trường hợp nào ông tham gia ngành công an và được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐMT).Chức vụ chót của ông trước trước cuộc đảo chính 1.11.1963 là gì ?

DVH :Tôi sanh ra tại Hà Nam, Bắc Việt, trongmột gia đình trung lưu làm ăn thành công.Tôi học tại trường trung học Louis Pasteur và Thăng Long, Hà Nội. Vừa lấy xong bằng diplôme d’Eùtudes primaires supérieures vào năm 1944-1945 thì Nhựt đảo chính Pháp. Tôi lập gia đình năm 1948, bố vợ tôi là bác sĩ Nguyễn Văn Tam từng phục vụ trong Liên khu 5 và cọng tác với Đức cha Lê Hữu Từ ở Phát Diệm. Sau Hiệp định Genève năm 1954, tôi được cụ Võ Như Nguyện, Giám đốc Công an Trung Phần, để ý trong một buổi học tập chính trị mà tôi là thuyết trình viên(về đề tài Điện Biên Phủ). Ông tuyển tôi vào ngành công an. Giữa 1957, tôi giữ chức Trưởng ban Khai thác Nha CA-CS Trung nguyên Trung phần. Khi ông Nguyễn Chử, một lãnh tụ Quốc Dân Đảng, thay thế cụ Nguyện, tôi trở thành Trưởng ty Công an Tỉnh Thừa Thiên và Đô thị Huế. Nhờ phá vở được trong vòng hai năm hệ thống điệp báo Cộng sản Khu 5 và mở rộng hoạt động ra đến các tỉnh Quảng trị, Quảng Ngải, Bình Thuận, Qui Nhơn..v..v.., tôi được ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Đình Cẩn và Đại biểu Chính phủ Miền Trung Hồ Đắc Khương giới thiệu nhiệt tình với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giữa 1957, tôi được bổ nhiệm Trưởng Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐBMT)để làm việc tại Sàigòn vào dầu năm 1958. Chủ đích của Đoàn là thi hành chính sách của Cố vấn Ngô Đình Cẩn mệnh danh « Chiêu mời (sau đổi thành Cải tạo)và Xử dụng các cán bộ cựu kháng chiến ». Lúc đó tôi đã gia nhập đảng Cần Lao.
Sau vụ đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông và Phan Quang Đán ngày 11.11.1960, tôi làm Phụ tá cho Tổng Giám đốc Công an Nguyễn Văn Y, còn ông Nguyễn Văn Hay thì giữ chức Phó Tổng giám đốc Công an.(Vợ ông Hay là một người em bà con của tướng Dương Văn Minh)

LLT:Có phải cùng một lúc, ba sĩ quan Cần Lao Nguyễn Văn Châu, Phạm Thư Đường và Lê Quang Tung cũng được đưa vào Nam. Châu trong chức Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý, Bộ Quốc phòng; Đường, Phụ tá cho Trần Kim Tuyến, Sở Nghiên Cứu Xã hội Chính trị (SNCCTXH); và Tung, cầm đầu Lực lượng Đặc biệt? Ngoài ra, còn có Phan Ngọc Các, hoạt động cho cánh Cần Lao Ngô Đình Cẩn. Đoàn CTĐBMT đặt trụ sở tại đâu? có bao nhiêu nhân viên? chi phí họat động do cơ quan nào trang trải?

DVH:ĐCTĐBMT có trách vụ lo về tình báo chiến lược và phản gián, không liên hệ đến ba sĩ quan vừa kể và Phan Ngọc Các. Trụ sở của Đoàn đặt tại trại Lê Văn Duyệt, Sàigòn, gần Quân khu Thủ đô. Dưới quyền tôi, có tám nhân viên và hai thơ ký đánh máy. Chi phí hoạt động (lương bổng, đồ ăn, feuille de route.v.v…)do Phòng Hành chính của Phụ tá Nguyễn Thành tại Tổng Nha Công an cấp vì trên giấy tờ, tôi và các nhân viên được coi như vẫn thuộc Ty Công an Thừa Thiên. Đôi khi Đoàn cũng nhận được sự trợ giúp của Chánh Văn Phòng Đặc biệt Võ Văn Hải, với tiền lấy từ Quỷ đen của Tổng thống. Số tiền này không hệ trọng, chỉ có tính cách nâng đở tinh thần. Riêng cá nhân tôi không được cấp một nhà chức vụ. Tôi có mua một công xá gần nhà bí thơ Trần Sử ở khu Công Lý, Sàigòn. Đoàn không nhận một ngân khoản nào đến từ ông Ngô Đình Cẩn.

LLT:Xin ông cho biết vài chi tiết hệ trọng trong hồ sơ Vũ Ngọc Nha (từng tự xưng là cố vấn của TT Diệm) và Huỳnh Văn Trọng (cố vấn của Tổng thống Thiệu)

DVH :Nhạ không bao giờ làm cố vấn cho TT Diệm. ĐCTĐBMT đã bắt y thời Đệ nhứt Cọng Hòa như một cán bộ CS tép riu, một tiểu công chức tại Bộ Công Chánh. Nhạ mang nhiều tên khác: Vũ Đình Long, Hai Long, Ông Giáo, Thầy Bốn..v..v.. Còn Trọng thì bị dính trong vu mệnh danh « Gián điệp Pháp ở Nhà hàng Morin Huế ». Y đã trốn thoát qua Nam Vang. Sau 1963,trở về Sàigòn, y được Nhạ bố trí vào Dinh Độc lập. Chính Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký đã thả Nhạ sau 1963. Nhạ tái hoạt động với cụm tình báo A 22 trong đó có Trọng và Lê Hữu Thúy tự Thắng. Linh mục Hoàng Quỳnh giới thiệu Nhạ cho Trần Ngọc Nhuận, cha sở nhà thờ Phú Nhuận, bạn thân của vợ chồng Tổng thống Nguyễn văn Thiệu.

LLT:ĐCTĐBMT có xử dụng «hầm» P42 –được báo giới ngoại quốc mô tả là « địa ngục trần gian»-để tra vấn các tù nhân hay không ?

DVH: P42 là một biệt thự thuộc Bộ Canh nông nằm bên trong Sở Thú, Jardin botanique Sàigòn, dùng để nhốt một số can phạm chính trị đặc biệt. Đoàn chúng tôi không xử dụng vì có trại Lê Văn Duyệt rồi.

LLT:Trong công tác, ông phúc trình cho ai? Tổng thống? Ông Nhu hay ông Cẩn? Ông có trao đổi tin tức, tài liệu gì với cơ quan CIA hay không? Mối giao hảo công vụ giữa ĐCTĐBMT và Tổng Nha Công An, Sở NCXHCT của Trần Kim Tuyến, Tổng Nha An ninh Bộ Quốc phòng (Đổ Mậu)và Lê Quang Tung ra sao?

DVH:Tôi làm việc gần ông Nhu hơn. Khi có chuyện hệ trọng cần hỏi thêm, Tổng thống gọi tôi vào Dinh. Tôi chỉ gởi bản sao một vài phúc trình cho ông Cẩn. Trong những ngày cuối cùng trước đảo chính 1963, tôi bị ông Cẩn hiểu lầm “nhức đầu”. Ông Nguyễn Văn Minh, bí thơ ông Cẩn, và Trung tá Phạm Thư Đường, chánh văn phòng Cố vấn Nhu cũng ở trong hoàn cảnh đó.Tôi không bao giờ liên lạc với CIA. Tuy nhiên, sau vụ đảo chính 1.11.1963, bị Cách Mạng giam tại Chí Hoà, tôi mới được biết rằng tên Phan Khanh, phụ tá cho tôi, chiụ trách nhiệm về operations, được CIA móc nối. Khanh do ông Cẩn giới thiệu với tôi “vì biết võ”. Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tổng Giám đốc Công An cũng như Trần Kim Tuyến (SNCCTXH), Lê Quang Tung (Lực lượng Đặïc biệt) và Đổ Mậu(An ninh Quân đội)không ưa tôi. Vợ ông Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương và bà Thiếu tướng Nguyễn Văn Là (tiền nhiệm ông Y tại Công An)đều không thích bà Tuyến vì tranh dành địa vị bên cạnh bà Nhu nên ảnh hưởng đến các ông chồng. Tôi tránh xen vào mê hồn trận này.
Riêng về Đổ Mậu, ông hận tôi vì ĐCTĐBMT đã phát hiện và bắt Thiếu úy Lê Hữu Thúy, một điệp viên VC được ông đặt làm Trưởng phòng An ninh tại Nha An ninh Quânđội.

LLT:Phương pháp làm việc của ĐCTĐBMT có gì mới lạ? Hiệu quả công tác của Đoàn ra sao? Phản ứng của phiá CS Bắc Việt như thế nào?

DVH:Sau đây tóm tắt vài đặc điểm của Chính sách Cải tạo (đi đôi với việc thành lập Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân}: Trong các nhà tù không song sắt, Công an Mật vụ ăn, ở, học tập, chơi và sinh hoạt chung với cán bộ Việt cộng sa lưới. Các Toán trưởng thu thập những tờ khai báo của những cán bộ này nạp cho Ban cải tạo hay Ban nghiên cứu. Chúng tôi không bắt công khai mà tổ chức bắt bí mật; giữ kín hoàn toàn những trường hợp đầu hàng hay hợp tác; Đoàn chúng tôi đã tạo nên một màng lưới phục kích, bao vây các cán bộ từ chính đường giây giao liên và cơ sở củ mà Cách mạng đã dày công tổ chức. Thay vì hỏi cung thông thường, chúng tôi áp dụng phương thức mạn đàm, trao đổi, tranh luận, khai thông tư tưởng, cởi mở với đối tượng. Nếu cần, mua chuộc, dụ dỗ chuyển hướng. Đối với những cán bộ CS ngoan cố, chúng tôi xử dụng tập thể CS cải tạo để khuyên nhủ lôi cuốn hoặc, theo đường lối “xa luân chiến”, giải thích chính sách chuyển hướng, tranh luận áp đảo các thắc mắc, phản ứng của người bị bắt…v..v..Vì thời lượng buổi nói chuyện hôm nay giới hạn nên chúng tôi mong trở lại vấn đề phức tạp này trong một dịp khác.

Để trả lời phần hai câu hỏi của Luật sư, ít nữa 4 quyển sách tịch thu được trong chiến khu VC cho thấy chúng rất e sợ “chính sách mới lạ, kỳ diệu và nguy hiểm” do ĐCTĐBMT áp dụng. Bốn quyển ấy mang tên “Đoàn Mật vụ của Ngô Đình Cẩn (tác giả Văn Phan),Đường Thời Đại (tác giả Đặng Đình Loan), Cuộc chiến tranh đặc biệt(hồi ký của Đinh Thị Vân) và Bội phản hay Chân chính(tiểu thuyết hồi ký của Dư Văn Chất}. Với chính sách này, Đoàn chúng tôi bắt gọn được -vào hạ bán niên 1958 -hai màng lưới Tình báo Chiến lược và Quân báo CS từ Bến Hải vào đến Sàigòn.

Trong tài liệu mệnh danh “Thư vào Nam” của Tổng bí thơ Lê Duẫn gởi tháng 7.1962 cho Nguyễn Văn Linh tức Mười Cúc, khi ấy Xứ Uy Nam bộ, có đọan viết: “Đã có lúc ở Nam Bộ cũng như ở khu 5 (Miền Trung), tình hình khó khăn đến mức tưởng như Cách mạnh không thể duy trì và phát triển được.”

LLT:Vì sao (Nha sĩ dỏm và Play boy) Phan Ngọc Các đại diệïn Cần Lao cho ông N Đ Cẩn tại Miền Nam, bị bắt? Ai bắt?

DVH: Cố vấn Nhu ra lệnh cho Lê Quang Tung bắt vì Các làm tiền thương gia Hoa kiều Chợ Lớn, Các tuyển nạp đảng viên Cần Laolung tung. Ông Cẩn rất bất mản về chuyện Các bị bắt và bảo tôi thưa lại với ông Nhu phóng thích Các. Tung là người của ông Cẩn.Tôi có cảm nghĩ Tung và Tuyến theo dõi tôi còn(Nguyễn Văn)Y thì đố kỵ tôi.

LLT:Thái Trắng (tức Lê Văn Thái, qua đời tại San Diego)và Thái Đen (tức Nguyễn Như Thái, biệt danh Đại tá Thanh Tùng)có làm việc cho ông hay không?

DVH: Chỉ có Thái Đen cộng tác với tôi. Thái Trắng làm việc với Tuyến, y là bà con vợ trước(Đặng Tuyết Mai)của Nguyễn Cao Kỳ. Không biết tại sao Thái Đen lại mang biêt danh “Đại tá Thanh Tùng” vì y không bao giờ có chân trong Quân đôi hay đồng hoá sĩ quan. Y phụ tá cho tôi về mặt hành chính, bị Toà lên án khổ sai chung thân, bị đưa ra Côn đảo về tội “bắt người trái phép” và được thả ra trước tôi. Thời Đệ nhị Cọng Hoà, hình như Nguyễn Ngọc Loan có xử dụng đương sự.
LLT:Ông có thể cho biết tên và chức vụ của vài cán bộ cao cấp Việt Cộng bị ĐCTĐBMT bắt giữ?

DVH:Có thể cho biết hai tên:
A -Trần Quốc Hương tự Mười Hương, Ủy viên Trung ương Đảng, người chỉ huy màng lưới Tình báo Chiến lược của Hà Nội tại Miền Nam. Y bị bắt lối năm 1958. Chính tôi đã đưa Hương ra Huế gặp bí mật hai ông Nhu và Cẩn ở Thuận An, trên một chuyến máy bay đặc biệt do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ lái. Hương được Hội đồng Cách Mạng trả tự do tháng 5.1964.

b-Đại tá Cộng Sản Lê Câu đã giúp tôi khám phá ra Phạm Bá Lương, Công cán Uy viên của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẩu. Lương ăn trộm và chuyển cho Hà Nội toàn bản chính kế hoạch kinh tế Staley-Vũ Quốc Thúc.Tôi gài bẩy bắt Lương khi y lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Thái Lan vì công vụ. Ông Mẩu không hay biết lý do.

LLT:Ông biết gì về đại tá Phạm Ngọc Thảo?

DVH:Trong phạm vi trách nhiệm phản gián, tôi có theo dõi Phạm Ngọc Thảo. Tôi biết Thảo được Đức cha Thục giới thiệu vào Bảo An và Thảo có liên hệ chính trị với bác sỉ Tuyến trong những năm tháng chót trước cuộc binh biến 1.11.1963. Hình như Thảo có trình với Tổng thống Diệm rằng Đoàn Công tác của chúng tôi bám sát y. Tôi có dịp thưa với Tổng thống nên lưu ý đến Thảo vì Thảo có bà con làm việc cho Bắc Việt trong chức vụ hệ trọng. Tổng thống có vẻ suy tư và nói:tại sao không khai thác kinh nghiệm của Thảo trong lãnh vực ấp chiến lược và khu trù mật?

LLT:Khi xảy ra những biến động Phật giáo tại Huế năm 1963 thì ông ở đâu? Có trách vụ gì? Xin cho biết vài ý kiến về cuộc khủng hoảng Phật giáo

.DVH:Lúc đó tôi công tác ở Sàigòn, tôi không liên hệ trực tiếp đến vụ Phật giáo. Tôi nhớ: Một hôm tôi vào trình việc trong Dinh (Độc Lập),Tổng thống than phiên rằng cụ vưà kinh lý khuDinh điền Vị Thanh về, đi ngang một ngôi chùa, thấy cờ Phật giáo treo trên
cột cao giữa sân chuà, còn Quốc kỳ thì bắng giấy, nhỏ cở bàn tay, dán trên trụ cột ngoài cổng, không ra thể thống gì cả. Khi về, Tổng thống có mời Đức Khâm Mạng Toà Thánh và ông Mai Thọ Truyền (một trong hai Phó Hội chủ Tổng Hội Phất giáo)vô cho biết tình trạng và yêu cầu lưu ý các giáo dân phải tôn trọng Quốc kỳ theo thể thức được Chính phủ quy định. Hai vị vừa kể hứa lưu ý giáo dân. Sau đó Tổng thống có ra lệnh miệng cho ông Đổnglý Văn phòng Quách Tòng Đức gởi công điện nhắc các Tỉnh. Không biết vì sao ông Đức để đến ngày chót trước Lễ Phật Đản 8.5.1963 mới gởi công điện.Tổng thống có kêu ông Đức vô hỏi, ông Đức xin từ chức, Tổng thống nói: công chuyện đổ bể như thế, xin thôi có ích chi?

Ngoài ra, lúc bị giam chung với tôi sau ngày 1.11.1963, Thiếu tá Đặng Sỉ, Tiểu khu trưởng kiêm Phó Tỉnh trưởng Thưà Thiên, nói với tôi rằng ông bị oan vì đưọc Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân đoàn 1, Vùng 1 Chiến thuật, cho phép ông chiều ngày 8.5.1963, trước Đài Phát thanh Huế, dùng lưụ đạn hơi để giải tán biểu tình. Không biết “bàn tay bí mật” nào đã vung một trái lưu đạn chiến đấu gây thiệt mạng cho 8 em bé và thương tích cho nhiều người khác. Sĩ bị Toà phạt khổ sai chung thân. Thượng tọa TríQuang, làm việc cho CS, đóng vai trò hàng đầu trong vụ Phật giáo, lợi dụng mối giao hảo tốt với Cố vấn Cẩn. Sau 1975, tướng Nghiêm không bị làm khó vì đi đêm với Bắc Việt từ trước. Cũng như bác sĩ Lê Khắc Quyến, giám đốc Bênh viện Huế.Tổng giám mục Ngô Đình Thục hành động nóng nảy , Cố vấn Cẩn bị bó tay.

LLT:Chuyện gì đã xảy ra cho Ông sau ngày đảo chính 1.11.1963 ?

DVH:Tôi bị bắt cùng với hai phụ tá là Nguyễn Tư Thái (tức Thái Đen}và Phan Khanh. Ủy ban Điều tra tội ác -do một chính khách Hoà Hảo chủ tọa -thẩm vấn tôi về những tố cáo làm tiền, bắt người và thủ tiêu đối lập. Tôi còn nhớ bà góa phụ Đinh Xuân Quảng, vợ của một cựu Bộ trưởng thời Bảo Đại, thưa tôi đã tra khảo bà. Không có bằng chứng cụ thể. Tại Tổng Nha Công an, Tống Đình Bắc thay tôi. Yvà Trần Bá Thành nắm trong tay nhật ký memories của tôi. Thành nằm vùng cho CS. Nếu tôi có giết bất cứ ai thì chắc chắn Tướng (Mai Hữu)Xuân đã “làm thịt” tôi rồi. Chính y cũng đã nói với tôi như vậy.

Tuy nhiên, Toà án Cách mạng, do một Thẩm phán dân sự chủ toạ, (trong đó đại tá Dương Hiếu Nghĩa là một thành viên}, đã xử tôi khổ sai chung thân về tội “bắt người trái phép”. Trong vụ tảo thanh các chùa Phật ở Sàigòn, chính Cảnh sát Đô thành của Giám đốc Trần Văn Tư đã bắt các sư sải. Đoàn CTĐBMT đâu có nhân viên để làm chuyện đó.Trong các phiên xữ khác, Tòa phạt từ tù đến khổ sai các ông Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Y,Trần Văn Tư, Hà Như Chi, Nguyễn Lương, Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, Bùi Dzinh..v..v..

Vợ tôi đã phải bán đôi bông tai 80.000 đồng và vay một số tiền khác để trả thù lao 100.000 đồng cho luật sư Vương Văn Bắc.

LLT:Trong trường hợp nào ông và các nhân vật chế độ củ được tự do? Vì sao? Riêng về ông, sau đó, có bị nhà chức trách làm khò dễ gì hay không?

DVH:Không nhớ rỏ ngày tháng nào năm 1964, một buổi sáng, Chính phủ cho ba chiếc máy bay Dakota DC3 ra Côn sơn chở tất cả tội nhân(lối 30, 40 người)về Sàigòn và chúng tôi được phóng thích. Một thời gian ngắn sau, tôi được giấy đòi của Công an, trung tá Nguyễn Mậu dẫn tôi đến trình diện với Tổng giám đốc Nguyễn Văn Hai. Tướng Hai đưa tôi bằng xe jeep đến Bộ Nội vụ trình diện với tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Khiêm tiếp tôi nhã nhặn và “khuyên” tôi nên thủ phận làm ăn. Đây là một lời cảnh cáo rất rõ. Để nuôi sống gia đình, mỗi ngày tôi đi mua Âu dược của các Viện bào chế, đóng thùng gởi ra Đà nẳng gởi bán tại Tiệm thuốc của dược sĩ Hà Thị Tiểu Hương.
Một hôm, năm 1968, thời Tổng thống Thiệu, Thái Đen (tưc Nguyễn Tư Thái, một cọng sự viên củ trong ĐCTĐBMT),đến khoe với tôi rằng y “làm việc cho Toà Đạï sứ Hoa kỳ. Bất thần, lối một tuần sau, có giấy đòi tôi đến trình diện tại Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, bến Bạch Đằng. Nơi đây, Đặc ủy trưởng Nguyễn Khắc Bình đề nghị tôi hợp tác với Phòng Nghiên cứu về Tình báo. Tôi xin vài ngày suy nghĩ. Tôi đến thỉnh ý Đức cha Nguyễn Văn Bình. Ngài khuyên tôi nên nhận để tránh mọi phiền toái. Tôi trả lời với tướng Bình tôi nhận, với điều kiện trả lại nhà cửa của tôi bị tich thâu oan và bạch hoá hồ sơ
của tôi bị bôi bẩn trong một buổi họp báo. Ông Bình cho biết việc này cần có quyết định của Quốc hội và đòi hỏi thời gian. Vài bửa sau, Tướng Bình sai một sĩ quan cầm đến nhà tôi 40.000 đồng, nóí là giúp tôi trong cơn túng bấn. Để thoát mọi phiền nhiểu, tôi đành nhận cộng tác với Phủ. Tôi được cấp một văn phòng và một thơ ký đánh máy. Mỗi tháng tôi có phận sự đúc kết những tài liệu tình báo từ các Quân khu và viết bản phân tích trình thượng cấp: Một việc làm chán phèo! Tôi biết đây là một hình thức “giam lõng” và theo dõi tôi. Có một hôm, một người xưng tên Nguyễn Văn Canh đến văn phòng để xin phỏng vấn và lấy tài liệu soạn thảo luận án Tiến sĩ Luật. Một thời gian sau, tôi không đến làm việc nữa. Rồi Chính phủ Miền nam sụp đổ.
(Giai đọan Dương Văn Hiếu “bị cầm chân” tại Cục Trung ương Tình báo được tướng Nguyễn Khắc Bình, hiện ở San Jose, xác nhận.)

LLT:Một số nhân vật đối kháng như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp và Vũ Tam Anh bị Đệ nhứt Cọng hoà thủ tiêu. Ông có thể cho biết cơ quan nào chiụ trách nhiệm? Do lệnh của ai?

DVH:ĐCTĐBMT không liên hệ. Chúng tôi không có trách nhiệm truy nã các phần tử đối lập. Sau 1975, một số sử liệu cho biết chính thẩm sát viên Khưu Văn Hai và đồng bọn trong Ban Cảnh sát Đặc biệt thuộc Tổng Nha Công An của đại tá Y đã giết N B Toàn và T C Diệp. Về Vũ Tam Anh, có thể là do tổ chức của Lê QuangTung. Tôi không nghĩ Tổng thống Diệm đã ra lệnh vì ông đã từ chối đưa ra Toà Hà Minh Trí là người ám sát hụt ông ở Ban Mê Thuột và ông cũng đã nhẹ tay với phi công Phạm Phú Quốc, người dội bom Dinh Độc Lập với Nguyễn Văn Cử.

LLT:Ông biết gì về sự bội phản của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và Trần Kim Tuyến.

