GIỚI THIỆU SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 45 NĂM

*GIỚI THIỆU SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 45 NĂM
1975 – 2020
*NHỮNG BÀI VIẾT NỔI BẬT HÔM NAY:
1-ẢNH ẤN TƯỢNG
2-LẦN ĐẦU TIÊN KỂ VỀ SỰ “SỐNG SÓT” KỲ DIỆU CỦA TẬP THƠ THC CA 30-4-1975, SAU 45 NĂM
3-NHẠC THC 30-4QH
4-THƠ TRÍCH TỪ TẬP THC 30-4
5-NHẠC HAY VỀ NGÀY QUỐC HẬN 45 NĂM.
6-NHỮNG BÀI VIẾT NỔI BẬT
7-THƠ QUỐC HẬN 45 NĂM                                      ***
*ẢNH ẨN TƯỢNG NGÀY QUỐC HẬN
*SA CHI LỆ GIỚI THIỆU SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 45 NĂM

LẦN ĐẦU TIÊN KỂ VỀ SỰ “SỐNG SÓT” KỲ DIỆU CỦA TẬP THƠ THC CA 30-4-1975, SAU 45 NĂM.
*HÀ NGỌC

-Kính quý vị, tập THC 30-4, thai nghén, phóng bút lúc 3 giờ sáng ngày 02-5-1975 và tạm hoàn thành bản thảo cùng băng thơ vào cuối đông 1983 tại trại tị nạn Sikiew, Thái Lan.Thời cuộc thăng trầm, đến hôm nay, người viết mới kể về sự “ sống sót” kỳ diệu của tập thơ TRƯỜNG HẬN CA 30-4. Nếu không có sự huyền bí tâm linh xuất hiện, có lẽ người viết đã bị bắt là xong phim!
*Những chi tiết này, có trong hồi ký: MỘT ĐỜI CÚI MẶT chưa in, chỉ xin kể ngắn gọn:
*HÀNH TRÌNH GIAN NAN CỦA TÁC PHẨM THC 30-4

1-Viết THC30-4 ngay cả trong trại cải tạo
2-Tìm đường vào chiến khu & bị theo dõi
3-1979: Tổ chức vượt biển, bị tù 2 năm
4-1982, vượt biển thất bại, 3 lần gặp may.
5- 1983, chuyến vượt biển hãi hùng…
***
*TRÌNH DIỆN & CẢI TẠO từ tháng 5-1975…
-Sáu tháng “cải tạo” tại Lò Gạch Ông Tôm thuộc Ấp Trường Đua, xã Trường Hòa, quận Phú Khương tỉnh Tây Ninh.
-Tìm liên lạc với nhóm sinh viên Cao Đài phục Quốc, bị theo dõi, người viết kịp thời xuống Rạch Giá gặp lại vợ con. Bà xã đang dạy tại trường Trung Học NGUYỄN TRUNG TRỰC thị xã Rạch Giá. Cư ngụ tại cư xá giáo viên trong khuôn viên trường, cách bãi biển khoảng 300m.
*Không thể ở lâu, đành qua Chợ Vàm, huyện Phú Tân, xã Phú Lâm, An Giang, làm vườn & ruộng của ông nội để lại cho con cháu…
-Luôn tìm người hợp tác tạo phương tiện ra đi. Quen anh VCN cũng muốn vượt biên…chúng tôi chuẩn bị chiếc ghe tam bảng 8.5m, gắn máy 1 lock thêm đuôi tôm. Cuối cùng, nửa đêm khởi hành, đi theo, 2 người bà con của anh VCN.
Lộ trình: Chạy đến chợ Long Xuyên, mua thêm đồ dùng, rước thêm vài người quen…rồi theo đường sông xuống Rạch Giá ra khơi. Bắt đầu rời bến tàu, CA & mật báo viên nhảy lên ghe chỉa súng, đưa chúng tôi đến đồn CA, TX/LX.
-Sau đó, CA chuyển chúng tôi đến trại Tạm Giam Cái Sao, với bản án 3 năm tù:
TỘI TỔ CHỨC VƯỢT BIÊN CÙNG ĐỒNG BỌN TRỐN RA NƯỚC NGOÀI.
– Hằng ngày, lao động khổ sai tại KINH ÔNG CÒ…tuy nhiên, ở tù hai năm, tôi được tạm tha. Trở lại RG, nhờ người quen của bà xã giúp làm rẩy, ở Cầu Số 3, đường lên Hà Tiên…Nơi đây, ra biển rất gần, dân cư ngụ thưa…không lâu, người viết quen Hiếu ngư dân đánh cá, kinh nghiệm đi biển hơn 10 năm…

25-10-1981

-Lại gầy sòng tiếp…lần nầy, chiếc ghe đánh cá nhỏ 9m…đi 15 người.
. Khởi hành khoảng 11 giờ đêm, ghe chạy gần bờ, đến XẺO RÔ, gần giáp tỉnh Minh Hải, bị mắc bùn lầy. Loay xoay mãi, vẫn không thoát khỏi đầm lầy, chúng tôi bị du kích phát hiện. Nhanh trí, tôi nhét gói bọc những tác phẩm mang theo xuống bùn bên gốc tràm…Trong đầu nghĩ, bị bắt thì công trình tim óc bao năm của tôi tan tành mây khói…
Anh PNH đại diện lội bùn đi gặp tên du kích nói chuyện…Một lúc anh trở lại, bảo gom góp tiền, vàng đưa cho chúng. Nhưng chúng không cho đi bắt trở lại…Hú hồn, nhưng về RG cũng chua lắm…đành liều mạng…cùng lắm ở tù lần nữa. Tôi không quên tìm lại bịt nylon gói các tác phẩm…dính đầy bùn sình…
*Trở về, ghe không đèn, khi thấy ánh sáng thị xã trước mắt, bất ngờ, ghe suýt đâm vào một chiếc khác đang giăng lưới…làm mọi người muốn rớt tim ra ngoài. Tài công Hiếu nói, chúng ta quá may mắn, nếu đụng vào lưới cá của người ta, chắc chắn là gặp rắc rối lớn…
Tim vừa bớt đập mạnh, Hiếu hỏi mình ghé đâu để lên bờ?…xui gặp CA là toi…hết cách, tấp ghe vào Cầu Đúc RG. Nguy cơ trùng trùng, coi như xong…
Trên nghe, chỉ mình tôi, hồi hộp nhất chẳng khác nào đang đóng phim đi dây tử thần. Lúc sắp tới bờ ghềnh cầu, trời bỗng đổ mưa khá to vào tháng 11, mùa gió bất lạnh…người viết mừng muốn khóc…Trời Cứu Sa Vệ Rồi!…
Mạnh ai nấy về nhà. Tôi cầm giỏ đựng đồ “nguy hiểm” đi trong mưa, trên đường về trường NGUYỄN TRUNG TRỰC, không một bóng người. Vừa đi vừa cầu nguyện ơn trên. Nhỡ tôi bị xét hỏi, không tránh khỏi bản án tử hình hoặc chung thân qua tập TRƯỜNG HẬN CA 30-4…

