GỬI BÀ PELOSI-LÍNH NGỤY-ĐỜI LƯU VONG

  • GỬI BÀ PELOSI-LÍNH NGỤY-ĐỜI LƯU VONG

       ĐỀ TÀI HÔM NAY:

  • TRƯỜNG PHÚC: MỘT ĐỜI LƯU VONG
  • ANH LÍNH NGỤY MAY MẮN.
  • THƯ KHÔNG NIÊM KÍNH GỬI:BÀ NANCY PELOSI, CHỦ TỊCH HẠ VIỆN HOA KỲ

***

*THƯ KHÔNG NIÊM KÍNH GỬI:

BÀ NANCY PELOSI,

CHỦ TỊCH HẠ VIỆN HOA KỲ

Ngày Chúa Nhật 22, Tháng 12 năm 2019.

Westminster City, Orange County, California 92683.

Kính thưa bà Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ,

Vài hôm nữa, thế giới sẽ cử hành lễ mừng Thiên Chúa Giáng sinh, tôi xin  gửi đến bà lời chúc sức khỏe và xin phép mạo muội có đôi lời để nói lên sự nhận xét của tôi về đảng Dân Chủ của bà.

Xin tự giới thiệu, tôi là một phi công từng sát cánh với bạn đồng minh Hoa Kỳ chống lại chế độ độc tài toàn trị Cộng sản. Nửa chừng, người bạn đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi chúng tôi. Nước tôi bị mất vào tay cộng sản. Tôi đành phải lìa bỏ Mẹ già không ai chăm sóc và nghẹn ngào giã từ quê hương trong nước mắt để đến tị nạn trên đất nước của bà!

Tôi biết ơn nước Mỹ và cảm tạ Thiên Chúa, vì Ngài đã đưa con cháu của Ngài trên chiếc thuyền Mayflower đến đại lục này để lập nên một Quốc gia giàu mạnh, từng cứu nhân loại thoát khỏi nạn Quốc xã Đức, Phát xít Ý, Quân phiệt Nhật và Cộng sản. Đồng thời, tôi cũng mang mối hận Hoa Kỳ, vì đảng Dân Chủ đã có những chính sách sai lầm khiến cho dân tộc chúng tôi phải bị sống trong hỏa ngục cộng sản. Tôi xin giải thích để bà rõ:

Năm 1954, các thế lực quốc tế đã cắt nước tôi ra làm hai. Bắc vỹ tuyến 17 thuộc về cộng sản, Nam vỹ tuyến 17 thuộc về tự do. Vì nhu cầu bảo vệ phòng tuyến tự do, nước Mỹ đã sử dụng nửa phần đất của chúng tôi làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng Đỏ. Nhân dân Miền Nam chúng tôi vì nhu cầu sống còn, đành chấp nhận làm người lính tiền đồn cho thế giới tự do.

Chúng tôi may mắn có một nhà lãnh đạo đức độ, tài ba, yêu nước, thương dân. Đó là Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong một thời gian ngắn, nhà lãnh đạo Miền Nam vừa dẹp tan quân phản loạn do Thực dân Pháp để lại, vừa kiến thiết đất nước hoang tàn do chiến tranh, xây dựng một xã hội hài hòa từ tàn tích Thực dân, Phong kiến. Ngay cả kẻ thù sau khi chiến thắng, cũng phải nhìn nhận Miền Nam văn minh và tự do dân chủ hơn Miền Bắc.

Nước Mỹ từng tự hào vì đã yểm trợ một nhà lãnh đạo sáng giá nhất Châu Á. Tổng thống của chúng tôi được Mỹ mời sang công du. Tổng thống Dwight Eisenhower ra tận phi trường Dulles đón tiếp và mời Ngài đọc diễn văn tại lưỡng viện Quốc Hội. Lúc bấy giờ báo chí Hoa Kỳ không tiếc lời ca ngợi vị lãnh đạo anh minh và dũng cảm. Ngoại trừ những phần tử có xu hướng theo Cộng sản và tôn thờ Hồ Chí Minh chống đối Tổng thống Ngô Đình Diệm, còn hầu hết người có tinh thần Quốc gia, dù là Phật giáo, đều ủng hộ Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 1960, nước Mỹ bầu ông John Kennedy thuộc đảng Dân Chủ làm Tổng thống. Tổng thống Eisenhower trước khi trao quyền cho tân lãnh đạo Mỹ, đã dặn đi dặn lại đừng trung lập hóa nước Lào, vì cộng sản Miền Bắc sẽ dùng Lào làm bàn đạp để tấn công Miền Nam. Nhưng không bao lâu sau, Tổng thống Kennedy quên lời hứa vì bị ông Averell Harriman thuyết phục.

Ông Harriman là nhà Ngoại giao từng bị Thủ tướng Wilson Churchill chê là nhà thương thuyết ngây thơ đối với cộng sản. Hội nghị Yalta là sự thất bại ngoại giao của Mỹ. Từ bài học thất bại trong thương thuyết với cộng sản, ông Harriman phải biết rằng cộng sản không bao giờ giữ lời cam kết. Nhưng ông quyết thực hiện trung lập hóa Lào cho bằng được, vì ông bị người vợ Pháp tỉ tê, thúc giục. Nước Pháp từng được Hoa Kỳ cứu trong hai trận thế chiến, nhưng người Pháp kiêu ngạo, nặng tinh thần đố kỵ, nên thường có tâm lý bài Mỹ, hóa ra hại Miền Nam.

Thực dân Pháp là một đế quốc tồi bại nhất trong các đế quốc. Bằng cớ là thuộc địa của Anh đều được độc lập trong Khối Thịnh Vượng Anh, không nước nào bị rơi vào tay cộng sản. Còn các thuộc địa của Pháp như Algeria, Tunisia, Việt Nam đều đánh cho Pháp thua liểng xiểng thì Pháp mới chịu nhả. Pháp hận Mỹ không giúp Pháp cứu Điện Biên Phủ, nên Pháp quyết phá Mỹ cho bằng được, dù Miền Nam cùng thuộc khối Tự Do với Pháp!

Kennedy trẻ, đẹp trai, được lòng phụ nữ mà đắc cử Tổng thống, nhưng thiếu kinh nghiệm về cộng sản như Richard Nixon, nên bị cái đám chính trị gia tả khuynh trong đảng Dân Chủ áp lực. Nếu ông Ngô Đình Diệm cứng đầu, không đồng ý chính sách của Mỹ, Kennedy thiếu gì cách để thay người mình đã ủng hộ? Chỉ cần cúp viện trợ tài chánh, quân sự là đủ cho Tổng thống của chúng tôi nhượng bộ. Tại sao Kennedy phải tung tiền ra mua chuộc các Tướng lãnh Việt Nam và sử dụng một cán bộ cộng sản đội lốt nhà tu Phật giáo để lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Giết một người bạn từng chiến đấu bảo vệ thành trì tự do cho mình, từng được mình ca ngợi là một vị lãnh tụ trong sạch, can đảm, Tổng thống Kennedy đã để lại một vết dơ cho nước Mỹ vì tính man rợ. Đồng minh nào còn dám tin tưởng để làm bạn với Mỹ?

Thưa bà Chủ tịch Hạ Viện,

Phải chi nước Mỹ thây kệ dân tộc chúng tôi, đừng lợi dụng xương máu của nhân dân chúng tôi phải làm người lính tiền đồn để ngăn chặn làn sóng Đỏ cho thế giới tự do, thì nước Mỹ không bị đảng Dân Chủ làm ô danh!

Năm 1963, đảng Dân chủ đã giết chết một vị Tổng thống của nước chúng tôi.

Năm 1975, một lần nữa đảng Dân chủ cắt viện trợ đã giết chết nền Cộng hòa của nước chúng tôi, đẩy nhân dân chúng tôi vào hỏa ngục Đỏ!

Năm 1976. Jimmy Carter, Tổng thống Dân Chủ, làm cho kinh tế suy sụp, nạn thất nghiệp tăng cao, cắt giảm ngân sách Quốc phòng, chính sách Ngoại giao nhu nhược. Tổng thống Carter cũng phạm một lỗi lầm giống như Kennedy là ủng hộ bọn Hồi giáo quá khích để lật đổ vua Mohammad Reza Pahlavi của IRAN, rồi không cho ông vào Mỹ để chữa bệnh ung thư. Sự vô nhân đạo của Carter chẳng khác gì Kennedy ra lệnh giết Tổng thống Ngô Đình Diệm của chúng tôi. Vì chính sách sai lầm của Mỹ, khiến cho nhân viên Tòa Đại Mỹ tại Iran bị bắt làm con tin. Nếu không có ông Ronald Reagan bỏ đảng Dân Chủ sang đảng Cộng Hòa làm Tổng thống, thì nước Mỹ làm sao có thể tự hào vì phá vỡ bức tường Bá Linh và dẹp bỏ chế độ Liên bang Xô Viết và giải phóng Đông Âu?