DVH: Tôi nhớ có lần tôi phúc trình với Tổng thống tin đồn về Huê kiều Chợ Lớn mua licenses tại Bộ Kinh tế, Cụ nghe, trầm ngâm, không nói gì. Qua ông Thuần, CIA nắm hết tin tức về nội tình Chính phủ. Cụ có vẻ rất mến và tin tưởng ông Thuần. Về Bs Tuyến thì vào cuối 1962, ông Tuyến hoàn toàn thất sủng, không còn quyền gì, thay thế bởi đại tá Phạm Thư Đường. Bà Nhu rất ghét ông bà Tuyến.

LLT:Ôngnghĩ sao về tin ông Nhu có qua Paris điều đình với De Gaulle về chuyện trung lập hoá Việt Nam và gặp Xứ ủy Miền Nam, Ủy viên Bộ chính trị Bắc Việt Phạm Hùng tại rừng Tánh Linh, Long Khánh, để thương thuyết?

DVH:Tôi có nghe những tin ấy. Cá nhân tôi nghĩ chỉ đó là tin đồn. Một người quốc gia quyết liệt như Tổng thống Diệm không thể bắt tay với Cộng sản bất luận dưới hình thức nào vì Hiến pháp VN công khai phủ nhận Xã hội Chủ nghĩa và đặc biệt, vì Cộng sản đã giết dã man anh và cháu của Tổng thống. Đòn hiệp thương Nam-Bắc do ông Cố vấn Nhu tung ra có thể là một cách bắt bí Hoa kỳ. Không ngờ CIA đã biết rỏ nội vụ. Ông Nhu đã chui vảo cái bẩy do chính ông giăng ra.

LLT:Nhìn lui lại, ông nghĩ rằng thời Đệ nhứt Cọng hoà, đảng Cần Lao có thực lực trong quần chúng hay không? Việc đem tổ chức Cần lao vào Quân đội có lợi hay hại? Ông Nhu và ông Cẩn có hoàn toàn đồng ý với nhau về cách tổ chức và lãnh đạo đảng Cần Lao hay không?

DVH:Về mặt lý thuyết, Cần Lao dựa vào chủ nghĩa Nhân vị được ông cố vấn Ngô Đình Nhu nghiên cứu kỷ. Đảng Cần Lao, tiếc thay, thiếu một chính sách tuyển lựa, huấn luyện và xử dụng cán bộ hữu hiệu. Ngoài ra, còn vấn đề kỷ luật. Đa số đảng viên được chọn trong thành phần công chức có quyền và địa vị. Đảng không đi sâu vào đại chúng ở thành thị, đặc biệt ở nông thôn. Các khoá tu nghiệp về chủ thuyết Nhân vị do Đức cha Ngô Đình Thục tổ chức tại Vĩnh Long không đào sâu và giải quyết vấn đề. Tôi có dịp thuyết trình về đề tài này trong một phiên học tập về Ấp Chiến lược ở Suối Lồ Ồ năm 1962. Sau đó, tôi có thỉnh cầu ông Nhu, với tư cách Tổng Bí thơ Cần Lao, ban huấn lệnh nhưng không thấy ông nói gì. Câu chuyện bỏ qua!

Ông Cẩn ít nặng về lý thuyết hơn ông Nhu. Ông Cẩn có vẻ chú trọng hơn về vấn đề cán bộ, thực tế hơn. Trong nội bộ Cần Lao cũng có nhiều nhóm: nhóm Bắc, nhóm Trung (của ông Cẩn), nhóm Trần Quốc Bửu(Tổng Liên Đoàn Lao Công),nhóm Tinh Thần (Nguyễn Tăng Nguyên), nhóm Nam kỳ Bộ (Huỳnh Văn Lang), nhóm Hà Đức Minh-Trần Văn Trai.. Không thống nhứt. Ít khi thấy Tổng thống nhắc đến đảng Cần Lao. Tổng thống để ý đến Phong trào Cách Mạng Quốc gia. Cân Lao không có Ban Chấp hành Trung ương.
Chỉ có Văn phòng Tổng Bí Thứ (ông Nhu) gồm có 5 Phòng trực thuộc.Tôi không nghĩ đem Cân Lao vào Quân đội hoàn toàn có lợi. Các tướng lãnh đóng vai trò cốt cán trong cuộc chính biến 1.11.1963 phần đông là đảng viên Cần Lao được Tổng thống tin dùng và bị Hoa kỳ mua chuộc.

LLT:Về mặt tình báo, ĐCTĐBMT của ông, SNGCTXH của Tuyến, LLĐB của Lê Quang Tung và Nha An ninh Quân đội của Đổ Mậu có dẩm chân với nhau hay không? Ông biết gì về giấc mơ của Trần Kim Tuyến -sau 1960 -cầm đầu một Bộ An Ninh thống nhất về một mối các cơ quan cảnh sát, tình báo chiến lược và phản gián quốc nội và quốc ngoại (gồm luôn Bộ Nội vụ)? Vì Tổng thống Diệm từ chối đề nghị này nên ông Tuyến bất mản và làm phản.

DVH:Tôi nghĩ: không trùng dụng, không dẫm chân. Đoàn Công tác của chúng tôi, thật vậy, lo về phản gián, chống Cộng. Sở ông Tuyến chú trọng đến vấn đề tình báo nội an, đối lập trongxứ. Cơ quan của Đổ Mậu phụ trách những gì liên hệ đến an ninh của Quân đội còn Lực lượng của Tung, gồm có một Trung đoàn, thì có trách vụ bảo vệ Tổng thống và các công thự. Tuy nhiên, trong những năm chót, Tung vượt quá quyền hạn của mình. Các cơ quan.không phối hợp chặt chẻ. Tôi không biết gì về vấn đề Bộ An ninh nêu trên. Trong giai đọan chót, Tổng thống, Đức Cha và hai ông Nhu, Cẩn không đồng nhứt tư tưởng, đặc biệt trong vụ khủng hoảng Phật giáo. Tổng Giám mục Thục xen vào việc treo cờ càng làm tình hình thêm rối ben. Mỹ quyết tâm lật đổ ông Diệm, thủ tiêu ông Nhu. Vì thế cuộc binh biến thành công. Đất nước phiêu lưu vào hổn loạn.
Thủy Hoa Trang
Californie
Nguồn: http://motgoctroi.com
***
* Thắp Nén Hương Lòng _________________________________
Am thờ 626 vong linh tù chính trị VNCH
tại trại tù khổ sai Ba Sao, Nam Hà
Xin kính cẩn nghiêng mình ‘thắp nén hương lòng’ trước tấm bia không mộ của 626 người tù chính trị VNCH đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn 1975-1988; và rất nhiều những người tù chính trị VNCH khác đã chết oan khiên trong ngục tù cộng sản.
Nhà tù khổ sai Ba Sao, nhà tù lớn ở Nam Hà, miền Bắc Việt Nam, nơi sau 30 tháng Tư 1975, nhiều sĩ quan và công chức miền Nam Việt Nam, mà chế độ mới xảo trá và thâm hiểm gọi là “tù cải tạo” để lừa gạt dư luận khắp nơi, đã qua đời trong những ngày tháng bị chế độ cộng sản tiểu nhân hèn hạ trả thù, hành hạ, ngược đãi, phải lao động khổ sai trong điều kiện hết sức thiếu thốn, kham khổ nhọc nhằn nơi đây.
Nhà tù Ba Sao thời bấy giờ chia làm 4 khu giam giữ.
Khu A: Giam cầm các thành phần thuộc viên chức chính phủ, dân biểu, nghị sĩ, sĩ quan cao cấp như Thượng Nghị Sĩ Huỳnh Văn Cao, Bộ Trưởng Đàm Sỹ Hiến, Bộ Trưởng Trần Ngọc Oành, Tướng Lê Minh Đảo, ông Văn Thành Cao, Tướng Nhu, Tướng Trần Văn Chơn, ông Nguyễn Văn Lộc…, hay lãnh tụ Quốc Dân Đảng là ông Vũ Hồng Khanh.
Khu B: Giam giữ những quân nhân cán chính, những người tù chính trị như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, Linh Mục Nguyễn Bình Tỉnh…
Khu C: Giam tù hình sự miền Bắc.
Khu Mễ: Giam cầm những người bệnh tật, đau yếu. Trong khu Mễ lại có một khu “Kiên giam”. Khu “Kiên giam” dành cho các tù nhân bị kỷ luật với điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Đã có rất nhiều tù nhân chết trong khi bị “kiên giam”.
Một cựu tù chính trị Việt Nam hiện sống tại Pháp, đã nhắn với cựu tù nhân PTN:
Có một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà. Nghe nói tấm bia được đặt trong một ngôi chùa ở miền Bắc. Ngoài tấm bia ra còn có một am thờ những người tù này, được dựng ngay khu đất thuộc trại giam. Người làm tấm bia này là một cựu giám thị nhà tù Ba Sao. Em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé!
Chuyện thật khó tin: Một trùm cai tù cộng sản dựng một tấm bia và am thờ những người tù Việt Nam Cộng Hòa!
Chính lời nhắn tha thiết “Em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé!” đã thôi thúc người tù PTN lên đường, tìm kiếm, nhìn thấy rồi trở về với cảm xúc thể hiện qua bài “Ba Sao Chi Mộ”:
Thực ra thì tôi có thông tin này từ mùa hè năm ngoái khi tôi chưa hết án quản chế. Nhưng vì tôi cần tìm hiểu thêm và sau đó hết án tù nhà, đi lại dễ dàng hơn là tôi đi để tìm hiểu sự thực về thông tin mà người anh đồng tù đã cung cấp cho tôi.
Và thực ra bước đường tìm kiếm cũng không quá là vất vả, tôi cũng đi một vài ngày. Đến bây giờ phải cám ơn Chúa, cám ơn Phật vì có lẽ tôi là người may mắn để mà tìm đến địa chỉ ngôi chùa không chính xác. Tôi phải xin lỗi là những thông tin cụ thể hơn thì tôi không thể chia sẻ được vì lý do tế nhị cũng như an toàn an ninh cho những người cung cấp tin cho tôi. Điều này tôi cũng đã viết trong phần một của bài Ba Sao Chi Mộ, ngay cả tên của các nhân vật họ cũng yêu cầu tôi phải thay đổi. Họ sợ đến mức độ như thế nhưng trong sự sợ hãi đó thì họ cũng cứ cho mình thông tin, đấy là điều tôi cho rằng rất là đáng quí.
Một điều nữa là ngay như giới tính của viên giám thị cũng như tên chùa và tấm bia thì tôi cũng nói một cách chung chung thôi. Ngay cả điều này cũng để cho thấy mức độ tế nhị, thậm chí là nghiêm trọng, mà một vài người đánh giá rằng đây là chuyện bí mật. Nhưng những thông tin mà tôi đưa ra trong bài trại tù Ba Sao là có thật.
Và cũng thật khó để có thể diễn tả hết tâm trạng, người tù PTN kể tiếp.
Địa chỉ ngôi Chùa không chính xác nên tôi phải đi tìm hơn hai ngày mới đến nơi. Đó là một ngôi Chùa nhỏ, nằm khiêm tốn bên một con phố khá đông đúc.
Tôi cảm thấy rợn rợn khi bước chân vào nhà linh, nơi đặt di ảnh của những người quá cố. Có mấy người đội khăn tang đang ngồi tụng kinh cho người thân mới qua đời. Tôi được vị sư chỉ cho thấy một tấm bia khiêm nhường tại một góc khuất trong căn phòng linh của nhà chùa:
Họ sợ đến mức độ như thế nhưng trong sự sợ hãi đó thì họ cũng cứ cho mình thông tin, đấy là điều tôi cho rằng rất là đáng quí.
– PTN
Khi bước chân vào nhà linh, tôi cũng không tránh được cái cảm giác hơi rờn rợn hơi sợ hãi một chút. Ban đầu thì rất khó tìm vì không có hình ảnh. Trong hình dung của tôi chắc tấm bia rất lớn, tôi cứ tìm kiếm tấm bia như trong trí tưởng tượng của mình thôi, nhưng khi vị sư tìm thấy và chỉ cho tôi, khi tôi ngước mắt lên nhìn thì lập tức hai hàng nước mắt của tôi ứa ra. Một tấm bia không có tên, chỉ có giòng chữ 626 người đã tử vong tại Ba Sao giai đoạn 1975-1988. Phải nói một cảm giác như mình vừa tìm thấy một điều gì rất là thiêng liêng. Như tôi nói trong bài viết, đó là những người tôi khẳng định tất cả đều là những quân nhân cán chính từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa chứ không dính dáng gì đến những người cộng sản hay những người dân thường cả.
Tôi cảm tưởng như có một mối giao cảm, một mối dây liên hệ nào đó mang tính tâm linh giữa tôi, một người sinh sau năm ’75, với những người đã bảo vệ một chế độ mình đã từng hiểu lầm rằng đó là một chế độ xấu xa, chế độ gọi là ngụy. Tôi cảm nhận được sự thiêng liêng và sự ấm áp, nói thật tôi chưa bao giờ trải qua cái cảm giác như thế nên diễn tả bằng lời cũng rất là khó.
Lòng tốt vẫn còn…
Bằng những ngón tay run rẩy lập cập vì xúc động, người tù PTN đã chụp được hình ảnh tấm bia rồi cất giữ nó như một bảo vật. Chuyện lại càng khó tin hơn nữa khi biết một trùm cai tù, tức quản giáo hoặc giám thị trại giam Ba Sao, Nam Hà, đã dựng tấm bia và một am thờ những người của bên kia chiến tuyến năm xưa.
Theo lời vị trụ trì thuật lại với người tù PTN, cách đây vài năm, có một Phật tử đưa một cựu giám thị trại tù Ba Sao đến chùa. Người giám thị này trao cho sư một danh sách gồm 626 người tù đã chết trong trại tù Ba Sao từ 1975 cho đến 1988, ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong chùa để 626 vong linh này được hương khói tử tế.
Đây không phải ngôi chùa đầu tiên mà họ đến gõ cửa xin đặt bia. Trước đó, các chùa trước đều tìm cách thoái thác vì sợ. Nỗi sợ của những người tu hành là nếu giữ một danh sách toàn “sĩ quan chế độ cũ” và công khai đặt tấm bia thì e chùa sẽ bị lắm phiền phức.
Được hỏi có cách nào liên lạc với người Phật tử và viên cựu giám thị trại giam Ba Sao, vị sư trả lời là rất khó vì sau khi làm xong tấm bia thì người quản giáo không bao giờ trở lại chùa, ngay cả người đưa viên giám thị đến cũng vắng bóng.
Về cái am thờ 626 quân cán chính VNCH đã chết, vị sư cho biết là có nghe nói là cái am nằm trong một khu đất thuộc trại giam Ba Sao nhưng chưa bao giờ đến thăm.
Chỉ người giám thị hoặc người Phật tử mới biết chỗ mà đưa tới, khẳng định của sư khiến người tù PTN hiểu ra sự mịt mù của vấn đề. PTN vẫn gắng xin được xem qua danh sách 626 người tù đã chết nhưng sư nói rằng người trông coi sổ sách đi vắng nên hẹn PTN hôm khác trở lại:
Lần khác tôi đến chùa thì sư đi vắng, tôi gọi điện thì thầy nhận ra giọng tôi ngay, thầy thông báo rằng rất tiếc vì chùa đã hóa đã đốt đi trong dịp rằm tháng Bảy lễ Vu Lan vì nghĩ rằng để cũng chẳng làm gì cả.
Vị sư báo tin xong thì vội vàng gác máy, để lại một PTN với cảm giác hụt hẫng cùng cực:
Tôi nghĩ rằng dù như thế nào thì vẫn có phần trăm nào đó của sự hướng thiện trong con người của người cai tù này. Mặc dù cái xã hội cái ác được lên ngôi thì cái thiện vẫn cứ nẩy mầm.
– PTN
Tôi thấy mọi sự trước mắt mình như tối sầm lại bởi vì tôi đã rất là mong chờ đến ngày hẹn để đến lấy danh sách. Chưa bao giờ tôi có cảm giác thất vọng kinh khủng khi đã không hoàn thành cái mục tiêu, cái nhiệm vụ mà mình đặt ra cho chính mình. Đối với họ thì để chẳng làm gì cả nhưng đối với chúng ta thì nó là vô giá. Tôi tin chắc một điều nó sẽ là một bằng chứng lịch sử sau này về những đau thương mà người dân Việt Nam nói chung cũng như những cựu quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hòa nói riêng bị bách hại. Nói thật là trong phút chốc đó tôi cảm thấy mọi sự trước mắt mình như sụp đổ.
Khi tôi trấn tĩnh lại thì tôi không tin, tôi không tin rằng cái danh sách ấy đã bị đốt đi. Thời gian tới tôi sẽ vẫn cố gắng để có được cái danh sách đó trong khả năng có thể. Nếu như họ cứ khăng khăng thì tôi không làm cách nào được nhưng tôi vẫn cứ hy vọng.
Con số 626 tù chinh trị miền Nam chết vì bệnh tật, đau khổ và đói khát trong trại tù khổ sai Ba Sao ở Nam Hà trên thực tế là cao hơn rất nhiều. Cựu quân nhân miền Nam NĐT, năm 1979 từ trại 9 Yên Bái trên biên giới phía Bắc được chuyển xuống trại tù Nam Hà, gọi là Ba Sao:
Trại Ba Sao chia ra nhiều khu, khu A dành cho cấp tướng, cấp bộ trưởng hay tổng trưởng. Khu B dành cho sĩ quan cấp tá, khu C dành cho tù hình sự.
Trại Ba Sao gọi là khó khăn nhất, hắc ám và tàn ác nhất của công an. Nói tới Ba Sao là người miền Bắc đã rất là sợ. Con số 626 có thể còn hơn nữa chứ không ít hơn đâu bởi vì việc quản lý ăn uống rất khó khăn, không được nấu nướng hay là gì cả cho nên anh em kiệt sức rất nhiều, binh hoạn chết chóc đương nhiên xảy ra. Trại này rất lớn, còn có 3 cái nghĩa địa nữa và con số tù chết có lẽ là hơn số 626 đó rất nhiều.
Họ được chôn ở đâu?
Tuy nhiên, vẫn lời ông NĐT, phần đông tù chính trị VNCH không chết trong trại Nam Hà mà chết tại trại Mễ. Trại Mễ nằm trên một khu vực có tên là Cánh Đồng Mễ, chạy từ Nam Định ra Phủ Lý, nơi những tù bị bịnh từ Ba Sao được chuyển ra, mà nếu chết thì được chôn tại đây.
Năm 2007, sau khi đã định cư tại Hoa Kỳ, ông NĐT đã vận động chính giới Hoa Kỳ cũng như giới chức Việt Nam để xin về bốc mộ đồng đội chết trong những trại tù tập trung như Làng Đá, Ba Sao và những nơi khác.
Tôi đã đến Cánh Đồng Mễ và đã thấy cảnh hoang tàn ở đó rồi. Người ta đã cắt một phần của cánh đồng nghĩa địa này bán cho một công ty hóa chất.
Năm 2009, con của ông Trung Tá CKC chết tại Nam Hà, em CKM, đã ra ngoài Nam Hà để bốc mộ cha. Số mộ của ba em là 49, em gởi cho tôi cái danh sách 126 tù tại Cánh Đồng Mễ này. Sau đó tôi lập tức ra Nam Hà, đi tìm cái nghĩa địa trên Cánh Đồng Mễ này.
Song song đó thì tôi được quen biết với con của Đại Tá Cảnh Sát TTD. Chị T., con của Đại Tá D đã đi ra ngoài trại Nam Hà để xin bốc mộ cha, trại đã chỉ ra cái nghĩa địa ở Cánh Đồng Mễ.
Cô ấy ra ngoài nghĩa địa thì mới thấy chính quyền địa phương đã cắt một phần nghĩa địa để bán cho một công ty hóa chất. Tại đây, cô hỏi thì ban giám đốc công ty hóa chất cho biết họ đã bốc tất cả những ngôi mộ trong phần đất của họ, mỗi một hài cốt bỏ vào trong một cái hũ sành.
Cần biết vì có cả mộ thường dân trong nghĩa địa của Cánh Đồng Mễ nên những cái tiểu sành đựng hài cốt tù được đánh dấu riêng và được chôn trong một ngôi mộ chung.
Từ Sài Gòn, con gái cố Đại Tá Cảnh Sát VNCH TTD cho biết trong hai mươi mấy cái tiểu sành chị tìm thấy trên Cánh Đồng Mễ và đưa qua xét nghiệm thì 14 cái được xác nhận là hài cốt tù chinh trị miền Nam; trong đó, một cái là hài cốt thân phụ của chị. Chị đã xin phép đưa tất cả 14 hũ hài cốt này về Nam, an vị trong một nhà thờ ở Sài Gòn.
Đó là những chi tiết về quân dân cán chính miền Nam đã nằm xuống trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản tàn ác tại trại tù Ba Sao ở miền Bắc sau năm 1975. Không ai rõ con số 126 người xấu số ở Ba Sao mà người ta thu thập được có nằm trong danh sách 626 người tù tử vong Ba sao mà cựu tù nhân PTN mong muốn tìm ra hay không.
Tại sao một giám thị Ba Sao lại tìm đến một ngôi chùa để lập bia thờ 626 vong hồn tù chết trong trại, cựu tù nhân PTN nói rằng điểm duy nhất cô có thể lý giải là:
Không có lý do gì để người giám thị làm như vậy cả, chưa kể tính chất nhạy cảm và nguy hiểm nữa. Lý giải bằng tâm linh thì tôi cho rằng có thể có một biến cố nào khiến vị cai tù này làm được cái việc như thế. Tôi nghĩ rằng dù như thế nào thì vẫn có phần trăm nào đó của sự hướng thiện trong con người của người cai tù này. Mặc dù cái xã hội cái ác được lên ngôi thì cái thiện vẫn cứ nẩy mầm.
Trả lời câu hỏi tương tự, cựu tù chính trị NĐT, từng về Việt Nam bốc mộ và cải táng hơn 500 bộ hài cốt tù chinh trị miền Nam từ Nam ra Bắc, nêu thí dụ hiếm hoi về một cán bộ mà ông dấu tên, một người có lòng mà ông và bạn đồng tù không thể quên khi còn ở trại 9 Yên Bái:
‘Tôi cảm nhận được sự thiêng liêng và sự ấm áp, nói thật tôi chưa bao giờ trải qua cái cảm giác như thế nên diễn tả bằng lời cũng rất là khó’.
– PTN
Trong thời gian ở tù thì rất nhiều quản giáo và nhiều vệ binh rất tàn ác, vô nhân; nhưng cũng có một vài vị có lương tâm. Tôi nói thí dụ một cán bộ ở trại 9 đã khóc khi thấy chúng tôi bị giam cầm một cách khắc nghiệt như thế này. Ông đã lén cho chúng tôi đào trộm sắn để ăn để có thể hồi sức lại.
Cái thứ hai nữa là khi mà ông chuyển chúng tôi về trại giam Nam Hà thì ông quay mặt vào tường ông khóc. Tôi nói cái này chắc chắn anh em trong trại 9 không ai phản đối hết, ông đã thương và che chở chúng tôi, chúng tôi đã phục hồi lại được ở trại 9 để về Nam Hà ở tù tiếp.
‘Theo tôi nghĩ, người quản giáo đó đã làm một việc rất nguy hiểm, nếu bị phát giác họ sẽ bị mất việc. Đó là tình cảm của riêng họ đối với anh em tù mà thôi, tôi nghĩ là có chứ không phải không có’.
Đích xác bao nhiêu người tù chính trị miền Nam đã bỏ mạng trong trại Ba Sao ở Nam Hà nói riêng là bài toán chưa có đáp số. Chỉ biết thầm lặng cảm ơn những tấm lòng nhân ái từ người quản giáo nào đó ở Ba Sao và của vị sư thầy nào đó ở một ngôi chùa nhỏ ngoài Bắc mà có ngày cựu tù nhân PTN sẽ đưa thông tin.
Xin hãy cùng cầu xin mọi điều bình an đến cho những người có trái tim nhân hậu.
Xin hãy thắp nén hương lòng và cầu cho vong linh của những tử sĩ VNCH đã nằm xuống trong cô đơn và tủi hờn tại một vùng đất hoang vu lạnh lẽo, xa gia đình và những người thân yêu.
Cầu xin vong linh các tử sĩ Quân, Cán, Chính VNCH hộ trì cho Đất Nước Việt Nam, Dân Tộc Việt Nam sớm thoát khỏi chế độ cộng sản độc tài, dối trá, tàn bạo và vô nhân!
(Sài Gòn trong tôi/ Nguyễn Phúc An Sơn/ Theo rfa.st.net)
***
*TRUYỆN NGẮN HAY CHỌN LỌC

* TRÀM CÀ MAU: Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc:

 Suong Khoi Vuong Mat Ai-Final _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3 13292

 Tam Long Cau Cho-Final _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3          10684

* TIỂU TỬ: CON MẸ HÀNG XÓM

Tiểu Tử

Hắn tên là Cui, Đặng Văn Cui. Thứ ba, nên người ta gọi là Ba Cui. Và vì nước da hắn ngâm ngâm, nên sau này khi đi lính quốc gia, bạn đồng đội đặt cho hắn biệt danh “Cui Đen”.
Không phải để phân biệt với thằng Cui khác, mà là để cho dễ nhớ! Bởi vì tiếng “Cui” một mình vừa cộc lốc, tối nghĩa, vừa khó nhớ nữa!