*8 năm bôn ba, nhục nhằn, tù tội, quyết tâm và liều mạng mới bước xuống được chiếc thuyền định mệnh, bắt đầu chuyến vượt biển hãi hùng vào lúc 12g đêm 24-4-1983. Chúng tôi, 24 người đầy ắp chiếc ghe tam bản không mui, 8m50 .Xuất phát từ cửa VÀM RĂNG , Sóc Xoài thuộc Hòn Đất Rạch Giá .Không la bàn,không bản đồ, anh tài công nghiệp dư,cho chạy 2 máy cùng một lúc : 1 máy xăng BS9 ,1 máy dầu Nhật cổ lổ sỉ ,nên ghe phóng khá nhanh .Chạy trốn quỉ dữ,chừng hơn 30 km còn trong vòng kềm tỏa ,bất ngờ anh tài công la lên:
-Chết tới nơi! “ Típ-tam-bua” trục trặc, phá nước! Nước vào khoan nhiều lắm rồi! Tát mau! Nghe thế ,thoáng trong đầu, tôi nghĩ ngay đến cái chết thật âm thầm vô vị bởi chưa tới đâu vào đâu mà ghe đã hỏng. Tuy nhiên,tôi bình tỉnh nói nhanh:
-Yêu cầu bà con giữ vị trí , đừng chộn rộn hoặc bàn tán, để chúng tôi lo.
Ghe ngừng lại . Đàn ông cấp thời tát nước .Tài công Hiếu loay hoay sửa một hồi
không xong, đành nhảy xuống biển,thật vất vả mới làm cho nước bớt vào .Mọi
người vừa hoàn hồn , thì chị Lan bật nhỏm dậy,cuống quít nói không thành tiếng: – Trời! Trời! Nước vô ngay dưới chân tui nữa nè!
Một người khác cũng hốt hoảng:- Ấy chết! Bên này nữa, ướt đồ tôi hết rồi!
Mọi người đều rụng rời tay chân. Do ghe quá khẳm. Nếu ngưng tát nước 3 phút là nó chìm ngay .Anh TNH lách người đến xem. Những chỗ nước vào, là đường chai trét không kỹ, nên lấy giẻ rách nhét tạm thời .
99 phần trăm bỏ mạng,nhưng không ai hé răng đòi quay về .Vì trước
khi khởi hành, tôi và anh PNH đã giao kết:-BẰNG MỌI GIÁ,CHẤP NHẬN LAO VÀO CÁI CHẾT KHÔNG THAN VAN… Ghe tiếp tục dong rủi trong tình trạng cầm cự chiến đấu với tử thần. Nét mặt người nào người nấy xanh lè căng thẳng tột độ,không còn chút máu .Hơn nữa,không xa lắm,nhiều chiếc quốc doanh đánh cá đang rọi đèn kéo cào,buông lưới sẵn sàng đuổi theo khi phát hiện ghe, tàu vượt biển. Hầu như mọi người đều cầu nguyện…
Chiều hôm sau, đang lái, Hiếu chỉ tay về phía trước mặt ,mừng rỡ kêu lên:
-Gần tới đảo Thổ Chu rồi bà con ơi! Đến hải phân quốc tế,mình sẽ cầu cứu …
Niềm vui nở hoa trong vực thẳm. Chúng tôi đang xa dần địa ngục đỏ quê hương, nhưng cận kề cái chết trong gang tấc .Tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc dù phải nằm xuống giữa lòng biển tự do …
Cứ mãi mê ngắm bóng dáng núi Thổ Chu yêu kiều, quên phắc sau lưng, đến khi Dũng đang tát nước, đập mạnh vai tôi gọi: Xem kìa! Có 2 chiếc tàu đánh cá theo sau .Tôi chưa kịp nói gì, anh Phạm N H hối hả giục :-Cho chạy hết tốc lực ,tụi nó nhả khói đen rượt mình đó . Hiếu kéo cần ga tối đa …ghe chạy bạt mạng …
Chúng càng lúc càng gần, hai bạn cựu quân nhân sợ quá, móc giấy tờ vứt xuống biển…Tuỳ cơ ứng biến, tôi nghĩ …Đang lúc hồi hộp, tưởng chừng nghẹt thở …anh PNH dặn dò: Nếu bị bắt,chúng ta phải khai thế này … thế này …Nỗi tuyệt vọng hiện rõ trên đôi mắt mọi người và dường như sự cầu nguyện linh thiêng…Đột nhiên, mũi tàu chúng đổi hướng, ai cũng thở phào, trút đi gánh nặng nghìn cân nhưng nhiều thắc mắc …tại sao chúng không bắt mình? ..có lẽ …
Thoát nạn, anh em mệt nhoài,chỉ có 3 phụ nử, 4 trẻ con phó thác giấc ngủ chập chờn .Màn đêm phủ xuống lúc nào không hay .Tôi bàn giao ca tát cho 2 người khác xong, định nhắm mắt một chút dưỡng sức,chợt Hiếu báo động:- Không xong rồi! Anh H ơi! Sóng bắt đầu cấp 4, cấp 5, không đèn, đi nữa là tự sát., liều đi khác nào đánh cá với diêm vương. Ghe vô nước, khẳm, bị rượt,”tài công” lái, ban ngày ngó mặt trời, ban đêm nhìn sao trên trời … Vậy phải làm sao ? Tôi hỏi ngay .-Tốt nhất mình nên bỏ neo, nghỉ đêm naỵ, tới đâu hay tới đó, Hiếu đáp -Thật sự, không còn cách nào khác!…
Tử thần đang gõ cửa!…
Ghe đong đưa mạnh,hụp lên hụp xuống theo sóng cuồn cuộn gầm gừ hơn hổ đói .Cảnh tượng hãi hùng này thoáng chốc làm tôi bất lực …Suốt đêm, nghe như có oan hồn gào thét xung quanh, nhiều lần ,tôi bụm mặt không dám nhìn từng đợt sóng lớn nhồi, phủ chụp lấy chiếc ghe tí teo …Anh PNH ngồi bên cạnh, mắt nhắm nghiền ,tay lần hạt chuỗi…Tôi tự an ủi đành phó thác phần số…
Mong thời gian vỗ cánh, còn kim đồng hồ cứ ù lì chỉ 5:AM,phía đông ưng ửng. Tử thần đi vắng, chúng tôi lên đường, chẳng bao lâu sau, vừa qua khỏi Thổ Chu, gặp một chiếc tàu ngoại quốc thật to đang chạy chầm chậm gần đảo. Chúng tôi thấy cờ trên tàu phất phới bay, không rõ cờ nước nào . Đang trong tình trạng thập tử nhất sinh,thấy tàu như gặp đươc cứu tinh.Vài người reo lên:-Tàu vớt tị nạn đó! Mau mau làm hiệu s.o .s ,Vinh lấy áo trắng cột vào một đoạn cây nhỏ, quơ liên tục .Mãi lo cầu cứu, quên tát nước, anh PNH la to:-Trời ơi! Phụ tôi tát mau! Hãy tự cứu mình trước đã! Chuyển hướng đừng đến tàu đó! Ai cũng ngạc nhiên hỏi: Sao vậy? Anh giải thích :-Các bạn nên nhớ rằng, tàu nước tự do không bao giờ dám đến gần Thổ Chu, họ có đường hải hành quốc tế .Chỉ có tàu của các nước cs mới ngang nhiên vào hải phận VN…
Dù tinh thần căng thẳng, tôi bật cười nói :-Có lẽ, tàu Liên sô đấy! Ai muốn đi Moscou giơ tay lên? Trung (CQN) hay tếu, đáp:-Tiếc nhỉ, tôi thích đi “bún-ga-ri” cơ! Anh em cười ồ! Tiếng cười công hiệu tuyệt vời pha lẫn gió biển khơi làm dịu cơn nóng thần kinh của mọi người .9: AM, ghe đến vịnh Thailand. Một chiếc tàu đánh cá Thái, từ xa tiến về phía chúng tôi . Đang chiến đấu sinh tử giữa trùng dương làm chúng tôi không còn lo sợ hải tặc, chuyển mủi ghe nhắm ngay họ, mong được cứu .
Thay vì, gặp tàu Thái phải lánh xa, đằng này, ghe chúng tôi băng băng xấn tới, làm họ hoảng( ?)chuyển hướng phóng mất dạng.Thất vọng. Nhìn quanh, một chiếc khác, thấy chúng tôi xăm xăm đến,họ bỏ chạy. Chúng tôi đuổi theo,giương cờ trắng, nhưng vô hiệu.
10 giờ . Phát hiện một điểm nhỏ tít xa, đoán già non sẽ gặp đảo, nét mặt mọi người rạng rỡ, niềm vui chớm nụ .Bỗng trời chuyển mây cho thuỷ sa phía trước. Mưa rơi mịt mùng, càng lúc càng gần làm hy vọng vụt tắt bởi đại họa sắp níu áo chúng tôi .Làm sao tát kịp khi mưa như trút xuống? Tôi than thầm:-Trời không mưa còn tát muốn khùng, huống hồ …thế nầy! Đường cùng ta ở đây! Tài công Hiếu biến sắc, lắc đầu…
Trời giết mình rồi anh H ơi! Tôi thở dài muốn ứa nước mắt: Tiếc chi thân xác này, chỉ buồn chưa đóng góp gì cho quê hương …Ghe vẫn lao vào sinh tử …Tiếng cầu nguyện thì thầm…khác nào phép lạ, cơn mưa còn cách chúng tôi khoảng 50m , đột nhiên ngưng hẳn. Rồi mưa ào ào phía sau lưng ghe .Kỳ diệu thay! Kỳ diệu thay! Tôi lẩm bẩm một mình, cảm ơn ông bà đã che chở (?)
Chuyện khó tin nhưng có thật!…
12 giờ trưa, giàn khoan dầu hiện rõ . Ôi! Còn sung sướng hạnh phúc nào hơn lúc này ?! Lương thực và dầu sắp cạn, sắp chết đuối ,vớ được phao! Chúng tôi ra hiệu cấp cứu và cho ghe cứ tiến qua vòng phao cấm của giàn khoan . Họ dùng ống dòm quan sát, chúng tôi thản nhiên chạy vào, nhưng họ không phản ứng gì .Một chiếc tàu lớn hiệu Panama neo ngay đó . Họ ra dấu cho chúng tôi cập sát tàu . Nhiều người ngoại quốc hiếu kỳ ra xem,thấy ghe khẳm, có đàn bà,trẻ con, đàn ông thanh niên đang hì hục tát nước .Họ lắc đầu lia lịa, tỏ vẻ thương hại . Đồ ăn,thức uống ,một ít quần áo,họ thảy xuống và nói:-Chờ một chút, sẽ có người đến tiếp nhận các bạn. Quả nhiên, 5 phút sau,một chiếc tàu Phi luật Tân nhỏ đến đón chúng tôi .Thật bồi hồi ,tôi nhìn con “ngựa què” chìm nhanh, cảm ơn ngươi giúp ta đến vùng hồi sinh.
30 -4 -1983 : Kỷ niệm QUỐC HẬN trên giàn khoan PANAMA .
Chúng tôi và bốn nhóm người ghe khác được ở tạm trên giàn khoan. Nghe nói,họ sẽ chuyển tất cả đến “xà lan” gần đó . Hôm nay,không hẹn mà gặp, không mời mà đến, chúng tôi ngồi lại với nhau, thắm tình ruột thịt, để tưởng niệm ngày oan nghiệt của dân tộc VN: Tám năm ,bầy quỉ đỏ bôi đen lịch sử, tắm máu miền nam dấu yêu .Là giây phút thiêng liêng nhất, chúng ta nhai lại bài học phản bội tàn nhẫn của đồng minh. Là vết chém sâu quắp sau lưng quân đội VNCH, luôn nhức nhối, mưng mủ..Khoảng mười CQN ngồi lại với nhau ôn những đau thương mãi ngun ngút trong lòng…
Chỉ một ít bánh ngọt và nước đun sôi mà cảm thấy ấm cúng kỳ lạ .Anh em nhạt nhòa trong quá khứ trở về đầy máu và nước mắt .Tưởng nhớ những chiến hữu anh hùng đã hy sinh vì Tổ Quốc trước và sau ngày Quốc Hận 30 tháng tư 1975…
Lực, trẻ tuổi nhất, phá tan không khí yên lặng:-Tôi đề nghị anh NHDiệm phát biểu cảm tưởng trước tiên vì anh là cựu thiếu tá có cấp bậc cao nhất ở đây .Với khuôn mặt sạm nắng Cao Bằng khắc khổ,anh NHD khoát tay :-Thôi mà! đến giờ phút này gọi tướng với tá gì nữa .Cái ngày tủi nhục đó, đâu có thằng vc nào đưa tay gở lon mình mà chính chúng ta sợ hãi tự vứt nó đi rồi làm cả sấp giấy BẢN THÚ TỘI với kẻ thù thì không có lý do gì chúng ta còn hãnh diện với nó nữa cả .Cùng cảnh ngộ, gông xiềng, tị nạn như nhau …mới thấm thía, một số lãnh đạo chúng ta cũng không hơn gì đồng minh…
Hoàng gật gù ngắt ngang:- Đúng! Chí lý! Buồn thay …Anh hùng khi khấp cũng khoanh tay …khí phách trở thành độc dược cho người ngả ngựa, bẻ kiếm ngang trời,phiêu bạt gió sương xứ người …Hớp một ngụm nước lấy giọng, anh NHD đăng đắng ươm buồn:
-Hôm nay, chúng ta đã thực sự thoát nanh vuốt vc, vừa trải qua chuyến hành trình kinh hoàng, tôi tưởng chừng mình được khai sinh một kiếp khác. Năm tháng bị nhục hình, bạn bè chết thê thảm trong tù, cứ nhoi nhói mãi trong đầu …Tôi không có cơ hội vào chiến khu, đành phải ra đi . RA ĐI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ HÈN NHÁT, NẾU CHÚNG TA CÒN TRĂN TRỞ,TOAN TÍNH QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG! KHÔNG VÌ BƠ SỮA,VẬT CHẤT CÁM DỖ LÀM L Ư ƠNG TÂM H ÓA Đ Á, QUÊN ĐI ĐIỀU GỬI GẤM THIÊNG LIÊNG CỦA DÂN TỘC. HAY CÒN TỆ HƠN NỮA, NGỒI SALON KHUA BA TẤC LƯỠI PHỤC QUỐC, TỊ HIỀM, KHÍCH BÁC ĐÂM CHÉM NHAU …CHÚNG TA PHẢI THỰC SỰ DẤN THÂN VÀ TRONG SẠCH…
Trung,chưa già mà trán đã nhiều nếp nhăn, tiếp lời:-Con đường phía trước mặt, theo tôi nghĩ rất là chông gai .Làm người dễ biến dạng trước cám dỗ giàu sang…Tôi mong đến nước thứ ba sớm để xem đàn anh của chúng ta đã thực hiện được những gì ?
Lần lượt phát biểu, nhiều cảm tưởng rất đáng ghi nhớ,người nào cũng đầy ắp kỷ niệm đau thương, sẵn sàng lên đường trả thù …Tôi thầm nghĩ:-Hai chữ ĐỒNG TÂM, ĐOÀN KẾT quá quí giá,xưa nay chỉ tô điểm ở cửa miệng…Mấy ai biến nó thành sự thật ???
Lực chợt đứng lên:-Tôi đi nấu thêm nước,tới tiết mục văn nghệ rồi, xin mời các ông ca sỡi lên sân khấu! Nhiều tiếng cười và nói phụ họa, không khí trà đàm bắt đầu vui hẳn lên. Một số phụ nữ và trẻ em nghe nói hát hò cũng xúm lại “mua vé” thưởng thức .Cường tình nguyện làm hoạt náo viên.Vài người phản đối:-Ai cũng phải đóng góp hết cho thêm phần sôi nổi .Hát tưới hột sen, hay kể chuyện tiếu lâm…cho vui thôi mà …
Hoàng đề nghị:-Người nào trả nợ xong có quyền chỉ định người khác…Trung mở màn bằng ca khúc: ViệtNam ViệtNam.Tất cả cùng vỗ tay theo .Gây hào hứng, phấn khởi..Chiến nối tiếp với :Việt Nam quê hương Ngạo nghễ bằng giọng trầm hùng, nghiệp dư, nhưng khích động lòng “chiến sĩ” dễ sợ !Một tràng pháo tay vang lên tán thưởng, yêu cầu:bis,bis…Nhưng anh từ chối . Đến phiên Dũng, cáo lỗi trước: -Em vốn giọng vịt cồ, bài ca không thuộc hết, miễn cười cho ,bài: 20 mươi năm sau … Để thay đổi không khí tôi ngâm một đoạn trong tập :THƠ, NHẠC TRƯỜNG HẬN CA 30/4 . Rồi anh NHD kể chuyện tiếu lâm. Cường thì cười 6 kiểu .Lực châm biếm, móc họng lũ ngu dốt hà nội …
Hoàng kết thúc chương trình đầy ý nghĩa qua ca khúc:Không bao giờ quên anh…
HÀ NGỌC
*Sachilechannel: Nhân ngày tưởng niệm 45 năm QUỐC HẬN, KÍNH MỜI QUÝ VỊ KHẮP BỐN PHƯƠNG CÒN QUAN TÂM ĐẾN VẬN MỆNH DÂN TỘC, XIN MỞ LÒNG NGHE MỘT ĐOẠN Clip TRƯỜNG HẬN CA 30-4, VIẾT TỪ HỎA NGỤC VN, SAU NGÀY TƯỚNG HÈN DƯƠNG VĂN MINH TUYÊN BỐ BUÔNG SÚNG…XIN THẮP NÉN HƯƠNG TƯỞNG NIỆM TẤT CẢ NHỮNG ANH HÙNG CỦA QLVNCH ĐÃ ANH DŨNG HY SINH, TUẨN TIẾT ĐỂ BẢO VÊ MIỀN NAM THÂN YÊU NGÀN ĐỜI…Kính mong quý vị vui lòng bấm đăng ký & Like để nhận video THC30-4 kế tiếp. Chân thành đa tạ. 30-4-2020.
TRƯỜNG HẬN CA 30 4QH