Năm 1992, Tổng thống Bill Clinton của đảng Dân Chủ lợi dụng chức vụ, dụ dỗ cô Monica Lewinsky làm chuyện tồi bại tại Tòa Bạch Ốc, rồi chối bai bải cho đến khi chứng cớ phơi bày mới nhìn nhận. Tại sao đảng Dân Chủ không truất phế Bill Clinton về tội nói dối hữu thệ? Một lần nữa, thế giới khinh bỉ nước Mỹ có vị Tổng thống vô tư cách! Đảng Dân Chủ không còn xứng đáng là đảng Dân chủ của thời Franklin Roosevelt, thời Harry Truman!

Năm 2008, nước Mỹ đã làm cuộc cách mạng vì bầu một người da đen làm Tổng thống. Rất tiếc, Barack Obama đã thi hành chính sách chia rẽ dân tộc với câu khẩu hiệu “Black life matters!”, cúi mình xin lỗi các quốc gia Hồi giáo và nhu nhược một cách quá đáng trước Trung Cộng. Mặc dầu Tiến sĩ Peter Navarro viết cuốn sách “Death by China” từ năm 2011 để cảnh báo hiểm họa Trung Cộng, nhưng Obama và đảng Dân Chủ vẫn không quan tâm.

Năm 2016, mặc dầu biết Đại sứ Christopher Stevens bị quân khủng bố giết ở Benghazi là do lỗi của bà Hillary, vụ hủy email của bà Hillary là phi pháp, nhưng Barack Obama vẫn tích cực ủng hộ bà Hillary làm Tổng thống, vì ông ta dự tính sẽ sử dụng bà Hillary như là một công cụ phải thực hiện chính sách chưa hoàn tất trong 8 năm làm Tổng thống của ông. Những sự kiện Giám đốc FBI, Giám đốc CIA thông đồng với nhau cài gián điệp vào Ủy ban tranh cử của ông Donald Trump, chắc chắn Tổng thống Obama và phó Tổng thống Biden phải biết. Rồi đây sự thật sẽ phơi bày ra ánh sáng. Tôi nghĩ rằng đảng Dân Chủ khó lòng bào chữa!

Ngoài ra, truyền thông cánh tả, trí thức thiên vị một cách đặc biệt. Đảng Dân Chủ tin chắc bà Hillary Clinton sẽ dành chiếc ghế Tổng thống về cho đảng, nên tờ Newsweek in 150 ngàn số trên trang bìa chào mừng Nữ Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ và ban vận động đã đặt tiệc ăn mừng chiến thắng khi chưa đếm xong phiếu tổng kết. Nói theo cách nói của dân tôi: “Ông Trời có mắt”. Thủ đoạn gian xảo của đảng Dân Chủ bị thất bại một cách đau đớn. Ông Donald J. Trump đắc cử vẻ vang!

Tôi là Phật tử, nhưng tôi tin Thiên Chúa đã cứu nước Mỹ và cứu nhân loại. Nếu bà Hillary làm Tổng thống, chính sách của Barack Obama sẽ tiếp tục thi hành: Kinh tế lụn bại, Quốc phòng yếu kém, Ngoại giao nhu nhược, Iran tha hồ yểm trợ khủng bố. Chắc chắn Trung Cộng sẽ lên ngôi bá chủ hoàn cầu!

Thưa bà Chủ tịch Nancy Pelosy,

Người da trắng không dám nhắc đến Họa Da Vàng (Yellow Peril) vì sợ mang tiếng kỳ thị màu da. Tôi là một người Da Vàng, hiểu tham vọng của người Tàu hơn các giống dân khác. Nếu Trung Cộng thống trị thế giới, thì ngay cả người Da Vàng của Châu Á cũng không thể sống nổi như ngày nay. Chính bà Thái Vân Anh, Tổng thống Đài Loan, là người Tàu cũng không chấp nhận Trung Cộng, thì hà cớ gì đảng Dân Chủ lại làm cho nước Mỹ bị phá sản?

Nước Mỹ đã có thời kỳ nội chiến Nam – Bắc, nhưng lúc bấy giờ nước Mỹ chưa có một đối thủ đủ sức cạnh tranh ngôi vị bá chủ của Mỹ. Ngày nay Trung Cộng đã trỗi dậy, không phải nhờ vào sự tiến bộ của khoa học, mà nhờ vào mánh khóe ăn cắp sở hữu trí tuệ, gian lận trên thương trường và đầu độc thực phẩm để hủy diệt nhân loại. Từ 3 thế kỷ trước Hoàng đế Napoléon đã cảnh báo về mối Họa Da Vàng, chắc chắn bà và những chính trị gia Dân Chủ đều rõ. Tôi rất muốn bà cho biết có phải truyền thông, trí thức và chính trị gia Dân Chủ đã bị Trung Cộng hối lộ để lật đổ vị Tổng thống do dân bầu?

Bởi vì khi ông Donald Trump vừa đắc cử, đảng Dân Chủ đã có kế hoạch làm cuộc đảo chánh (coup d’état). Sau cuộc điều tra gần 2 năm và tốn kém 45 triệu đồng tiền thuế của dân, ông Mueller không tìm ra chứng cớ Tổng thống Trump thông đồng với Nga, bà xoay sang tố cáo vụ Ukraina để truất phế ông Trump bằng hai lý do hết sức phi Hiến Pháp.

Xin bà tha lỗi, nếu tôi nhận định sai. Tôi có cảm tưởng đảng Dân Chủ trót ăn hối lộ tiền của Trung Cộng mới có thể làm những điều mà công dân của một nước văn minh không thể làm, huống chi là ở vào hàng lãnh đạo quốc gia?

Cái việc các Nghị sĩ phe Dân Chủ thuê bà Tiến sĩ Christine Basey Ford vu cáo Thẩm phán Kavanaugh hiếp dâm bà. Rồi đến nữ dân biểu Rashida Tlaib chửi Tổng thống là “mother f.”, và dân biểu James Clyburn – Majority Whip – đòi treo cổ Tổng thống Donald Trump thì tôi thấy đảng Dân Chủ chẳng còn xứng đáng là một đảng có văn hóa. Bất lương và vô giáo dục đến thế thì thôi!

Thưa bà Chủ tịch Nancy Pelosi,

Tôi nhận thấy bà là người phụ nữ quá sức can đảm, khi bà tuyên bố bà là tín đồ Công giáo, mà không sợ bị Chúa trừng phạt! Nếu là tín đồ Công giáo, tại sao bà lại ủng hộ sản phụ gần tới ngày sinh con được quyền phá thai? Bà nói bà không thù ghét Tổng thống Trump, tại sao bà nhất quyết truất phế ông Trump, khi mà ông ta không phạm vào bất cứ tội nào trong các tội như phản quốc (treason), tội trọng (felony) hay ăn hối lộ (bribery)?

Tôi không thể kể ra hết các trò bẩn thỉu mà đảng Dân Chủ của bà đã làm trong thời gian qua. Tôi chỉ xin nhắc bà điều này: Hoa Kỳ là quốc gia giàu mạnh về kinh tế, quân sự. Không một quốc gia nào, kể cả Trung Cộng, có thể đánh bại nước Mỹ, ngoại trừ đảng Dân Chủ. Tôi không thấy những ứng viên trong đảng Dân Chủ tranh nhau để được đảng đề cử tranh chức Tổng thống năm 2020 có một cương lĩnh làm cho nước Mỹ hùng mạnh, mà chỉ thấy họ đưa ra những chương trình mỵ dân để lấy phiếu như tăng thuế nhà giàu để trợ giúp di dân bất hợp pháp được bảo hiểm Y tế, được hưởng trợ cấp xã hội; trong khi đó nạn người vô gia cư ở các thành phố lớn như New York, San Francisco, Los Angeles thì không lo giải quyết.

Nếu bà truất phế Tổng thống Trump cho bằng được để đảng Dân Chủ giành được chiếc ghế Tổng thống thì nước Mỹ sẽ khánh kiệt ngay. Chắc chắn Trung Cộng sẽ trở thành bá chủ hoàn cầu, tôi bảo đảm với bà rằng con cháu của bà sẽ bị gót giày xâm lược của nước Tàu dẫm đạp mà không thể ngóc đầu lên được. Giống như nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, những phần tử phản quốc làm tay sai cho cộng sản Bắc Việt đều phải bỏ chạy đến tỵ nạn tại các quốc gia tự do. Nếu nước Mỹ bị cái xã hội chủ nghĩa Tàu thống trị thì người Mỹ không còn có quốc gia tự do nào để đến tỵ nạn.

Tôi rất tự hào được làm công dân Hoa Kỳ. Đồng thời, tôi cảm thấy xấu hổ vì có những người Mỹ gốc Việt của chúng tôi đến tỵ nạn nước này mà lại ủng hộ đảng Dân Chủ, cái đảng chỉ muốn cho quốc gia mình bị lụn bại để nhường ngôi vị lãnh đạo thế giới tự do cho một kẻ thù man rợ. Tôi mong bà suy nghĩ lại, hãy làm cho nước Mỹ giàu mạnh, có văn hóa, văn minh thì nhân dân sẽ chọn đảng của bà lãnh đạo nước Mỹ. Sử dụng thủ đoạn bẩn thỉu càng làm cho hình ảnh cường quốc Hoa Kỳ xấu xa thêm mà thôi.