Thật ra, hồi đi làm khai sanh, ông già hắn đặt tên hắn là “Qui”, nghĩa là “Về”, vừa văn vẻ lại vừa nhắc nhở năm đó ông đưa vợ con trở về quê làm ruộng sau một thời gian dài “bôn ba bá nghệ” ở Sài Gòn Chợ Lớn.
Nhưng không biết tại vì ông phát âm không rõ hay tại vì ông chánh lục bộ lãng tai mà tiếng “Qui” trở thành “Cui” trong sổ bộ!

Thành ra, trong gia đình và trong xóm người ta gọi hắn là “Qui”, còn trong trường và sau này khi ra đời, hắn vẫn mang cái tên “Cui” cứng ngắt đó và thường bị người ta hỏi “Cui là gì?”.

Coi vậy chớ tên “Cui” có vẻ như là cái tên… “tiền định”, bởi vì rất hạp với con người và tánh tình của hắn.
Con người hắn không đến nỗi quá cục mịch nhưng, thật tình, cũng không có nét gì thanh tú hết! Người gầy gầy, nước da đen đen như người Miên, mắt lộ, gò má cao, môi mỏng dánh, giọng nói thì nhọn hoắt.
Vậy mà trong cử động đi đứng, hắn lại rất lanh lẹ, không… ù lì chút nào. Còn tánh tình thì cứng cỏi, thẳng răng, gan góc… như cây dùi cui!

Hồi đó – cái thời còn là lính quốc gia – hắn đánh giặc hăng lắm. Khi lâm trận, mặt nào địch bắn rát nhứt là có Cui Đen phóng tới. Làm như hắn không biết sợ là gì.
Vậy mà suốt cuộc đời “binh nghiệp” của hắn, chưa bao giờ hắn bị thương! Bạn đồng đội nói: “Chắc thằng Cui Đen nó có vô bùa!”.

Hắn đánh giặc “hết mình” như vậy, không phải tại vì hắn có lý tưởng này lý tưởng nọ hay có ý thức chánh trị gì gì, mà tại vì hắn nghĩ rất đơn giản: “Nhà ai nấy ở. Mắc mớ ông cha gì tụi nó mà tụi nó kéo vô đánh mình?
Rõ ràng là tụi nó muốn đánh chiếm xứ mình để đô hộ như tụi Tàu tụi Tây hồi đó. Mẹ bà nó! Phải đánh chết cha tụi nó hết!”.

Đánh giặc “chết bỏ” như Cui Đen vậy mà Trời không thương. Cho nên mới có ngày 30 tháng Tư năm 1975…
… Được lịnh đầu hàng, hắn tức muốn ói máu! Hắn cắn chặt môi, chĩa súng lên trời bắn như điên. Bắn hết đạn, hắn liệng súng vào đống binh cụ.
Trước khi quay đi, hắn nhìn lại võ khí, ánh mắt câm hờn dịu xuống. Hắn nhìn với cái nhìn của người đàn ông nhìn cô nhân tình lần cuối, nhưng hắn lại đưa tay lên trán chào như hắn chào người đồng đội vừa vĩnh viễn nằm xuống nơi chiến trường…

Trong đời đánh giặc của hắn, hắn đã từng chào như vậy. Nhưng lần này hắn nghe như hắn đang chào vĩnh biệt một cái gì to lớn hơn, một cái gì quan trọng hơn, một cái gì quí giá hơn người lính Cộng Hòa chết trận.
“Cái gì đó” hắn không định nghĩa được nhưng hắn cảm nhận được. “Cái gì đó” cũng bất thần lãnh một viên đạn vào đầu, cũng ngã gục xuống không kịp trối.
Nhưng, trong “cái gì đó”, hắn thấy rõ có hắn, có vợ con hắn, có bà con hắn, có đồng bào hắn nữa. Xưa nay, Cui Đen không biết khóc. Nhưng bây giờ, bỗng nhiên hắn nghe hai mắt mình xót xót…

Một người bạn trong đơn vị chở Cui Đen về nhà bằng Honda.
Nhà Cui Đen ở gần chợ Bà Chiểu, trong một hẻm ngắn nhưng rộng, xe hơi vào được. Đó là loại phố trệt, có sân trước sân sau, và tường rào cao cỡ đầu người.
Cui Đen, vợ và hai con nhỏ, ở căn cuối cùng trong hẻm. Vợ chồng hắn ở đó từ thời chưa có con, nên cả hẻm đó đều biết hắn. Ở đây, người ta gọi hắn là “Ba Cui”.

Ba Cui bước vào sân thấy cửa nhà đóng im ỉm. Mở cửa vội vã, thấy đồ đạc còn y nguyên, kể cả chiếc xe đạp của hắn.
Hắn bước nhanh vào trong, vừa bước vừa gọi lớn: “Lựu! Lựu à! Mẹ con em đâu? Anh về đây nè!”.
Im lặng. Im lặng kéo dài ra tới sân sau. Căn nhà bỗng như rộng minh mông… Trong cái trống vắng đó, Ba Cui nghe như muốn ngộp thở.
Hắn trở ra nhà trước, kéo ghế ngồi. Bỗng hắn để ý đến một tờ giấy trắng xếp hai nằm dưới cái gạt tàn thuốc. Lấy lên xem, thì ra là thơ của vợ hắn. Thơ viết vắn tắt:
“Em và hai con di tản theo anh Sáu. Anh ở lại, nhớ nhìn kỹ Thẩm Thúy Hằng để mà sống. Em Lựu”.

Đọc câu đầu, hắn nghe yên tâm vì anh Sáu – anh vợ hắn – là trung tá Hải Quân. Đọc câu sau, hắn “xì” một tiếng, bỏ lá thơ lên bàn rồi lấy tay vỗ lên đó nghe một cái bốp, miệng lẩm bẩm: “Đến nước này mà còn viết móc lò, móc chảo!”
Nói như vậy, bởi vì Ba Cui vốn mê đào hát. Hắn cắt hình mấy cô minh tinh trong mấy tờ báo Tết, lộng vô khuôn kiếng treo đầy tường. Người mà hắn thường ngắm say mê nhứt là Thẩm Thúy Hằng!

Ba Cui đốt điếu thuốc, vừa hút vừa nhìn quanh. Rồi theo thói quen, mắt hắn dừng lại ở khuôn hình người minh tinh mà hắn ái mộ. Cặp mắt quá đẹp! Cái mũi quá đẹp! Nụ cười quá đẹp!
Bỗng hắn nghĩ: “Chẳng lẽ trong cái chộn rộn sanh tử của mấy ngày này mà Lựu còn nghĩ tới chuyện con nít như vậy à?”. Một lúc lại nghĩ: “À! Mà xưa nay Lựu đâu có ghen về vụ này!”. Rồi hắn lại nhìn chầm chầm khuôn hình, miệng lẩm nhẩm: “Nhớ-nhìn-kỹ-Thẩm-Thúy-Hằng…
Tại sao phải nhìn kỹ? Mà tại sao để-mà-sống? Và tại sao lại gạch đít trọn câu này? Chắc Lựu muốn nói gì đây!”

Hắn đứng lên, bước lại gần để nhìn. Nhìn một lúc, rồi tò mò, hắn nhắc khuôn hình xuống, lật xem phía sau: Trên miếng gỗ ép dính bụi có nhiều dấu tay nho nhỏ. Hắn chạy xuống bếp lấy con dao rồi cạy bật mấy cây đinh gài miếng gỗ ép. Miếng gỗ được lật ra, dán dính ở mặt trong bằng băng keo là ba lượng vàng. Ba Cui đứng ngẫn ngơ, quên mất điếu thuốc trên môi đang cháy dở!

Sau ngày 30 tháng Tư là chuỗi dài… bận rộn! Đi mết tinh. Rồi họp rồi hội rồi học tập. Rồi họp rồi hội rồi học tập nữa. Khi tàm tạm yên, kiểm điểm lại thì những người trong hẻm không có ai đi di tản hết.
Thành ra Ba Cui phải nói trớ là vợ con hắn về dưới quê “sống dễ thở hơn”.

Thời gian sau, lần lần người trong hẻm đổi nghề. Có lẽ cho hạp với thời cuộc, với cái gọi là “đổi đời” mà bọn Việt Cộng lúc nào “lên lớp” cũng nói.
Cho nên thấy thầy Trân nghỉ dạy tiểu học ở phường Sáu, thầy giáo đó bây giờ… “tháo giày” đi làm thợ hồ. Thấy bác Năm thợ bạc bây giờ ngồi bán chuối chiên ở đầu ngõ.
Thấy ông thầy chích hạ bảng “Y tá có bằng cấp” rồi sơn viết lại “Hớt tóc bình dân”.
Thấy bà Ba “thớt thịt” nghỉ bán thịt heo ở chợ Bà Chiểu, tối ngày nằm nghe băng nhạc cải lương, để chồng con chạy áp phe tuốt trong Chợ Lớn.
Thấy ông “Chánh Ký” chuyên cho mướn xe ba bánh bây giờ bán hết dàn xe rồi ra đứng nấu mì cho thằng con có tiệm cà phê ở ngang hông chợ… vv.
Còn Ba Cui thì đi đạp xích lô!

Một hôm, trong lúc đạp rề rề trước nhà thương để đón khách, Ba Cui bị xe bộ đội chạy loạn đụng gãy chân mặt. Hắn phải mang băng bột cả tháng. Lúc nào xê dịch cũng phải chống hai cây nạng gỗ. Hắn tức lắm!
Khi người trong hẻm qua thăm, hắn thường cầm cây nạng gõ vô ống băng bột cốp cốp, để nói: “Mẹ bà nó! Hồi đó đánh giặc, tụi nó không bắn được tôi bị thương. Bây giờ yên rồi, tụi nó cũng ráng đụng cho tôi gãy chân, tụi nó mới nghe! Quân chó chết!”.

Hồi còn ở nhà thương, khi nhận hai cây nạng gỗ, hắn cặp hai bên nách rồi chĩa thẳng về phía trước như hai cây súng.
Mắt hắn trừng lên, hắn bắn bằng miệng: “Pằng! Pằng! Pằng! Pằng!…”. Cho… đỡ tức!
Sau đó, hắn gỡ bỏ hai gù cao su của đầu nạng, để mỗi lần hắn chống đi có tiếng côm cốp khô khan sắc bén.
Hay khi hắn nói chuyện, hắn gõ đầu nạng xuống mặt gạch nghe cành cạch. Cho… đỡ tức!

Hôm đi cắt băng bột, Ba Cui nói với đôi nạng gỗ: “Tụi bây chịu trận với tao bữa nay nữa là… lễ tất!”
Nào dè, sau khi cắt băng, chân mặt bây giờ ngắn hơn chân trái, mà chỗ xương gãy lại cong cong, thành ra chân bị thương đó bây giờ không còn chống chỏi mạnh như xưa nữa.
Hắn tức giận, quăng cặp nạng vào góc tường, chửi lớn: “Mẹ bà nó! Gia tài có cặp giò để đạp xích lô mà bị như vầy thì còn làm ăn khỉ gì được?”

Cô y tá nói nhỏ: “Tại số anh xui. Hôm đó anh nhập viện nhằm ca của ông bác sĩ ngoài đó…”
Hắn lầm bầm: “Mẹ bà nó!”.
Rồi lò cò lại góc tường lượm đôi nạng lên chĩa thẳng về phía trước, miệng bắn lớn: “Pằng! Pằng! Pằng! Pằng!…”.
Mà lần này, hắn bắn đến ba bốn đợt nhưng sao vẫn chưa nghe hả tức! Bỗng hắn thèm có khẩu M16 để hắn… ria một hơi…

Về sau, Ba Cui sắm thùng đồ nghề rồi ngày ngày đạp xe ra góc đường gần Ủy Ban Nhân Dân ngồi sửa xe đạp. Và lúc nào cũng có đôi nạng gỗ, bây giờ đầu dưới có bịt sắt! Cho nó… oai!
… Thầy Hai Khuê ở khít vách Ba Cui, hồi thời trước làm thơ ký kế toán cho một hãng buôn ở Chợ Cũ, sau thời gian đổi nghề đi đan mây tre chắc chịu không nổi nên… bán nhà.

Người chủ mới là đàn bà, cỡ tuổi Ba Cui, con người thanh tú, “coi được lắm”. Cô ta ở một mình. Làm việc ở đâu không biết, nhưng ngày nào cũng thấy đi, thấy về bằng chiếc xe Vélo-Solex.
Vì vậy, trong hẻm gọi cô ta là “cô Hai Sô Lết”.
Cô Hai không giống người trong xóm. Thời buổi này mà cô ta vẫn ăn mặc như hồi đó, vẫn áo dài màu in bông trang nhã quần hàng trắng ống thon thon. Vẫn chút phấn chút son chút dầu thơm loại “xịn”. Cho nên người trong xóm cũng ngại, không muốn gần, mặc dầu thấy cô Hai Sô Lết cũng dễ thương, gặp ai cũng chào cũng hỏi.
Riêng Ba Cui thì thẳng thừng: “Con mẹ này… Tôi coi không vô! Cái thứ đàn bà ở một mình mà tối ngày son phấn… tôi nghi lắm”.
Cho nên, gặp cô ta mấy lần mà hắn chẳng hỏi thăm xã giao một tiếng. Chỉ gật đầu lấy lệ rồi đi luôn!

Một buổi tối, tên công an phường đi xe Honda tới nhà cô Hai Sô Lết với một anh bạn. Họ và cô Hai chào hỏi nhau, giọng điệu chứng tỏ họ đã quen thân nhau từ lâu.
Ba Cui nằm trên ghế bố đặt ở phòng khách – hắn ngủ ở đây cho nó mát – nghe cái lối chào đón của “con mẹ hàng xóm” mà phát ghét. Hắn lầm bầm: “Mẹ bà nó! Tao nói có sai đâu! Cái thứ này… xài không được!”

Bên kia, chắc họ bày biện ăn uống ở ngoài sân nên Ba Cui nghe rõ mồn một:
– Biết bà chị neo đơn nên chúng tôi có mang đến thịt quay và phá lấu đây này.
– Các anh bày vẽ. Hồi trưa, ở cơ quan, em đã bảo đừng mang gì hết. Em có bia nè. Em có tôm khô củ kiệu nè. Em có cua rang muối nè.
– Đấy! Đồng chí thấy không? Tôi đã bảo là chị Tâm chu đáo lắm mà đồng chí không tin.
– Ấy! Đây là lần đầu, tớ cũng phải có cái gì để ra mắt bà chị chứ!
– Mình là người nhà với nhau hết, mấy anh đừng khách sáo. Em không thích đâu.
– Vâng! Thế thì cho tôi xin bà chị. Lần sau sẽ đàng hoàng hơn.

Nằm bên nây, Ba Cui vừa lắng nghe vừa suy nghĩ:
“Con mẹ này ghê lắm chớ không phải vừa. Thằng công an mà còn gọi bằng chị thì không phải thứ cóc cắn đâu.
Theo cách nói chuyện của con mẻ thì con mẻ vô ra cơ quan của bọn Việt Cộng như đi chợ. Vậy là người của tụi nó rồi”.
Nghĩ đến đó, hắn có ngay một thái độ: “Mẹ bà nó! Mình phải coi chừng. Trong hẻm này toàn là dân chế độ cũ không mà con mẻ chen vô đây làm gì? Phải có ý đồ gì đó! Mình phải cho lối xóm biết mới được”.

Sau đó, cứ năm bảy hôm là cô Hai Sô Lết có nấu nướng ăn nhậu với bọn công an. Rồi công an kéo theo công an. Họ nói năng cười cợt như chỗ không người. Cả xóm đều biết.
Cho nên mọi người đều dè dặt lẩn tránh cô Hai Sô Lết. Chỉ có Ba Cui là làm ngược lại.

Trước đây, hắn không thèm chào một tiếng. Bây giờ thì hắn nghĩ: “Mình phải làm cho nó thấy là mình biết nó là ai. Mình phải đương đầu với nó để cho nó thấy rằng mình không sợ nó, mặc dầu nó là bà chằn hay ông kẹ gì gì. Mẹ bà nó! Phải như hồi đó, tao ria cho một trận là chết cha hết!”.
Cho nên, có hôm, nghe Ba Cui nhái giọng nửa Bắc nửa Nam của “tụi giải phóng” để hỏi cô Hai Sô Lết – hỏi trổng:
– Thế nào? Tốt chứ!
– Dạ… Cám ơn anh. Cũng tàm tạm.
– Chà… Dạo này thấy… béo ra đấy!
– Em thấy em cũng vậy, hà.
– Có chứ! Cứ ăn nhậu mãi là phì ra thôi!

Bỗng cô Hai nhìn thẳng vào mắt Ba Cui, nghiêm giọng:
– Anh Ba à! Mình ăn cây nào mình rào cây nấy, chớ anh!
Hắn phun nước miếng xuống đất, khoát tay rồi chống nạng cành cạch đi vô nhà. Thiếu chút nữa là hắn phun thẳng vào mặt con mẹ hàng xóm đó! Cho bỏ ghét!
Càng ngày, cô Hai Sô Lết càng tiếp đãi “tụi nó” thường hơn, đông hơn và nhiều thành phần hơn. Có cả cán bộ đến bằng xe hơi có tài xế nữa!
Ngoài việc ăn uống – hình như chủ nhà có tài nấu nướng nên lúc nào cũng nghe “thực khách” hết lời khen ngợi thán phục – không biết họ có… “làm gì” nữa không?

Ba Cui nhiều lần cố ý rình nghe nhưng chẳng thấy có gì khả nghi hết. Nhưng, đối với Ba Cui, nguyên cái sự ăn uống cười đùa thân mật thoải mái của “tụi nó” cũng đủ làm cho hắn “tức con mắt”.
Còn con mẹ hàng xóm thì hắn dứt khoát: Cái giống gì mà hắn… hửi không vô! “Cái giống” đó cõng rắn cắn gà nhà, mở ngõ đưa đường cho tụi ngoài đó vô xâm chiếm thống trị miền Nam rõ ràng mà nói là “đi phỏng…”. Mẹ bà nó!

Một đêm đó, cũng gần khuya, trong lúc bên kia, hai tên công an và gia chủ còn chuyện trò, bên nây Ba Cui tắt đèn nằm trên ghế bố nghĩ vẩn vơ chờ giấc ngủ, thì nghe tiếng xe hơi chạy vào thắng gấp trước nhà cô Hai. Hắn lẩm bẩm: “Giờ này mà còn kéo tới nữa! Thiệt… cái lũ này…”.

Nhưng sao không có tiếng mở cửa đóng cửa xe mà lại nghe có tiếng chân người phóng xuống. Vậy là thuộc loại xe “gíp” chớ không phải xe nhà. Lại nghe tiếng súng khua và tiếng lên cò lách cách. Ba Cui phóng nhanh lại cửa, lắng tai nghe. Giọng quen thuộc của tên công an phường vang lên:
– Này! Các đồng chí làm gì thế?
Một giọng lạ, hống hách:
– Hai đồng chí hãy ngồi yên. Con này, đứng vào góc tường kia!
Tiếng cô Hai la: “Ối!”. Có vẻ đau. Tên công an la lên:
– Này! Nhẹ tay chứ đồng chí. Có vấn đề gì thì ta hãy từ từ giải quyết. Loạn à?
– Ừ! Loạn ngay trong phường của đồng chí mà đồng chí còn hỏi nữa à? Đồng chí hãy ngồi xuống! Còn con này, quay mặt vào tường, đứng yên! Không, tao bắn nát óc!

Rồi ra lịnh cho đồng bọn vào lục soát trong nhà xem “có tên nào ẩn nấp trong ấy hay có cất giấu vũ khí không”.
Không khí bên đó có vẻ căng thẳng. Tên công an thấp giọng:
– Chị Tâm đây là người của Thành ủy. Chắc đồng chí lầm người rồi.

Không nghe trả lời. Ba Cui đoán bọn mới tới là bọn bộ đội và “thằng xếp” này có vẻ coi thường hai tên công an.
Một lúc sau, nghe:
– Báo cáo đồng chí: Không thấy gì cả.
– Tốt! Hai đồng chí ra ngoài.

Im lặng. Rồi lại nghe giọng “thằng xếp”:
– Các đồng chí có biết con này là ai không?
Ngừng một chút. Chừng như để cho câu nói tiếp theo có hiệu lực hơn, bởi vì “thằng xếp” gằn từng tiếng:
– Người ta biết nó là Trần Thị Tâm, nhưng tên thật của nó là Nguyễn Kim Hoa. Nó được cài vào hàng ngũ của ta từ lâu. Chính nó bao lâu nay bí mật đưa tin cho đám đang ẩn nấp ở vùng biên giới để chống chúng ta. Ác ôn như thế đấy!

Lại ngừng một chút, rồi tiếp:
– Bây giờ thì hai đồng chí về đi, để chúng tôi giải quyết vụ này. Sáng mai, chúng ta sẽ nói chuyện sau.
Một lúc, có tiếng Honda của bọn công an rồ máy rồi chạy ra ngõ. “Thằng xếp” ra lịnh:
– Con này! Đi ngay!
– Anh cũng phải để tôi dọn dẹp mấy thứ này vô nhà rồi tắt đèn đóng cửa chớ!
– Ừ! Nhưng nhanh lên!

Bên này, Ba Cui chống hai tay lên cửa, đầu gục xuống. Hắn cắn môi kềm xúc động. Hắn nghe ân hận vô cùng: “Cô Hai là người của mình mà lâu nay mình khinh miệt cổ như đồ phản quốc! Còn đòi phun nước miếng vào mặt cổ nữa! Mẹ bà nó! Mình tệ quá! Bây giờ làm sao xin lỗi cổ đây?”.
Trong đầu hắn bỗng hiện lên hình ảnh của cô Hai Sô Lết. Bây giờ, sao hắn thấy cô Hai đẹp quá, cao cả quá, rắn rỏi quá. Cô vẫn giữ nguyên nét ngụy, từ cái áo cái quần tới chút phấn chút son. Cô vẫn tự trọng chớ không làm ra vẻ lam lũ theo… thời trang cách mạng.

Cô đáng phục quá! Bây giờ mới hiểu câu nói “ăn cây nào mình rào cây nấy” của cô Hai.
Phải rồi. Cô phải “rào” cho kỹ để rút tỉa tin tức cần thiết cho “Kháng Chiến Phục Quốc”, vậy mà mình đã nghĩ rằng cô là phường bợ đỡ chánh quyền! Thiệt là bậy!
Bên kia, giọng cô Hai Sô Lết nghe rất bình tĩnh:
– Rồi. Tôi xong rồi.
– Mang gì thế kia?
– Bao quần áo, bàn chải đánh răng, khăn, lược. Nè! Anh xét đi!
– Thôi! Được! Lên xe!
Xe rồ máy, sang số de rồi lùi ra hẻm.