**
THAY LỜI TỰA

Ba mươi tháng tư!
Ngày hòa bình hay ngày tàn dân tộc
Ngày lên thiên đàng hay xuống địa ngục?
Hỡi đồng bào ơi! Hỡi bạn bè ơi!
Cúi mặt mà đi như bóng ma hời!
Cúi mặt mà đi như bóng ma hời!
Dương Văn Minh! Dương Văn Minh!
Tên phản quốc! Bán nước!
Để cầu xin làm tên tù dự khuyết.
Để cầu xin làm tên nô lệ có chứng từ.
Mi có nghe tiếng nghiến răn của gần sáu mươi triệu người
Việt Nam đang nguyền rủa mi trước lịch sử.
Dương Văn Minh! Chính mi đã quỳ xuống van lạy quỉ dữ
tha mạng, xin dâng lên hai mươi triệu dây thòng lọng
thắt cổ người miền nam hiền hòa đáng thương!
Kính đệ trình lên nhân dân các nước yêu tự do trên
thế giới bản cáo trạng tụi nhục viết bằng máu và nước
mắt của gần sáu mươi triệu tù nhân chung thân khổ chi
hiện sống một cách tuyệt vọng trong sự đày đọa, đói khát
và bệnh tật.
Gần sáu mươi triệu tù nhân là bấy nhiêu bộ xương di
động đầy vết tra tấn, dã man sát khí căm phẩn ngất
trời, sẵn sàng vùng dậy băm nát đầu quỉ dữ vì khao
khát khẩn thiết một chút hơi thở tự do.
Những vụ tự sát vô cùng đau đớn bi hùng, trong các
trại tạm giam, cải tạo, cùng những tiếng súng gầm thét khắp
trời nam, bỗng làm bừng dậy niềm tin mãnh liệt trong lòng
những trái tim hấp hối.
Bên rừng có tiếng ai vang gọi?
Hãy chờ tôi nhé anh em ơi!
Tôi còn đánh thức trùng dương dậy
Để sóng gầm làm chuyển đất trời.
Hãy nhìn những dòng những dòng nước mắt sôi bỏng màu thù,
mãi tức tửi tuôn trào của gần sáu mươi triệu người không
còn là người, ánh mắt chói ngời bất khuất là tiếng kêu
thất thanh cấu cứu với những ai có lòng nhân đạo.
Hỡi! Tất cả các dân tộc tự do trên thế giới xin
một lần nhìn về Việt Nam bất hạnh đáng thương, hãy cứu
chúng tôi thoát khỏi cảnh hỏa ngục ghê gớm nhất trần gian.
Dù chúng tôi phải đổi bằng xương máu, bằng hơi thở cuối
cùng. Chúng tôi đã quyết tâm hẹn ngày về Jerusalem vùng đất
hứa muôn đời của dân Do Thái thứ hai

Viết từ hỏa ngục đêm 02/05/1975
***
10/05/1975 TẠI TRẠI CẢI TẠO

Gã tù binh kiêu hãnh.
Mắt chói lòa căm hờn.
Ngốn ngấu tên nô lệ.
Ngu xuẩn ba mươi năm!

Trên miệng người nào nguyền rủa chiến tranh.
Trên miệng người nào kêu ca hòa bình.
Trên đầu người nào đội bom đội đạn.
Trên vai người nào vác gạo đeo cơm.
Lội suối vào bưng nuôi bầy quỉ dữ.
Nguyện cầu một ngày – ba mươi tháng tư.

Quỉ dử tràn ra thị thành.
Nhân danh cách mạng – giải phóng quê hương.
Nhân danh cách mạng – còng trói anh em.
Nhân danh nhà nước – cướp của thu nhà.
Nhân danh nhân dân – độc tài chuyên chế!

Ta cúi xuống
Nghe đất trời tan vỡ
Theo từng nhịp thở
Mộng công hầu lớp lớp đứng xuôi tay
Chí tang bồng đã ngoảnh mặt từ đây!
Cúi mặt xuống thẹn tang bồng hồ thỉ!

Ta chừ có hẹn?
Tình cờ gặp nhau.
Hình như chiêm bao.
Nụ cười méo lệch.
Chào nhau tiếng nghẹn ngào.
**
Giữa công trường nắng cháy
Qua nông trường mưa tuôn
Đôi mắt vương mây luyến
Nhạt nhòa ngậm khói sương

Người tù binh nào ánh mắt không sôi?
Có gông xiềng nào không lưu huyết hận?
Cảnh lưu đầy nào ghi nhớ muôn đời?
Đất Bắc nào chôn một thời ngang dọc?
Hướng về Nam trăm trối Việt Nam ơi!

Một lệnh truyền hãy buông tay súng
Người lính chồm lên – ói máu tươi!
Rồi đồng loạt – đưa tay cho quỉ trói
Đầy vào “thiên đường” – nhồi ác thay tim.

Một lời thôi! Sống cũng như chết.
Sĩ, tướng hằng ngày gánh phân trâu
Bo bo lưng lửng chiều Bắc – Lạng.
Đói sét hai hàng đuổi bắt nhau

Trên đôi mắt người tù xanh xao
Trên đôi mắt người tù mưa mau
Mưa thì mưa không xanh cây lá
Chờ người về bắn rụng hoa rao!
***
Một ngày rủ nước cùng non.
Cuốc từng tủi nhục xem còn ai không?
Ruộng ta loang loáng đường gươm.
Rừng kia còn thức hay quên thở rồi?!

Ru con ngâm quả bồ hòn.
Võng đưa nát mặt anh hùng buông gươm.
Chiều xây thái nghén căm hờn.
Cúi nằm chờ đợi trong hồn ta sôi.
Ngày thều thào bảo một ngày.
Đá nhào giãy giụa lạy trời núi ơi!

Vỗ trán xuân nhăn nhíu
Râu tóc ngạo thời gian.
Mắt thêm sầu tàn bạo.
Nhịp căm hờn ngâm khan.

Tự do ơi! Phải chăng mi là hơi thở.
Thuốc hồi sinh hay điểm tựa cuối cùng.
Như đức tin soi ngàn năm vĩnh cửu.
Mối thù kia! Rữa bằng máu anh hùng.

Chiều nao cúi xuống máu cuồng.
Ngược đường chinh chiến ta buồn hóa điên.
Đào mồ chôn hết hai miền.
Xé cờ giải phóng để tang anh hùng.
***
Bảy năm lính thú bưng biền.
Quỉ cùng ta học trăm lần điêu ngoa.
Nào lao động ngàn dặm xa.
Chí ngùn ngụt bốc khói hòa niềm tin

Anh nhớ gì?.. Ba mươi tháng tư.
…Ba mươi tháng tư…
Ngày hòa bình hay ngày tang dân tộc.
Ngày lên thiên đàng – hay ngày xuống địa ngục!
Hỡi đồng bào ơi! Hỡi bạn bè ơi!!!…
Cúi mặt mà đi!… như bóng ma hời.
Cúi mặt mà đi! như – bóng – ma – hời…

Quán chiều chật mích hồn can.
Gió gào nhạc rỉ đắng hàng mi xanh.
Bờ kinh réo nước chung tình.
Mãi xuôi xin khéo nhớ hình bóng non.

Xuân biếng cười xõn tóc.
Người tù cúi khó nhọc.
Lượm từng hạt cơm thiu.
Nhai, cho đời, đỡ mếu.
Nuốt chừng, khô nước bọt.
Liếm láp niềm cô đơn.
Vỡ tan thành, nheo nhóc.
***
Trên miệng, người nào, mãi nói ăn năn
Trên mặt, người nào, giọt lệ khôn ngăn.
Trên đầu, người nào, thêm khăn sô trắng.
Cho từng đứa, con nằm xuống, ngoại biên.

Đoàn người thành phố về kinh tế mới.
Trăng rưng rưng rớt xuống bên kia rừng.
Người thành phố thở dài đợi lãnh cơm.
Ngày phá đất hoang đêm nghe chắc lưỡi.
Người thành phố nào tức tửi ru con.
Rồi một hôm liều trốn về phố cũ.
Lếch thếch, lang thang, ngủ chợ miếu đình.
Còn đâu những sáng chiều xinh.
Đếm từng hạt gạo hỏi mình là ai!

Bên kia trường học ca vang dậy.
Bắt học trò sùng bái ca nhân.
Bên này ta nghiến răng trèo trẹo.
Bằm nát lá cờ sao vỡ tan
***
Trẻ nghĩ học, bế em, gánh mướn.
Thầy giáo còng lưng – kéo xe cây.
Cô giáo ngồi lề đường bán bắp nướng.
Thương gia trí thức chết – đói –dài –dài.
Quân nhân, công chức cải tạo miệt mài.
Thức ăn, mồ hôi chan – cơm –nước – mắt…

Thằng nhắn gia đình tìm – cách –vượt –biên.
Đứa chửi đời – ở trung tâm an dưỡng.
Nghe tin vợ – thay áo đổi xiêm.
Hãnh diện! nâng khăn sửa túi đứng viên!
Còn nhục nhã nào hơn không nhục nhã…

Trên vai người nào vác nghiêng bao lúa.
Lúa xuống tàu bật khóc nhớ quê hương.
Đôi hàm răng ai cắn môi phún máu.
Đôi bàn tay nào bóp vỡ quả cam.
Triệu bàn tay vung lên dũng mảnh.
Thề một ngày quét sạch lũ hung tàn.

Bao năm rồi người anh em xa xứ.
Bao năm rồi người khăn gói bôn ba.
Qua Pháp, qua Anh, Tàu, Nga rồi Nhật.
Nay trở về cào mả ông cha.
Làm cơ quan công viên và đại lộ.
Từng bước chân đạp lên hồn quá cố.
Từng bước chân sùn sụt máu trong rừng.
Những chiều thu chống kiếm nghẹn ngoài bưng.
Tay chân đá những mùa năm tháng lạ.
Ở ngoài đường có nón cối dép râu.
Vỗ ngực khoe khoang ta làm thay trâu.
Lịch sử trợn trừng nhìn loài ác quỷ.
Nhảy nhót múa may xưng mình là khỉ?
Chỉ biết moi gan uống máu đồng bào.
Thế giới quật mồ để người sống lại!
***
Quán chiều chật mích hồn oan.
Gió gào nhạc rỉ máu hàng mi xanh.
Bờ kinh réo nước chung tình.
Mãi xuân xin khéo nhờ hình bóng non.