Tôi mong bà được Thiên Chúa tha thứ tội ủng hộ phá thai chống Chúa và hưởng một mùa Giáng sinh đầy ơn phước.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu

10200 Bolsa Avenue

Westminster, CA. 92683

Email address: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600

***

*ANH LÍNH NGỤY MAY MẮN.

(Tôi đã khóc khi đọc câu chuyện này).

Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”

Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

Đạo như chợt tỉnh, ông lão bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còncho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.

Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo.Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà , khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

“ Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !

Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

Bửu Uyển
(Sưu tầm trên Fb)

***

*MỘT ĐỜI LƯU VONG

Trường Phúc

MỘT ĐỜI LƯU VONG – Trường Phúc HoangsaParacel: 

Một câu chuyện rất cảm động,đầy tình người và tình quê hương của một sĩ quan Hải Quân đi du học Mỹ đã bị sống lưu vong sau ngày 30/4/1975.  Anh đã nói lên tâm trạng tiêu biểu cho một lớp quân nhân QLVNCH không bao giờ khuất phục bạo quyền cộng sản. CHƯƠNG 1: MƯỜI ĐÊM NGÀ NGỌC – NĂM NĂM TRÂN QUÝ Đời người ai cũng có một thời gian mà chúng ta nhớ mãi. Có người sẽ không quên được một quá khứ nếu quá khứ ấy có quá nhiều đau khổ và mất mát. Có người sẽ nhớ mãi về những ngày tháng cũ hoặc một thành phố đã mang lại nhiều kỷ niệm vui hoặc buồn. Có người nhớ mãi mật ngọt của mối tình đầu mà cho dù bao năm qua vẫn không quên. Nhà văn Mai Thảo có một truyện ngắn với nhan đề Mười Đêm Ngà Ngọc để kể về một tình yêu của hai người đã có gia đình . . Chàng, với vợ con. Nàng, với người chồng hay vắng nhà – thương, mà không yêu, sống với nhau vì nghĩa hơn là vì tình.. . Họ gặp nhau tình cờ, vài lần. . Sau đó, chàng dẫn con lên Đà Lạt nghỉ mát. . Nàng cũng lên đó thăm chồng bị tai nạn. . Định mệnh đưa họ đến gần nhau. . Và đến tình yêu. . Một tình yêu mà luân lý và đạo đức thông thường của xã hội không chấp nhận. Nhưng cả hai đều chợt nhận ra họ đã tìm hơn nửa đời bây giờ mới gặp tình yêu đích thực và hiễu thế nào là yêu thực sự. Họ ngã vào vòng tay nhau để yêu như chưa bao giờ yêu, bỏ mặc những ràng buộc về bổn phận và trách nhiệm. Thời gian thật ngắn ngủi. Chỉ mười đêm nhưng đó là tình yêu của cả một đời người. Và đấy là Mười Đêm Ngà Ngọc. Cả hai người đã tìm được The Other Half. Nếu Mai Thảo có Mười Đêm Ngà Ngọc thì tôi có Năm Năm Trân Quý. Đối với tôi thì năm năm trời sống trong quân ngũ phục vụ Hải Quân Việt Nam là những ngày tháng đẹp nhất mà tôi sẽ trân quý thời gian này suốt đời. Gia nhập quân đội để phục vụ tổ quốc làm nhiệm vụ của trai thời loạn. Vào Hải Quân để thực hiện mộng hải hồ phiêu du đây đó cho phỉ chí tang bồng. Tôi đã gặp những người bạn cùng chí hướng cùng nhau nhập học khóa 23 SQHQ Nha Trang và đã có biết bao nhiêu là kỷ niệm từ ngày đầu tiên vào trại Bach Đằng II, học căn bản quân sự ở Quang Trung. Kế đến là ngững ngày thực tập trên HQ500 trưóc khi ra Nha Trang. Lên tàu được sĩ quan đàn anh khóa 20 dạy dỗ thật chu đáo biết thế nào là chạy rùa, gõ sét, sơn nhôm và những hình phạt giáo đầu của quân trường Nha Trang như chông Koon, móc giò, thăng thổ. Sau khi tốt nghiệp được gởi đi thực tập trên US 7th Fleet cùng Trịnh Hòe với những bến cảng xa lạ của Đông Nam Á và gặp gỡ những người con gái đẹp như tiên xinh như ngọc. Rồi những ngày đi biển trên HQ612 đã cho tôi thấy nhiều nét đẹp của quê hương trong những chuyến công tác tuần dương trên khắp miền duyên hải. Tiếp nối là thời gian học Anh Ngữ ở trường Sinh Ngữ Quân Đội với ca sĩ mignon Thanh Mai qua nhanh đến ngày đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ vào tháng 2-1975. Sau vài tháng tu nghiệp đến ngày đinh mệnh 30-4 đứt gánh nửa đường. Khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ có 5 năm nhưng đó là thời gian đẹp nhất đời mà tôi sẽ không bao giờ quên. Đó là Năm Năm Trân Quý. Những hình ảnh cũ đã làm tôi nhớ về một khoảng thời gian tuyệt đẹp xảy ra gần nửa thế kỷ. Một thời gian thật dài. Năm mươi năm. Đời ta có được mấy lần năm mươi năm? Chỉ một lần. Bời vậy tôi muốn viết lại những giòng hồi ký của thời gian này khi còn nhớ được thứ tự trước sau. Để năm mười năm sau khi trí đã mòn, tim đã mỏi thì tôi vẫn có thể mở ra để đọc lại, nhớ về một thời đã qua mà chúng ta đã một lần có với nhau một thời gian thật đẹp và hào hùng. Phần đầu của thiên hồi ký sẽ kể về hai năm đầu ở trên đất Mỹ. Sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, tôi và những quân nhân tu nghiệp ở Hoa Kỳ như một con thuyền đang trôi giữa giòng nước bỗng bị mất tay lái, dập dìu trên sóng không định hướng bơ vơ trên đất khách quê người. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng cố phấn đấu để vượt qua những trở ngại và sống còn vì Chỉ Có Tinh Thần Là Quan Trọng. CHƯƠNG 2: TÁM TUẦN LỄ – HAI KHÓA HỌC Đã bao năm qua nhưng tôi vẫn nhớ về một mùa xuân năm 1975, mùa xuân đầu tiên trên đất Mỹ. Với tôi thì hai năm đầu tiên 1975 và 1976 mang nhiều nét đậm trong tiềm thức mà mãi bây giờ tôi vẫn còn nhớ được nhiều chi tiết. Sau khi đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội về, tôi được lệnh trình diện HQ612, Tuần Duyên Hạm Thái Bình. Sau hơn hai năm hải hành từ Vùng 1 đến vùng 4 Duyên Hải dạn dày trong sóng gió đại dương, tôi về Sàigòn để học Anh Ngữ bổ túc ở Trường Sinh Ngữ Quân Đội trong lúc chờ đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Khi đến trình diện Phòng Quân Huấn ở BTL/HQ, tôi gặp thêm 3 sĩ quan 23 nữa là Nguyễn Văn Kỳ, Lê Đinh Đức và Lý Văn Năm. Thế là bốn Đệ Nhị Bảo Bình, 2 Cơ Khí, 2 Chỉ Huy hop khóa hàng ngày vui như tết. Chúng tôi mỗi ngày hai buỏi cắp sách đi học, sáng nghe lecture, chiều nghe tape. Trong lớp có các quân nhân của các quân binh chủng, và đặc biệt là có vài sĩ quan của các binh chủng thiện chiến như Nhảy Dù, TQLC, BDQ và các vị SQ này có dip là kể chuyện tác chiến nổ như bắp rang. Lúc rảnh rang Lý văn Năm biểu diễn nhảy đầm “phăng” và dạy lại cho cả lớp. Phải công nhận là Lý Văn Năm nhảy những bước đào rất nhuyễn. Trưa thứ bảy có văn nghệ sống do nhà trường tổ chức với ca sĩ của cục Tâm Lý chiến. Trong số này tôi còn nhớ sự góp mặt của nữ ca sĩ mignon Thanh Mai. Nhắc đến Thanh Mai, trong một lần đi Orange County, Kỳ và tôi đã có dịp gặp lại người ca sĩ khả ái này. Hiện Thanh Mai đang làm chủ một nhà hàng kế Phước Lộc Thọ. Thanh Mai bây giờ tuy đã lớn tuổi nhưng vẫn còn giữ được dáng vẻ dễ thương như thơì còn ở Việt Nam. Cách đối đãi với khách rất lịch thiệp và hòa nhã dịu dàng. Thời gian học ở trường Sinh Ngữ Quân Đội thật là thần tiên và đôi lúc tôi có mặc cảm tội lỗi khi thấy mình quá được ưu đãi trong khi bạn bè đang phấn đấu với sóng gió biển khơi hoặc đối đầu với hiểm nguy trong các Giang Đoàn ở miên Tây. Cuối năm 1974 tôi và Kỳ được gọi trình diện Phòng Quân Huấn BTL Hải Quân để làm thủ tục đi tu nghiệp ở San Diego, Hoa Kỳ. Cùng đi có thêm 3 Trung Úy nữa là Linh từ khóa 25 Võ Bị Đà Lạt, Lập và Bé từ OCS. Trước ngày khởi hành, chúng tôi được lệnh vào trình diện HQ Đại Tá Bùi Hữu Thư, trưởng khối Quân Huấn HQ. Đại tá Thư nhắn nhủ cố gắng học hành để tốt nghiệp về phục vụ cho Hải Quân và nhất là phải nhớ mỗi quân nhân đi du học là đại diện cho cả màu cờ sắc áo của Hải Quân nói riêng và quốc gia Việt Nam nói chung. Có ngờ đâu rằng chuyến đi này cũng là một chuyến đi của vĩnh biệt quê hương thân yêu, của nghìn trùng xa cách.  