Bên nây, Ba Cui bỏ tay xuống, lắc đầu thở dài. Bỗng, một tiếng nổ chát chúa, tiếp theo là tiếng xe đụng vào tường rào rầm rầm rầm rồi im.
Ba Cui giựt mình, đứng thẳng người lên, lắng tai nghe. Tiếng người xôn xao ngoài hẻm:
– Xe bộ đội nổ! Xe bộ đội nổ!
– Nó đụng tường rào nhà bác Năm!
– Có ai sao không?
– Có ai bị gì không?
– Anh chị Năm với mấy đứa nhỏ có sao không?
– Không! Không có sao! Tụi này đang ngủ trong nhà.

Ba Cui định mở cửa chạy ra coi nhưng nghĩ lại: “Trong hẻm nầy, chỉ có mình là lính cuả chế độ cũ. đứng xớ rớ ở đó nguy hiểm.“ Bên ngoài vẫn nghe xôn xao:
– Đứa nào chạy kêu công an coi bây! Trời ơi!
– Lấy đèn pin rọi coi!
– Rọi đây nè! Mầy rọi ở đâu vậy?
– Sao không thấy ai nhúc nhích hết vầy nè!
– Thấy ghê quá!
– Mầy rọi vô giữa coi! Cứ ria ria ngoài nầy thì thấy khỉ gì được. Thằng… nhát gan quá mậy!
– Đưa đèn đây tao rọi coi.
– Trời ơi ! Cô Hai Sô Lết chết banh xác trong nầy nè!

Ba Cui bỗng thở hắt ra, gục đầu vào tường, không nghe rõ gì gì nữa. Làm như tiếng nổ vừa rồi làm cho hắn lùng bùng lỗ tai.
Kinh nghiệm chiến trường cho hắn biết đó là tiếng nổ của lựu đạn, loại lựu đạn mà hồi thời còn “đánh giặc chết bỏ” hắn vẫn thường dùng để diệt địch.
Bây giờ, cô Hai đã dùng nó để nói lên tiếng nói cuối cùng. Một-tiếng-nói-cuối-cùng…

Hình ảnh cô Hai Sô Llại hiện về trong đầu Ba Cui, thật rõ, thật đẹp, nhưng thật hiên ngang, thật oai hùng, thật vĩ đại. Trong bóng tối, hắn bỗng đứng nghiêm, trịnh trọng đưa tay lên trán chào.
Xưa nay, hắn không biết khóc. Vậy mà bây giờ hắn bật khóc! Không biết nước mắt ở đâu mà tuôn ra nhiều như vậy?

Mặc dầu một chân ngắn một chân dài, Ba Cui vẫn đứng thẳng, trong tư thế chào vĩnh biệt người đồng đội vừa tử trận, đứng lâu thật lâu…
Tiểu Tử
***
*PHẠM TÍM AN NINH: VÂNG! CHÚNG TÔI HÃNH DIỆN ĐÃ CÓ MỘT CẤP CHỈ HUY NHƯ THẾ!
VÂNG! CHÚNG TÔI HÃNH DIỆN ĐÃ CÓ MỘT CẤP CHỈ HUY NHƯ THẾ!(Viết để tưởng niệm Đại tá Nguyễn Bá Thịnh)

Sau Tết Mậu Thân, khi vừa đánh thắng nhiều trận lớn, giải tỏa thành phố Phan Thiết trong vòng vây và tiêu diệt toàn bộ đám cộng quân xâm nhập, đơn vị tôi đón mừng một vị trung đoàn trưởng mới. Ông được Đại tá Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn xin bổ nhậm và đích thân đưa đến bản doanh của Trung Đoàn tại Sông Mao, để bàn giao với vị tiền nhiệm. Ông đến nhậm chức với duy nhất một cái “xắc ma–ranh” vác trên vai, trông giống như anh chàng tân binh vừa lãnh quân trang ở một quân trường nào đó. Buổi lễ bàn giao đơn giản nhưng rất trang nghiêm, dưới sự chủ tọa của vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Sau khi tiễn đưa ông cựu trung đoàn trưởng theo ông Tư Lệnh lên trực thăng bay đi, tất cả được lệnh “thao diễn nghỉ” để nghe vị tân Trung Đoàn Trưởng ban chỉ thị: Điều trước tiên mọi người lưu ý là ông rất nhỏ con, nhưng đôi mắt sáng quắc, có nhiều uy lực, tướng đi nhanh nhẹn. Tóc cắt ngắn ba phân, để lộ từ trên đầu sau vành tai bên trái một vết sẹo láng bóng làm tăng thêm cái uy dũng của một người từng dạn dày trận mạc. Sau khi được vị trung đoàn phó trình diện hàng quân, ông đi quanh một vòng bắt tay các sĩ quan thuộc bộ chỉ huy trung đoàn và các đơn vị trưởng. Ông đi đứng, bẻ góc, dậm chân, đằng sau quay, và chào hỏi rất đúng quân cách. Bọn tôi không mấy ngạc nhiên vì đã được biết, trước khi thuyên chuyển về đây, ông từng là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Võ Bị QGVN, một quân trường nổi tiếng tại Vùng Đông Nam Á. Nhưng ngay sau đó ông lại làm chúng tôi ngạc nhiên với câu hỏi đầu tiên của ông: –Các anh có biết tôi đi lính từ cấp bậc gì không? –Thiếu úy! – một sĩ quan lên tiếng. –Sai! –Trung sĩ! – một sĩ quan khác trả lời. –Cũng sai! –Binh nhì – một anh tiểu đoàn trưởng, tốt nghiệp từ Trường Võ Bị, tỏ ra biết ít nhiều về ông. Nhưng rồi tất cả, từ quan tới lính, đều ngơ ngác khi nghe ông bảo: –Cũng chưa đúng! Im lặng một lúc, để gợi thêm sự tò mò, ông lên giọng nói lớn: –Binh ba! Rồi tự giải thích: –Đúng như thế! Binh nghiệp của tôi đi lên từ cấp “binh ba”. Vì khi vào lính nhảy dù, tôi chưa được cho đi đánh nhau mà phải làm hỏa đầu quân, tức là thằng nấu bếp, rồi sau đó làm “ô đô” cho ông đại đội trưởng Đỗ Cao Trí.
Giải thích xong, ông ngẩng mặt lên và cao giọng: –Tất cả các anh nên hãnh diện là đang có một cấp chỉ huy như thế! Phải công tâm mà nói, từ khi ông về chỉ huy, Trung Đoàn đã thay đổi khá nhiều, từ cách tổ chức, sinh hoạt tới chiến thuật phòng thủ, hành quân. Nhưng song song với việc tạo cho đơn vị một khí thế mới để vươn lên, trở thành đơn vị ưu tú với nhiều chiến công hiển hách, ông cũng đã để lại rất nhiều giai thoại, mà đến hôm nay, mỗi lần anh em cùng đơn vị xưa có dịp gặp nhau luôn nhắc tới. Ngày xưa, đó chỉ là những mẩu chuyện vui để cùng cười, nhưng bây giờ tất cả trở thành những kỷ niệm mang theo nhiều cảm xúc. Trước tiên phải công nhận là ông rất liêm khiết, công minh. Ngay cả cái xe jeep của ông cũng đích thân ông ký giấy nhận xăng, và mỗi khi xong công việc, tài xế đưa ông về trước tư thất rồi quay lại đậu trước văn phòng. Vợ con ông không được phép ngồi trên xe, chứ đừng nói đến việc sử dụng. Ông không hề dùng một người lính nào cho gia đình hay trong công việc riêng. Trong đơn vị có anh Hoàng Văn An, sau khi tốt nghiệp Khóa 20 VB cũng được bổ sung về Trung Đoàn. Anh An là em (thúc bá) của vợ ông. Khi anh An còn là SVSQ thì ông đang là Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ. Một lần đi phép về trễ một ngày, anh An bị ông gọi lên văn phòng bảo: “Nếu là SVSQ khác tôi tha, nhưng vì chú là em nên tôi phạt chú 7 ngày trọng cấm!” (Sau này anh An cho biết đó là 7 ngày trọng cấm duy nhất trong hồ sơ quân bạ của anh). Với các sĩ quan già, ông xưng hô “ông, tôi”, nhưng với mấy thằng sĩ quan trẻ như bọn tôi, ông chỉ gọi “mày” hoặc “chú mày” và xưng “tao” như em út trong nhà. Sau một cuộc hành quân, ông thường mời tất cả sĩ quan thuộc BCH Trung Đoàn và các đơn vị đóng chung quanh, dùng cơm với ông. Điều đặc biệt là đích thân ông đi chợ, lựa và mua cá, mua rau. Món ông thích nhất là cá rô chiên. Được ông mời ăn cơm phải nói là một cực hình. Nhưng không ai có thể vắng mặt bởi ông sẽ điểm danh. Nói là mời nhưng phải xem đó là lệnh. Trong bữa ăn ông thường luận về các món ăn dân giã và cách nấu nướng. Có một lần anh đầu bếp không hiểu ý của ông, đánh vảy, chặt vi mấy con cá rô, chiên vàng xong mang bày lên bàn, bay mùi thơm phức, nhưng rồi bọn tôi bất ngờ tròn mắt, khi ông ném cả đĩa cá vào sọt rác và la cho một trận! Ông bảo, con cá rô mà mất vảy và cái vi thì còn ăn cái gì? Lâu lâu ông cũng mời một số sĩ quan tham mưu cũng như các tiểu đoàn trưởng đến tư thất của ông dùng cơm. (Tư thất là một villa khá đẹp nằm trong doanh trại do Sư Đoàn 5 của Đại tá Wòng A Sáng để lại). Các bữa cơm do chính tay vợ chồng ông nấu nướng. Điều làm chúng tôi ái ngại nhất, là phu nhân của ông không được ngồi chung mà là người hầu bàn. Hầu bàn chính hiệu chứ không phải làm cảnh. Bà đứng sau lưng, rót nước, xới cơm vào bát và đưa cả từng tấm giấy lau miệng cho “thực khách”. Bà là một người đàn bà có nhan sắc, phúc hậu và là một “phu nhân” hiếm hoi mà tôi đã gặp trong cuộc đời binh nghiệp. Bà không hề biết (và có lẽ không được quyền biết) bất cứ điều gì của đơn vị. Cả đám sĩ quan bọn tôi ngồi trong bàn ăn, bà không biết cả tên và ai đang giữ chức vụ gì. Chúng tôi rất nể phục bà, nhưng cũng thấy tội nghiệp cho bà. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, giá mà vị “phu nhân” nào cũng như bà thì quân đội và đất nước mình có lẽ đã khá hơn. Trong bữa ăn, ông cũng thường kể về cuộc đời và binh nghiệp của mình, đôi lúc có chút xúc động nhưng luôn với niềm hãnh diện: ….
Giống như Tướng Đỗ Cao Trí, ông rất lưu tâm tới hàng hạ sĩ quan (từ cấp bậc hạ sĩ). Ông gần gũi, chăm lo đời sống và thỉnh thoảng tập trung họ lại để nói chuyện, tâm tình, trao đổi kinh nghiệm chiến trường và việc chỉ huy tiểu đội. Ông thường bảo chúng tôi: –Bọn mày phải nâng đỡ đám hạ sĩ quan này, nhưng cũng phải để ý học hỏi kinh nghiệm của họ. Chính cấp tiểu đội, trung đội mới quyết định chiến trường! Ông nói tiếng Anh giọng Bắc, không giỏi lắm, bất chấp cả văn phạm, nhưng các cố vấn Mỹ đều hiểu và nể ông ra mặt. Gặp ông là tất cả đứng nghiêm chào. Ông bảo gì họ cũng nghe. Có lần ông nói thẳng với mấy tay cố vấn Mỹ: –Các anh đến đây là để giúp chúng tôi những gì chúng tôi cần, còn chuyện đánh nhau là chuyện của chúng tôi. Các anh đừng xía vào. Đánh bọn du kích VC mà đánh theo kiểu Mỹ của các anh là hỏng! Ông ra lệnh tất cả sĩ quan phải nói được tiếng Anh. Không biết phải học. Nói sao cho Mỹ nó hiểu là được. Nhờ vậy mà anh Cố vấn trưởng nghe theo đề nghị của ông, tổ chức ngay một số lớp dạy Anh văn cho tất cả các sĩ quan, đặc biệt về phương pháp đàm thoại và cách liên lạc, hướng dẫn các phi công oanh tạc cơ của Hoa Kỳ. Bản doanh Sông Mao nằm giữa Phan Rang và Phan Thiết, nhưng đường bộ mất an ninh. Ông muốn mỗi tuần phải có hai chuyến Chinook để chở lính đi phép và cho gia đình binh sĩ được ra phố mua sắm, học hành. Vậy mà chỉ mấy ngày sau là anh Cố vấn trưởng lo xong. Không biết vì sao Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lượng Quân Sự Mỹ tại Cam Ranh, biết thành tích đánh giặc và cả sự liêm khiết của ông, nên lâu lâu ghé lại Trung Đoàn thăm và hàn huyên với ông. Tướng Peers thường đưa ngón tay cái lên nói đùa với bọn tôi: các anh có một ông “boss” rất tuyệt vời! Đầu năm 1969, trong kế hoạch “tự lực tự cường”, Bộ TTM ban hành chỉ thị, mỗi đơn vị phải thành lập một trại chăn nuôi, Trung Đoàn có một trại chăn nuôi khá lớn, do một vị thiếu úy lớn tuổi (thăng tiến từ cấp binh sĩ) trông coi với hơn 20 lao công đào binh. Trại chăn nuôi thống thuộc Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ. Một hôm cả BCH Trung Đoàn và các sĩ quan từ cấp đại đội trưởng trở lên, được Ông Tỉnh Trưởng Bình Thuận mời khoản đãi vì Trung Đoàn vừa phối họp với Tiểu Khu trong một chiến dịch bình định, đánh tan các đơn vị cộng quân hoạt động trong phạm vi của tỉnh. Tất cả tập trung tại Căn cứ Trinh Tường (Trung Đoàn dùng làm hậu trạm) để đi đến tòa tỉnh. Trên đường đi, ông bất ngờ thấy bên vệ đường có một người đang thả heo giống. Ông ra lệnh dừng lại, xuống xe và đứng xem. Bọn tôi rất ngượng ngùng còn ông thì cứ tỉnh bơ quan sát. Cuối cùng ông khen con heo (đực) tốt và ra lệnh cho anh trung úy đại đội trưởng CHCV thương lượng với người chủ để mướn. Sau buổi tiệc ông dùng trực thăng cho anh đại đội trưởng chở con heo và người chủ bay về hậu cứ Sông Mao để gây giống cho trại heo. Chúng tôi có một trận cười đến nôn ruột, và thấy tội nghiệp cho anh đại đội trưởng rất “mô phạm” vì là một giáo sư trung học bị đông viên vào Khóa 16 Thủ Đức. Nhưng sau này trại heo đã thu nhiều lợi nhuận vì sản sinh rất nhiều heo con béo tốt. Được chọn là trại chăn nuôi “kiểu mẫu” của Quân Đoàn II&QK2. Chúng tôi càng kính phục ông hơn. Vào khoảng giữa năm 1969, Ban Truyền Tin nhận một cuộc điện thoại (qua hệ thống siêu tần số) trực tiếp từ văn phòng Đại tướng Cao Văn Viên, TTMT, lệnh cho Trung Đoàn, cho xe ra sân bay Sông Mao để đón một vị trung tá, thuyên chuyển đặt thuộc quyền sử dụng của Trung Đoàn. Thấy một việc bất thường, ông Trung Đoàn Trưởng gọi lại, thì được văn phòng TTMT cho biết: “đó là Trung tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù. Ông uống rượu ngà ngà say, đến tìm đại tướng để phản đối về việc sử dụng Nhảy Dù của ông không đúng chỗ. Ông khá thân thiết và được Đại tướng Viên trọng nể khi còn ở Nhảy Dù. Thấy ông say và lớn tiếng, Đại tướng bỏ đi ra ngoài, ông Trung tá Nhảy Dù (có lẽ do say quá) la hét một chặp rồi cởi bộ đồ nhảy dù vất trên bàn bảo trả lại cho đại tướng. Đại tướng giận quá, ra lệnh dùng máy bay riêng của đại tướng và cho hai Quân cảnh ‘áp tải’. ông thẳng ra Sông Mao giao cho Trung Đoàn. Lệnh bổ nhiệm sẽ do Phòng Tổng Quản Trị gởi đến sau. Máy bay đã cất cánh hơn nửa tiếng rồi.” Ông Trung Đoàn Trưởng vội vàng ra lệnh cho các sĩ quan thuộc BCH tháp tùng ông ra phi trường chào đón Trung tá Hùng, ông cũng cho gọi cả anh lính kèn đi theo. Khi máy bay đáp xuống, Ông và tất cả sĩ quan đứng thành một hàng dọc, đích thân ông chỉ huy dàn chào, có cả kèn thổi “nghênh đón thượng cấp”. Điều đặc biệt làm chúng tôi ngạc nhiên hơn là ông đứng nghiêm trình diện Trung tá Hùng, với cả cấp bậc, số quân, như một tân binh hay một SVSQ trong quân trường: –Trung tá Nguyễn Bá Thịnh, số quân 48/300340 trình diện Trung tá! Vẫn trong thế đứng nghiêm, ông mời Trung tá Hùng lên xe ông, còn ông thì đi chung xe với chúng tôi về doanh trại. (Tôi chưa thấy ông lái xe bao giờ). Đến nơi, ông hướng dẫn Trung tá Hùng lên nghỉ ngơi uống nước tại văn phòng Trung đoàn trưởng. Ra lệnh cho anh Đại đội trưởng CHCV sang tư thất của ông, cùng ông đích thân dọn dẹp và dành căn phòng của vợ chồng ông cho Trung tá Hùng. Ông bà dọn sang phòng nhỏ phía sau. Nhưng khi ông sang mời Trung tá Hùng về tư thất, thì Trung tá Hùng quyết liệt từ chối, bảo ông chỉ xin một cái ghế bố và sẽ ở trong Trung Tâm Hành Quân (Trung Đoàn có một TTHQ khá lớn và kiên cố). Bọn tôi bàn tán với nhau, không ai hiểu cung cách đối xử kỳ lạ của hai ông trung tá. Ông Trung Đoàn trưởng thì lại đứng nghiêm đưa tay chào từ xa, mỗi lần gặp ông Trung tá vừa thuyên chuyển tới đặt dưới quyền chỉ huy của mình. Ngược lại ông Trung tá Nhảy Dù cũng một điều kính thưa, hai điều kính thưa ông Trung tá Trung đoàn trưởng? Đến chiều, Trung tá Thịnh ra lệnh cho anh đại đội trưởng ĐĐCH đích thân sang tư thất của ông mang cơm chiều sang cho Trung tá Hùng. Lúc ấy ông gọi chúng tôi lại để dặn dò: –Các chú mày phải lễ phép và lo lắng thật chu đáo cho Trung tá Hùng. Ông là ông Thầy của tao. Ngày trước khi ông là đại đội trưởng Nhảy Dù, thì tao là thằng Hạ sĩ 1 mang máy và làm tiểu đội trưởng cho ổng. Ổng đánh giặc khỏi chê, nổi tiếng từ thời Pháp cho đến bây giờ. Mấy thằng Tây, kể cả sĩ quan, mà lôi thôi là bị ông chửi như tát nước vào mặt. Khi Đại tướng Cao Văn Viên còn trung tá, làm Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù thì ông Hùng đã là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc mà ông Viên rất nể nang. Ông không giao cho Trung tá Hùng bất cứ công việc gì. Nhiều lần Trung tá Hùng yêu cầu phải giao cho ông một công việc, bất cứ việc gì cũng được. Nhưng ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm: –Xin Trung tá làm cố vấn cho tôi. Trung tá Hùng lại dậm chân, than phiền: –Tớ đi lính là để đánh giặc chứ đếch biết làm cố vấn cố véo gì sất! Trung tá quên tớ là thằng “Cai Hùng” Nhảy Dù à? Ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm: –Thôi, xin Trung tá thấy thích làm cái gì thì làm! Cuối cùng Trung tá Hùng nhận một công việc không có trong bản cấp số: Sĩ quan thường trực tại Trung Tâm Hành Quân. Ăn ngủ tại chỗ. Có mặt 24/24! Kể từ hôm ấy, Trung tá Thịnh cũng cho kê một cái ghế bố trong TTHQ để ngủ với Trung tá Hùng. Một hôm, vào khoảng 2 giờ sáng, Việt cộng pháo kích vào BCH Trung Đoàn. Nhờ có máy nhắm hồng ngoại tuyến mới được trang bị, một vọng gác phát hiện đặc công xâm nhập vào doanh trại. Ông giao việc điều động cho Trung tá Hùng, rồi đích thân chỉ huy hai toán Viễn Thám đi lùng, giết hơn 20 tên đặc công bằng lựu đạn và bắt sống 3 tên khác, đang tìm cách chui qua hàng rào phòng thủ. Trung tá Hùng thì leo lên nóc TTHQ lắng nghe tiếng “depart” để xác định vị trí súng cối địch, cho Pháo Binh phản pháo chính xác, sau đó 2 chiếc cobra do cố vấn Mỹ điều động kịp thời đến mục tiêu xạ kích. Đại Đội Trinh Sát được lệnh truy kích, thu được 2 súng cối 82ly, 2 ống phóng hỏa tiễn và một số súng cá nhân, hơn 15 xác địch còn bỏ lại trận địa. Trận phản công chớp nhoáng và chính xác với thắng lợi hoàn toàn, bên ta vô sự. Đúng là chiến công của hai ông trung tá gốc Nhảy Dù! Những lúc tâm tình với chúng tôi, Trung tá Hùng cũng đã hết lời ngợi ca Trung tá Thịnh. Ông thường bảo: –Ông Trung đoàn trưởng là một tay đánh giặc rất “lì” và chỉ huy rất “chì” trong binh chủng Nhảy Dù. Trong cấp tá, ông là người có nhiều huy chương nhất, chỉ sau ông Sơn Thương. Hình như trên 20 cái nhành dương liễu, sao vàng sao bạc đếm không hết, còn chiến thương bội tinh thì cũng hơn 10 cái! Rồi ông đùa: –Bao nhiêu lần đã tưởng ông đi đứt, nhưng có lẽ nhờ nhỏ con quá nên đạn bắn không trúng! Khoảng hai tháng sau, chiếc máy bay riêng của Đại tướng Cao Văn Viên bay trở lại Sông Mao. Lần này thay vì hai anh Quân Cảnh, thì chở theo hai sĩ quan Nhảy Dù để đón Trung tá Đào Văn Hùng về lại Sư Đoàn Dù. Nhưng chỉ sau đó một thời gian, (chính Trung tá Thịnh cho biết), ông bị ra khỏi binh chủng, về một đơn vị bộ binh, rồi bị tai nạn xe hơi nên mù mắt và ngã bệnh đến gần như mất trí nhớ. Sau này, bọn tôi được biết Trung tá Đào Văn Hùng cũng là một người rất đặc biệt📷 đã tạo nhiều giai thoại trong binh chủng Nhảy Dù. Ông là sĩ quan lớn tuổi và rất thâm niên trong Nhảy Dù, thường thích nhận mình là “Cai Hùng”, như niềm hãnh diện về một thời trai trẻ khi còn là một anh hạ sĩ trong lực lượng nhảy dù Pháp, và người ta đặt thêm cho ông cái tên “Hùng Gà” vì ông rất mê đá gà. Những năm giữa thập niên 1960, ông đã từng là Lữ Đoàn Trưởng có tiếng của Nhảy Dù. Thời Trung tá Nguyễn Bá Thịnh làm trung đoàn trưởng, Tướng Trương Quang Ân là Tư Lệnh Sư Đoàn. Có lẽ vừa là niên đệ từ trường VBLQĐL lại vừa là đàn em trong binh chủng Nhảy Dù, nên ông rất kính nể và luôn đề cao Tướng Ân. Ngày 8/9/1968, khi Tướng Ân bị hy sinh cùng phu nhân trong một tai nạn phi cơ ở Đức Lập, BCH Trung Đoàn đang đóng ở Cà Ná, chỉ huy cuộc hành quân trong vùng ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận–Bình Thuận. Khi nghe tin, Trung tá Thịnh bật khóc và than thở tiếc nuối một vị tướng tài – chuyện rất hiếm hoi đối với một mẫu người cứng cỏi như ông. Thấy vậy, tôi an ủi: –Thôi, trung tá đừng buồn tiếc nữa. Một con én đâu có làm được một mùa Xuân! Ông trợn mắt, nhìn tôi, quát: –Mày ngu thế! Ít ra trong mùa Xuân cũng còn có được một con én chứ! Cả bọn chúng tôi bụm miệng cười. Lần đầu tiên nghe ông nói một câu văn hoa như thế! Nhờ mắng tôi, nên ông hết khóc. Ông rủ tôi và anh trung tá cố vấn Mỹ, gọi mấy chú lính hộ tống, theo ông ra bờ biển phía trước, bên một ghềnh đá, mà ông bảo là vô số cá đang tập trung trú ẩn ở đó. Anh cố vấn Mỹ không tin và hỏi xin ông cho đích thân anh ném thử một trái lựu đạn. Ông lưỡng lự rồi gật đầu. Có lẽ đây là một quyết định ngoại lệ so với bản tính nghiêm khắc cố hữu của ông. Và quả đúng như ông nói, đám lính và cả anh trung tá Mỹ lặn xuống bắt cả mấy trăm ký cá mang về. Sau khi chia cho các tiểu đoàn, ông đích thân chỉ huy làm mấy món cá đãi cả BCH Trung Đoàn, Toán cố vấn Mỹ và Đại Đội Trinh Sát. Sau ngày Tướng Trương Quang Ân mất, ông tỏ ra chán nản. Ông được Tướng Đỗ Cao Trí kéo về Quân Đoàn III/Vùng 3 CT và dự định đề cử giữ chức tỉnh trưởng nào đó. Ông cho bọn tôi biết rồi bảo: –Tớ có nhiều chữ nghĩa gì đâu mà làm quận với tỉnh. Đi lính là để đánh giặc. Trường Võ Bị có dạy ai đi làm tỉnh trưởng đâu. Tớ vẫn thích nắm trung đoàn. Hôm rời Trung Đoàn, ông cũng chỉ vác theo một cái “xắc ma–ranh” như hồi ông đến. Tất cả chúng tôi thật cảm động và tiếc nuối khi phải chia tay ông. Một cấp chỉ huy thanh liêm, bình dân, gan dạ. Khi bắt tay tôi, ông khen “chú mày khá lắm” và rơm rớm nước mắt. Trước đây, không ai nghĩ một người cứng rắn, đanh thép như ông lại giàu tình cảm với đàn em, thuộc cấp mà ông đã giấu kỹ trong lòng. Sau đó, ông về làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52, thuộc Sư Đoàn 18BB. Không biết ở đơn vị mới này ông có thay đổi ít nhiều gì không. Tôi chỉ còn nhớ, có lần báo Sóng Thần “đánh” Tướng Trí về một vụ gì đó. Ông lên tiếng hết mình bênh vực và ca ngợi Tướng Trí, bị báo chí mỉa mai gọi ông là “Chuẩn Đại tá”. Ông chửi thẳng thừng: đám báo chí này bố láo! Chẳng biết tí gì về Tướng Trí, chỉ giỏi nằm nhà khoác lác! Với Tướng Trí thì đừng có giỡn mặt! Mới biết ông, ai cũng nhìn thấy ở ông sự cứng cỏi, nghiêm khắc, nhưng khi đã thân tình mới biết là ông cũng rất vui, thích đùa cợt. Có lần anh Hoàng Văn An (Khóa 20VB) kể lại: Năm 1970, An đang làm việc tại Sài Gòn, được Trung tá Thịnh cho vợ chồng anh được sử dụng căn cư xá của ông nằm trong Trại Đào Bá Phước, vì đơn vị của anh trú đóng gần nơi này. Một hôm Trung tá Thịnh đến thăm và rủ An đến thăm Tướng Đỗ Cao Trí và ông cụ Đỗ Cao Lụa, thân phụ của Tướng Trí. Ông cụ quý mến Trung tá Thịnh như là em út trong nhà. Trên đường đi, Trung tá Thịnh cười, bảo anh An: –Hôm nay chú mày sẽ được Tướng Trí rót rượu mời đấy! Biết tính ông anh rể của mình ưa đùa, anh An chỉ cười. Khi bước vào nhà Tướng Trí, chỉ có Cụ Lụa đón chào vui vẻ. Nói chuyện một chặp, Tướng Trí về với đầy đủ quân phục và cấp bậc 3 sao trên cổ áo. Tướng Trí vừa chào ông cụ và hai người khách, ông cụ bảo: –Trí! Mày đi rót mấy ly rượu mang đến đây. Tướng Trí là một đứa con chí hiếu và lễ phép. Rót 3 ly rượu whisky mang đến mời ông cụ cùng cả Trung tá Thịnh và anh An. An mặc thường phục và được Trung tá Thịnh giới thiệu là em vợ. Anh An bắt tay Tướng Trí mà thấy “run” trong lòng. Trên đường về, ông bảo An: –Chú mày thấy tao nói có đúng không? Quan ba mà được Tướng Trí bưng rượu mời, sướng nhé! Một lần, nhân dịp anh cố vấn trưởng bay vào Sài Gòn họp, chúng tôi theo trực thăng đáp xuống thăm ông ở Đồi Phượng Vỹ (Doanh Trại Trung Đoàn 52) sau khi ông vừa trở về từ chiến trường Cam Bốt. Ông mời bọn tôi uống rượu. Khoe đây là loại rượu đặc biệt, hảo hạng, có tiền không mua được. Ông kể lại chuyện ông chỉ huy Chiến Đoàn 52, sang hành quân “giải tỏa” Kampong Chàm. Thành phố sầm uất thứ nhì của Cam bốt sau Nam Vang. Khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, ông được ông In Tam, thị trưởng (sau này có thời là Thủ tướng của Cam Bốt) làm lễ đón tiếp ông long trọng như một vị anh hùng. Ông được mời vào dinh thết đãi, trước một đội vũ công toàn là những cô con gái đẹp. Ông thị trưởng In Tam bảo nhỏ, ông thích cô nào cứ chọn, ông nghiêm mặt lắc đầu. Ông thị trưởng cho cận vệ mang đến cho ông một xách Samsonite chứa đầy tiền. Ông bảo ông là một cấp chỉ huy của Quân đội VNCH thi hành nhiệm vụ, chứ không phải lính đánh thuê. Cuối cùng để làm vui lòng ông thị trưởng, ông theo xuống hầm rượu và lấy 6 chai rượu hảo hạng. Ông kể lại rồi cười: –Thấy gái đẹp và tiền từ trên trời rơi xuống thằng nào chả ham, nhưng lỡ đã đóng vai anh hùng rồi mà đưa tay lấy thì còn ra thể thống gì! Bọn tôi chọc ông, bảo là “Chef hơi quân tử tàu! Cứ xách cả hai thứ về đây thì bây giờ thầy trò mình lên hương và khắ khá rồi!”. Ông vỗ đùi cười. Lúc này trông ông thấy hiền khô. Ngày 23/2/1971 nghe tin Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, chúng tôi chắc chắn Trung tá Thịnh buồn lắm. Không biết ông có khóc và tiếc thương như lúc ông nghe tin Tướng Trương Quang Ân hy sinh gần ba năm trước? Vào đầu tháng 4/1972, tôi nghe tin ông chỉ huy Chiến Đoàn 52 (–) chỉ có 2 tiểu đoàn và đại đội Trinh Sát, đã rất khôn khéo và dũng cảm điều động phản công một cuộc phục kích qui mô của hơn hai trung đoàn địch tại khu vực Cần Lê (15 cây số Bắc An Lộc). Một cuộc phản công đẫm máu kéo dài gần bốn ngày trên một tuyến phục kích dài hơn ba cây số, mà địch chiếm hoàn toàn ưu thế về cả quân số cũng như địa thế. Cuối cùng Chiến Đoàn của ông đã gây tổn thất nặng nề cho địch và vượt khỏi vòng vây. Vị Trung tá Cố Vấn Mỹ, tuy bị thương, nhưng không chịu tản thương, ở lại bên cạnh Trung tá Thịnh, cùng chiến đấu và yểm trợ hết mình. Trên nhiều báo chí, có bình luận về chiến công này và đã dành cho ông nhiều lời khen ngợi: “Trung tá Nguyễn Bá Thịnh, gốc Nhảy Dù, là cấp chỉ huy tài giỏi, biết linh hoạt ứng phó trong mọi hoàn cảnh và trạng huống, về kỹ thuật lãnh đạo chỉ huy, ông rất được lòng các cấp dưới quyền và toàn thể các Cố vấn Mỹ thật tình kính nể mến thương. Trung tá Walter D. Ginger, Cố vấn trưởng, dù đã bị thương, nhưng từ chối tản thương, vẫn tình nguyện ở lại sống chết với Trung tá Thịnh cùng đơn vị bạn đồng minh của mình.” Tháng 6/1972, ông được đặc cách thăng cấp đại tá và sau đó một thời gian nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt để làm Tham Mưu Trưởng. Đến cuối năm 1973, ông lại nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Chỉ Huy Tham Mưu đảm trách chức vụ Trưởng Khối Giám Sát Các Lớp. Khi ấy, trường vừa ổn định sau khi từ Đà Lạt chuyển về Long Bình để tiếp nhận một khu doanh trại rất khang trang của Quân Đội Hoa Kỳ giao lại. Đầu năm 1974, nhân dịp theo học một khóa tham mưu tại Huấn Khu Long Thành, tôi đến thăm ông, và bất ngờ gặp thêm một ông trung đoàn trưởng cũ khác nữa, Đại tá Trần Quang Tiến. Hai ông ở chung trong một cái bunker (rất đẹp và đầy đủ phương tiện của một sĩ quan cao cấp Mỹ để lại). Ông nhất định tự tay làm cơm đãi tôi. Tôi ái ngại, xin phụ một tay, nhưng ông nghiêm mặt trợn mắt nhìn tôi: –Mày là khách của chúng tao. Chớ có lộn xộn. Ông bảo Đại tá Tiến nấu cơm và hái rau (do ông trồng), rồi rủ tôi mang cái vợt đi theo ông ra mấy trụ đèn điện phía trước để bắt con cà cuống. Ông bảo: –Món này mà thiếu mấy giọt cà cuống là vất đi! Lúc nào cũng vậy, ông hãnh diện về cái tài nấu nướng còn hơn cả tài đánh giặc và chỉ huy đơn vị của ông. Đúng là thức ăn ông nấu rất ngon, nhưng ngồi ăn với hai ông Thầy cũ tôi không thoải mái lắm. Nhớ tới ngày xưa, khi ông còn ở Trung Đoàn, mỗi lần được ông mời ăn cơm là bọn tôi cảm thấy như… hết đói! Ông dặn tôi, cứ cuối tuần lại ở đây chơi với ông. Có hôm ông còn dắt tôi đến chào Tướng Phan Trọng Chinh, Chỉ Huy Trưởng. Đó cũng là lần duy nhất tôi được gặp vị Tướng nổi danh này. Cùng gốc Nhảy Dù, nên Tướng Chinh có vẻ rất thân thiện và quý mến ông. Một thời gian, sau khi tôi rời khỏi Long Thành trở về đơn vị, thì ông cũng đi lãnh một trách nhiệm mới: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp. Năm 2003, nhân dịp từ Bắc Âu sang Cali thăm mấy đứa con đang theo học ở đây, tôi rủ vài thằng bạn cùng đơn vị cũ đến thăm ông. Ông vui lắm. Bây giờ tuổi đã khá cao, người ông trông càng nhỏ lại, nhưng tiếng nói vẫn đanh thép, đôi mắt vẫn sáng quắc, nhanh nhẹn như xưa. Và đặc biệt với phu nhân, ông vẫn tỏ ra uy quyền như lúc trước. Ông gọi bà từ nhà sau lên chào chúng tôi, rồi bảo: –Bà xuống lo mấy cái mâm nhang đèn, chút nữa đi lễ chùa, để bọn tôi nói chuyện! Vốn đã nghèo, sang Mỹ ông càng trắng tay. Dù khá lớn tuổi ông vẫn đi làm cho đến khi về hưu. Cũng như ngày xưa khi còn trong lính, bây giờ dù với những công việc rất tầm thường nhưng ông luôn vui vẻ và tận tụy làm tròn trách nhiệm. Với bất cứ ai ông cũng tỏ ra rất tư cách. Hầu hết đồng nghiệp trong sở nghe nói ngày xưa ông từng là đại tá chỉ huy một trung đoàn tác chiến, họ rất nể trọng. Ông bảo bây giờ ông bà ăn chay. Ông còn mời chúng tôi ngày mai trở lại ông sẽ tự tay nấu mấy món chay đãi bọn tôi. Bọn tôi tin là ông nấu rất ngon, nhưng thấy tội nghiệp ông, nên tìm cách chối từ. Chia tay ông, lòng chúng tôi thấy thật buồn và có chút xót xa, thương cho một con người hiến gần cả một đời cho quân đội, tạo biết bao chiến công và bao lần sống chết với đất nước, để rồi về già vẫn phải vất vả với kiếp tha hương. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Ông qua đời sau đó vài tháng, ngày 16/05/2003. Thời chỉ huy đơn vị chúng tôi, ông là một vị Trung Đoàn Trưởng tốt. Cương trực, liêm khiết, công minh, làm việc hết mình. Ông xem đơn vị như là nhà mình và đám sĩ quan như là em út trong gia đình. Lâu lâu trợn mắt, hò hét la rầy, nhưng rất thương yêu và không hề phạt thuộc cấp. Điều đáng nhớ nhất, là ông để lại cho chúng tôi rất nhiều giai thoại, để bây giờ, mỗi lần có dịp gặp nhau, nhớ tới ông bọn tôi thường kể lại như là những kỷ niệm vui, và cũng thật dễ thương của một thời binh nghiệp. Nhớ hôm lễ nhậm chức, sau khi tự nhận binh nghiệp của mình đi lên từ cấp bậc “binh ba”, ông bảo: “Các anh nên hãnh diện đang có một người chỉ huy như thế!” –Thưa vâng! Chúng tôi rất vui và cũng rất hãnh diện đã từng có một ông Thầy như thế. Phạm Tín An Ninh
***
*ÂU THỊ PHỤC AN: HỒN MA
Âu Thị Phục An