Đỉa đeo chân hạc lên trời.
Người ôm thân phận ra khơi một mình.
Ngùi ngùi ngoảnh lại bờ kinh.
Máu trong như biển trắng tinh nước non.
Nằm khoanh dưới đảo héo hon.
Giật mình ngửa mặt hỏi hồn đi đâu?

Một mình cú liệng qua truông.
Làm sao dệt nổi mùa xuân bây giờ.
Lòng cuồng nộ với ngày xưa.
Trông mù con mắt giọt mưa không về.
Thôi rồi trời đã ngủ mê.
Để bầy quỉ dữ xuống đè quê hương!

Kẻ thức gớm ghê thành điên loạn.
Người mê ác mộng gọi liên hồi.
Ta khoanh tay ngó trời thua cuộc.
Mặc sóng dìm thuyền giữa cơn say.
***
*NHẠC HAY VỀ NGÀY QUỐC HẬN 45 NĂM.SG ơi Vĩnh Biệt (Si Phú); Một Chút Qùa cho Quê Hương (Ngọc Lan)

Trại Pendleton: “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” chào đời

Tôi còn nhớ đã hát thử cho Trung Hành nghe trong căn lều vải, nằm dưới thung lũng buồn của trại. Chỉ vừa có vài câu đầu thôi mà hắn đã khóc như một đứa trẻ, đâu biết rằng tôi mới viết chưa xong được đến một nửa bài. Cho mãi đến sau này, khi xuất trại, thật sự đối diện với cuộc sống lưu vong, đầy gian truân, mồ hôi và nước mắt với bao nhọc nhằn, tủi nhục trong thời gian đầu, cộng với nỗi thương nhớ gia đình. Vào giữa tháng 11, 1975 tôi mới hoàn tất nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”. Khánh Ly thu thanh lần đầu tiên vào mùa Xuân 1976, ông Lê Văn của đài VOA phỏng vấn Khánh Ly và tôi, rồi sau đó phát thanh bài này về VN vào tháng Tư, 1976 nhân dịp kỷ niệm 1 năm ngày Sài Gòn sụp đổ!

Khánh Ly -Nam Lộc 1976,
ngày thu thanh Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt

Vào tháng Tư, 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu, Khánh Ly đã trình bầy ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” của tôi lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình. Mời quý vị cùng nghe và xem lại sau đây, cùng âm thanh và hình ảnh, tuy rất thô sơ nhưng đầy kỷ niệm của 42 năm về trước:
https://youtu.be/3nfFo-T1Abo
Nhạc phẩm này cũng hân hạnh được nhiều ca sĩ thu thanh, thu hình. Mỗi người một giọng hát, một lối trình bầy, một cách diễn tả và được người thưởng ngoạn yêu thích khác nhau. Tôi xin mời quý vị cùng nghe lại dưới đây, kể cả phần trình bầy của tác giả ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”:
NGỌC LAN:
https://www.youtube.com/watch?v=uVuWB0KRb-U&list=RDuVuWB0KRb-U&index=1

SĨ PHÚ:
https://youtu.be/wwOlWQCP6AE

KHÁNH LY:
https://www.youtube.com/watch?v=1bwd7813WKo

VŨ KHANH & GUITAR VÔ THƯỜNG:
https://www.youtube.com/watch?v=Zc3VcD9S6ro

HỒ HOÀNG YÊN:
https://www.youtube.com/watch?v=xh097M2SfGI

NAM LỘC:
https://www.youtube.com/watch?v=b14f9RKLiQU

KHÁNH HÀ:
https://www.youtube.com/watch?v=iMbHqh5MXxU
***
***
*Bài viết, slideshow, video – Tưởng Niệm Quốc Hận 30 tháng 4, 2020

*NỮ SĨ DUY HÂN

Mời bấm vào xem slideshow các hình ảnh cũ – Lễ Chào Cờ khắp nơi trên thế giới
Thực hiện slideshow: Duy Hân, cuối tháng 4, 2020

Mời bấm vào nghe bài viết của Duy Hân về 45 năm Quốc Hận, do đài Truyền Thông Việt Ngữ Brisbane(Úc Châu) diễn đọc
Nếu không nghe giọng đọc được, xin bấm vào đây để xem bài viết 45 năm Quốc Hận
https://www.facebook.com/watch/?v=224382692199318
Mời bấm vào xem một đoạn phim video Lễ Chào Cờ tại Toronto năm 2008

Tuyển tập Tháng Tư Đen, tưởng niệm Quốc Hận

Mời bấm vào đọc các chuyện rất ngắn của Duy Hân viết cho quê hương

Mời tham dự “online” trực tuyến theo Thông báo về tổ chức Lễ Thượng Kỳ 2020 toàn thế giới, xin bấm vào xem chi tiết

Mời tham dự THÁNH LỄ 45 NĂM QUỐC HẬN (ONLINE)
do Đức Giám Mục Nguyễn Văn Long (Úc châu) cử hành theo poster dưới đây:***
***
30/04/1975:

Muôn đời vẫn là Ngày Quốc Hận

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Bây giờ là Tháng Tư, năm 2020, đúng 45 năm ngày Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã bị rơi vào tay của bạo quyền Cộng sản Hà Nội, vốn là chư hầu của Tầu cộng.

Những người Việt Nam yêu nước chân chính, dù ở quốc nội hay hải ngoại, tất cả đều không quên 30 Tháng Tư: Ngày Quốc Hận! Và đời đời, lịch sử Việt Nam vẫn khắc ghi 30/04/1975, là Ngày Quốc Hận!

Chính ngày này, ngày đã in sâu trong ký ức của tất cả nạn nhân đau thương, tang tóc, khốc liệt nhất, là Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa.

Dẫu đã 45 năm trôi qua, nhưng những vết thương do bàn tay sắt máu, tàn ác của chính đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra cho vô số gia đình, kể từ 30/04/1975, tất cả đều đã hằn sâu từ thể xác cho đến tinh thần của những người đã một thời từng quằn quại, đớn đau dưới những thảm cảnh trả tù, hành hạ, tàn độc, ở trong nhà ngoài nhà tù “cải tạo”, sẽ không bao giờ phai nhạt.

Tôi vẫn nhớ như in, ngày đoàn quân xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt tràn vào Thành phố Đà Nẵng: 29/03/1975.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản, vì ở những nơi đó Việt cộng đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của Việt cộng bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xảy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Làm sao quên được, những hình ảnh của em thơ, cụ già, yếu đuối trong cơn chạy giặc, đã bị trúng mảnh đạn pháo kích của Việt cộng, khiến họ phải chết một cách vương vãi trên các ngả đường, từ bến Bạch Đằng đến khắp thành phố trong giờ phút “lâm chung”.

Ngày ấy, người dân miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa đang sống trong một Thể chế Cộng Hòa, Tự Do-Dân Chủ. Một Quốc Gia có đầy đủ Tam Quyền Phân Lập, không ai nghĩ rằng sẽ có một ngày phải “sống chung” với loài Quỷ Đỏ. Nhưng sự thật đã xảy ra. Ngày 30/04/1975, ngày Mất Nước, ngày tất cả con dân của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã bị Bạo quyền Cộng sản Hà Nội đày ải đi đến tận cùng của những tang thương và máu lệ!

Sau ngày ấy, đã có biết bao nhiêu người đã bị giam cầm trong những trại tù ngụy danh “cải tạo” trên khắp mọi miền của đất nước, thì đoàn quân xâm lăng Cộng sản Hà Nội đã xông vào nhà, cướp sạch hết tài sản, rồi đuổi cả gia đình họ ra đường, để chia nhau chiếm giữ nhà cửa của họ làm của riêng.

Trại tù ngụy danh “cải tạo” Tiên Lãnh (T.154) Tiên Phước, Quảng Nam

Để mọi người hiểu thêm, tôi xin nói qua về Trại tù Tiên Lãnh (T.154), là hậu thân của trại tù Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi, Ông Trần Thắng, đã bỏ mình tại trại này vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì Việt cộng đã cấp tốc “khởi công” phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm đất, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu Việt cộng đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho “khánh thành” và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành “Trại cải tạo T.154” tức “Trại cải tạo” Tiên Lãnh, để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra tù trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được chữa trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói, chết khi đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối.

Tôi cũng xin nói thêm, để cho quý vị cựu tù từng ở trong trại này, nhưng đã được ra tù trước năm 1983, thì không biết được về cái cách “lao động khoán, phải đạt chỉ tiêu hàng ngày” mà tôi thường kể và viết, vì trước năm 1983, không có “lao động khoán”.

Ngoài các trại tù nam, Việt cộng cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà bếp, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù “vi phạm nội quy” thì công an trại nữ lại “Lập biên bản” để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Vì thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại đều biết tất cả, qua cái loa phóng thanh đặt ở cả hai trại nam-nữ tù “cải tạo”.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, “tuy xa mà gần, tuy gần mà xa” chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng “học tập chính trị”, hoặc “họp toàn trại” mỗi khi trong trại có nhiều người “vi phạm nội quy” hoặc xem “văn nghệ” vào dịp Tết, hay ngày 2/09, “nghệ sĩ” là các anh chị em đa số thuộc Sinh Viên, Học Sinh, và Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nam tù. Đến năm 1983, chúng tôi thường xuyên “lao động” hàng ngày với nhà 08 do Thiếu tá Nguyễn Văn Chước “Tự quản” (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm “nhà trưởng”, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với “chỉ tiêu” chung, ba người một sào, bắt buộc phải “đạt” trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với “chỉ tiêu” vừa cuốc vừa trồng phải “đạt” 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải “đạt chỉ tiêu”. Nói tóm lại làm việc gì cũng phải cân, đo cho “đạt chỉ tiêu” mới được nghỉ.

Nhưng không phải “đạt chỉ tiêu” rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải “làm tranh thủ” hái đậu phụng (lạc) cũng “chỉ tiêu” cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày “lao động” khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải “tranh thủ” làm cỏ mía… Thôi thì đủ thứ “tranh thủ” không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; nhưng vẫn “không đạt chỉ tiêu”. Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, nhất là các vị thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày Đông buốt giá, đến những ngày Hè nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.

Những cựu tù “cải tạo” không phải là Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Ở trại khác, thì tôi không biết, những riêng Trại Tiên Lãnh. Gồm Trại chính-Trại 1, còn có các Phân trại như: Thôn 05, Na Sơn, Nà Thao…

Người viết quen biết rất nhiều vị cựu tù không phải Sĩ Quan, nhưng đã phải ở tù trên dưới 10 năm, vì cái “tội” là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tôi vẫn nhớ tên các vị, kể cả người đã chết, nhưng khó có thể viết hết, nên chỉ kể những “chức vụ cao nhất” của các vị là Xã trưởng, Phó xã trưởng, Ấp trưởng, Ấp phó, Liên gia trưởng. Trung đội trưởng, Trung đội phó Nghĩa quân, Cảnh sát viên, Nhân viên Dân Ý Vụ, cựu Biệt chính, cựu Biệt Kích Tây Hồ… Nghĩa là, dù chỉ là Liên gia trưởng, nhưng vẫn bị Việt cộng bắt bỏ tù không sót một ai, chỉ vì cái “tội” là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng!

Đặc biệt, là các Cựu Đoàn viên của Đoàn 18 Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Đoàn 18 hầu hết là những cựu cán bộ Biệt Chính. Và hầu hết, các vị là người dân của quận Tiên Phước, Quảng Nam, họ phục vụ tại Tiên Phước, nhưng cũng có thời một gian “đóng” tại xã Kỳ Lý, Kỳ Mỹ, Tam Kỳ. Sau này, Đoàn 18, đã được chuyển sang các Chi-Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia, hoặc trở thành những ông Xã trưởng, Ấp trưởng, Và vì hầu hết Đoàn 18, đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, nên tất cả các vị Cựu Đoàn 18, Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, đều đã bị Việt cộng bắt đưa vào trại tù, nên sau khi ra tù, các vị đã được sang Hoa Kỳ, vì là thành phần cựu tù “cải tạo”.