Chúng tôi rời Sàigòn vào đúng ngày mồng 2 Tết Ất Mão tức ngày 13/2/1975. Máy bay nghỉ ở Honolulu tiểu bang Hawaì vài tiếng đồng hồ rồi sau đó tiếp tục vượt biển về phía California. Máy bay đáp xuống thành phố San Francisco vào khoảng 6 giờ chiều cùng ngày 13/2/1975 vì nước Mỹ đi chậm lại một ngày so với Việt Nam. Đón chúng tôi ở phi trường là một Đại úy HQ Hoa Kỳ. Chúng tôi được đưa về tạm trú ở Travis AFB (Travis Air Force Base) và tiếp tục hành trình đi San Diego vào hôm sau. Còn nhớ khi bước chân ra khỏi máy bay tôi đã được chào đón bằng một cơn gió buốt lạnh thổi vào mặt. Vốn là dân sống ở miền nhiệt đới nên khi lần đâù tiên bị một cơn gió mùa đông Bắc Mỹ đã để lại trong tôi một cảm giác thật khó quên. Tôi thầm nhủ ” Thì ra đây là mùa đông của đất Mỹ. Sau này tôi mới biết San Diego của tiểu bang California nằm ở phía Nam của Hoa Kỳ nên mùa đông ở đây không bằng một phần của những tiểu bang ở miền Bắc như Minnesota, Wisconsin, New York. Sau này khi làm việc cho Curtiss Wright trong những lần đi công tác tại Kanata, một thành phố gần thủ đô Ottawa của Canada thì mới biết cái lạnh nơi đây mới đáng được gọi là chúa lạnh vì dầu đã đội mũ nỉ che tai nhưng tôi vẫn có cảm tưởng hai vành tai mình đã bị rụng đâu mất. Tôi còn nhớ là hàn thử biểu trong xe cho biết là ngoài trời đang lạnh -5° C. Trời đang mưa và nưóc mưa rơi xuống mặt đường bị đông thành đá. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là Freezing Rain. Từ phi trường chúng tôi được vị sĩ quan liên lạc đưa về BOQ (Bachelor Officer Quarter) ở gần Point Loma. BOQ của US Navy San Diego là hai dãy nhà ba tầng lầu rất khang trang nằm sát bờ biển trong Naval Training Center. Năm người chúng tôi mỗi người một phòng riêng có phòng khách, phòng ngủ riêng biệt đầy đủ tiện nghi với TV, tủ lạnh, máy điều hòa không khí. Trung uý Linh có một người bạn là Bằng đang du học ở San Diego State University và Linh đã liên lạc được với Bằng ngay hôm sau tức mồng ba Tết Nguyên Đán. Bằng cho biết có hội Tết do các sinh viên Việt Nam tổ chức tại khuôn viên trường đại học và rủ cả bọn đi du xuân. Không bao lâu Bằng đến đưa chúng tôi đi chợ Tết xem văn nghệ. Thời gian ấy người Việt ở San Diego gồm một số it sinh viên Việt Nam và các quân nhân Hải Quân đang tu nghiệp. Ngoài ra còn có một số phụ nữ Việt kết hôn với quân nhân Mỹ theo chồng sang định cư  tại San Diego vì thành phố này là một quân cảng lớn nhất của Mỹ trên bờ Thái Bình Dương. Tôi phỏng đoán dân số người Việt lúc đó không quá 300 người. Khi biết chúng tôi mới từ Việt Nam đến, họ nói chuyện với chúng tôi rất cởi mở thăm hỏi tíu tít. Tối hôm đó cả bọn về nhà Bằng và ngủ đêm tại đây. Chúng tôi nằm ngủ ngay dưới thảm. Sáng hôm sau tôi còn đang mơ màng thì bỗng nghe tiếng nhạc từ phòng khách vọng ra. Một người em của Bằng đã có nhã ý cho khách thưởng thức điểm tâm với âm thanh của quê hương. Cám ơn thật nhiêù. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa quên cảm giác lúc bấy giờ dù đã hơn 40 năm qua. Đó là bài Tà Áo Cưới của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Tôi không nhớ tên ca sĩ nhưng có thể là Giao Linh. Vẫn nằm trong chăn, tôi nghe hết bài nhạc mà lòng nghe lâng lâng khó tả. Thật là tuyệt vời. Tôi cũng không hiểu tại sao mình vẫn nhớ mãi khoảng thời gian chỉ có vài phút phù du mà mấy chục năm sau vẫn chưa mờ phai trong ký ức. Chưa bao giờ tôi thấy bài Tà Áo Cưới hay đến thế mà những lần sau khi nghe lại bài này tôi không còn được cái cảm giác năm xưa khi nằm trong chăn ấm và âm thanh nghe thật ngọt ngào làm sao. Tôi cảm thấy lòng rung động dạt dào nhớ quê hương, nhớ gia đình giờ đã ở bên kia bờ Thái Bình Dương xa thẳm mù khơi. Có thể vì tôi là một người dễ xúc cảm. Đọc một truyện buồn, nghe một bài nhạc hay là đủ để tôi thấy lòng mình xao động. Tà Áo Cưới – Giao Linh thâu thanh trước 1975 https://www.youtube.com/watch? v=SvE-lqrGxhA Cùng học chung lớp với chúng tôi là các sĩ quan HQ của các nước đồng minh của Hoa Kỳ gồm hai trung uý HQ Thailand, hai trung uý HQ Indonesia, một đại úy HQ Taiwan và một thiếu uý HQ Columbia. Chúng tôi thân nhau rất nhanh, chuyện trò thoải mái có lẽ cùng một màu áo trắng và cùng một sở thích bềnh bồng sóng nước. Chuyến tu nghiệp được dự trù chỉ có 8 tuần lễ gồm có hai lớp huấn luyện. Lớp thứ nhất 4 tuần có tên là Combat Information Center (CIC) Officer Watch được giảng dạy tại Fleet Combat Training Center Pacific ở Point Loma. Chúng tôi có dịp ôn lại những bài toán Vận Chuyển Chiến Thuật đã học ở Nha Trang do Trung Úy Hòa đã dạy. Điểm khác biệt là ở Nha Trang chỉ dạy về lý thuyết nhưng không có thực hành. Còn ở đây chúng tôi có dịp thực hành trong một căn phòng lớn được đặt trên một hệ thống hydraulic để rập theo chuyển động của một chiến hạm đang hải hành trên biển. Hệ thống CIC Simulator với đầy đủ radar, echo thực sự và phòng CIC Simulator này cũng thực sự xoay chuyển theo hướng hải hành của chiến hạm. Vì vậy nên chúng tôi có cảm tưởng như đang ở trên một con tàu đang di chuyển thật sự, cũng lắc lư  hoa sóng dâng đầy như trong bài Hoa Biển của Anh Thy. Chúng tôi được học cách giải những bài toán vận chuyển hóc búa khi các chiến hạm di chuyển theo đội hình, căn cứ vào vận tốc của tàu mình và tàu bạn cùng với bù trừ của hướng gió và nước để giữ một khoảng cách an toàn tối thiểu. Khi hạm đội ra lệnh đổi hải trình hoặc vận tốc hải hành thì SQ đương phiên CIC phải tính toán thật nhanh để chuyển lên SQ trưởng phiên trên đài chỉ huy những thay đổi mới. Điều quan trọng nhất được các giảng viên nhấn mạnh là an toàn của hạm đội nói chung và của chiến hạm cơ hữu nói riêng. Ship Collision Shall Never Happen. Vì thế trách nhiệm của Sĩ Quan CIC thật nặng nề trong khi hải hành chiến thuật. Do đó tôi rất ngạc nhiên khi thấy gần đây có hai chiến hạm lớn của Hoa Kỳ đụng với những tàu dân sự ở biển Nhật Bản và Singapore. Tôi đã từng là SQ phụ tá CIC trong thời gian thực tập HQ3 sau khi ra trường Nha Trang trong thời gian chờ đi Đệ Thất hạm Đội nên đã có ít nhiều kinh nghiệm nên biết rằng chuyện đụng tàu rất khó xảy ra nếu không nói là Impossible vì trong HQ ai cũng biết là mỗi phiên hải hành đều có những nhân viên làm công việc quan sát (Look-out: A lookout or look-out is a person on a ship in charge of the observation of the sea for hazards, other ships, land, etc.). Trang bị với một ống dòm cực mạnh của hải quân, mỗi người đứng ở một vị trí đã định sẵn nhìn chằm chằm trên mặt biển. Hễ thấy chuyện lạ là các quan sát viên báo cáo vào đài chỉ huy cho SQ Trưởng phiên. Trừ khi nào mấy ông thần này ngủ gục hoặc say sóng thì không kể. Khóa 23 chúng ta không it người được chỉ định giữ nhiệm vụ quan sát khi đi phiên trước khi nhập học Nha Trang. Rất đông người ôm sô cho chó ăn chè vì chưa quen độ lắc sóng của chiến hạm, nhất là những chiếc Dương vận Hạm và Hải vận Hạm. Sau 4 tuần lễ học hành chăm chỉ chúng tôi được phát chứng chỉ tốt nghiệp và một tấm plaque kỷ niệm. Khóa học thứ hai là Instructor Course được giảng dạy ở San Diego Naval Training Center. Khóa học này có thêm nhiều quân nhân Hoa Kỳ tham dự nên lớp bây giờ khá đông. Chúng tôi được học cách soạn bài học, cách giảng sao cho lôi cuốn để các học viên không buồn ngủ và buồn chán. Một trong những cách làm cho lớp học sống động là đặt ra những câu hỏi và khi có ai trả lời đúng thì phải khen bằng những sáo ngữ thật đẹp, thật kêu như “That’s wonderful” hay là “Excellent”. Và phải khen càng nhiều càng tốt vì lời nói đâu mất tiền mua như ông bà ta đã dạy. Thi tốt nghiệp cuối khóa là mỗi người tự chọn một đề tài, tự soạn thảo và chế tạo các học cụ và thực tập trong phòng học theo giờ giấc của riêng mình. Ngày thi từng người lên  trình bày về đề tài mình cho cả lớp nghe trong khi sĩ quan huấn luyện và ban giám khảo ngồi ở dãy bàn sau cùng quan sát và chấm điểm. Nói thì đơn giản nhưng khi làm mới biết không dễ. Ngay cả với những học viên người Mỹ mà vẫn lắp bắp, toát mồ hôi ướt áo vì không phải ai cũng có tài thuyết giảng trước đám đông khi hàng trăm cặp mắt đang chăm chú nhìn mình. Áp lực còn nặng hơn với các sĩ quan ngoại quốc như chúng tôi vì Anh ngữ không là tiếng mẹ đẻ và dù có giỏi đến đâu cũng có lúc vấp váp. Ngoài ra nếu bị đánh rớt thì sẽ bị mất mặt sĩ quan HQVN nên ai cũng cố gắng hết mình. Sau cùng rồi chuyện gì cũng qua. Cả bọn năm người đều bảng hổ đề danh. Mọi người chúc mừng lẫn nhau rằng ” HQVN chứ bộ giỡn sao” rồi cười vui vẻ. Riêng tôi và Kỳ nói với nhau câu thần chú của 23: Chỉ có tinh thần là quan trọng. Chính phủ Mỹ rất chu đáo. Trong thời gian học chúng tôi được HQ Hoa Kỳ cho đi thăm Disneyland, San Diego Sea World. Mỗi người được giới thiệu một gia đình tư nhân Mỹ. Cuối tuần họ đón về nhà ăn uống và chở đi xem các thắng cảnh của San Diego.                           Tôi được một gia đình Mỹ ông bà Wilson đón về nhà chơi. Ông bà có dịp tìm hiểu thêm về văn hóa Việt và ngược lại tôi cũng có cơ hội học hỏi nếp sống của một gia đình Mỹ. Ông Wilson từng là cựu sĩ quan US Navy nay đã về hưu. Ông chưa từng qua Việt Nam nên ông rất thích nghe chuyện về HQVN. Nhớ lời dặn dò của đại tá Thư trước ngày lên đường là mình đang đại diện cho quốc gia Việt Nam, tôi không bỏ lỡ cơ hội đánh bóng một dân tộc có nguồn gốc Con Rồng Cháu Tiên ở xứ sở có bốn ngàn năm văn hiến. Ông bà chở tôi đến thăm Cabrillo National Monument. Đây là một thắng cảnh của San Diego. Tọa lạc trên một mỏm núi cao có tên là Point Loma trông xuống vịnh Coronado, ta có thể thấy các thuyền bè ra vào hải cảng tấp nập. Cũng chính nơi đây, một nhà thám hiểm đại diện cho vương quốc Tây Ban Nha tên Juan Rodríguez Cabrillo là người đầu tiên đã đặt chân lên bờ biển phía Tây của Bắc Mỹ vào ngày 28 tháng 9 năm 1542. Đây là một mốc dấu của lịch sử vì là điểm phát xuất của lãnh thổ miền Tây của Hoa Kỳ trong những năm về sau. Point Loma là một đỉnh cao nhất của San Diego và một ngọn hải đăng đã được đặt tại đây để soi sáng cho thuyền bè ra vào hải cảng San Diego vào năm 1855. Hải đăng này đã thôi hoạt động vào năm 1891 và trở thành một địa điểm thu hút khách du lịch từ khắp thế giới thăm viếng và ký vào sổ nhật ký hải đăng. Tôi cũng ký vào sổ nhật ký này với dòng chữ ” Ensign Phúc Nguyễn of South VN Navy was here. March-5-1975″. Cũng trong thời điểm này chúng tôi quen với một cựu quân nhân Mỹ đã từng tham chiên ở Việt Nam. Đã lâu nên tôi không nhớ được tên anh chàng này nhưng hãy cứ tạm gọi anh chàng này là Dan. Chúng tôi đặt cho Dan một nickname là Ông Mỹ Mập vì dáng dấp cao lớn mập mạp. Dan rất có cảm tình với chúng tôi. Ngày cuối tuần Ông Mỹ Mập đến BOQ chở cả bọn đi chơi vòng vòng San Diego. Cả bọn 5 người với Dan là sáu chen chúc trên chiếc xe Sport Jaguar 12 xi-lanh. Thời ấy chưa có luật seat belt nên không có anh cảnh sát nào làm phiền. Chúng tôi ai cũng mến Dan vì hắn rất dễ thương. Chúng tôi cũng quen vài phụ nữ Việt đang cư ngụ ở San Diego. Thỉnh thoảng họ mời về nhà đãi chúng tôi những món ăn Việt như phở, chả giò, canh chua cá lóc. Thật tuyệt vời khi được thưởng thức những món ăn đượm tình quê hương vì chúng tôi ăn hàng ngày những món ăn Mỹ ở Officer’s Mess Hall đã chán đến tận cổ. Với những phụ nữ này, chúng tôi là những hình ảnh của một quê hương yêu dấu mà họ đã đứt ruột xa rời khi theo chồng về xứ lạ. CHƯƠNG 3: QUÊ HƯƠNG ĐÀNH BỎ LẠI SAU LƯNG Vào khoảng giữa tháng 3/1975 chúng tôi bắt đầu nhận được những tin không mấy tốt từ Việt Nam. Tình hình chiến sự sôi bỏng ở cao nguyên rồi nối tiếp là cuôc di tản chiến thuật vĩ đại từ miền Trung. Mỗi tối chúng tôi theo dõi truyền hình rồi bàn bạc đến nửa đêm. Đến đầu tháng 4/75 thì các tỉnh miền Trung bắt đầu mất vào tay Cộng Sản. Đà Nẵng, Huế, Nha Trang. Quân lực Viêt Nam Cộng Hòa rút về cố thủ ở Phan Rang. Rồi có tin phòng tuyến này cũng bị vỡ. Chúng tôi bàng hoàng sửng sốt. Sao lại có thể như thế được. Chuyện xảy ra như một cơn ác mộng và đôi khi tôi không tin ở mắt và tai mình và nghĩ rằng truyền thông Mỹ bóp méo sự thật. Nhưng sau đó có lệnh tập họp tất cả các quân nhân Việt Nam đang tu nghiệp và chúng tôi bị đặt trước một sự thật phũ phàng. Chính phủ Hoa Kỳ cho chúng tôi hai chọn lựa. Một là lên đường về nước và hai là ở lại với tư cách tị nạn chính trị. Và phải có quyết định trong 48 tiếng đồng hồ. Chúng tôi nhìn nhau sững sờ không tin vào chính mình. Vậy là hết. Việt Nam quê hương ngạo nghễ bây giờ ra sao? Tôi còn nhớ lúc đó là khoảng trung tuần tháng tư 1975. Chúng tôi đang đứng ở giữa ngã ba đường. Về nước hay ở lại Mỹ? Cả hai con đường đều bấp bênh không định hướng, không sáng sủa. Khi chính phủ Hoa Kỳ đưa ra quyết định này có nghĩa là miền Nam sắp rơi vào tay Cộng Sản, sắp bị nhuộm đỏ. Sau này chúng ta mới biết chiến thuật di tản chiến thuật miền Trung là do tổng thống Thiệu muốn làm áp lực với Hoa Kỳ để bắt họ phải thi hành Hiệp Định Paris 1973. Theo Paris Accord 1973 thì Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng võ lực nếu Cộng sản miền Bắc vi phạm những điều khoản trong hiệp định này như xâm lăng miền Nam. Nhưng sự thật đã chứng minh ngược lại. Nixon đã quay mặt làm ngơ. Ông Thiệu đã thua một ván xì phé mà ông đã tố xả láng bằng cả số phận quân dân miên Nam. Chúng tôi như những con kiến trên chảo nóng. Chạy loanh quanh nhưng không biết phải làm sao cho đúng. Tôi đánh điện tín về Sàigòn hỏi ý kiến gia đình. Ba tôi trả lời vỏn vẹn 3 chữ: CON Ở LẠI. Sau đó một tuần lễ tôi nhận được một lá thư do ông viết rằng tôi có trở về cũng không giúp gì cho gia đình có khi còn làm liên lụy cho gia đình. Ba tôi đã cho thiêu hủy tất cả những gì liên quan đến tôi. Bằng cấp tốt nghiệp SQHQ, hình ảnh, quân phục đều bị đốt hết. Tôi đã biến mất trong chính gia đình đã sinh ra mình vì nghĩ rằng sẽ có một cuộc lùng bắt trả thù những quân nhân còn tại ngũ khi Cộng Sản chiếm được Sàigòn. Thư viết rằng trong khi ở Sàigòn có rất nhiều người đang tìm đủ cách để rời Việt Nam vì vậy tôi nên ở lại và nếu có bề gì thì gia đình vẫn còn một người sống sót. Trời ơi sự thật có thể lại thê thảm và phũ phàng đến thế sao? Tôi tin vào lời khuyên của ba tôi vì trước kia ông cũng đã từng là quân nhân và đã tu nghiệp Hoa Kỳ năm 1958-1959. Ngoài ra ba tôi cũng có kinh nghiệm với Cộng Sản trước khi đem gia đình di cư vào miền Nam năm 1954. Sau hai ngày dài đằng đẵng nhóm chúng tôi 5 người đã có quyết định. Hai trung úy OCS Lập và Bé sẽ trở về vì không nỡ bỏ lại vợ con gia đình bơ vơ. Cao quý thay tình vợ chồng và trách nhiệm gia đình. Tôi, Kỳ và Linh ở lại vì cả 3 còn độc thân. Ngày tiễn Bé và Lập ra phi trường trở về Việt Nam thật buòn thảm. Ai cũng thấy trời đang nắng mà mắt mình như có nước. Nhìn hai người bạn bước lên máy bay trở về quê nhà mà lòng quặn đau vì có thể sẽ không bao giờ gặp lại. Họ sẽ sống trong lao tù hay bị mất mạng trong cuộc tắm máu của Cộng Sản. Có ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra? Họ là những Kinh Kha thời đại