Khuya.
Không gian ẩm lạnh rơi trên tóc, trên vai tôi.
Ánh trăng yếu ớt soi những cành lá rung rinh trong bóng tối im lìm.

Cánh tay Phùng vẫn quàng nặng qua vai tôi, vẫn im lìm từ khi tôi rấm rức khóc.
Nước mắt có nói lên được gì, có xóa được gì của ngần ấy tháng năm chồng chất lên đời người, có giúp tôi tuôn trào được mọi u uất trong tim?

Khó quá. Khó quá. Tôi bất lực lúc lắc đầu. Tôi chà qua chà lại khuôn mặt mình trên hai cánh tay đang ôm lấy đầu gối. Bàn tay Phùng vỗ về nhè nhẹ.
Bóng tối như đồng lõa với hai con người đang đau đớn.

Cơn mưa buổi chiều còn để lại cái ươn ướt trên những ngọn cỏ mà chúng tôi đang giẫm lên. Mây đen chờn vờn che khuất mặt trăng đêm rằm, những tia sáng lờ mờ soi không rỏ tấm ảnh trên bia của ngôi mộ mà chúng tôi đang ngồi cạnh.
Hơi thở nóng của người đàn ông phủ ấm vùng gáy làm tôi rờn rợn. Tôi lại cọ quậy và Phùng lại vỗ vỗ trên vai tôi, “Nín đi em.” Nghe vậy tôi lại khóc hung.
Phùng nói “ Khi nào em có thể thì kể anh nghe nha.”

Đến đây thì tôi không còn chịu nổi nữa, tôi vùng ngẩng đầu lên và quay sang nhìn Phùng, tia mắt chúng tôi chạm nhau, và tia mắt Phùng vội né.
Cơn tức trào lên ngực tôi, khao- khát- cũng- trào- lên- ngực-tôi, răng nanh tôi mọc dài ra, và tôi cắn ngập lên cổ Phùng. Máu người đàn ông ngọt lịm.

Ánh trăng bị mây che khiến cho đêm khuya chợt tối sầm khi tôi nằm đè lên Phùng, tôi cười khoái chí khi Phùng cố ngồi lên và đẩy tôi ra.
Tôi thở hào hển vì phấn khích. Khi quá yêu một người nào đó thì chỉ còn một cách là giết chết người đó đi thôi.
Tôi quơ tay cầm lấy con dao nhọn và đâm phập lên tim Phùng.
Mà không, tôi vẫn còn thút thít khóc một cách hiền lành trong tay Phùng khi ánh trăng ló ra.

Tôi yêu anh từ năm mười lăm tuổi, khi hàng đêm, trong mùng, chị Hai tôi thì thào kể về anh cho tôi nghe.
Chị kể tới đâu tôi mơ màng tới đó, nhất là lúc Phùng hôn chị lần đầu dưới gốc dừa sau nhà.
Chị kể lúc Phùng ôm siết chị vào lòng và môi tìm môi ra sao, và bàn tay anh xoa nắn vú chị như thế nào, khi đó tôi cũng rùng mình ngất ngây theo chị.

Và cũng từ đó, mỗi khi Phùng ghé nhà xách theo cây đàn cùng chị Hai dợt văn nghệ cho trường thì tôi hay núp trong buồng lặng lẽ ngồi nghe say đắm tiếng đàn và tiếng hát của Phùng.
Tim tôi thường run lên khi có lúc nào đó, Phùng vô tình nhìn lướt qua tôi, hoặc có khi anh mỉm cười chào tôi, tôi muốn ngất.
“Kể cho anh nghe đi, vì sao chị Hai của em chết?”
Phùng thì thào qua tóc tôi.

Chuyện đó quá lâu rồi, gần bốn mươi năm có lẽ, một người chết non và một người thì biền biệt không biết đi về đâu. Tôi thì lặn ngụp trong dâu bể cuộc đời. Nghe Phùng hỏi, tôi lại thấy cay đắng, cùng lúc, nỗi hờn giận dâng tràn trong tôi.

Nhiều năm tháng tôi và chị Hai như hòa nhập vào nhau khi cùng yêu một người đàn ông. Chị vui là tôi vui. Chị khóc là tôi khóc.
Ngày hay tin Phùng cưới vợ chị run lẩy bẩy và khóc suốt, tôi thì nghe lạnh buốt toàn thân trong nỗi mất mát vì không còn được nhìn thấy anh nữa.

Sau đó, chị tôi thường hay nôn ọe. Phát hiện chị có thai, ba tôi đánh đập chị tàn nhẫn, những lúc đó, đôi mắt chị nhìn tôi lạc đi như một đôi mắt chết.
Mỗi khi ba tôi quất roi lên cơ thể chị, tôi cũng oằn oại như chị, tôi khóc, nhưng chị thì không khóc. Chị bặm môi nhăn mặt chịu đau, chỉ có đôi mắt to là cứ nhìn xoáy vào tôi chừng như ứa đầy nước mắt.

Cái đêm Phùng và chị quấn lấy nhau sau vườn, tôi ngồi canh ở bụi chuối gần đó. Tôi nín thở khi nghe tiếng chị Hai rên rỉ kêu đau rồi khóc rưng rức.
Tôi nghe tiếng Phùng vỗ về nho nhỏ. Rồi lại nghe chị rên rỉ. Những tiếng động lạ lùng. Những tiếng thở.
Tôi cứng người khi nghĩ đến đôi môi của Phùng và những ngón tay dài ngoằng của anh đang lướt trên thân thể chị. Tôi nhắm mắt. Tay Phùng cũng lướt trên tôi.Tôi lịm người trong bóng tối.

Chị Hai không đi đâu xa. Đúng vào ngày cúng bốn mươi chín, chị nhập vào tôi nói cười khúc khích rồi hờn dỗi khóc lóc làm cho cả nhà sững sốt và sợ hãi. Nhưng riết rồi cũng quen, tính chị hiền lành nên chị cũng là con ma hiền, không ai sợ mỗi khi chị về nữa.
Chỉ có điều tôi không còn được trò chuyện với chị, tôi chỉ gặp chị trong những giấc mơ buồn thảm. Có lần chị dắt một bé gái và khóc với tôi nói ráng tìm ba của nó.

Phùng vén tóc tôi. Những ngón tay lạnh ngắt chạm vào má tôi. Tôi biết mình khao khát như thế nào khi muốn ngậm những ngón tay ấy.
Mắt anh long lanh dưới ánh trăng mờ nhạt. Tôi nói: “Sau khi anh lấy vợ thì chị Hai phát hiện có thai.
Ba đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Em đã tiễn chị tới bờ sông, em đòi đi theo nhưng chị không cho, sau đó vài ngày xác chị nổi lên ở đầu cầu chợ.”