Để biết rõ, vì sao người dân ở quê tôi đã bị Việt cộng bỏ tù nhiều như thế. Và đây là câu trả lời: Người ta thường nghe câu: “Ra ngõ gặp anh hùng” Nhưng riêng Làng Thạnh Bình, Tiên Phước, thì người dân lại thường nói với nhau: “Ra ngõ gặp… Quốc Dân Đảng. Mở mắt ra, thấy Quốc Dân Đảng”. Cả làng, đa số là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng; một Chính đảng chống Cộng quyết liệt, nên Việt cộng cũng rất thù Quốc Dân Đảng.

Nhưng nếu muốn viết về những đau thương trong nhà tù “cải tạo” và cựu tù, thì không có giấy mực nào có thể kể hết, bởi, đó là những tội ác vô cùng tàn độc, sắt máu, dã man đã sánh cao bằng trời, bao la bằng biển, của bạo quyền Cộng sản Hà Nội.Vì thế, người viết xin tạm dừng ở nơi đây, để viết thêm về những hoàn cảnh khác.

Những cảnh ngộ bi thương của các gia đình của quý vị cựu tù

Đa số các gia đình của quý vị cựu tù, trong lúc đang bị đày đọa trong “Trại cải tạo” thì ngoài kia, bên ngoài song sắt, là Cha, Mẹ, vợ, con… cũng phải gánh chịu những đau thương không kém. Quân xâm lăng, cướp nước Cộng sản Hà Nội, đã xông vào nhà của các vị, để cướp sạch hết những gì có thể dùng được, kế tiếp là dùng bạo lực đuổi thẳng vợ, con của qúy vị ra khỏi nhà, để chiếm làm “nhà riêng” của chúng.

Sau ngày được ra tù, khi đi tìm thăm những người thân, tôi đã chứng kiến nhiều cảnh ngộ đau thương, đến khốn cùng, để rồi cùng gia đình của họ ôm nhau rơi lệ! Những thảm cảnh này, nếu viết ra sẽ rất dài, vì có nhiều vị là nạn nhân và cũng là nhân chứng, nên tôi sẽ kể lại thật rõ trong một bài khác.

Thảm cảnh của Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa

Vào một thời đã chắp tay súng, để bảo vệ non sông, bảo vệ tự do, dân chủ, bảo vệ đồng bào. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không thể ngờ rằng, có một ngày mình phải bị lâm vào những cảnh ngộ đau thương như vào ngày 30/4/1975. Chính ngày này, khi các vị đang nằm trên giường bệnh, với những vết thương còn rỉ máu, tay chân bị cụt, mắt không còn… Thế nhưng, các vị đã bị những kẻ nhân danh là “giải phóng” đã thẳng tay đuổi hết các vị ra khỏi các Quân y Viện của Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, các vị phải bò, phải lê lết những tấm thân còn rỉ máu trở về nương tựa với gia đình cho đến tận ngày hôm nay!

Vùng “Kinh tế mới”

“Kinh tế mới” là cái mỹ từ do đảng Cộng sản đã đặt để ra, cũng như cái mỹ từ “Học tâp cải tạo” vậy. Thực chất, đây là những vùng đất ở những nơi rừng thiêng, nước độc, không người lui tới, để lưu đày tất cả các gia đình “ngụy dân”. Những vùng “kinh tế mới” toàn là rừng núi hoang vu, đất đá khô cằn, trồng sắn, sắn chết, trồng khoai, khoai khô… không một loại ngũ cốc nào sống được.

Chính vì vậy, sau những tháng năm phải dùng những bàn tay, mà vốn trước kia vốn chỉ quen với phấn trắng, bảng đen của thấy cô giáo “ngụy”. Sau khi lâm vào những căn bệnh sốt rét rừng… có rất nhiều người đã chết ngay trên vùng “kinh tế mới”. Và những giọt nước mắt của họ đã rơi trên những thi thể của con em của mình đã chết vì bệnh tật, đói, lạnh và kiệt sức. Họ cũng đã nhỏ máu mười đầu ngón tay, vì phải vạch gai rừng, đào huyệt mộ trên vùng đất đá, để chôn xác người thân, và cũng không có quan tài, chỉ bó chiếu mà thôi!

Người viết xin nói thêm về cảnh ngộ của các bà vợ của quý vị cựu tù “cải tạo”. Đa số, các bà vợ, thường có việc làm như Công chức, Giáo sư, Giáo viên… Nhưng gần hết các bà vợ không được trở lại văn phòng, không được tiếp tục dạy học ở trường các cấp, vì có chồng đang “học tập cải tạo”, mà đã bị buộc đi “vùng kinh tế mới”. Họ phải dìu dắt con thơ lên tận rừng sâu, núi thẳm, với đôi tay cầm bút ở văn phòng, hay đã quen với phấn trắng, bảng đen, nay phải cầm cuốc, bới đất, trồng khoai, trồng sắn, một nắng hai sương, để một phần nuôi sống con thơ qua ngày, một phần dành dụm, để đi thăm chồng đang bị đày đọa ở trong chốn lao tù!

Người viết có người chị kết nghĩa, chị Hồ Thị Diệp đã kể: Trước 30/04/1975, chị làm việc tại Chi nhánh Ngân Hàng Quốc Gia tại Đà Nẵng. Sau đó, lúc Việt cộng mới vào Đà Nẵng, vì không biết làm việc như thế nào, nên chị đã được “lưu lại” để chị chỉ vẽ cho chúng biết những công việc tại Chi nhánh Ngân hàng. Nhưng sau khi chúng đã học hỏi xong xuôi, chúng tìm cách “kết tội” là “Công chức làm việc cho Ngụy”, và bắt chị đi vào nhà tù, và chị cùng ở trại với tôi. Còn chồng của chị, anh Mỹ, đang dạy tại trường Trung học, thì Việt cộng đã thẳng tay đuổi ra khỏi trường, vì “Giáo viên ngụy, không biết dạy giáo trình cách mạng”. Trước hoàn cảnh này, anh Mỹ phải dắt ba đứa con nhỏ trở về quê Cẩm Kim, Hội An, rồi mua một chiếc máy xay gạo cũ, hàng ngày xay gạo thuê kiếm tiền nuôi con và đi thăm nuôi vợ trong tù, tôi đã được Chị Diệp cho đọc những lá thư ngắn anh gửi vào nhà tù cho chị. Chị thường hay kể chuyện với tôi, và khóc vì thương nhớ chồng con. Trước ngày ra tù, chị Diệp có nhờ tôi làm cho chị một bài thơ, nói về tình nghĩa vợ chồng của của anh chị, theo lời chị kể, để chị đọc thuộc lòng, khi về nhà sẽ đọc cho anh Mỹ biết “thơ của cô em kết nghĩa” trong tù.

Một cảnh ngộ khác, mà sau khi được ra khỏi nhà tù, tôi đã gặp lại người em kết nghĩa, là Kim Anh, trước 30/04/1975, là Giáo viên, con gái của một ông chủ cây xăng tại Đà Nẵng, đang ngồi bán xăng lẻ ở ngã ba Hòa Cầm. Gặp lại nhau, sau khi nói về những năm tháng cũ, Kim Anh kể:

“Em đang đi dạy họ bảo em, nếu muốn đi dạy lại, thì phải đi học chính trị về đường lối và giáo trình cách mạng. Phải dạy theo cách dạy mới như làm toán, phải tính theo cách cộng, trừ, nhân chia bằng súng, đạn, nguỵ… Phải dạy học trò đọc theo kiểu “cách mạng” như Bờ, Cờ, Đờ… nên em vì không muốn đi học chính trị, không muốn dạy học sinh theo cách đó, vậy là nhà em bị mất cây xăng, còn em thì ngồi đây bán xăng lẻ sống qua ngày, còn anh Hoàng (anh cả của Kim Anh) đang học Chính Trị Kinh Doanh, không biết làm gì, nên ở nhà… nấu cơm cho ba má em đã già và thằng em trai không chịu học “chương trình mới”, nên đã bỏ học và em đi bán xăng lẻ về nhà cùng ăn.
Nhưng riêng em thì vậy, chứ cũng có một thiểu số Công chức, Giáo viên vì đã từng “Hoạt động thành” (có nghĩa là Cộng sản nằm vùng thứ thiệt – người viết giải thích) thì được cho tiếp tục làm việc, hoặc đi dạy, nhưng dạy học sinh theo “giáo trình cách mạng” mà không cần phải đi “học chính trị và giáo trình cách mạng” bởi trước kia họ đã lén lút vào bưng, được “đào tạo dạy theo giáo trình cách mạng rồi”.

Những gì đã viết ở trên, là do lời kể của hai người chị và em kết nghĩa. Song vẫn còn rất nhiều cảnh ngộ bi thảm khác nữa, nhưng người viết đành gác lại cho lần sau, để xin viết tiếp về những hoàn cảnh khác.

Những giọt nước mắt dưới gầm cầu, trong bãi tha ma

Đó là thảm cảnh của những người đã sống sót qua các vùng “kinh tế mới”, của những người khốn khổ, bần cùng, vô gia cư; bởi nhà cửa đã bị đảng Cộng sản cướp hết tài sản, nhà cửa. Vì thế, họ phải gối đất, nằm sương, có khi phải ăn, ngủ trong những bãi tha ma. Con cái của họ không được học hành, vì họ là “ngụy dân” không có “sổ lương thực”, không có “hộ khẩu”.

“Hòa hợp-Hỏa giải” với Cộng sản

Lịch sử đã chứng minh, đã cho chúng ta biết quá rõ về những thủ đoạn gian manh của đảng Cộng sản Việt Nam. Ngược thời gian, về thời kỳ Hồ Chí Minh kêu gọi “Kháng chiến chống Pháp”, là một trong những chiêu bài, với mục đích, để gom hết những thành phần trí thức, nhiệt thành yêu nước, chống Pháp, nên các vị ấy đã chấp nhận “ngồi chung” với “Chính phủ Liên Hiệp”. Trong số đó, có Cụ Huỳnh Thúc Kháng, để rồi Cụ phải chết dưới tay của Hồ Chí Minh, hoặc như Cụ Vũ Hồng Khanh, rồi cũng phải bỏ chạy thoát thân. Sau ngày 30/04/1975, Cụ Vũ Hồng Khanh cũng bị bạo quyền Hà Nội bỏ tù cho đến kiệt sức, khi được ra tù, thì chết!

Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiêu dụ vô số người “ngây thơ” để “hợp tác” với chúng. Nhưng tất cả đã phải trả những cái giá quá đắt, có những người phải “trả” bằng chính sinh mạng của mình.

Những bài học xương máu ấy, tưởng như có thể khiến cho những người có lương tri phải biết suy nghĩ, để không dấn bước vào vết xe đổ của người xưa, mà phải quyết tâm rửa hờn cho những người đã khuất. Nhưng không, vì hiện nay vẫn có những kẻ tiếp tục cố tình tô son, điểm phấn cho bạo quyền Cộng sản Hà Nội.

Hãy nhìn xem, chính trong hàng ngũ được gị là “lãnh đạo cao cấp” của chúng, mà chúng còn tự thanh trừng, tru diệt lẫn nhau, hễ nếu thấy một tên đảng viên nào đó có “biến chất”, hoặc chỉ vì tranh giành miếng ăn, chỗ đứng trong bộ máy bạo quyền, thì cũng đủ phải chết rồi. Không cần phải nói hay viết, thì mọi người cũng biết những gì đã và đang xảy ra trong “chuồng” tức trong nội bộ của đảng Cộng sản.