đang đi vào lãnh thổ của bạo chúa Tần Thủy Hoàng nhưng vẫn kiêu hùng dấn bước. Mãi hơn 40 năm sau tôi và Kỳ mới có dịp gặp lại Lập do một tình cờ Lập cũng quen biết với Trịnh Hòe. Sau đó chúng tôi đã gặp nhau ở Santa Ana trong năm 2016. Một cuộc hội ngộ thần kỳ. Lập cho biết đang sống ở Canada. Sau ngày trở về Việt Nam năm trong tháng tư 1975 Lập đã mất liên lạc với Trung Úy Bé. Vài lời nhắn Trung Úy OCS Võ văn Bé từng đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ trước tháng tư 1975. Nếu anh đang sống ở một vùng đất tự do thì chúng tôi xin chia vui với anh. Ngày anh và Lập rời Hoa Kỳ trở về Việt Nam chúng tôi ba người ở lại đã cầu nguyện thật nhiều cho hai người vì biết rằng cả hai đang đối đầu với nhiều bất trắc hiểm nguy. Trở về từ phi trường tôi thấy lòng nặng trĩu sầu muộn. Tôi pha cho mình một ly cà phê đốt một điếu thuốc và ngồi trấm tư suy nghĩ mình phải làm gì trong những ngày sắp tới. Chính phủ Hoa Kỳ thộng báo cho những quân nhân quyết định ở lại sễ được hưởng quy chế tị nạn chính trị nhưng chúng tôi không có một khái niệm về quy chế này có nghĩa là gì. Họ cũng cho biết chúng tôi sẽ được ở lại trong BOQ thêm một tháng rôì phải dọn ra và tự lực cánh sinh. Your government exists no longer. Chính phủ của các anh không còn nữa. Ôi cái hiện tại thật là phũ phàng. Chúng tôi nhìn nhau nghẹn ngào mà lòng tan nát. Thế là hết. Có nghĩa là đường binh nghiệp từ đây đứt gánh nửa chừng, giã từ vũ khí trong khi còn quá trẻ và tràn đầy sinh lực. Từ đây sẽ phải từ bỏ những mong ước khi gia nhập Hải Quân: đến những bến bờ xa lạ, hải đảo thần thoại với những nàng mỹ nhân ngư và ước mơ sau cùng vẫn là được đeo bánh lái hạm trưởng trên ngực áo để tự hãnh diện là mình đã thực hiện được giấc mơ của đời trai thời chinh chiến. Tất cả đã mất hết. Tôi sẽ là người thủy thủ đã mất tàu và mất cả đại dương. Rồi đây đời mình sẽ ra sao? Có bao giờ được trở về quê nhà bước trên đường xưa lối cũ, gặp lại cha mẹ và các em thân yêu và bạn bè và người yêu bé bỏng? Dù chỉ là những suy tưởng viển vông xa vời không ai biết được Cộng Sản sẽ làm gì khi chiếm được miền Nam nhưng đó vẫn là một hy vọng. Một hy vọng thật xa vời và không tưởng. Những người bạn đồng minh học cùng lớp với chúng tôi cũng đang sửa soạn về nước. Họ nhìn chúng tôi với ánh mắt ái ngại nhưng tôi đã đọc được sự cảm thông. Tuy mới gặp nhau nhưng chúng tôi cũng từng chia sẻ với nhau những chuyện vui, nụ cười cũng như kinh nghiệm về hải nghiệp. Tối hôm đó ông đại úy HQ Đài Loan gõ cửa vào phòng tôi nói chuyện. Ông nói rằng chúng tôi quyết định ở lại Hoa Kỳ là đúng. Ông nói xứ sở ông cũng phải lo chống lại CS Trung Quốc nên ông cũng được học hỏi nhiều về lý thuyết Cộng Sản. Ông nói ngày mai ông lên đường về nước và chúc chúng tôi ở lại được nhiều may mắn trên vùng đất tự do.  Tôi cũng chúc ông lên đường bình an. Thấy người lại nghĩ đến mình mà buồn. Xứ sở của họ không có chiến tranh trong khi quê hương Việt Nam chưa được một ngày thanh bình kể từ sau 1960. CHƯƠNG 4: TA RA ĐI NAY MẤT LỐI QUAY VỀ Ngày 30-4-1975, theo dõi tin tức trên truyền hình chúng tôi biết rằng dân chúng ở Sàigòn đang đứng ngồi không yên vì mặt trận Xuân Lộc đã vỡ vì không chịu được sức ép của Cộng quân. Phi trường Tân sơn Nhất bị pháo kích khiến một số phi cơ bị hư hại nặng. Tổng thống Trần văn Hương bàn giao chính phủ lại cho Đại Tướng Dương văn Minh vì nghe nói phe CS chỉ muốn nói chuyện với ông Minh. Khi nghe tin ông Minh ra lệnh cho quân đội buông súng chúng tôi ba đứa nhìn nhau không nói, sững sờ. Ông tổng thống một ngày đã thực sự bóp chết Việt Nam Cộng Hòa. Có người cho rằng ông làm thế để cứu Sàigòn thoát khỏi một cuộc tắm máu. Người thì cho rằng ông Minh đã được dàn xếp để Cộng Sản chiếm được thủ đô mà không tốn một viên đạn. Tôi không có tư cách để phê phán hành động của ông Minh là đúng hay sai vì đó là vai trò của những người viết sử. Nhưng chỉ biết rằng từ đây tôi đã mất lối quay về. Khi lên đường đi du học tôi không bao giờ nghĩ rằng đó là một chuyến đi không trở lại. Những kỷ niệm thời đi học, mới lớn, những mối tình lớn và nhỏ đều phát xuất từ bên kia Thái Bình Dương và ở lại vùng trời thương yêu đó và biết đến bao giờ tôi mới tìm lại được nếu không còn đường quay về đường xưa lối cũ? Đời Sống Mới Trước khi rời Việt Nam chúng tôi được phép mang theo một số Mỹ Kim đổi theo hối xuất chính thức. Khi đến Hoa Kỳ, chúng tôi được phát lương hàng tháng mỗi ngày $8.00. Chúng tôi đã xài khá nhiều tiền trong viêc mua quà cho gia đình và dĩ nhiên là có phần của người yêu. Khi nhìn những gói quà lòng tôi quặn thắt xót xa vì không biết đến bao giờ tôi mới được gặp lại những người thân thương. Vào khoảng tháng 5/1975 chúng tôi được tin có một số lớn dân tị nạn Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ cho tạm trú ở Camp Pendleton của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ cách thành phố San Diego 60 miles về phía Bắc. Tin này làm xôn xao cộng đồng dân Việt Nam lưu vong ở đây. Chúng tôi dò hỏi đường đi nước bước, xem bản đồ (lúc bấy giờ chưa có GPS hay Smart phone nhé các bạn) và ba đứa tôi đi chung với một số bạn bè đến trại tị nạn. Phải nói là nhìn đâu cũng thấy những lều trại dựng kế nhau san sát. Tôi đoán chừng phải đến mấy ngàn người tị nạn Viêt Nam sống ở đây, Tent City. Tôi rảo bước vào từng lều hy vọng tìm được gia đình có thể thoát đi vào phút chót nhưng đi mỏi chân mà vẫn không gặp ai quen chứ đừng nói là thân nhân hay bạn bè. Thật là “triệu người quen có mấy người thân” Vì chưa có xe nên chúng tôi phải đi chung xe với bạn bè. Đến lúc về thì cả ba đứa đều bị kẹt lại vì xe này tưởng xe kia chở chúng tôi. Thế là cả 3 người chúng tôi trở nên lạc lõng trong trại tị nạn hàng ngàn người. Trên người chúng tôi chỉ có căn cước quân nhân mang từ Việt Nam và căn cước quân sự của Hoa Kỳ cấp khi đi du học. Chúng tôi tìm gặp những giới chức có thẩm quyền và được giới thiệu một nhân viên của Sở Di Trú Hoa Kỳ. Sau khi nghe trình bày tự sự và kiểm soát giấy tờ chứng minh, ông này liền đề nghị chúng tôi ở lại trại để làm Thông Dịch viên với tư cách tình nguyện. Chúng tôi đồng ý ngay vì có cơ hội giúp người đồng hương và biết đâu gặp được thân nhân gia đình thì thật là nhất cử lưỡng tiện. Mỗi người được cấp một ID badge và được ưu tiên ra vào các văn phòng dịch vụ Di Trú Hoa Kỳ.               Sau vài tuần chúng tôi không ai gặp được người thân và cũng đã đến lúc sắp phải trả phòng lại trong BOQ cho chính phủ Mỹ nên cả 3 đành từ giã các nhân viên US Immigration. Họ cấp cho chúng tôi giấy chứng nhận đã từng làm Thông Dịch cho Sở Di Trú để lưu vào hồ sơ tị nạn cá nhân. Tôi nghĩ tấm giấy này có thể đã có ảnh hưởng 5 năm sau khi tôi thi vào quốc tịch Hoa Kỳ. Sau khi đọc hồ sơ của tôi, nhân viên di trú chỉ hỏi tôi 2 câu như sau: Nếu anh được phép gia nhập US Navy và phục hồi chức vụ thì anh nghĩ sao? Sau vài giây suy nghĩ tôi trả lời không đắn đo: Thưa ông tôi sẽ từ chối gia nhập quân đội Hoa Kỳ. Tại sao? Có thể cho biết lý do? Thưa ông, tôi gia nhập Hải Quân Việt Nam là để bảo vệ tự do cho dân tộc và nền độc lập của miền Nam. Chúng tôi bị đặt vào một tình thế bắt buộc phải tự vệ trước cuộc xâm lăng của Cộng Sản miền Bắc với sự hổ trợ đắc lực của Cộng sản quốc tế là Sô Viết và Trung Cộng. Tôi sẵn sàng đổ máu hoặc hy sinh mạng sống cho một đất nước duy nhất đó là Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Người nhân viên sở di trú hỏi câu thứ hai: Nếu ông được gia nhập công dân Mỹ và nếu có chiến tranh gìữa Hoa Kỳ và Việt Nam thì ông chiến đấu bên nào? Tôi trả lời không cần suy nghĩ: Thưa ông còn tùy. Nếu Việt Nam vẫn còn là một quốc gia Cộng Sản thì tôi sẽ chiến đấu dưới lá cờ của Hoa Kỳ. Cũng vì những con ngưới Cộng sản đó mà tôi trở thành một tị nạn chính trị không còn quê hương, mất đi tất cả những gì tôi đã gầy dựng bao nhiêu năm qua.  