Phùng há hốc nhìn tôi. Cơ thể anh run lên. Cùng lúc đó một cơn gió lạnh thổi qua khiến tôi rùng mình ôm chặt lấy anh. Chưa bao giờ tôi thấy hạnh phúc như lúc nầy, bên Phùng, sau quá nhiều năm tháng nhớ mong.
Phùng khóc. Anh gục đầu lên tấm bia mộ chị Hai.
Trong tấm ảnh, mái tóc đen huyền của chị chợt dài ra vươn về phía người tình cũ, như một quấn quít không rời.
Âu Thị Phục An
***
* MÙI CỌP
– Anh ơi ! Tôi giả vờ ngủ.
Chúng tôi còn giận nhau. Thực ra tôi biết nàng trở về nhà vào lúc 12 giờ khuya. Nàng cởi bộ áo lấp lánh kim tuyến treo lên móc. Nàng vào phòng tắm. Tôi nghe tiếng chiếc gương xen nước chảy rào rào.
Tôi nghe cả tiếng cửa phòng tắm mở. Nàng nhẹ nhàng lên giường nằm cạnh. Tôi nghe tất cả, nhưng tôi thấy lúc chưa phải để giải hòa. Chúng tôi đã giận nhau hơn một tuần nay.
– Anh đi ngủ gì sớm thế ? – Nàng khẽ chạm vào vai tôi rồi nói nghe như một lời mời mọc.
– Mình ơi em vừa tắm xong – Nói xong nàng đột ngột lôi hẳn tôi quay lại. Nàng nói:
– Hôm nay em sẽ dành cho anh một sự ngạc nhiên !
Nàng ôm lấy tôi, mùi hương rất lạ thôi thúc tôi. Đó là mùi hoa hồng tôi chưa thấy nàng dùng đến bao giờ. Tôi tỉnh ngủ hẳn. Trong lòng tôi hiện tại là một cô gái mềm mại, dịu dàng và đặc biệt khác mọi lần là một mùi hương vô cùng quyến rũ. Mùi thơm đánh thức mọi giác quan. Nàng biến thành một phụ nữ hoàn toàn mới đối với tôi, và có lẽ đối với cả nàng. Tôi thấy trong cử chỉ của nàng một niềm vui thầm kín. Mấy ngày hờn trách nhau trước đây như tan biến đi cả.
Cuộc làm lành diễn ra như thế. Luôn luôn nàng tỏ ra là kẻ biết điều, còn tôi bao giờ cũng vẫn là một người cố chấp. Một tuần nay chúng tôi giận hờn nhau. Sự việc khá đơn giản.
Tôi bảo nàng bỏ nghề. Nàng không chịu. Tôi là giáo sư dạy toán tại một trường đại học danh tiếng. Còn nàng là một diễn viên và là người dạy thú. Nàng chuyên huấn luyện và biểu diễn với cọp. Kể về tiếng tăm nàng lừng lẫy hơn tôi rất nhiều. Thu nhập của nàng cũng gấp bội tôi. Nhưng tôi không chịu nổi cái nghề kỳ dị của nàng.
Nàng nói: “Em yêu lũ cọp. Chúng nó yêu em và em yêu nghề. Bỏ nghề này ra em biết làm gì ? Thư ký hay bán hàng ư ? Tìm một chỗ làm khó lắm. Nhưng còn tìm một thư ký thì dễ, còn tìm một người dạy thú như em thì rất khó. Em yêu cái không khí của gánh xiếc. Em sống quen trong cái khung cảnh này rồi”. Nàng nói gì thì nói, tôi vẫn thấy cái nghề này nó kỳ quái thế nào.
Kể cũng lạ cho cuộc hôn nhân này. Chúng tôi có nghề nghiệp và tính cách hoàn toàn khác hẳn nhau. Trước khi thành hôn, đã có người bảo chúng tôi không làm sao được hạnh phúc bên nhau lâu dài được đâu. Lúc đó cả tôi và nàng bất chấp mọi lời khuyên. Nàng có một ý tưởng ngộ nghĩnh mà khi đó tôi cũng cho rằng vô cùng thú vị. Nàng nói con chúng ta sẽ dũng mãnh như hổ và thông tuệ như anh !
Tôi xin kể lại buổi đầu gặp nhau. Lúc đó tôi chếnh choáng men say vì mấy cốc rượu của sinh viên trong buổi lễ phát thưởng cuối năm học. Có một sinh viên đưa ý kiến và được các bạn tán thành ngay: hay là chúng ta kéo nhau đi xem xiếc. Lần cuối cùng trong đời tôi đến rạp xiếc là lúc tôi lên chín. Từ đó đến nay tôi không để ý gì về loại hoạt động này.
Chúng tôi bước vào rạp xiếc vừa đúng lúc một tràng pháo to hào hứng nổi lên. Nhiều người đứng lên tặng hoa cho một cô gái đang rực sáng trong bộ áo xiếc đầy kim tuyến. Một ngọn đèn rất sáng từ trên cao chiếu thẳng vào nụ cười rạng rỡ của nàng. Cạnh nàng là ba con cọp to lớn nằm phủ phục. Thú thật cả đời tôi chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng hùng tráng đến thế. Một cô gái nhỏ nhắn khuất phục được ba chúa sơn lâm! Bỗng một sinh viên ấn vào tay tôi bó hoa cẩm chướng màu huyết dụ nó đẩy tôi: lên tặng hoa người đẹp đi thầy. Lúc đó thực tình tôi như một cái máy. Lần đầu tiên trong đời tôi lên sân khấu tặng hoa cho một diễn viên, mà lại là diễn viên dạy thú.
Có lẽ nàng thấy bộ mặt ngờ nghệch và cặp mắt kính cận thị quá dày của tôi hoàn toàn lạc lõng giữa một khung cảnh ồn ào đầy sự kích động nên nàng tặng cho tôi một nụ cười : “Chắc đây là lần đầu tiên ông đến xem chúng tôi biểu diễn ?”
Lại gần, tôi thấy nàng rất đẹp. Một khuôn mặt thanh tú, mái tóc mềm óng ả như tơ. Có một điều mà tôi cho là khác thường là khuôn mặt nàng rất tươi nhưng hoàn toàn không một chút phấn son. Có lẽ nàng còn ánh lên trong ánh hào quang rực rỡ của sự thành công. Phải thú nhận rằng nghề nghiệp của tôi dù thành công đến mấy tôi cũng không bao giờ hy vọng có những giây phút được nhiều người ngưỡng mộ như thế này. Định mệnh đã xui khiến tôi nói với nàng một câu mà từ trước đến nay tôi chưa bao giờ thốt ra với một người phụ nữ nào. “Tôi vô cùng hâm mộ tài nghệ của cô. Sau buổi diễn, nếu cô vui lòng, – chúng ta sẽ gặp nhau tại…”. Nàng nói rất khẽ : “Xin hân hạnh”.
Sau đó chúng tôi còn gặp nhiều lần. Chúng tôi thích nhau vì cảm thấy trong việc này có cái gì là lạ. Theo cách nói của nàng thì đấy là một cuộc kết hợp vô tiền khoáng hậu giữa sức mạnh và trí tuệ. Cuối cùng chúng tôi quyết định đi tới hôn nhân. Lễ kết hôn của chúng tôi thật đáng nên kể lại.
Bạn phía tôi gồm toàn thượng lưu trí thức. Mấy ông bà này rất tiết kiệm nụ cười và lời nói đùa. Trái lại phía nàng là cả một rừng náo nhiệt. Họ uống rượu, nói cười và phá phách như điên. Tôi bắt đầu yêu mến cái thế giới xiếc từ buổi gặp gỡ này. Anh chàng làm hề tung hứng lấy bốn chiếc đũa biểu diễn ngay trên bàn tiệc. Anh chàng ảo thuật lấy chiếc khăn ăn đậy lên tô xúp rồi hô: biến. Chẳng có cái gì biến ra cả. Chỉ có biến ra một trận cười hào hứng.
Mấy chàng hề tha hồ chọc cười. Quý vị giáo sư lần hồi cũng trút bỏ bộ áo đạo mạo tham gia vào cuộc vui. Rượu chảy như suối. Một ông giáo sư cao hứng đứng lên hát tặng cô dâu và chú rể một bài. Bài hát Người đẹp và quái vật. Ông này muốn ám chỉ quái vật là tôi ? Tôi thật xấu trai và có thể bảo quê mùa. Một phụ nữ chuyên diễn màn nhào lộn hát thực to : “Đêm động phòng ông giáo coi chừng bị hổ vồ !” Anh chàng biểu diễn trên lưng ngựa cũng gào to : “Cô dâu nhớ mang roi dạy hổ vào phòng. Nếu “nó” làm ăn bôi bác thì quất cho mấy roi !”.
Đêm tân hôn cũng không bị hổ vồ cũng không bị quất roi nào. Nàng cao lớn và hùng dũng trên sàn diễn bao nhiêu, lại nhỏ nhắn và mềm mại trong lòng tôi bấy nhiêu.
Tôi cũng không ngờ rằng tính tình nàng lại dịu dàng đến thế. Nàng bảo: “Người dạy thú cần nhất là phải yêu thương và dịu ngọt với chúng”. Có lẽ tôi hiện là một con thú được nàng yêu thương chiều chuộng đây.
Có một điều mãi mãi còn lại trong tôi sau đêm tân hôn là từ thân thể nàng và rõ nhất là trong mái tóc nàng có một mùi nồng hăng hắc. Sau này tôi mới biết đó là mùi cọp. Một mùi không thể nào quên được.
Thời kỳ trăng mật và những năm tháng qua đi. Chúng tôi sống với nhau khá hạnh phúc. Chúng tôi có rất ít thời gian gần nhau. Mùa đông nàng lưu diễn. Tôi thường đi đây đó dự hội nghị, hội thảo, có khi ở nước ngoài. Vì thế giây phút gặp nhau trong ngày đối với chúng tôi hết sức quý giá. Còn nghề của nàng không bao giờ hết những chuyện lý thú. Có hôm nàng kể chuyện con gấu Tô Tô không chịu ra diễn. Chẳng ai hiểu vì lẽ gì. Sau mới biết hôm đó đúng là ngày loài gấu ngủ đông.
Chuyện con Đác Lắc, một con cọp cái dài hơn hai mét và nặng hơn một tạ rưỡi mà theo nàng là một con vật duyên dáng nhất là vừa sinh lứa con đầu lòng. Có hôm nàng kể một chuyện cảm động. Một con ngỗng trong khi trình diễn rủi ro bị con ngựa dẫm phải. Trước lúc chết nó dang đôi cánh rộng ôm lấy chủ nó. Chủ nó khóc sướt mướt thề rằng suốt đời không bao giờ huấn luyện một con ngỗng nào nữa. Có hôm nàng trao cho tôi xem một bức thư tỏ tình của một anh chàng nào đó giấu trong bó hoa trao tặng nàng…
Không biết các bạn đồng diễn có ai chế nhạo nàng về việc chọn một ông giáo làm chồng hay không. Còn tôi thì bị không ít lời chế diễu. Cô thư ký trẻ đẹp và chưa chồng ở trường tôi hỏi rằng có bị vợ bắt nhảy qua vòng lửa hay không? Có cô càng sỗ sàng thách thức hỏi tôi con cọp cái đó mỗi khi lên giường ngủ nó có cào xé và kêu gào hay không. Đôi khi chúng tôi ra phố, thiên hạ nhìn vợ chồng chúng tôi với cặp mắt tò mò. Tôi rất khó chịu. Về sau tôi không đi đâu với nàng nữa.
Chỉ có một lần tôi thấy nàng tỏ ra khổ sở, lúng túng về cái nghề đặc biệt của mình. Đó là lần chúng tôi đi dự sinh nhật một người bạn. Con chó của nhà chủ tỏ ra thân thiện với mọi người chỉ trừ có nàng. Nó sủa vang và còn muốn cắn xé. Quý bà nhìn nhau như thầm bảo: kìa xé mãnh hổ đang địch quân hổ! Lần đó tôi thấy nàng rất khó chịu và giục tôi về sớm.
Đến nhà nàng nói : “Chắc anh khổ vì cái mùi cọp của em lắm phải không ?” Đây là lần đầu tiên tôi nghe đến đúng tên cái mùi hăng hắc này. Tôi trả lời để an ủi nhưng chắc không thực với lòng mình. “Không, hoàn toàn không, anh yêu em và yêu luôn cái mùi cọp này”. Nàng cười bảo : “Anh nói dối. Em biết anh không thích. Tháng trước anh viện cớ giường chật đòi ngủ riêng. Mọi người đàn bà được phép thơm tho còn em thì không”.
Tôi hỏi tại sao, nàng nói “Con vật, nhất là cọp, nó không nhận biết bằng mắt mà bằng mũi. Một mùi lạ có nghĩa là một kẻ thù !”. Nàng nói với một giọng ân hận và buồn buồn : “Em biết anh rất khó chịu vì em đem cái mùi của ác thú vào tận phòng ngủ…”
Đêm hôm sau cái đêm nàng làm lành với tôi, nàng gặp nạn. Tôi đến nơi thì nàng đã qua đời. Tôi đau đớn cùng cực ôm lấy nàng. Trong làn tóc nhung mượt và đen thẫm, tôi còn nghe thoang thoảng một mùi hương hoa hồng mà nàng đã tắm hôm qua ! Dưới ánh đèn thật sáng và trong bộ áo xiếc thấm đầy máu, khuôn mặt nàng yên tĩnh như đang trong một giấc mơ. Tôi khóc. Cả đời tôi không bao giờ khóc như hôm nay. Tôi thét lên thật to : “Tại sao em biết rõ hơn ai hết mà em vẫn làm thế ? Vì sự ích kỷ của tôi đấy ư ?”. Tôi muốn gieo mình xuống chín tầng địa ngục để ăn năn.
Ngày hôm sau ông chủ gánh xiếc cho tôi biết tất cả sự việc diễn ra trong cái đêm hãi hùng ấy: “Con cọp Đác Lắc mấy ngày qua nó bệnh hoạn và trở tính hung dữ. Hình như nó thấy chồng nó bị đem nhốt qua chuồng một con cọp cái khác. Tôi có một linh cảm về một chuyện gì đó nên dặn cô ấy: hay là tối nay bỏ tiết mục xiếc cọp.
Nhưng cô ấy cương quyết và rất tự tin nói với tôi : “Không, nhất định không. Người dạy thú không cho phép mình nhút nhát! ” Rồi nàng kiêu hãnh tiến ra sàn diễn trong một tràng pháo tay cỗ vũ nồng nhiệt. Ba con thú tỏ ra phục tùng tuyệt đối dưới làn roi điều khiển của nàng. Theo đúng kịch bản. Con Đác Lắc chuẩn bị nhảy qua vòng lửa. Nàng đứng trước mặt nó và quất một roi vào không khí, con thú nhảy lên chiếc ghế cao. Nàng bước tới giơ cao vòng lửa. Bỗng nhiên tôi thấy con thú thu mình lại. Nó nhìn nàng bằng cặp mắt kỳ lạ.
Tôi cho tay vào cây súng dưới áo mở nắp bao da. Thật là nhạy bén và bình tĩnh đến rợn người. Cô ấy nhận ra tất cả. Cô ấy biết con thú sắp sửa tấn công mình. Cô ấy cũng đã nhận ra việc tôi định dùng súng giết con thú. Cô thét lên : “Đừng bắn !…” Cũng là lúc con Đác Lắc lao vào người cô như một khối đá. Trễ rồi, cô ấy đỗ xuống sàn diễn. Con ác thú say máu quay lại. Tôi nổ súng. Tôi nhào đến. Chiếc áo trắng lấp lánh kim tuyến loang máu. Cả rạp như đông cứng lại trong sự hãi hùng, tôi chỉ kịp nghe cô ta thì thào rất yếu : “Con Đác Lắc chết rồi sao ? Tội nghiệp nó, nó còn bốn con dại. Không phải lỗi tại nó. Lỗi tại tôi…”
Qua giây phút hãi hùng đó, ban nhạc sực tỉnh, chơi một khúc quân hành rời rạc. Theo truyền thống nghề xiếc, bất cứ lâm vào tình trạng nào vẫn tiếp tục trình diễn. Nhưng không còn ai muốn xem, không còn ai muốn diễn. Cuối cùng ban nhạc cũng ngừng. Rồi thì cả rạp yên lặng như một nhà mồ. Mọi người đều trông tin từ bệnh viện. Một giờ sau nàng qua đời. Tôi lê ra sàn diễn nghẹn ngào báo tin. Khán giả không ai chịu ra về. Bao nhiêu là hoa đặt vào nơi nàng đã ngã xuống. Mấy anh hề hai mắt đỏ hoe thất thểu ra sân…

Quí Thể
***
*HỒI KÝ:

*DUY NHÂN: NGƯỜI KHÔNG NHẬN TỘIDUY NHAN

Tôi biết anh khi cùng đến trình diện “học tập” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Sau
khi ra trường, anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân hàng Quân Đội ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm, Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “biên chế” cùng tổ, đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ, Kha Tư Giáo.
Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “cải tạo viên“ còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ,

đội. Mỗi ngưởi phải viết “bài thu họach” những gì mình “tiếp thu” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “liên hệ bản thân,” xác định mình là người có tội với

nhân dân, với “cách mạng.” Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng (như tôi và anh Kha Tư Giáo) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân…Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Đó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “giúp đỡ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy: TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần nói, anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “ nín thở qua sông ”, họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm

gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa Cộng Sản và lương tâm không cho phép.
Khi tất cả cán bộ ở trại đều bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VĐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn ( ?). Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thọai. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được.

Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm và trầm tĩnh, anh Giáo nói :
– Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội?
Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng:
– Các anh chỉ là tay sai đế quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…
Anh Giáo ngắt lời:
– Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20/7/1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận.
Tên sư trưởng phản ứng:
– Các anh là công cụ Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào.
Anh KTG:
– Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Đồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam.
Tên sư trưởng:
– Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
– Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu Tự Do, Dân Chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng.
Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe:
– Quân phản động!
Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng:
– Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình.
Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời:
– Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đọan lịch sử nhất định. Đến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc,

đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm, trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài.
Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp:
– Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc!
Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng:
– Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội?
Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng.
Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến
cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào, anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về. Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa. Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm tin và Hy vọng, Anh lính quân bưu vui tính…Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình.

Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “giúp đỡ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ “giúp đỡ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều.
Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm. Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi:
– Chi vậy?
– Mai mốt về tặng người yêu – Anh trả lời.
– Chắc là cô bạn rất thích hoa này?
– Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng.
– Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi – Tôi e ngại.
– Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó!
– Anh lãng mạn quá – Tôi nhận xét.
Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết!
Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà

yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao?
Đêm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay, khi tôi viết bài này là ba muơi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký: Đau đớn thay những linh hồn cháy lửa
Suốt đêm ngày tắm rửa với mồ hôi
Với cao tay quờ quạng chút hơi người
Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm
Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “cải thiện” bửa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “tiến bộ”. Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt: Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng.

Đoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằng ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục. Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một ngừời không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Điều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Đến khi đuối lý, tên cán bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh, nghiêm sắc mặt:
– Anh có đứng lên không?
– Tôi còn mệt.
– Anh không chấp hành lệnh phải không?
– Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi.
Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo:
– Anh không đứng lên tôi bắn.
Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp:
– Anh cứ bắn đi!
Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán lọan, kêu quang quác… Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực:
– Lại Chúa tôi.
Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “Hòa bình” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình!
Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Điêu Đại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội
bớt căng thẳng. Sau một thời gian ở Phú Quốc, Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh. Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại thích hơn.
Nhưng thời khắc định mệnh đã tới! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời, không có mái che mưa che nắng.
Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ.” Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ĐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Điều này được giải thích như thế nào đây? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Đêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu:
“Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối…
Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…” Có lẽ trong giờ phút đó, anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Đây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Đêm Nguyện Cầu là của Lê- Minh- Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong
hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng.
Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng.

Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa.
Tôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình
anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi “Kinh Tế Mới”. Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn

là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Định, quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả.
Trong suốt hai mươi năm ở SàiGòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997. Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Điều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “Viết về nước Mỹ”. Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến

với gia đình anh KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Autin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng. Chiều chủ nhật 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thọai từ Texas:
– Hello! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải…
– Tôi, Duy Nhân đây.
– Chào anh Duy Nhân! Có phải anh là tác gỉa bài viết Người Không Nhân Tội?
– Tôi đây chị.
– Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy…
Tới đây thì tiếng nói đứt quãng. Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây. Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói:
– Đây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay.
– Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm.
– Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi.
– Bài viết của anh nói lên được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về Cộng Sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo Cộng Sản suốt đời cũng không
hiểu được.
Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết
thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Đó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Đến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên là không thể nào tìm được! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không

phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Đông ở một góc sân banh.

Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc.
Sau chi HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thọai. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc.
Anh Kha Tư Giáo ơi! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào… Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự thật, ngọai trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người. Gia đình anh có nhiều thay đổi: Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Đức nhưng lại viết sai chính tả! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngã. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ… Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng.
________________________________
GHI CHÚ: (1) Bài viết Người Không Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do Ban kịch Sống – Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36.

(chủ đề Người Lính) tưởng niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975 – 30/4/ 2002). Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước.
Ảnh: có tính cách minh hoạ.
***
* Chuyện Tình H.O sau 1975
Chuyện Tình H.O sau 1975

Mời anh em và các bạn đọc. Xin chuyển nguyên bài dù có một ít lỗi chính tả.
(Tác giả Cửu Long: Viết theo lời kể của một H.O)

Xem rồi, đọc lại vẫn còn thấy cảm động. Tình con người Miền Nam

Truyện ngắn cảm động: chuyện tình thời chinh chiến “CHỊ NGUYỆT “
Câu chuyện thật của người trong cuộc và những thương tâm cho những nhân vật chính.

Thuy Đức Phạm

Chị tên Nguyệt, lúc đó chị khoảng 13 tuổi, còn tôi khoảng 11. Theo lời người ta kể thì chị mồ côi cha mẹ được vợ chồng người hàng xóm đem về nuôi. Ông Bà Chín không có con nên họ xem chị như con cái trong nhà, cho chị đi học. Đổi lại, chị phải dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc Ông Bà Chín. Chị học trên tôi hai lớp, tôi đệ thất, còn chị lớp đệ ngủ. Theo như chị kể lại, quê chị ở Tân Thành, Việt Cộng về chiếm làng, ba má chị mất tích chỉ hai ngày sau đó. Người cậu của chị phải dẩn cả gia đình chạy di tản ra quận lỵ nơi tôi ở. Họ dẩn chị theo nhưng không đủ điều kiên nuôi cả gia đình gần 10 người nên cho Ông Bà Chín làm con nuôi.

Nhà chị đối diện nhà tôi trên đường dẩn ra bờ sông Tiền Giang. Buổi sáng đầu tiên tôi gặp chị trong bộ bà ba đen củ đã ngả màu phèn vàng úa và đôi dép đứt quay phải nối lại bằng giây kẽm. Chị đang quét nhà, từ trong ra ngoài thì bị bà Chín rầy, bảo phải quết từ ngoài vào trong. Bà giải thích quét ra là đẩy hết cái phước ra ngoài, phải quét vô để nhận được phước. Tôi thấy hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc nên vội chạy tới hỏi:
– Bộ mầy mới tới đây làm cho bà Chín hả?
Chị trả lời:
– Hông phải, tao là con nuôi của ba má Chín.
Tôi nói với chị:
– Tui tên Bình, nhà tui bên đó.
– Tao tên Nguyệt, mầy mấy tuổi?
– 11
– Tao 13, mầy phải gọi tao bằng chị.
– Ừ, chị Nguyệt hé.
Vậy là tôi làm quen được với chị từ đó. Năm chị học hết đệ tứ thì phải thôi học do Ông Chín bịnh nặng rồi qua đời, Bà Chín một mình không đủ điều kiên cho chị tiếp tục đi học. Mỗi ngày chị ra sạp vải ngoài chợ tiếp Bà Chín buôn bán.

Năm tôi 15 tuổi phải xa nhà lên tình tiếp tục học thi tú tài một, rồi tú tài hai nên ít khi được gặp lại chị. Sau khi đậu tú tài hai chuẩn bị vào đại học thì nghe tin Bà Chín cũng vừa qua đời, bỏ lại ngôi nhà củ nát vì không có người đàn ông chăm sóc. Lúc này tôi đang rảnh rang nên tình nguyện giúp chị sửa sang lại căn nhà của chị được thừa hưỡng. Mỗi ngày trước khi chị ra sạp vải, chị hay hỏi tôi cần mua vật dụng gì để chị gọi người đem tới, tôi khỏi phải mua. Sau ba tháng hè, tôi cũng tạm sửa lại căn nhà của chị, tuy không khéo nhưng cũng không dột trước hổng sau.

Khi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, tôi nhập quân ngũ, vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường về thăm ba má thì gặp lại chị Nguyệt. Lúc nầy chị đã là gái đôi mươi, có rất nhiều chàng trai đang theo đuổi nhưng chị vẫn phòng không gối chiếc. Nhiều lần chị tâm sự với má tôi:
– Con trai cái quận nầy sao mà như công tử bột, tối ngày chỉ biết lo tán gái, nhậu nhẹt, nhìn như cọng bún thiu cô nào vô phước mới rước họ về làm chồng.

Hai tuần phép qua rất nhanh. Ngày tôi chuẩn bị trình diện sư đoàn, chị đem tượng Phật nhỏ qua đưa cho tôi, bào giữ trong người làm vật hộ thân. Hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc. Tôi vội nói:
– Vài bửa có phép thường niên tôi về thăm chị. Chị ráng giữ gìn sức khỏe.
– Bình đi mạnh giỏi, Nguyệt mỗi đêm sẽ đọc kinh cầu xin Trời Phật che chở cho Bình.
Tôi hơi giật mình khi chị xưng Nguyệt chứ không còn mầy tao như ngày xưa. Thật sự mà nói, lúc nào tôi cũng vẫn xem chị như người thân trong gia đình, không có một chút tình cảm trai gái giửa tôi và chị.
– Cảm ơn chị lo lắng cho tôi.
Tôi ra đi biền biệt. Hơn mười tháng sau tôi trở về thăm nhà sau khi xuất viện do bị thương chân phải. Đêm đầu tiên vừa về tới nhà là chị qua thăm, hỏi như muốn khóc:
– Sao Bình bị thương mà không cho Nguyệt hay để đi thăm?
– Vết thương không có gì trầm trọng lắm đâu chị, vả lại tôi không muốn chị lo lắng, lặn lội đường xá xa xôi nguy hiểm cho chị.
– Bình nói vậy coi Nguyệt như người dưng sao?
– Đâu phải vậy chị, tôi thương chị như người thân trong nhà mà.
– Ừ nhớ đó nhe, thương như người thân trong nhà.