Chuyện Hà Nội “công nhận Việt Nam Cộng Hòa” về Hoàng Sa-Trường Sa

Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa là một Thể chế Chính Nghĩa – Chính Danh, nên không cần quân Xâm Lăng Cộng sản Hà Nội “công nhận”.

Theo nguyên lý, quân cướp nước, là chính kẻ đã “buộc”, thì phải tự biết cách để “mở ra”, mà muốn “mở” thì kẻ cướp phải cần đến những người có Chính Nghĩa và Chính Danh.

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có một văn bản nào công bố chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ có cái “công thư, công hàm” do Hồ Chí Minh “chỉ thị” cho Phạm Văn Đồng “ký gửi cho Chu Ân Lai, vào 14/09/1958, để xin dâng-bán hai quần đảo trên cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc.

Trong khi trước đó, năm 1956, Việt Nam Cộng Hòa đã cắm Bia đá Chủ Quyền và công bố: Luật và Sắc Lệnh về Hoàng Sa và Trường Sa.

Chính Nghĩa như ánh mặt trời, không ai có thể phủ nhận. Người Việt Nam yêu nước chân chính, không nên, hay không cần phải đòi hỏi “xin” bạo quyền Hà Nội phải “bỏ điều 4 Hiến pháp-tôn trọng nhân quyền”.

Những người tranh đấu chống Cộng thực sự, cần phải sáng suốt, để hiểu rằng, khi “đòi bỏ điều 4 Hiến pháp” của Hà Nội, thì có nghĩa là chấp nhận đảng Cộng sản, chấp nhận Hồ Chí Minh, chấp nhận lá cờ Đỏ sao vàng, chấp nhận hết cái gọi là “Hiến pháp” của Cộng sản, trừ Điều 4.
Ngoài ra, còn một điều tối quan trọng: khi đã chấp nhận hết những điều nêu trên rồi, thì cũng có nghĩa là chấp nhận luôn cái “Công hàm Công thư” bán nước của Phạm Văn Đồng theo “chỉ thị” của Hồ Chí Minh đã gửi cho Chu Ân Lai, vào năm 1958.

Không! Người Việt Nam yêu nước chân chính chỉ đứng về phía Văn Bản Luật và Sắc Lệnh về Chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa mà thôi.

Riêng những ai muốn “Hòa hợp-Hòa giải” với Cộng sản Hà Nội, hãy cứ để mặc cho họ chọn, để mai kia, lỡ có phải “đi theo con đường” của “Chính phủ Liên Hiệp” như vào năm 1946, thì họ có sẽ có “cơ hội sắng mắt” ra, có thể khi đó họ đã “gặp” Cụ Huỳnh Thúc Kháng rồi!

Một lần nữa, người viết muốn nhắn gửi những người trẻ tuổi:
Đừng đòi Cộng sản “phải tôn trọng nhân quyền”, vì Cộng sản và Nhân Quyền không bao giờ cùng chung một thể chế. Cộng sản Không Nhân Quyên, hoặc Nhân Quyền Không Cộng sản!

Sắc lệnh số 274-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm

Bia đá chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên đảo Trường Sa

Tạm kết:

Như một lời nhắn gửi cho lớp hậu sinh. Người viết rất vui mừng, khi thấy lớp người trẻ tuổi, sinh ra sau ngày 30/04/1975, dù ở quốc nội hay hải ngoại, đã có một số người trẻ, đã tìm, đã đọc, đã xem lại những hình ảnh trung thực, với đời sống Tự Do, Dân Chủ dưới Thể chế của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, đã nhận thức được tất cả, đã thấy được đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là chư hầu của Tầu cộng, đã đem dâng, bán từng phần lãnh thổ, lãnh hải cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc Việt Nam, để lấy tiền chia nhau bỏ vào túi riêng, cho gia đình chúng được sống trong những ngôi nhà dát vàng, ấm êm trên nhung gấm, xa hoa. Còn đa số người dân Việt vẫn sống trong nghèo khổ, trẻ thơ vẫn đói khát, rách rưới, nước mắt, nước mưa hòa chung trong mỗi cơn giông bão… trong cảnh khốn cùng!

Riêng tuổi trẻ Việt Nam tại quốc nội, nếu chưa biết, thì nên tìm xem cho biết: Trên khắp ba miền đất nước, đều có những đoàn quân Mã Viện, được ngụy trang dưới cái tên “Học Viện Khổng Tử” – Đặc khu Kinh tế” với những bảng quảng cáo, cửa hàng, đều là chữ bùa Tầu với lồng đèn Đỏ. Ngoài ra, còn có những con đường mang tên “Khổng Tử, Lão Tử”.

Như vậy, đã quá rõ ràng, để thấy, đất nước Việt Nam không còn là Việt Nam. Nếu không có sự đổi thay, thì người dân Việt sẽ bị Hán hóa, để trở thành nô lệ của giặc Tầu và của chư hầu Cộng sản Hà Nội.

Vận nước đã đến. Còn chần chờ gì nữa. Tuổi trẻ Việt Nam hãy đồng tâm, nhất hướng, sát cánh, kề vai, cùng nhau đứng lên nhận lãnh trách nhiệm của Tiền Nhân giao phó. Là các bậc Anh Hùng, Liệt Nữ đã từng đem cả núi xương, sông máu tô thắm giang sơn. Tuổi trẻ Việt Nam hãy siết chặt tay nhau cùng cất cao tiếng hát, hòa nhịp với lòng nhiệt thành yêu nước, biến đau thương thành những hành động:

Khỏe vì nước kiến thiết Quốc Gia
Đoàn thanh niên ta góp tài ba
Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong năm giới
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam.

Khỏe vì nước chí khí cương kiên
Giống Lạc Hồng uy hùng vô biên
Trong khốn nguy can trường sinh thác ta coi thường
Việt Nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Thanh niên ơi, hồn thiêng núi sông đợi chờ
Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ
Mang máu anh hùng ta đừng làm nhơ máu anh hùng
Trai đất Việt phải nêu đèn sáng thế giới ngắm chung.

28/04/2020
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
***
*
30 tháng tư: NGÀY QUỐC HẬN

Trích: “ Ba mươi tháng tư. Một ngày với nhiều tên gọi. Đại thắng mùa xuân, ngày giải phóng, ngày thống nhất, ngày quốc hận, tháng tư đen… Cuộc chiến không bom đạn lại được thêm giáo thêm gươm bởi những danh xưng định vị tư tưởng và lằn ranh ta-địch. Có nghĩa lý gì về tên gọi cho một ngày của quá khứ 40 năm. Tên của nó chỉ chính xác bằng bóng hình qua tấm gương soi của thực tế hiện tại.

40 năm sau, túm gọn cuộc đời của nhau bằng 2 câu thơ bạn tôi đọc, nhìn thực tại trần ai của đất nước để đo lường giá trị của mốc điểm lịch sử, tôi thấy cái tên gọi mà ôn tôi, một cu li không biết đọc không biết viết, đặt cho nó vào đêm cuối cùng tôi ngồi bên ôn là chính xác: 30 tháng 4 – ngày khốn nạn. “

( Vũ Đông Hà ( danlambao ) – Ngày Khốn Nạn )

Đối với ôn cháu …, 30 tháng tư là ngày ” Khốn nạn! “Nhưng với những ai có can dự vào cuộc chiến giữ nước Nước Việt Nam Cộng Hòa Tự Do – Dân chủ – Nhân bản Và đại bộ phận ” ngụy dân ” Miền Nam 30 tháng tư là ngày QUỐC HẬN

Ngày mất nước vào tay cộng sản Bắc Việt xâm lăng

Mở đường cho tàu cộng thôn tính Việt Nam Dù cho ai vì ý đồ kia khác Muốn canh cải xóa nhòa ngày Đại tang Dân tộc

Nhằm mở đường thỏa hiệp với sói lang việt cộng

nhân danh hòa hợp hòa giải dân tộc xu mị

như ngày xưa gìa hồ xảo trá hô hào

Kách mạng “ Giải phóng Dân tộc “ giả danh Vẫn không thể XÓA NHÒA LỊCH SỬ Danh tự NGÀY QUỐC HẬN một khi xuất hiện trong lòng đại bộ phận dân tộc Đã trở thành một SỰ KIỆN LỊCH SỬ 30 tháng tư NGÀY QUỐC HẬN Đã đi vào thanh sử Việt

Không ai có thể xóa nhòa lịch sử

Ngày Quốc hận mãi mãi còn đó

Mặc cho ai còn muốn nhớ hay quên

Nguyễn Nhơn

Đôi dòng xác quyết: 30 tháng tư – ngày quốc hận

Nếu CSVN không cưỡng chiếm miền Nam vào ngày 30-4-1975 thì sẽ không có mấy triệu người Việt Nam đi tỵ nạn khắp thế giới!
Nếu VNCH không sụp đổ vào ngày 30-4-1975 thì người Việt Nam không cần BỎ NƯỚC ĐI TÌM TỰ DO TẠI NHỮNG XỨ KHÁC!
(Sau vượt biên, vượt biển, các “diện” con lai, đoàn tụ, HO lần lượt ra đi. Nếu không tìm tự do thì ra đi để làm gì)?!
Như vậy, nếu nói ngày 30-4-1975 là ngày bắt đầu cho một hành trình TÌM TỰ DO của chúng ta thì bất ổn chỗ nào, sai chỗ nào, xa thực tế chỗ nào, “thiên cộng” chỗ nào?!
( NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 LÀ NGÀY GÌ? Định Nguyên )

Lý luận ngụy biện theo thủ thuật DIỆN – ĐIỂM cộng sản.
Làm bộ khen láo Việt Nam cộng Hòa để rồi rình rình xuống xề:
Gọi 30 tháng tư tên gì cũng được, miễn tranh đấu cho Tự do – Dân chủ thì thôi.
Nhập nhằng đánh lận con đen, đánh lạc hướng hận thù bọn cướp nước, bán nước cộng sản để lấy thế lân la thỏa hiệp với sói lang việt cộng.

30 tháng tư – Ngày thua trận, mất nước: NGÀY QUỐC HẬN

Vượt biển, vượt biên là TỴ NẠN CỘNG SẢN chớ không phải HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO.
Chạy bán mạng trốn cộng sản là chính chớ không phải TỰ NGUYỆN RA ĐI TÌM TỰ DO.
Người Việt Quốc gia bác bỏ luận điệu trí trá kiểu cộng sản của bọn ” hoạt đầu chánh trị ” tức bọn làm chánh trị hàng hai cửa giữa.

Việt cộng phản đối cũng là chơi trò lưu manh: Bên tung, bên hứng đánh võ cuội lừa gạt những ai nhẹ dạ cả tin, phỉnh phờ chơi trò câu dẫn dụ khị Hòa hợp – Hòa giải trong lúc người dân trong nước bắt đầu hết sợ và biểu dương tinh thần Việt Nam Cộng Hòa làm điểm tựa vùng lên kháng cự cường quyền việt cộng.

Số phận của bọn chánh trị hoạt đầu lòn trôn cửa giữa, đi giữa hai làn đạn, luôn luôn tàn mạt là như vậy: Từ Dương Văn Minh, Trịnh Đình thảo đến bọn tay em cắc ké thiên cộng Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung…, số phận đều hẩm hiu, bị nhơ danh là chứng nghiệm.

Nguyễn Nhơn
***
*ngày quốc hận
là ngày quốc hận
Trần Gia Phụng

Biến cố 30-4-1975 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nhiều sách báo đã viết về biến cố nầy. Nhân sắp đến ngày 30-4, ở đây chỉ xin ôn lại diễn tiến trong ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn.