Rất nhiều đồng bào tôi đã ra đi trong tháng 4-1975 khi Sằigòn thất thủ chỉ vì không châp nhận sống chung với Cộng Sản. Tôi sẽ không bao giờ chấp nhận sống chung với họ hay thở chung một bầu không khí với họ thì nói chi đến việc chiến đấu cùng họ. Còn nếu Việt Nam là một sứ sở tự do không Cộng Sản thì tôi sẽ trở về Việt Nam để chiến đấu cho quê hương tôi. Trả lời xong tôi cầm chắc là bị đánh rớt nhưng tôi biết rằng tôi đã trả lời với sự thành thật của lòng mình và hãnh diện vì điều này. Không nhập tịch cũng chẳng sao. Nhưng không ngờ sự thật lại ngược lại sự suy nghĩ của tôi khi người phỏng vấn bắt tay và nói với tôi: Chúc mừng ông. Có lẽ ông ta cũng tôn trọng sự thành thật của tôi vì biết ông đã đặt hai câu hỏi khó trả lời và tôi cũng có thể trả lời ngược lại nhưng tôi đã không làm thế. Nay chỉ còn ở free trong BOQ 30 ngày nên 3 người không ai bảo ai tự động lo tiết kiệm cho những ngày bất định sắp đến. Chúng tôi dẹp mục đi ăn ở Câu lạc bộ SQ và thay vào đó là cuốc bộ đến chợ VONS cách BOQ khoảng 1 mile mua cánh gà, mì gói và một cái bếp điện và từ đó mì gói làm chuẩn. Thuở đó chưa quen lắm với những tiệm Fast Fod của dân Mỹ như Mac Donald. Những ngày đầu tiên ở Mỹ khi xe chở đi học tôi ngắm đường phố và rất làm lạ khi thấy một tiệm ăn mang bảng hiệu Jack In The Box với một chú hề thò đầu ra từ một cái hộp vì không hiểu ở đó bán món ăn gì. Thắc mắc mà không dám hỏi ai vì sợ bị chê là cù lần. Sau này mới biết tiệm này bán Hamburger và khoai chiên. Nói về Hambuger thì tôi chạy món này vì người Mỹ họ bỏ đủ thứ hầm bà lằng: rau xà lách, cà chua, một lát cheese chung với một miếng thịt nghiền. Nhưng tôi lại chịu món khoai chiên. Thơm và lạ miệng nên vào tiệm tôi chỉ ăn khoai chiên. Sau này khám phá tiệm Kentucky Fried Chicken chuyên bán gà chiên và ngay lập tức tôi trở thành khách hàng thường xuyên của ông già tóc bạc. Còn về thức uống thì chúng tôi không lạ gì với các loại soda như Cocacola, Pepsi nhưng khi uống cà phê Mỹ lần đầu tiên thật là muốn nhổ ra ngay lập tức. Cà phê gì mà chua thế tôi tự hỏi. Chúng tôi bảo nhau phải lo an cư trước khi thời hạn 30 ngày hết hạn. Ba chúng tôi lo đi tìm Appartment để mướn. Vấn đề là tìm ở đâu để tiền mướn rẻ. Cuối cùng chúng tôi chọn vùng Imperial Beach tuy hơi xa trung tâm thành phố khoảng 20 miles về phía Nam nhưng được cái gần biển nên khí hậu dễ chịu. Tôi tự an ủi ta đã mất tàu nhưng vẫn còn biển làm bạn nên không hoàn toàn mất hết. Imperial Beach (IB)là một thành phố nhỏ ở về phía cực Nam của San Diego gần biên giới Mễ nên giá cả mướn ở đây khá rẻ nếu so sánh với những khu khác như Ocean Beach (OB), Pacific Beach (PB), University City. Chúng tôi ở cái appartment trên đuờng Calla Avenue một thời gian khoảng hơn một năm.      The First Job Ông Mỹ Mập đến thăm và chỉ chúng tôi cách đi tìm việc làm trong mục Help Wanted trên báo địa phương. Sau cùng cũng chính hắn giới thiệu cho chúng tôi tìm được việc làm đầu tiên trên đất Mỹ. Đó là làm Housekeeper ở một khách sạn tên là Posada Inn ở Shelter Island với tiền lương là $2.10 một giờ. Thời đó giá sinh hoạt còn khá rẻ và để các bạn so sánh một dozen trứng giá $0.35. Xăng thì $0.30 một gallon. Vì vậy lương $2.10 một giờ cũng cò thể xoay sở để sống được vì chúng tôi chia nhau tiền nhà căn appartment 2 phòng với gia thuê là $600 một tháng. Lúc này Linh đã có bạn gái nên hai người họ chiếm phòng master. Kỳ và tôi ở chung căn phòng nhỏ hơn nhưng tiên nhà chia đều làm 4 nên cũng không đến nỗi nào chật vật. Chúng tôi chia đều tiền chợ và vì có người đàn bà trong nhà nên nhà cửa gọn ghẽ và được ăn cơm nóng canh ngọt đều đều. Hotel này cách chỗ chúng tôi cư ngụ khoảng gần 20 miles. Ngày đầu tiên đi làm chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, đầu tóc gọn ghẽ. First Impression is very important. Ông Mỹ Mập dặn dò chúng tôi như vậy. Chúng tôi được giới thiệu với người Supervisor là một bà Mỹ cũng mập không kém gì ông bạn Mỹ Mập tôi thàm nghĩ. Chúng tôi được chỉ dẫn cách làm giường, chùi cầu tiêu, lau phòng tắm, hút buị, lau bàn ghế. Ba đứa chúng tôi nhìn nhau. Đang là những SQHQ oai phong lẫm liệt mà một sớm một chiều phải đi làm bồi phòng. Thật là một sự đổi đời. Tôi nhớ những ngày thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội ở chung phòng với một thiếu uý HQ Mỹ, hàng ngày có lính làm giường và quét dọn phòng ngủ. Bữa ăn chúng tôi được phục vụ chu đáo đến tận răng. Truyền thống HQ là các sĩ quan phải vào phòng ăn trước hạm trưởng 5 phút trừ những ai đang đi phiên. Khi hạm trưởng vào mọi người đứng dậy đợi ông ngồi xuống rồi tất cả cùng ngồi. Sau đó hai người lính tiếp vụ mới bắt đầu serve mọi người dĩ nhiên bắt đầu từ hạm trưởng. Rất nhà nghề một tay họ ôm khay thức ăn, tay kia gắp đồ ăn như steak, chicken vào đĩa từng người một rất nhẹ nhàng mặc dầu tàu đang hải hành trên biển. Khi serve nước uống thí dụ như cà phê, một tay cầm bình cà phê, tay kia để sau lưng, hơi cúi mình và rót vào tách cà phê đang để trên bàn. Sau đó hai anh lính này đứng ở hai đầu bàn nếu có ai cần gì thì sẽ phục dịch. Nghe những tiếng Sir và Aye Aye Sir nhàm cả tai. Vậy mà bây giờ thì sao? Thi phải vậy chứ sao. Thôi ta đành mượn một câu nói của Ngô Thời Nhậm đời Tây Sơn: Gặp thời thế, thế thời phải thế. Một thời huy hoàng nay còn đâu. Posada Inn là một khách sạn thuộc hạng khá sang trọng. Vùng Shelter Island là một bến cảng với những du thuyền đủ kiểu và là một nơi mà du khách thích đến để ngắm cảnh dạo phố và mua sắm. Thành phố San Diego là một trong những thành phố hấp dãn khách du lịch từ khắp nuớc Mỹ do khí hậu hiền hòa nhờ ở sát bờ biển. Thành phố này còn được khách du lịch tặng cho một danh hiệu thật đẹp là American Finest City. Và cũng chính vì thế mà những khách sạn ở đây rất đắt khách vào mùa hè nên họ cần tuyển dụng thêm người dọn phòng. Đó cũng là lý do chúng tôi được nhận vào làm việc vào mùa hè năm 1975.            Một toán hai người chịu trách nhiệm một tầng lầu có khoảng 30 phòng ngủ. Chúng tôi đẩy một cái xe trên đó có đủ đồ nghề clean up và máy hút buị loại heavy duty. Ngoài ra còn có đủ các loại supply như khăn tắm, xà bông, toilet paper etc. Trước khi vào phòng, chúng tôi gõ cửa rôì lên tiếng: House Keeping. Nếu không có ai lên tiếng có nghĩa là khách đã đi khỏi. Dùng master key chúng tôi mở cửa và bắt đâù dọn dẹp. Ba người chúng tôi bị tách ra và mỗi người được làm chung với một người khác để được “dạy dỗ” thêm. Làm xong phòng nào thì bà Supervisor đi kiểm soát. Thấy có gì sơ sót là bà quát tháo ầm ĩ. Chúng tôi cắn răng chịu đựng. Tôi và Kỳ bảo nhau trong giờ nghỉ ăn trưa câu thần chú của khóa 23: Chỉ có tinh thần là quan trọng. Riêng Linh thì xuống tinh thần thấy rõ. Bề gì thì chàng cũng xuất thân từ Võ Bị Đà Lạt, một quân trường nổi tiếng bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ với niềm kiêu hãnh vô biên. Những mong đường binh nghiệp được rực rỡ thăng tiến vậy mà một sớm một chiều đã mất hết. Tôi thấy đôi mắt Linh long lanh ngấn lệ. Đến bây giờ tôi mới thấy thấm thía về sự mất mát to lớn của mình khi nhìn thấy Linh và tôi cũng thấy hình ảnh của chính tôi