Trong những ngày phép dưỡng thương đó nhiều khi chị làm bộ gọi tôi qua sửa dùm cây đèn dầu hay đóng lại chân bàn bị lung lay. Chị nấu đủ món cho tôi ăn, bảo là tẩm bổ để khi trở lại đon vị có đũ sức đi hành quân. Có ngày chị đóng cửa sạp vài, lấy cớ mệt về nhà nghỉ. Chị bảo muốn về để gần gủi, tâm sự với tôi trước khi về đơn vị. Không biết ba má tôi nghỉ gì mà cứ thỉnh thoảng hỏi khi nào tôi lập gia đình. Tôi viện cớ đang thời chiến tranh chưa muốn lập gia đình.
Lần lượt hai đứa em gái tôi lấy chồng phương xa, bỏ lại ba má tôi già yếu. Thằng em trai còn đi học viện đại học Cần Thơ, được hoản dịch phải bỏ học về nuôi ba má. Tôi thì ra đi biền biệt, cả năm mới về thăm nhà. Mỗi lần về chỉ năm ba hôm rồi lại ra đi. Chị thì vẫn phòng không đơn chiếc. Có lần tôi hỏi:
– Sao chị chưa chịu lấy chồng để có người lo lắng trước sau cho chị?
– Bình nhìn chung quanh đây xem ai là người xứng đáng cho Nguyệt nâng khăn sửa túi? Nguyệt thà ở giá suốt đời chứ không muốn chung chăn với những người hèn nhát, chạy chọt giấy tờ trốn quân dịch.
– Vậy cớ người đàn ông như thế nào chị mới chịu?
– Người ấy phải giống như Bình, sống đời trai hiên giang lo giúp nước, diệt giặc, bảo vệ quê hương.
– Vậy để tôi tìm ông nào trong đơn vị giới thiệu cho chị nhe.
– Đồ quỉ, đùng có chọc Nguyệt như vậy nữa, Nguyệt nói thiệt mà.

Cuộc đời cứ thế trôi đi. Ngày 30 tháng 4 1975 tôi bị bắt rồi đi tù trại cải tạo Vườn Đào. Năm sau chị đến thăm tôi. Chị cho hay thằng em tôi bị bọn công an phường bắt tội phản động. Nó rải truyền đơn nên bị bắt. Họ đánh nó chết trong tù. Hai đứa em gái theo chồng vượt biên ngày đất nước rơi vào tay cộng sản, không biết tin tức gì cho đến nay. Ba má tôi bịnh nặng không đi thăm tôi được nên nhờ chị đi dùm. Chị còn kể là sạp vải của chị đã bị xung vào hợp tác xã. Bây giờ chỉ sống nhờ chăm sóc khu vườn nhỏ của ba má tôi kiếm huê lợi nuôi sống ba má tôi và chị. Nhìn chị già đi rất nhiều so với ngày xưa. Mắt chị hoằn đen, hốc hác, tiều tụy đi. Tôi cũng không hơn gì chị sau một năm tù đày, lao động, thiếu ăn.

Ba má tôi lần lượt qua đời không có một đứa con về để tang. Chị phải bán ngôi nhà của chị để có tiên chôn cất ba má tôi. Đều dặn mỗi ba tháng là chị đến thăm một lần, tiếp tế cho tôi thêm chút thức ăn phụ vào phần ăn ít ỏi của người lính tù thất trận. Bốn năm sau thì họ thả tôi. Ngày ra trại với vài chục đồng chi phí xe cộ và mảnh giấy ra trại. Tôi với năm người bạn tù đi bộ ra đến chợ Mỹ Phước Tây đón xe ra Cai Lậy. Mấy bà bán hàng trong chợ nhìn chúng tôi trong bộ quần áo rách bươm liền gọi:
– Mấy cậu vô đây ăn sáng rổi hãy đi, 2 tiếng nữa xe mới chạy.
Họ đem cho chúng tôi 6 dỉa cơm sườn bì và sáu ly cà phê đen. Đó là bửa cơm ngon nhất trong bốn năm đời tù cãi tạo của tôi. Mọi người chung quanh bu nhau kẻ cho trái băp, người cho gói xôi bảo là để dành đi đường ăn đở đói. Chúng tôi nhìn họ mà nước mắt cứ tuôn tràn không nói nên lời, dù chỉ một tiếng cám ơn. Khi đến giờ xe chạy, người tài xế xe nhất định không lấy tiền cho dù chúng tôi cố dúi tiền vào tay anh. Tôi nhớ lại tên quản giáo Ba Phần lên lớp chúng tôi:
– Các anh có tội rất lớn với nhân dân. Chúng tôi giữ các anh trong vòng rào kẻm gai là để bảo vệ các anh vì nhân dân sẽ trả thù cho những tôi ác các anh đã gây ra.
Nhân dân chợ Mỹ Phước Tây đã trả thù chúng tôi với những dĩa cơm sườn, những gói xôi, những trái bắp mà họ có thể để dành cho người thân của họ trong lúc cả nước phải thắt lưng buột bụng trong thời kỳ bao cấp, củi quê gạo châu này.

Khi xe đến Cai Lậy thì khoảng 2 giờ chiều. Năm người bạn tù chờ xe về Sài Gòn, còn tôi về miền Tây. Anh lơ xe chạy ra ngã ba Cai Lậy ngoắc xe lại gởi tôi lên chuyến xe cuối cùng. Trước khi lên xe, anh đưa cho tôi một ổ bánh mì thịt rồi chào tay kiểu quân đội. Như cái máy, tôi chào lại vì theo phản ứng tự nhiên của một người lính VNCH dù đã thất trận. Anh nói vội rồi chạy vào trong chợ Cai Lậy.
– Ông thầy đi đường bình an.
Tôi nhìn theo anh lơ xe, cố nhớ gương mặt anh để khi nào có dịp tôi sẽ trả lại ơn nghĩa anh đã dành cho chúng tôi. Một lần nữa, anh tài xế nhất định không chịu lấy tiền xe. Mấy người đàn bà trên xe nhìn tôi với ánh mắt thông cảm. Họ nhường cho tôi một chổ ngồi hàng ghế cuối xe.
Tôi về đến nhà khoảng 10 giờ đêm. Ngôi nhà cũ kỷ cửa đóng im lìm. Tôi gõ cửa.
– Ai mà gõ cửa ban đêm ban hôm vậy?
Tiếng chị Nguyệt đang ngáy ngủ từ bên trong.
– Bình đây chị.
Tôi nghe tiếng chân trần chạy hấp tấp ra cửa. Chị Nguyệt mớ cửa rồi ôm lấy tôi khóc:
– Nguyệt không biết Bình về hôm nay. Có đói không để Nguyệt hâm cơm lại cho Bình ăn?
– Trên đường về tôi được người ta cho ăn nhiều lăm, đến giờ còn no lắm.
Tôi đến trước bàn thờ ba má, quì lạy xin lỗi tội bất hiếu không về chịu tang ngày hai người mất. Tôi nhìn khói nhang quyện vòng theo cây đèn dầu le lói như ba má về thăm thằng con xấu số mới ra tù. Tôi quì trước bàn thờ mà nước mắt cứ tuôn tràn.
– Ba má tha tội cho con, vì hoàn cảnh tù đày mà con không về để tang cho ba má.
Chị đặt tay lên vai tôi:
– Hai bác rất hiểu cho Bình, đừng quá đau buồn, hảy ráng lên để đối đầu với những ngày sắp tới.

Và những ngày sắp tới đến với tôi trong khổ cực của “thằng sĩ quan Ngụy”. Họ bắt tôi trình diện hàng tuần, không được đi xa khỏi xã. Tất cả những hành vi của tôi đều bị theo dõi. Đôi khi bọn công an xã đến gõ cửa ban đêm để kiêm tra, xét nhà và muốn biết chắc chắn là có tôi trong nhà. Tôi sống như người bị giam lỏng trong nhà tù lớn.
Tôi nhìn chị chăm sóc cho tôi từng miếng ăn, giấc ngủ như một người vợ lo cho chồng mà nghĩ đến cái vô tình của tôi.
– Chị Nguyệt.
– Gì đó Bình?
– Tôi muốn hỏi chị chuyện nầy.
– Ừ, Bình nói đi.
Ngập ngừng một hồi tôi nói:
– Chị nhớ lúc mới quen, chị bảo tôi phải gọi chị hay không?
– Nhớ chớ sao không. Những ngày vui đó qua mau quá.
– Chị còn muốn tôi gọi chị nữa hay không?
– Vậy Bình muốn gọi tôi gì đây?
– Tôi gọi chị là vợ tôi được không?
Chị Nguyệt nhìn tôi với ánh mắt rất ngạc nhiên rồi đổi sang mừng rỡ:
– Em chờ câu nói đó của anh lâu lắm rồi.

Hai tháng sau chúng tôi làm đám cưới. Tiệc cưới rất đơn giản, chỉ mời bà con lối xóm. Hai năm sau Nguyệt cho tôi đứa con trai đầu lòng. Tôi đặt tên Nhẩn để nói lên cái nhẩn nại của chị dành cho tôi. Năm sau nữa thì chị cho tôi thêm đứa con gái, chị đặt tên nó là Cam để nói đến cái cam khổ của vợ chồng chúng tôi.

Một hôm đầu năm 1990, chị chạy hớt hãi về nhà:
– Anh ơi! Họ muốn cho mình đi định cư bên Mỹ.
– Em lại mơ tưởng viễn vong. Ai lại cho thằng sĩ quan Ngụy như anh đi khỏi Việt Nam.
– Đây nè, coi đi.
Chị đưa cho tôi xem tờ báo cho biết Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho tù nhân chính trị được đi định cư tại Mỹ ký ngày 30/7/1989. Lòng vòng lo nạp đơn, lót tiền cho họ ký giấy cũng hơn hai năm. Tôi dở mộ đem xương cốt ba má thiêu rồi đem gởi vô chùa vì tôi biết là sẽ lâu lắm mới trở lại quê hương nầy. Tuy đã nuôi tôi lớn lên, tuy nhiều người vẫn còn tình người sẳn sang đùm bọc che chở người thất trận. Nhưng tôi phải ra đi để con tôi có tương lai hơn, có nhiều cơ hội để vương lên với đời hơn.

Bao nhiêu tiền chúng tôi dành dụm đều cạn sạch. Ngày gia đình tôi lên máy bay đi Mỹ, trong túi còn đủ 200 đồng đô la sau khi bán nhà, bán đất của cha mẹ để lại. Đáp xuống phi trường JFK thành phố New York. Cả gia đình hai đứa em gái tôi có mặt đầy đủ đón gia đình tôi. Ba anh em chúng tôi ôm nhau khóc sau hơn 17 năm xa cách. Mấy đêm đầu tiên tôi không ngủ được, vừa lạ chổ, vừa lo lắng cho tương lai sắp đến. Mình phải làm gì lo cho gia đình, cho con cái đi học, và đủ mọi chuyện cứ liên tục hiện lên trong đầu. Từ quê hương bỏ lại sau lưng, từ quê hương thứ hai sẳn sàng bao dung cho người lính thất trận.
26 năm sau, nhìn lại từ ngày đến đất nước Mỹ giàu lòng nhân đạo nầy, hai đứa con tôi đã ra trường đi làm xa. Vợ chồng tôi nghĩ hưu dời về vùng đất ấm Florida. Chị Nguyệt nay đã gần 70 nhưng vẫn còn nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam luôn lo cho chồng, cho con. Sáng nào tôi cũng có ly cả phê sữa nóng ít sữa, còn chị thì vẫn một ly trà cúc đường phèn. Nhiều lần tôi nói lời cảm ơn chị đã cưu mang ba má tôi khi tôi còn trong tù cải tạo. Chị chỉ cười đưa hàm răng khểnh rồi nói:
– Em kết anh từ lúc mình mới gặp nhau lần đầu.
– Vậy tại sao bắt người ta kêu bằng chị?
– Làm chị cho nó oai chút chơi mà …
– Lúc nào em cũng là Chị Nguyệt của anh.

•Cửu Long – Viết theo lời kể của một HO.
***
* Nguyễn thị Tự Tập : Chuyện tình thời chiến tranh
Chuyện tình thời chiến tranh

Nguyễn thị Tự Tập

Lời nói đầu:

“Đây là câu chuyện thật của chị tôi,
Cô giáo S. Trường Tiểu Học C.G và
Thiếu Úy T.B Thủy Quân Lục Chiến.
Bài viết này xin đề tặng cho 2 người
và cũng để hoài niệm một thời tuổi
trẻ Việt Nam trong chiến tranh”

(Người kể: Nguyễn thị Tự Tập)

* * *

Vâng, Câu chuyện ấy xảy ra vào thời kỳ chiến tranh đau thương khốc liệt.
Năm 1967, trong một đêm giao tranh giữa du kích quân và lính Nghĩa quân tại C.G, một trái lựu đạn đã bất ngờ rơi trúng vào nhà dân…

Ánh chớp như sấm sét ghê rợn giáng xuống đầu chúng tôi. Một tiếng nổ kinh hoàng! Rồi thì mái ngói vỡ toang cùng các thứ vật dụng trong nhà đổ sập xuống…

Trong phút giây hoảng loạn, trong tiếng súng đạn kinh hồn vẫn còn đang say mùi bắn giết bỗng nổi lên tiếng thét thất thanh của Chú tôi: “Trời ơi! cứu! cứu, cứu con gái tôi! trời ơi! chết! chết con gái tôi rồi….!”

Vâng, đó chính là cái đêm mà định mệnh đã chụp xuống cuộc đời chị tôi 1 màu đen tăm tối!

Chị không chết nhưng nguyên cánh tay trái của chị đã mất đi vĩnh viễn và 1 mảnh lựu đạn nhắm ngay vào lá phổi của chị, nằm nguyên ở đó như 1 kỷ vật nhức nhối mà đến chết vẫn phải còn mang theo.

Năm ấy chị tôi tròn 20 tuổi, xinh đẹp, dịu hiền với mối tình đầu đẹp như giấc mơ.

Người yêu của chị là lính (như phần lớn thanh niên thời ấy đều trở thành lính chiến) Anh là lính Hải quân, được tin dữ, Anh xin 48 giờ phép đặc biệt để tức tốc trở về bên chị, tiếp máu cho chị, túc trực ân cần chăm sóc chị trong bệnh viện với tất cả tình yêu chân thành, tha thiết. Để rồi, khi hết phép, anh ngậm ngùi ra đi…

Mọi người ứa nước mắt mỗi khi nhìn chị nhưng chị lặng lẽ không khóc. Chị nhắm mắt lại, quay mặt vào tường để không nhìn thấy ai và cũng không muốn ai nhìn thấy mình.

Vết thương lành, rời bệnh viện chị trở về nhà và trở thành 1 người khác. Lúc chưa bị thương chị là 1 cô gái vui tươi, hòa mình, thân thiện với mọi người. Giờ thì chị lặng lẽ như chiếc bóng, ít tham gia vào sinh hoạt chung của gia đình và tránh mọi giao tiếp bên ngoài.

Từ nơi xa, người yêu chị liên tục gởi thư về. Lá thư đầu tiên Anh đề cập tới ngày cưới. Chị đọc thư xong ôm mặt khóc vùi. Lá thư thứ 2 chị không mở ra và cũng không khóc, lá thứ 3 lại đến và lá thứ 4, thứ 5… chị vẫn không mở ra, cứ thế, những lá thư xếp chồng lên nhau trên mặt bàn viết. Chị không khóc cũng không hồi âm… Rồi thì, những lá thư thưa dần, thưa dần theo những tháng ngày lặng lẽ, ảm đạm của chị tôi. Mọi người ái ngại nhưng không ai dám nói ra điều gì, lỡ sơ suất lại khiến cho chị đau buồn thêm.

Trung tâm chỉnh hình Saigon làm tặng cho chị 1 cánh tay giả vì thế khi ra ngoài chị có thể mang nó vào và có thể tự mình đi xe đạp. Ống tay áo che dấu cánh tay giả nên ít người nhận ra. Chị đạp xe thong thả, 2 bàn tay đặt lên ghi đông xe như 1 cô gái bình thường. Từ sau ngày bị nạn, trang phục của chị tôi đặc biệt thay đổi màu. Chị đã bỏ hẳn những bộ cánh tươi thắm của 1 thời thiếu nữ để mặc toàn những chiếc áo đen như thiếu phụ để tang chồng. Màu đen điểm trang cho gương mặt chị vốn đã đẹp càng thêm đẹp não nùng với một nét thơ man mác, một nét duyên u ẩn đến lạ kỳ. Chị thường đạp xe lui tới những nơi mà người ta cũng mặc áo đen như chị đó là Tu Viện của các soeurs dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn…

Thời gian dần trôi, vết thương trên thân thể đã quen và vết thương lòng chừng như đã bớt đau. Năm 1969, Chị tôi bắt đầu vào nghề giáo. Ty giáo dục ưu ái cấp sự vụ lịnh cho chị về dạy trong 1 trường tiểu học ở quê nhà.

Thế là từ ấy, ngôi trường dần dần tạo nên cho chị 1 niềm vui sống… nhưng màu đen thì vẫn còn đó, vẫn là tà áo đen ngaỳ hai buổi đến trường.

Yêu nghề, yêu trẻ, đặc biệt là yêu các em học trò côi cút, khó nghèo, chị đã dùng 1 phần lương cô giáo để bù đắp cho những mảnh đời trẻ thơ bất hạnh qua những bộ quần áo mới, bút mực sách vỡ và cả tiền bánh sáng mỗi ngày…. Học trò rất yêu cô và đồng nghiệp ai cũng mến thương “cô giáo áo đen”! Ông Hiệu Trưởng, một thầy giáo già, có lần trong buổi họp nhà trường đã cao hứng đọc lên mấy câu thơ:

“Cô giáo trường tôi với cánh tay còn lại.
Vẫn lật hàng ngàn trang sách vở.
Vẫn phê hàng vạn điểm học trò.
Như đóa hoa trong thời chinh chiến.
Nở buổi ban mai bom đạn tơi bời.
Cô giáo trường tôi với cánh tay còn lại.
Vẫn góp bàn tay tô điểm cuộc đời…”.

Một tràng pháo tay nồng nhiệt nổi lên như niềm vui trong trẻo vang vọng cả sân trường. Lần đầu tiên mọi người nhìn thấy cô giáo áo đen nở một nụ cười hạnh phúc.

Những năm ấy, tình hình chiến sự càng lúc càng sôi động. Hỏa châu thắp sáng những đêm tối đầy bất trắc. Đạn pháo kích nổ vang trong thành thị và tiếng oanh tạc cơ gầm rú thả bom đáp trả. Những cuộc hành quân truy kích và những cánh quân về ngang thôn xóm nghỉ ngơi dăm ba ngày để rồi tiếp tục lên đường đi chinh chiến.

Mùa đông năm 1970, Một đoàn lính Thủy Quân lục chiến dừng chân ghé lại quê tôi. Lều bạt dựng tạm trên những cánh đồng vừa mới gặt còn thơm mùi rạ mới. Những chiếc võng dù giăng mắc rải rác bên những rặng dừa xanh rợp bóng và ngay cả bên hàng hiên yên ả của khu dân cư… Đó đây trong thôn xóm, trên con phố chợ, những anh lính trẻ dạo chơi, cười nói bông đùa với các cô thôn nữ… Nhóm khác ngồi trong quán nhỏ nhậu nhẹt tưng bừng với rượu ba xị đế và mấy con khô nướng thơm lừng như món quà tự thưởng sau những ngày hành quân gian khổ, sống chết khôn lường… Lặng lẽ hơn, có anh lính ngồi trong quán cà phê, trầm tư trong khói thuốc, nghe nhạc hoặc viết thư cho gia đình hay cho người yêu bé nhỏ.

Ngay chiều hôm dừng quân, đang khi thơ thẩn dạo chơi trong làng, nhằm giờ tan học, Thiếu úy TB bắt gặp 1 tà áo đen giữa một đàn học sinh từ cổng trường túa ra như đàn bướm trắng chấp chới bay. Anh bàng hoàng nhìn thấy khuôn mặt cô giáo trẻ xinh đẹp như một bông hoa tím u ẩn nỗi niềm riêng. Cô đi giữa đàn em thơ tíu tít, có em nắm lấy tay cô, có em ngước mặt lên kể lể điều gì đó khiến cô mỉm cười xoa đầu… Một sức hút lạ thường bắt anh phải theo gót chân cô… Nhà cô giáo cách xa trường độ 400m, dọc theo lối nhỏ một bên là dòng sông, một bên là khu vườn dừa xanh ngát. Chiều xuống êm đềm. Gió sông mát cả tâm hồn. Tà áo đen tung bay, tung bay cùng với làn tóc chấm ngang vai đang đùa vui theo gió cuốn. Vô tình không biết có một người lính đi theo mình, cô giáo vẫn hồn nhiên bước đi về tới tận nhà. Khi xoay người lại để đóng cửa rào, cô chợt bắt gặp bên kia đường một người lính Thủy Quân lục chiến tần ngần đứng đó như đang lạc bước… Nhưng việc ấy không để lại 1 điều gì khác trong tâm trí cô bởi lẽ thỉnh thoảng vẫn có 1 đoàn quân ghé ngang qua làng và các anh lính vẫn thường đi loanh quanh đây đó.

Ngày hôm sau là Chúa Nhật. Buổi sáng cô gái đi nhà thờ dự lễ mi sa. Khi tan lễ cô trở về nhà, vẫn trên con đường ven sông vắng vẻ, yên bình. Mặt trời buổi sáng ửng hồng trên rặng dừa phía đông. Cô gái vừa đi vừa bâng quơ nhìn chiếc bóng của mình đổ dài lên phía trước, bất chợt cô nhận ra có một cái bóng thứ hai của ai đó. Tự dưng cô quay lại nhìn thì thấy một quân nhân dáng hình cao lớn đang bước theo sau. Cô bỗng nhớ lại hình như đó là anh lính chiều hôm qua mà cô đã nhìn thấy trước cửa nhà. Cô không nhìn rõ gương mặt anh, chỉ thoáng thấy đôi mắt sáng nổi bật trên khuôn mặt dày dạn nét phong sương và một mái tóc bỗng mà những cuộc hành quân dài ngày nên chưa kịp hớt ngắn. Tâm trí cô giáo trẻ chợt dấy lên một cảm giác lúng túng pha lẫn chút linh cảm mơ hồ, bất an… Cô vội vã bước đi, không dám nhìn ra sau nữa. Trên mặt đường không còn thấy chiếc bóng người quân nhân tiến lên, có lẽ anh ta đi chậm lại hoặc đã quay đi hướng khác.

Ngày hôm sau Thứ Hai, Cô giáo lại đến trường mà không biết rằng anh lính ấy ngồi trong quán nước trước cổng trường chờ cho đến giờ tan học để theo gót chân cô đi về trên lối nhỏ…

Thiếu úy T.B, một anh chàng Thủy Quân Lục Chiến kiêu bạt đã từng đặt chân lên 4 vùng chiến thuật, một chàng trai gan lỳ biết bao lần xông pha trong lửa đạn, ngạo nghễ giữa tử sinh, một nam nhân hào hoa bao phen từng trải chốn tình trường… Thế mà giờ đây bên cạnh một dòng sông hiền hòa trôi chảy anh bỗng đắm đuối, lụy tình một cô giáo miền quê!

Anh ngồi đó uống từng ngụm cà phê đắng, trầm tư trong làn khói thuốc để rồi nguồn cảm hứng tuôn trào lên giấy trắng. Anh viết miên man như chìm sâu vào một cỏi mộng du… Chỉ đến khi tiếng trống trường vang lên báo giờ tan học, anh vội vã đút cuốn sổ tay vào túi áo trận bạc màu, vuốt lại mái tóc bồng bềnh và đứng lên xao xuyến đợi chờ…

Ngày một, ngày hai trôi qua… dân chúng trong khu phố nhỏ kháo nhau chuyện ông sĩ quan Thủy quân lục Chiến trồng cây si cô giáo, và, chính chị tôi cũng đã hiểu ra điều đó khi nhận ra buổi tan trường nào cũng có người ấy lặng lẽ nối gót theo sau, không suồng sã, không bâng quơ lấy 1 lời…

Đến ngày thứ bảy, (đúng một tuần lễ ngày đoàn quân dừng chân nơi xóm nhỏ). Khi Cô giáo đang ở trong lớp học trông chừng học sinh cắm cuối làm bài thì người lính đột ngột xuất hiện. Anh gõ nhẹ vào cửa lớp rồi đứng nghiêm chào cô giáo theo kiểu nhà binh. Ngỡ ngàng không kịp phản ứng, cô giáo ngồi sững sờ bất động. Người lính tự động bước vào, tiến đến bên cô, đặt lên bàn viết một tờ giấy học trò sạch sẽ, phẳng phiu trong đó là một bài thơ với tựa đề: NÓI VỚI TÀ ÁO MÀU ĐEN, được viết bằng nét chữ rõ, đẹp, mạnh mẽ và đầy cảm xúc. Anh lính nhìn cô giáo mỉm cười rồi khẽ nghiêng đầu quay bước.