1.- DIỄN TIẾN NGÀY 30-4-1975

Từ 26-4-1975, quân cộng sản bao vây Sài Gòn từ năm hướng: hướng bắc (Quân đoàn 1 CS), hướng tây bắc (QĐ 3 CS), hướng đông (QĐ 4 CS), hướng đông nam (QĐ 1 CS), hướng tây và tây nam (Đoàn 232 và SĐ 8 thuộc Quân khu 8 CS). Chiều 26-4, CS bắt đầu tấn công, đánh phá vòng đai phòng thủ bên ngoài, chiếm Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Bà Rịa, cắt đường số 4 từ Sài Gòn đi miền Tây.

Đối đầu với lực lượng lớn mạnh nầy, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bảo vệ thủ đô Sài Gòn chỉ gồm Quân đoàn III (hai sư đoàn 5 và 18), các chiến đoàn tập họp từ các sư đoàn của QĐ I và QĐ II di tản vào Sài Gòn, các lữ đoàn TQLC, Dù, các liên đoàn BĐQ, một số trung đoàn Pháo binh, Kỵ binh thiết giáp và Nghĩa quân, Địa phương quân. Các đơn vị nầy đều thiếu quân vì trước đó đã bị tấn công, phải di tản, đồng thời thiếu trang bị võ khí, đạn dược và thiếu nhiên liệu cần thiết.

Chiều 28-4, ngay sau khi cựu đại tướng Dương Văn Minh vừa nhận chức tổng thống, 5 chiếc A-37 trước đây của Không quân VNCH bị CS tịch thu, nay dưới sự hướng dân của Nguyễn Thành Trung, cựu trung úy phi công VNCH, vốn là đảng viên CS cài vào Không quân VNCH, bay đến thả bom sân bay Tân Sơn Nhứt. Tối hôm đó, CS tiếp tục pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt làm hỏng các phi đạo. Phi trường không thể sử dụng được, nên phải dùng trực thăng đề di tản.

Hôm sau 29-4, CS chiếm được các căn cứ Nước Trong, Long Bình, thành Tuy Hạ (quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa), Đồng Dù (Củ Chi), Hậu Nghĩa. Sáng 30-4 quân CS bắt đầu tiến vào nội thành Sài Gòn. Trước sự đe dọa của CSVN, ảo vọng thương thuyết của Dương Văn Minh hoàn toàn tan vỡ. Cuối cùng, lúc 10G 24 phút sáng 30-4-1975, qua đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh, với tư cách tổng thống tổng tư lệnh quân đội, nhận chức trước đó hai ngày, ra lệnh toàn thể quân đội VNCH ngưng chiến đấu, hạ khí giới. Sau đây là nguyên văn lời Dương Văn Minh:

“Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 358)

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, tổng tham mưu phó quân đội VNCH, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của tổng thống Dương Văn Minh.

Lúc 11G 30 phút ngày 30-4-1975, xe tăng của Đại đội 4, Lữ đoàn Thiết giáp 203 CS tiến vào dinh Độc Lập. Lúc đó, một số cán bộ Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 CS, do đại úy trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ dẫn đầu, đến phòng họp dinh Độc Lập, nơi có mặt tổng thống Dương Văn Minh và nội các của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Đại úy Thệ đã nói thẳng với Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu rằng các ông bị bắt làm tù, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và không có gì bàn giao cả. Sau đó, quân CS áp tải Dương Văn Minh tới đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng. Tại đài phát thanh, các sĩ quan CS soạn tại chỗ lời đầu hàng, và buộc cựu đại tướng Dương Văn Minh phải đọc như sau:

“Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.” (google.com.vn) (vào chữ Dương Văn Minh, tìm 30-4).

Trước áp lực của họng súng quân thù, cựu đại tướng Dương Văn Minh đành phải đọc bản văn do CS soạn sẵn, “kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.” Quân đội VNCH liền ngưng chiến đấu, tự nhiên rã ngủ, trong khi còn nhiều đơn vị vẫn muốn tiếp tục chống cộng, nhất là Quân đoàn IV vẫn còn nguyên vẹn, chưa thất trận. Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ.
2.- NGÀY QUỐC HẬN

Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh bùng nổ. Người ta bỏ chạy để tránh lửa đạn. Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt ngày 30-4-1975, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, chạy xa thật xa, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn lửa đạn.

Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150,000 người Việt bỏ ra nước ngoài, trong đó khoảng 140,000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10,000 đến các nước khác. (Nguồn: UNHCR, The State of the World’s Refugees – Fifty Years of Humanitarian Actions, ch. 4, tr. 81.) Cộng sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ. Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng: “Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.” (Trích nguyên văn:http://ngoclinhvugia.wordpress.com/). Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài “Nối vòng tay lớn”, nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội “phản quốc”.

Sau ngày 30-4-1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên. Theo thống kê của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989,100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước. Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,500,000 người Việt đã bỏ nước ra đi.

Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi. Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được. Nghệ sĩ TrầnVăn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: “Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi”.

Trước khi quân cộng sản vào Sài Gòn, nhiều chức quyền cao cấp VNCH đã di tản ra nước ngoài. Trong số các chức quyền ở lại, có phó tổng thống rồi tổng thống Trần Văn Hương. Ngày 28-4-1975, trước khi bàn giao chức vụ tổng thống cho Dương Văn Minh, đại sứ Pháp ở Sài Gòn cho người đến mời tổng thống Hương di tản. Ông Hương trả lời: “Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là tôi sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.” Sau khi Trần Văn Hương giao quyền tổng thống cho Dương Văn Minh tối 28-4, thì hôm sau, ngày 29-4 đích thân đại sứ Hoa Kỳ là Graham Martin đến gặp Trần Văn Hương và mời ông ra đi. Trần Văn Hương trả lời như sau: “Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có một phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông đại sứ đã đến viếng tôi.” Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay từ biệt. (Trần Đông Phong, sđd. tt. 352-355).

Trần Văn Hương thấy trước và nói rất đúng: “Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.” Nước mất là mất tất cả. Mất tất cả các quyền tự do dân chủ, cả tôn giáo, văn hóa, mất tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, có người mất luôn cả thân nhân nữa. Trước ngày 30-4-1975, dầu chưa hoàn thiện, dầu bị giới hạn vì chiến tranh, chế độ Cộng hòa vẫn là chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng dân quyền và nhân quyền.

Khi mới chiếm được miền Nam, cộng sản bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của VNCH còn lại trong nước giam giữ dài hạn, không tuyên án trên các vùng rừng thiêng nước độc. Số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu, 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm, 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume Two, Santa Barbara, California, 1998, tr. 602.) Số liệu nầy theo dư luận chung, còn thấp hơn so với số lượng người và số năm bị thực giam. Ngoài ra, trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, số ngày Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.) Sau khi bắt giam hàng triệu công chức quân nhân trên toàn cõi miền Nam Việt Nam, cộng sản trấn áp dân chúng miền Nam bằng nhiều phương thức khác nhau:

Thực hiện chế độ hộ khẩu, ai ở đâu ở yên đó, không được di chuyển, không có quyền tự do đi lại. Muốn đi lại phải xin giấy phép khó khăn. Về kinh tế, cộng sản đổi tiền nhiều lần một cách tàn bạo. (Đổi lần đầu ngày 22-9-1975, 500 đồng VNCH lấy 1 đồng mới. Đổi lần thứ hai ngày 3-5-1978 và lần thứ ba ngày 14-9-1985.) Cộng sản tổ chức đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tư sản nhỏ (tiểu tư sản), lục soát nhà cửa, tịch thu vàng thật, rồi lập biên bản là “kim loại có màu vàng”, để đổi vàng giả.

Cộng sản cướp nhà cửa, buộc những người khá giả phải hiến đất, hiến nhà để khỏi bị tù. Tại thành phố, CS đưa vào quốc doanh tất cả những xí nghiệp, cơ sở kinh doanh do CS quản lý. Tại nông thôn, CS quốc hữu hóa toàn thể đất đai, ruộng vườn; nông dân phải vào hợp tác xã, làm việc chấm công để lãnh lúa, dân chúng gọi là “lúa điểm” tức “liếm đũa”. Cộng sản buộc dân chúng phải đi kinh tế mới, sống trên những vùng khô cằn, nghèo khổ. Cộng sản thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ, để CS độc quyền lưu thông và phân phối hàng hóa. Tất cả chính sách của CS nhắm làm cho dân chúng nghèo khổ cho CS dễ cai trị.

Chính sách cai trị của CS sau năm 1975 đưa Việt Nam đến bờ vực thẳm, nguy hại cho chính CS. Trước tình hình đó, CS mở phong trào đổi mới từ năm 1985. Cộng sản đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam. Từ đó, Việt Nam thay đổi dần dần, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào đầu 2007. Tuy nhiên dầu đổi mới về kinh tế nhưng cộng sản vẫn duy trì độc quyền chính trị, lo sợ “diễn biến hòa bình”, định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do dân chủ, không tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh.

Như thế, ngày CS vào Sài Gòn, chấm dứt chế độ VNCH, là một biến cố lịch sử có tầm vóc lớn lao, làm thay đổi dòng sinh mệnh dân tộc, ảnh hưởng lâu dài cho đến ngày nay. Ngày 30-4 cũng là ngày mở đầu thảm họa chẳng những cho dân chúng miền Nam mà cho cả toàn dân Việt Nam khi chế độ cộng sản càng ngày càng bạo tàn, tham nhũng và nhất là lộ rõ bộ mặt tay sai Trung cộng, dâng đất, nhượng biển, quy lụy Bắc Kinh để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng gọi ngày nầy là ngày Quốc hận. Hai chữ Quốc hận do dân chúng tự động đặt tên cho ngày 30-4 và truyền khẩu với nhau thành danh xưng chính thức, chứ không có một chính phủ, hay một đoàn thể chính trị nào đặt ra. “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

3.- NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN

Những người vượt biên được gọi chung là thuyền nhân. Thuyền nhân là từ ngữ được dịch từ chữ “boat people” trong tiếng Anh, xuất hiện từ cuối thập niên 70 để chỉ những người Việt bỏ nước ra đi sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.

Người Việt vốn ràng buộc với đất đai, ruộng vườn, chỉ ra đi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ mà thôi Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người Việt bỏ nước ra đi lên đến hàng triệu người. Đặc điểm nổi bật của phong trào thuyền nhân là tất cả những người vượt biên đều tự nguyện ra đi, tự mình muốn ra đi, hoàn toàn tự phát ra đi theo từng gia đình, từng nhóm nhỏ. Không có một đảng phái, một thế lực chính trị hay một nước ngoài nào can thiệp hay tổ chức cho thuyền nhân ra đi. Có khi, nhà cầm quyền CS lợi dụng lòng khao khát ra đi tìm tự do của dân chúng để bán bãi, hay tổ chức vượt biên bán chính thức nhằm lấy vàng. Dầu ra đi trong kế hoạch mà CS gọi là “bán chính thức”, người ra đi vẫn là những người tự nguyện muốn rời bỏ Việt Nam để tránh nạn độc tài cộng sản.

Như thế, vượt biên hay thuyền nhân là một phong trào của vài triệu người, kéo dài trong nhiều năm và nhiều địa điểm khác nhau. Phong trào nầy là hậu quả của ngày Quốc hận 30-4. Ngày 30-4 là ngày đánh dấu sự thành công của chế độ độc tài toàn trị, gây tang thương cho dân tộc Việt Nam. Nỗi đau nầy càng ngày càng nhân lên khi CSVN càng ngày càng đàn áp phong trào dân chủ quốc nội. Chỉ vì lòng yêu nước, người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược mà cũng bị CSVN bắt giam thì trên thế giới, chuyện nầy chỉ xảy ra ở Việt Nam.

Hai sự kiện ngày Quốc hận 30-4 và Phong trào thuyền nhân hoàn toàn khác nhau và không thể lẫn lộn nhau. Ngày 30-4 là ngày kỷ niệm Quốc hận của toàn dân. Phong trào thuyền nhân ban đầu chỉ khoảng 1,500,000 người. Nếu ngày nay, dân số thuyền nhân phát triển lên khoảng 3,000,000, thì ở trong nước, dân số tăng lên mấy chục triệu người.