Nếu Mai Thảo có Mười Đêm Ngà Ngọc thì tôi có Năm Năm Trân Quý. Đối với tôi thì năm năm trời sống trong quân ngũ phục vụ Hải Quân Việt Nam là những ngày tháng đẹp nhất mà tôi sẽ trân quý thời gian này suốt đời. Gia nhập quân đội để phục vụ tổ quốc làm nhiệm vụ của trai thời loạn. Vào Hải Quân để thực hiện mộng hải hồ phiêu du đây đó cho phỉ chí tang bồng. Tôi đã gặp những người bạn cùng chí hướng cùng nhau nhập học khóa 23 SQHQ Nha Trang và đã có biết bao nhiêu là kỷ niệm từ ngày đầu tiên vào trại Bach Đằng II, học căn bản quân sự ở Quang Trung. Kế đến là ngững ngày thực tập trên HQ500 trưóc khi ra Nha Trang. Lên tàu được sĩ quan đàn anh khóa 20 dạy dỗ thật chu đáo biết thế nào là chạy rùa, gõ sét, sơn nhôm và những hình phạt giáo đầu của quân trường Nha Trang như chông Koon, móc giò, thăng thổ. Sau khi tốt nghiệp được gởi đi thực tập trên US 7th Fleet cùng Trịnh Hòe với những bến cảng xa lạ của Đông Nam Á và gặp gỡ những người con gái đẹp như tiên xinh như ngọc. Rồi những ngày đi biển trên HQ612 đã cho tôi thấy nhiều nét đẹp của quê hương trong những chuyến công tác tuần dương trên khắp miền duyên hải. Tiếp nối là thời gian học Anh Ngữ ở trường Sinh Ngữ Quân Đội với ca sĩ mignon Thanh Mai qua nhanh đến ngày đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ vào tháng 2-1975. Sau vài tháng tu nghiệp đến ngày đinh mệnh 30-4 đứt gánh nửa đường. Khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ có 5 năm nhưng đó là thời gian đẹp nhất đời mà tôi sẽ không bao giờ quên. Đó là Năm Năm Trân Quý. Những hình ảnh cũ đã làm tôi nhớ về một khoảng thời gian tuyệt đẹp xảy ra gần nửa thế kỷ. Một thời gian thật dài. Năm mươi năm. Đời ta có được mấy lần năm mươi năm? Chỉ một lần. Bời vậy tôi muốn viết lại những giòng hồi ký của thời gian này khi còn nhớ được thứ tự trước sau. Để năm mười năm sau khi trí đã mòn, tim đã mỏi thì tôi vẫn có thể mở ra để đọc lại, nhớ về một thời đã qua mà chúng ta đã một lần có với nhau một thời gian thật đẹp và hào hùng. Chúng tôi rời Sàigòn vào đúng ngày mồng 2 Tết Ất Mão tức ngày 13/2/1975. Máy bay nghỉ ở Honolulu tiểu bang Hawaì vài tiếng đồng hồ rồi sau đó tiếp tục vượt biển về phía California. Máy bay đáp xuống thành phố San Francisco vào khoảng 6 giờ chiều cùng ngày 13/2/1975 vì nước Mỹ đi chậm lại một ngày so với Việt Nam. Đón chúng tôi ở phi trường là một Đại úy HQ Hoa Kỳ. Chúng tôi được đưa về tạm trú ở Travis AFB (Travis Air Force Base) và tiếp tục hành trình đi San Diego vào hôm sau. Còn nhớ khi bước chân ra khỏi máy bay tôi đã được chào đón bằng một cơn gió buốt lạnh thổi vào mặt. Vốn là dân sống ở miền nhiệt đới nên khi lần đâù tiên bị một cơn gió mùa đông Bắc Mỹ đã để lại trong tôi một cảm giác thật khó quên. Tôi thầm nhủ ” Thì ra đây là mùa đông của đất Mỹ. Sau này tôi mới biết San Diego của tiểu bang California nằm ở phía Nam của Hoa Kỳ nên mùa đông ở đây không bằng một phần của những tiểu bang ở miền Bắc như Minnesota, Wisconsin, New York. Sau này khi làm việc cho Curtiss Wright trong những lần đi công tác tại Kanata, một thành phố gần thủ đô Ottawa của Canada thì mới biết cái lạnh nơi đây mới đáng được gọi là chúa lạnh vì dầu đã đội mũ nỉ che tai nhưng tôi vẫn có cảm tưởng hai vành tai mình đã bị rụng đâu mất. Tôi còn nhớ là hàn thử biểu trong xe cho biết là ngoài trời đang lạnh -5° C. Trời đang mưa và nưóc mưa rơi xuống mặt đường bị đông thành đá. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là Freezing Rain.