Nói với tà áo màu đen

Ai dám bảo màu đen màu tang chế
Màu u buồn và màu của thê lương
Màu tăm tối như đêm dài tận thế
Như tương lai bị nghẽn lối ngăn đường
Riêng ta thấy chỉ 1 mình ta thấy
Màu đen cười, cười bằng mắt bằng môi
Màu đen reo trong gió lùa tóc rối
Màu u buồn màu áo của em tôi
Màu kín đáo như lời yêu chưa ngỏ
Màu bâng khuâng màu ấp ủ tình dài
Màu dẫn lối cho ta vào thương nhớ
Màu hoang đường như câu chuyện tương lai
Màu đen ơi ôi màu đen huyền hoặc
Hồn ta say theo tà áo em bay
Tình vỗ cánh ta nghe chừng chóng mặt
Không rượu nồng không ma túy mà say…

(Thiếu úy T.B )

Sau này chị tôi kể lại không biết tại sao khi đọc xong bài thơ ấy chị bỗng dưng khó thở, nước mắt trào ra… Chị đã cố ngăn mà không ngăn được… Cuối cùng chị cảm thấy rã rời và gục đầu trên bàn viết. Đám học trò nhớn nháo lo sợ, Em trưởng lớp chạy đi báo động với cô giáo lớp kế bên… Buổi dạy gián đoạn… Thầy Hiệu Trưởng cho người đưa chị tôi về bằng xe Honda.

Thiếu úy TB chỉ kịp nhìn thấy một chiếc xe chạy ra khỏi cổng trường, phía sau yên xe cô giáo áo đen úp mặt vào vai cô giáo bạn… Anh băn khoăn, lo sợ và khắc khoải mong cho đến sáng hôm sau là Chúa Nhật để đón gặp cô giáo ở trước cổng nhà thờ. Nhưng lòng chị tôi đang xao xuyến, bất an, Chị muốn trốn tránh người ấy, chị không đi lễ nhà thờ và chị định bụng sẽ xin nghỉ dạy một tuần để lánh mặt sang nhà Ngoại làng bên.

Thế nhưng vào lúc nửa đêm thứ bảy rạng sáng Chúa Nhật, đoàn quân được mật lênh điều đi nơi khác. Các lều bạt, quân trang, quân dụng được sắp xếp gọn gàng và nhanh chóng… Tiếng xe nhà binh nổ máy, từng chiếc, từng chiếc rầm rộ lên đường trong đêm vắng. Những chàng trai Thủy Quân Lục Chiến chen nhau đứng dựa vào thành xe, mắt nhìn về phía trước, mỗi người một ý nghỉ miên man…

Thời chiến tranh, biết nói gì hơn! Đường trường xa, những chuyến xe tiếp tục đưa những người lính đến những chiến trường đẩm máu. Biết có lần nào trở về chốn cũ? Dẩu sao cũng nói lời từ biệt và cám ơn một tuần lễ dưỡng quân nơi xóm nhỏ êm đềm…

Thiếu úy TB chợt nhớ đến một câu văn trong tập truyện của Duyên Anh: Giã biệt em và ngôi trường, Anh ra đi với nỗi buồn thơm ngát”.

Hình ảnh cô giáo với chiếc áo dài đen sẽ còn ở trong trái tim người lính cho đến khi nào?

Rồi sẽ có một tà áo xanh hay áo trắng ở trạm dừng quân nào đó tiếp tục đem đến cho anh một niềm hạnh phúc mới? Dẫu thoáng qua nhưng phút đam mê lãng mạn ấy chính dòng suối mơ tưới mát tâm hồn khô cháy của người lính trên những nẽo đường tàn khốc của chiến tranh mà nơi ấy giữa bom đạn vô tình, kẻ chinh nhân không thể hẹn ngày về….

50 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy.

Chị tôi không còn trẻ nữa.

Giờ đây chị đã là một cô giáo già hưu trí, vẫn sống độc thân bên cạnh dòng sông cũ.

Đã hơn 70 tuổi rồi, đã ít nhiều hiểu được những uẩn khúc, éo le của cuộc đời…

Thỉnh thoảng nhắc lại chuyện xưa, chị mượn lời cổ nhân đã dạy: “Bất cứ ai có tình cảm, có lòng thương mến đối với mình thì đừng hỏi tại sao. Hãy mở lòng ra đón nhận. Những người bạn đến hay đi qua đời ta đều để lại dấu ấn. Hãy học cách cám ơn họ, vì nhờ họ mà ta nếm hưởng được đủ hương vị của cuộc đời!”

Vâng, 50 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy.

Thiếu úy TB kiêu dũng ngày nào giờ cũng đã trên dưới 80 …

Nếu anh còn sống sót sau cuộc chiến chinh, ước mong ở một nơi nào đó anh sống vui, sống đẹp với tuổi già thơ nhàn.

Nếu đọc được dòng chữ này anh khắc hiểu bài viết hôm nay chính là một kỷ niệm để TẠ LÒNG XƯA CŨ!

Trước khi dừng bút, xin được nói thật lòng:

Thiếu úy TB, Anh làm thơ rất hay! Bài thơ tỏ tình của anh thật mãnh liệt, đáng yêu! nó nằm trong số những bài thơ tình tuyệt vời của thế kỷ 20 đấy! Vì thế mà chị tôi vẫn còn giữ mãi bài thơ ấy của anh cho đến tận hôm nay…!

Nguyễn thị Tự Tập
***
*GỬI HƯƠNG THEO GIÓ MÂY NGÀN BAY…

*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

* PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO* THY AN *    *NGUYỄN MINH THANH *      ĐẶNG QUANG CHÍNH * *Ý NGA * ĐỨC HÙNG * THY AN *  *NGÔ MINH HẰNG * TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO * THA NHÂN * CHU KIM LONG* NGỌC QUYÊN * NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG * KIỀU PHONG *
*SA CHI LỆ *

***
*THI SĨ ĐA TÀI PHẠM THIÊN THƯPHẠM THIÊN THƯ

Cành sen
lá trĩu sương trong
áo nỉ xám vạt trời
hong buồn về
Tay nào nghiên nón thơ che
tay nào lần
chuỗi bồ đề xanh xao

Đôi mày
lá phượng cất cao
đôi môi chín
ửng khóe đào rừng mơ
tiếng nàng vỡ bạc thành thờ
tụng dòng kinh tuệ
trên tờ khói mây

Tóc em
rừng ngát hương say
tay em dài nụ hoa lay
dáng ngà
mắt xanh
bản nguyện di đà
bước trầm hương nhẹ lẫn
tà dương chim

Mắt nàng ru chiếc nôi êm
ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
em là hoa hiện dáng người
tôi là cánh bướm cung trời về say

PTT (Động Hoa Vàng)
***
*THI SĨ & DỊCH GIẢ TRẦN QUỐC BẢOTHANH HÓA CỦA TÔI – Thơ Trần Quốc Bảo

Thanh Hóa Của Tôi

Ngày xưa Thanh Hoá của tôi ơi !
Kỷ niệm vàng son buổi thiếu thời
Hè tới Đoàn Sinh Công cắm trại
Sầm Sơn lồng lộng gió trùng khơi

Ôi Thanh Hóa, trùng trùng nỗi nhớ
Đất Lam Sơn, trang sử rạng ngời
Vùng Núi Nưa địa linh nhân kiệt
Triệu Trinh Vương oanh liệt một thời

Miền Đông Sơn, Trống Đồng Ngọc Lũ
Nền Văn Minh Lạc Việt muôn đời
Vào núi Giáp Sơn, Hang Từ Thức
Người xưa nhập động lên Thiên Thai

Thanh Hóa oai hùng trang sử máu
Ba Làng Tân Đạo, những đầu rơi
Nơi pháp trường ngàn người tử đạo
Vinh danh Thiên Chúa đến muôn đời

Những ngày nghỉ học về thăm Ấp
Cánh đồng chiêm vàng óng chân trời
Mẹ già cười, răng đen rưng rức
”Được mùa Nông Cống, sống mọi nơi”

Cầu Hàm Rồng vươn mình đứng giữa
Chín mươi chín ngọn núi Đá Vôi
Điền Hộ, Nga Sơn vào Tam Tổng
Con tầu ngừng lại ở Ga Gôi

Đường lên Cẩm Thủy xa tăm tắp
Chênh vênh nhà sàn ngang lưng đồi
Nàng Thái Hồi Xuân ngồi dệt lụa
Tay ngà thoăn thoắt chuyển con thoi

Mùa lũ, nước dâng tràn Sông Mã
Mênh mông Nhân Lộ, khúc gò bồi
Mỗi năm mỗi lụt, ôi vất vả !
Rứa tề, cuộc sống vẫn êm trôiNgược dòng Sông Chu về Bái Thượng
O Mường Lang Chánh nặng vai gùi
Thơm thơm mùi quế, mùi măng, nấm
Váy chàm, yếm chẽn đẫm mồ hôi

Đến Thường Xuân, rượu cần nếp núi
Say hò : ” Dắc cành dinh, tày ơi ! ”
Dân ”Tày” sơn cước hồn mộc mạc
Yêu thương nhau, trao nhau tình người

Thanh Hóa trong tôi nguyên nỗi nhớ
Nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ khôn nguôi
Cội hoàng mai giữa vườn Thanh ấy
Hoa cũ, người xưa . . . tản mạn rồi

Tôi vẫn nhớ người tình Thanh Hóa
Kỷ niệm yêu đương buổi thiếu thời
Nụ hôn đầu, trên đồi hoa tím
Bây giờ nhìn lại qúa xa xôi !

* Có phải Bạn là người Thanh Hoá
Đang đọc thơ tôi ở cuối trời ?
Xin nhận nơi đây, dù xa lạ
Tấm Tình Quê, tự đáy lòng tôi.

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
***
*THI SĨ NGUYỄN MINH THANH
Trăng Ngoại

Trăng ngoài song cửa màu trăng sáng
Ta ở trong lao đời tối tăm
Trăng ơi có biết ta buồn lắm
Đau khổ ngang trời đã tám năm
Công danh ư !… chừ vì sao rụng…!!
Sự nghiệp ư !… chừ áng mây trôi…!!

Tiếng than âm ỉ ngoài trời rộng
Ta đứng trong lao khẽ thở dài…

Máu đã chảy… xót anh em trốn trại…!!
Họ bắt về đánh chết xuống chết lên…!!
Hai người khác hắt hiu… như ngọn nến
Đói ăn liều, ngộ độc… mãi nằm rên..!!

Ta bực lắm muốn gào lên thật lớn
Cho hồn Trăng giao cảm với hồn ta
Ta giận lắm muốn san bằng nhà đá
Cho đaị bàng tung cánh lướt bay xa…

Ta muốn ánh trăng thành muôn kiếm báu
Chém phăng đi tất cả lũ bạo hung
Ta muốn ánh trăng thành muôn sóng bão
Cuốn phăng đi tất cả những lao lung
Cho nhân gian dứt hẳn cảnh khốn cùng
Cho cuộc sống ung dung tự tại…

Cho Bé Thơ có niềm vui hoà ái
Cơm ngon, áo đẹp, chữ đủ học hành
Đồ chơi nhiều… thương tặng lũ chim xanh…
Ngắm chim hót dưới nắng lành thơm mới !!

Trăng ơi, Trăng ở ngoài trời
Còn Ta, lao lý biết đời nào ra!!
Cánh buồm tơi tả… vượt phong ba…!!!

NGUYỄN – MINH – THANH
( Trại tù Thanh Cẩm – 1982 )
***
*NỮ SĨ Ý NGA *THI SĨ ĐỨC HÙNG *THI SĨ ĐẶNG QUANG CHÍNHMong ước của cha …

Lúc còn nhỏ …
Cha có lần hỏi khẻ
Học khá rồi thành bác sĩ nhe con …!

Không trả lời …
Khi đã vào đại học
Con nói rằng bác sĩ cứu một thôi

Cứu cả trăm người con làm cách khác
Đến lúc đó cha có lời khuyên bảo
Người lòng ngay không thể sửa mọi người

Chuyện văn hóa chuyện cứu nhiều thế hệ
Chuyện Đức Phật chúa Giê Su không kể
Người chiến sĩ tầm thường con muốn thế

Chiến sĩ Phùng Quán, Trần Dần gương sáng
Yêu ai nói yêu, ghét ai nói ghét
Dẫu bần hàn không nói ghét thành yêu

Nếu còn sống …
Cha sẽ mỉm cười mãn nguyện
Con nhà tông, không giống cánh, giống lông …!

Rồi từ đó …
Cuộc hành trình đấu tranh cho đất nước
Viết sự thật, con viết hoài không mệt
Thấy bất công không ngăn được căm thù …!Có những người còn hơn con thế nữa
Nên miền Nam còn bền vững đến giờ
và cả nước sẽ bừng lên sức sống

Cuộc đấu tranh không chỉ gươm với súng
Tính nhân bản con người hơn con thú
Yêu con người là nhịp sống nhân sinh

Cuộc đấu tranh vẫn còn đang tiếp diễn
Nhưng chắc chắn thiện sẽ hơn cái ác
Dòng sống con người miên man bất tận

Chính nghĩa con người lan tỏa khắp nơi
Theo cái ác kiếp nhân sinh tàn lụi
Theo cái thiện hồn thăng hoa tươi sáng

Nếu còn sống …
Cha sẽ mãi cười và lòng mãn nguyện
Hồn tổ tiên sông núi quyện nên thần …!

Đặng Quang Chính
***
*THI SĨ THY AN
Ngày Mùa Hạ 2020… – Âm Vang Từ BiểnTuesday, October 06, 2020 ĐSLV , Thơ , thy an

Ngày Mùa Hạ 2020…
soi thủng tấm màn che đôi mắt
thấy chút lửa bập bùng thật xa
lửa mặt trời hay lửa mặt trăng
thúc giục ta trải rộng niềm vui
ngày hay đêm
không quan trọng
hoa nở trên những cánh đồng
và dòng sông vẫn chảy qua rừng núi
người sống và người chết
nằm yên cạnh đá
chưa nói hết lời
ngày mùa hạ yêu thương trổ bông…
ánh sáng chủ nhật rực rỡ trên khu vườn
nhặt chùm hoa trắng
nụ cười nở trên vòm cây
bàn tay nâng niu cành lá
ngón tay gầy và xanh
những đam mê hiện rõ cùng những lời vô danh
với chim và nắng
có ai nghe tiếng kêu của những chậu sành nghiêng đổ
ngày mưa ngày gió
những kỷ niệm dài ra rồi ngắn lại
như bài thơ nhớ quê hương cạnh sách vở
có đọc cũng bằng thừa
ngày mùa hạ tâm trí miên man
cơn mưa thật nhẹ đi qua thành phố
những chiếc xe cứu thương chở người bệnh dịch
có người đang nghẹt thở
nhưng được cứu, không chết thảm
vì cơ duyên sống trên đất nước phú cường
kẻ nhởn nhơ ngoài đường không thích đeo mặt nạ
tự do dân chủ hỗn mang, nhân danh đủ thứ
nhâm nhi ly cà phê của thói quen
hững hờ ngày hè nóng lửa
trì nặng đôi chân, mồ hôi trên trán
tôi thấy em bé sinh ra đời với đôi mắt thật đẹp
như ước mơ của những người còn mang một tấm lòng
ngày mùa hạ trái tim như hát
thời đại nào vàng son đang cạn kiệt
lẻ loi giọt mưa rơi trên áo
não nùng dung nhan của thiên thần nằm im cô độc
thánh thiện pha trộn bạo lực
đất trời gục đầu và tâm hồn thiếu chút tâm linh
lang thang đầu phố đâu đâu cũng rác người
thơ bay lên núi, thơ chìm xuống biển
tay cầm lá bùa, chân leo lên dốc
chợt nghe thấm thía mấy lời nói phù sinh
ngày mùa hạ chẳng quên lời yêu dấu …
thy an
hạ 2020 Âm Vang Từ Biển
mây xanh vờn trên đầu
biển ấm với khúc ca ngư phủ trở về từ đại dương
văng vẳng bên tai những âm vang duyên hải
lùng bùng bãi cát vàng
xin trả lại mặt trời những lộng ngôn và bạo lực
mùa hè những thân người phơi đen
nhìn nhau không chớp mắt
chẳng có gì để nói
lăn qua lăn lại
mời mọc ánh nắng thiêu đốt thịt da
dang tay, banh chân
khát vọng ngóc lên rồi chìm xuống theo cơn gió đổ về từ biển
mùa hè thèm một ái ân không định rõ
mơn man trái tim với dục tính nhẹ nhàng
nỗi buồn nhân sinh như sóng xa đổ về
chiếc lưng còng gánh nợ bao nhiêu kiếp
thú vật và hải âu kêu vang trong lòng
tư tưởng biếng lười vô cảm
ngất ngư trôi vào mông lung
âm vang lùng bùng
người ở đâu, ta ở đâu…

thy an
(Đặc San Lâm Viên)
***
*THI SĨ TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO
*LOTUSOn the day when the lotus bloomed, alas, my mind was straying,
and I knew it not. My basket was empty and the flower remained unheeded.
Only now and again a sadness fell upon me, and I started up from my
dream and felt a sweet trace of a strange fragrance in the south wind.
That vague sweetness made my heart ache with longing and it seemed to
me that is was the eager breath of the summer seeking for its completion.
I knew not then that it was so near, that it was mine, and that this
perfect sweetness had blossomed in the depth of my own heart.
Rabindranath Tagore
(1861-1941)
HOA SEN
Vào ngày sen nở, chao ôi,
Tâm hồn tôi bỗng bồi hồi lang thang
Tôi đâu có biết rõ ràng
Lẵng hoa trống rỗng, hoa vương chốn nào.
Giờ đây lại thấy buồn sao
Giật mình tỉnh mộng, xiết bao ngỡ ngàng
Thấy mùi hương lạ dịu dàng
Ướp trong làn gió phương Nam thổi về.
Hương thơm thoang thoảng đê mê
Làm lòng tôi chợt tái tê mơ mòng
Tưởng chừng mùa hạ mặn nồng
Thở hơi tha thiết cầu mong vẹn phần.
Tôi nào ngờ thấy quá gần
Hương ngào ngạt tỏa ngát thầm trong tôi
Hương hoa toàn hảo tuyệt vời
Nở ra trong đáy lòng tôi thơm lừng.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao
(Chuyển ngữ)

ĐẶC SAN LAM VIEN
***
*THI SĨ THA NHÂN
SINH NHẬT BUỒN…

Bảy chín năm trường đã nặng vai
Hỏi xem gánh được tới tương lai!!?
Sức mòn Danh Dự còn kêu gọi
Gối mỏi thề xưa phải đáp nài
Tổ Quốc ngả nghiêng cơn sóng đỏ
Dở dang Trách Nhiệm có làm sai?
Buồn trông Đất Nước lầm than mãi
Sinh nhật đành buông tiếng thở dài!!

ThaNhân
Camthành OCT 10, 2020 Sinh nhật 79
*CHÚC SINH NHẬT TN
*THI SĨ CHU KIM LONG
Trầm tư mặc tưởng trong trại tù
Anh cưa nỗi buồn theo năm tháng
Thấy vượn lên người anh đớn đau
Buồn trông đất nước lầm than mãi
Phiêu bạt xứ người anh mất vui
Danh dự Tổ quốc nặng hai vai
Trách nhiệm chưa tròn anh nhớ mãi
“Sinh nhật đành buông tiếng thở dài “
Chu Kim Long,
**
*NỮ SĨ NGÔ MINH HẰNG*NỮ SĨ NGỌC QUYÊN*NỮ SĨ NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG*THI SĨ KIỀU PHONG *SA CHI LỆ*SA CHI LỆ

* Bạc màu vong thân

Giật mình vén áo chiêu dương
Trăng soi se sẻ yêu cuồng lên men
Ngủ quên dẫm nát vô thường
Dường như lệch bóng cuối đường nhói đau
Ta còn chăng mỗi chiêm bao
Mân mê ảo tưởng bạc màu vong thân.

Ai hiểu

Ai hiểu ta đang nhai nghiền thế sự?
Nước mắt trào theo vận nước nổi trôi
Rờ đầu năm tháng trần trụi thức
Sụt sùi tiếng mẹ nấc mưa rơi…
Cúi mặt giọng khàn như hành khất
Nhai cơm xứ lạ đến bao giờ?

* BÀI XA BẾN KÉO

Chừ ngày cập bến cây dương
Mưa mùa nhả khói chân Mường Mán xiêu
Ngập ngừng ngây ngất men chiều
Thành xưa chìm dấu quan liêu ngục tù
Chòi canh vòi vọi biên khu
Ơi chiều lấp mái buồn nhừ bên sông
Đời xanh tan nát giữa dòng
Mồ thiên cỗ vọng mênh mông tủi nhòa
Thế thôi bến kéo chừ xa
Đường mơ chở mộng giấc ngà cuốn đi
Hồn chưa kỷ niệm kéo ghì
Day dưa tiếc lạ đôi mi bạc mầu
Bóng nàng sửa tóc đêm thâu
Ta rang chút nhớ qua cầu sao khuê
Dặm tình biết nẻo nào về
Đành ngu ngơ đứng đam mê mặt trời

* Cái mỉm cười

Nguyệt vô minh ngôn tràn tình tự
Tâm vô thần luân vũ mộng tỉnh say
Làm cây cỏ cợt đùa xanh thiên địa
Còn vui hơn lạc bước chốn trần ai…

Ta nói nhiều cũng như không nói
Không nói mà sao lại ứ tràn?
Trăm năm chắc cũng không bằng nửa
Cái mỉm cười ta hận trăm năm!

Cuồng mê

Mở cửa lùa mây chiều uyển mộng…
Luân lưu mắt phượng rót hương rừng
Cắn đôi hơi thở ngon tuyệt diệu
Khua động chiêm bao nếm khói sương
Nửa đêm tỉnh giấc cười bẽn lẽn
Ta nuốt người tình nhả cốt xương!…

* EM CÓ PHẢI LÀ THƠ

Khi qua chiếc cầu quá khứ
Khi đứng trầm lặng
trên sân ga một mình lộng gió
Khi hơi thở ứ dòng sữa chảy trên môi trăng khuya
Khi ngồi so tóc bên ngọn đèn biển động
Khi chết đuối trong giấc ngủ bất chợt
Khi nói dối mẹ đi thăm bà con ngoài phố
Khi hồn dăm vết tích chua cay
Mọi người sẽ hỏi anh thơ là gì
Anh trả lời như chuông ngân
từ nóc giáo đường buổi sáng chủ nhật:
Thơ là em
Em là sự hiện hữu của thơ
Thơ dẫn em đi
Nghe mặt trời múa hát
Trái đất tự thú cô đơn
Bốn mùa tình tự
Giao hoan hoài hoài ngày đêm
Sinh anh ra nhằm giờ thơ lên ngôi hoàng đế
Nên thơ là anh
Truyền lệnh
Ân xá cuộc đời
Mở cửa mười cung
Tự do nhập vào vạn vật rong chơi
Làm vận chuyển không gian thời gian
xoay chung quanh trục định mệnh
vô hình sắt đỏ
Thơ biến ra anh
Anh biến ra em
Cuồn cuộn tuôn tuôn vô cùng thánh thiện
Thênh thang giữa miền tâm linh
Nơi thơ sắp tràn qua triền diễm tuyệt.

*SA CHI LỆ