Vì vậy, để kỷ niệm phong trào vượt biên, ngày 28-4-2009, toàn thể Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết số 342 do dân biểu liên bang Hoa Kỳ gốc Việt Nam là Cao Quang Ánh đề xướng, ấn định ngày 2-5-2009 là “Ngày Vinh Danh Người Tỵ Nạn Việt Nam” tại Hoa Kỳ (tức thuyền nhân Việt cộng them những người ra đi theo chương trình ODP và HO). Sau đó, ngày 12-8-2009, Hội đồng thành phố Westminster, (thuộc Orange County, tiểu bang California) thông qua nghị quyết số 4257, ấn định ngày Thứ Bảy cuối cùng của mỗi tháng Tư hằng năm là “Ngày Thuyền Nhân Việt Nam”. Westminster là thành phố có Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, khánh thành ngày 27-4-2003, và từ đó là nơi diễn ra lễ Kỷ niệm ngày Quốc hận hàng năm của Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn CS.

Cả hai nghị quyết trên đây đều chọn một ngày khác với ngày 30-4 để kỷ niệm phong trào thuyền nhân, nhằm tránh làm mất ý nghĩa quan trọng của ngày Quốc hận 30-4. Chỉ có cộng sản và những người làm tay sai cho CS mới cố tình vận động chuyển đổi ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân, nhằm làm giảm nhẹ tội lỗi của cộng sản Việt Nam trước lịch sử, trong khi tội lỗi của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam không thể xóa bỏ được.

Mưu toan nầy hoàn toàn thất bại vì Cộng đồng Người Việt Hải ngoại quyết liệt phản đối, chỉ vì một lý do đơn giản, thật đơn giản: NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN, không thể nào khác hơn được và không có chữ nào đúng hơn được.

TRẦN GIA PHỤNG
***
*DÒNG THƠ TƯỞNG NIỆM 45 NĂM QUỐC HẬN
*TA SẼ VỀ!
Vận hạn phải đi, Ta sẽ về!
Vì đời tạm gác chuyện phu thê.
Thăng trầm lận đận nơi quê lạ,
Nợ nước chồng vai trĩu nặng nề.

Biết rõ dân lành chịu đắng cay,
Đêm ngày bươn bả chạy Đông Tây.
Tập trung thần dược mong về sớm,
Năm tháng thay mùa như gió bay.

Mỗi độ lá vàng báo tiết Thu,
Lòng thêm sôi sục hận quân thù.
Tình nhà nợ nước luôn ghi nhớ,
Đang sửa soạn về dứt viễn du.

Quỷ Đỏ gây bao cảnh hại đời,
Nhà tan của mất như mây trôi.
Nhiễu nhương xã hội toàn sâu bọ,
Đảng ủy sang giầu, dân tả tơi.

Việt Cộng bạo tàn chẳng giống ai,
Thân nhân, đồng chí, hại nhau dài.
Bạn đời cũng loại như thay áo,
Khát máu vô loài đâu biết ai!

Hoà bình chiến thuật biến êm ru(*),
Triệt loại lần hồi bọn Cộng ngu.
Đất Việt không còn bầy Qủy Đỏ,
Thanh bình hạnh phúc toả thiên thu.

Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng

Nam California, năm Đinh Hợi
(*)Sách lược DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH được thực hiện bấy lâu nay, Việt Cộng rất sợ nên đang tìm mọi cách chống đỡ.
***
*CSVN HÃY MAU CHUỘC LẠI LỖI LẦM!

Thiên Kim

Lịch sử Việt Nam đang ghi tội lỗi
Những đứa con hư, bạo ngược rành rành
Tội ác thứ nhất: Đem vào đất Tổ
Cộng sản hung tàn, diệt chủng tang thương !
*Trăm triệu “người dân búa liềm” ngã xuống
Từ ngày cờ đỏ, nhuộm đẫm máu người!
Họ Hồ gia nhập ” Đại đồng Cộng sản”
Mười triệu dân Việt khốn khổ chết oan:
*Theo dấu tiền nhân, bao người anh dũng
Phan Bội Châu rất xứng danh Việt tộc
Phan Châu Trinh và những vị anh hùng
Đánh giặc Tây để cứu nguy Tổ quốc
*Hồ chỉ điểm: Pháp bắt người yêu nước
Ôi! Những anh tài cứu nước gian nan
Bao người biết: Đảng Hồ là Cộng sản!
Sa lánh… Rồi cũng bị giết, truy lùng
*Tội ác thứ nhì: “Cải cách ruộng đất”
Hai trăm nghìn dân, theo lệnh Nga Hoa
Đảng ác cộng ghép họ là địa chủ
Bắn giết tơi bời, cầy xéo thịt da!
* Tội ác thứ ba: Cướp sạch tài sản
Của người dân Việt, chia chác đảng viên
Kêu gọi mọi người ủng hộ bạc vàng
Rồi chúng đấu tố giết cả ân nhân!
*Tội ác thứ tư: Chia đôi đất nước
Vĩ tuyến tội tình, chia cách anh em
Hội nghị Genève đưa tay ký kết
Miền Bắc màn sắt, đêm tối bão trùm…
*Tội ác thứ năm: Tuyên truyền xảo trá
“Dối gạt nhân dân, phương Nam nghèo hèn
Bị Mỹ đô hộ, người dân đau khổ
Chúng xua quân trẻ, chết chóc chẳng màng!”
*Dân bắc đâu nhìn được qua màn sắt?
Anh em một Mẹ, lấn chiếm phương nam
Chết chóc vì đem đạn thù bắn phá
Vì đã nghe lời, sinh bắc, tử nam
*Bao nỗi xót xa. Ai người hiểu thấu?
Đau thương máu lửa, chất ngất phương nam
Chiến sĩ thương dân, yêu nhà, giữ nước…
Đánh bọn nội thù, hơn hai mươi năm
*Tội ác thứ sáu: Xâm chiếm miền nam
Cướp sạch bạc vàng, cửa nhà, thực phẩm
Tiền tài, xương máu, ruộng đất, tham tàn!
Dân đói khổ, ngủ vỉa hè cuối phố…
*Đảng kêu gọi những Quân, Dân, Cán, Chính
Học tập vài tuần, rồi sẽ về ngay?
Dối gạt lừng danh lũ quân cộng sản
Tù hơn chục năm, hành hạ tơi bời!
*Bao người Chiến sĩ, Cán Chính thanh liêm
Đã chết trong tù, những hành hạ … hèn
Những người thả ra, xác thân rũ nát
Quân man rợ đó, Trời đà ghi tên
*Bình yên đất nước đã 45 năm
Cộng sản làm gì? Ngoài tài xuất khẩu:
Lao nô trai tráng đi khắp muôn phương
Thiếu nữ trinh nguyên , cô dâu Hán tộc
*Trai gái ra đi, xa xứ, quê hương
Tiền bạc đổ về, mỗi năm chục tỷ!
Đảng cướp âm thầm chia chác quan to
Chống Mỹ ? Nhưng sao xứ Mỹ tuôn vào?
*Tội ác thứ bẩy: Cướp đất dân nghèo
Đuổi dân, đập phá nhà cửa tan hoang
Người dân thương binh, không nhà đói khát
Đất trả vài chục, bán lại ngàn đô !
*Cơ sở doanh thương, cao tầng chất ngất
Khách sạn mỹ miều, hàng quán cấp cao
Cung cấp du lịch, ào ào lôi cuốn
Có thấy trẻ thơ lội suối, băng đèo?!
*Tội ác thứ tám: Văn hóa, Văn học
Văn hoa xuống hố, tuổi trẻ lơ ngơ
Đa số thờ ơ … lịch sử, địa lý
Đi tìm cuộc sống ích kỷ, vô tâm!
*Còn đâu thanh niên dạt dào lẽ sống
Theo gót Cha Ông anh dũng vươn gươm
Hãnh diện mài gươm, diệt trừ giặc đến
Chỉ còn đa số run sợ Hán vương!
*Tội ác thứ chín: Diệt người yêu nước
Biên giới mở ngỏ, quân Tầu tràn vô
Chúng đến những vùng, cực kỳ quan trọng
Đồng bào lên tiếng, phản đối xuống đường
*Đảng đã vu oan, côn an xuất hiện
Bắt tù, đánh đập, hoặc treo nồi cơm
Người dân yêu nước đòi hỏi Nhân quyền
Hai chục năm tù, trại tù khốn khổ
*Thầy giáo dạy nhạc, dạy trẻ ca vang
Nhân quyền, hạnh phúc, tự do, tự hào
Lính chiến anh dũng, trước giặc hiên ngang
Rồi thầy bị hơn mười năm tù ải!
*Tội ác thứ mười: Là tội bán nước
Đảng dạy trẻ thơ , rằng phải yêu… Hồ
Cái tên tội đồ bán buôn dân tộc
Nam Quan, Bản Giốc, lãnh hải, Hoàng- Trường
*Đất vùng biên giới, lùi vào xâu thẳm…
Lãnh hải dâng Tầu, còn chút hư hao
Đồng , Hồ hiến dâng bằng bản “Công Hàm”! *(1958)
Tầu lấy Hoàng – Trường, chứng cớ còn đây
*Đất nước gần qua năm ngàn văn hiến
Anh linh tiên liệt, giữ nước bao đời
Việt Cộng chia cho Hán Tầu gấm vóc
Còn đâu lịch sử chói sáng huy hoàng!
*Hỡi người “Yêu Nước”, cùng nhau giữ nước
Đã đến hồi chuông cứu tử rung rồi…
Giang sơn ngấn lệ, đau buồn rung động
Đảng Cộng hãy mau hối lỗi tội tình!
Thiên Kim – NGÀY QUỐC HẬN 30/4/2020
***
*****Trở Về Quê Hương

Rồi mai đây ta về quê hương
Cờ vàng ba sọc đỏ yêu thương
Bay trong nắng ấm tình dân tộc
Rạng tiếng hoan ca khắp phố phường.
*
Rồi mai đây ta về quê hương
Nhớ thời ngang dọc, chí muôn phương
Chiến chinh ngày đó như sương tỏa
Đất nước thanh bình, hết nhiễu nhương
*
Rồi mai đây ta về quê hương
Hòa cùng cây cỏ thở hơi sương
Nén hương thắp lại Mồ Chiến Sĩ,
Để nhớ ơn xưa thuở chiến trường
Để cùng Thương Tiếc bao đời lính
Vị quốc vong thân để tiếc thương
*
Rồi mai đây ta về quê hương
Hồn lâng lâng nhẹ gót phong sương
Cho đời thôi bớt sầu ly xứ
Nhẹ gánh tang bồng đỡ vấn vương.

CVA Nguyễn văn Lập
***
*QUỐC HẬN LÀ QUỐC HẬN

QUỐC hận chỉ là quốc hận thôi
Kiếm đâu ra chữ nói thay lời:
HẬN vì Đất Nước không còn nữa
HẬN bởi nhân dân mất cả rồi.
HẬN lũ bạo tàn dâng hiến giặc
HẬN phường ác độc giết dân tôi
HẬN này phải trả bằng xương máu
QUỐC hận mãi là quốc hận thôi

Camthành tháng Tư 2015 (Mùa quốc Hận thứ 40)
Tha Nhân
***

SA CHI LỆ TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI QUÝ VỊ GHÉ THĂM & SHARE

*LINKS: SACHILECHANNEL

https://www.youtube.com/channel/UCuj0eHW5cyCLgEytawmUmgQ/videos?disable_polymer=1

https://www.youtube.com/channel/UCuj0eHW5cyCLgEytawmUmgQ?disable_polymer=true

*LINKS: MAI ĐẰNG CHANNEL

https://www.youtube.com/user/eastwood4real/featured?