HOA HẬU ÁO DÀI SAN JOSE-WIENEKE lặng người bên MỘ

HOA HẬU ÁO DÀI SAN JOSE-WIENEKE lặng người bên MỘ

                          *ĐỀ TÀI ĐẶC BIỆT HÔM NAY:

1-VÀI ẢNH FUNNY!

2-AI ĐOẠT GIẢI HOA HẬU ÁO DÀI SAN JOSE?

3-Bà Wieneke lặng người bên mộ 81 “THiên Thần Mũ Đỏ.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

4-Video clip của VATV, phóng sự Buổi Lễ Thượng Kỳ đầu năm Canh Tý 2020 tại Falls Church, Virginia.

5-HOÀNG THỊ NGỌ: HƯƠNG VỊ TẾT HUẾ

6-SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ

7-BÙI ĐỨC TÍNH: TRĂM ĐẮNG NGHÌN CAY

**HOA HẬU ÁO DÀI SAN JOSE

*

*San Jose – Giải Thi Hoa Hậu Áo Dài California 2020 Tiếp Nối Thành Công- Tiffany Phương Nhìn Đoạt Vương Miện
*Andy Jan 26,2020 *Trần Củng Sơn
Cộng đồng Việt Nam hải ngoại bước qua 45 năm hiện hữu và cuộc thi Hoa Hậu Áo Dài tổ chức hàng năm vào ngày cận Tết ở San Jose cũng bước sang năm thứ 33. Đây là một điểm son dành cho một tổ chức, một giải thi mang nét văn hóa dân tộc kéo dài đến như vậy. Trước đây ở Nam Cali có giải thi Hoa Hậu Áo Dài Long Beach nhưng giải thi này đã không còn và chỉ còn lại giải thi Hoa Hậu Áo Dài Bắc Cali khởi đầu trong hội chợ Tết San Jose tại Fairground vào năm 1986 và hôm nay đổi thành Giải Hoa Hậu Áo Dài California.
Trong những năm đầu thành lập cuối thập niên 80, Giải Hoa Hậu Áo Dài ở San Jose tổ chức cùng Hội Tết, đây là một tiết mục hấp dẫn tạo nét phong phú cho Hội Tết San Jose; dần dần Giải Hoa Hậu Áo Dài tổ chức riêng tại rạp hát Santa Clara Convention Center 600 chỗ ngồi với qui mô lớn hơn.
Điểm đặc biệt của Giải Thi Hoa Hậu Áo Dài Bắc Cali nay đổi thành Hoa Hậu Áo Dài California là các Hoa Hậu và Á Hậu thường tham dự các sinh hoạt văn hóa của Cộng đồng Việt Nam  tại địa phương. Điều này nói lên nét đáng nhớ và tầm quan trọng của Giải Thi Hoa Hậu Áo Dài tại San Jose.
Giải thi Hoa Hậu Áo Dài California năm 2020 diễn ra vào chiều Thứ Bảy 4 tháng 1 năm 2020 tại rạp hát Santa Clara Convention Center gồm 14 thí sinh; có 2 thí sinh đến từ Los Angeles. Ban giám khảo gồm 9 vị; tối Thứ Sáu 3 tháng 1, 2020 ban giám khảo gặp riêng các thí sinh để phỏng vấn và tìm hiểu rõ hơn các thí sinh và chấm điểm. Điểm chấm trong buổi này chiếm 50% , và 50% là trên sân khấu, cho nên hai lần chấm điểm đều quan trọng ngang nhau.
14 thí sinh chọn ra 10 thí sinh vào vòng nhì và vào vòng bán kết còn 5 thí sinh để chọn ra Hoa Hậu và Á Hậu. Các thí sinh được hỏi bằng tiếng Anh và tiếng Việt và mỗi thí sinh trả lời bằng ngôn ngữ mà họ chọn.
Kết quả cuộc thi Hoa Hậu Áo Dài California 2020 như sau:
Hoa Hậu : Tiffany Phuong Nhin, 24 tuổi, cô giáo.
Á Hậu Hoàn Mỹ: Nguyễn Thanh Trúc , 22 tuổi
Á Hậu II: Lily Vân Đặng
Á Hậu III: Katherine Vũ
Á Hậu IV: Phan Thiên An
Miss Saigon – Hoa Khôi Saigon: Katherine Lê, 16 tuổi
Miss Teen Vietnam California: Valerie Lâm
Á Hậu Khả Ái: Kim Huỳnh
Á Hậu Kiều Diễm: Julia Nguyễn

***

*Bà Wieneke lặng người bên mộ 81 “THiên Thần Mũ Đỏ.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Con gái phi công lái máy bay chở 81 lính Nhảy Dù bị rơi năm 1965 đến thăm mộ các tử sĩ
January 27, 2020
Bà Wieneke lặng người bên mộ 81 “THiên Thần Mũ Đỏ.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) – Bà Jan Wieneke, con gái thiếu tá phi công Robert M. Horsky là người lái chiếc máy bay C-123 chở 81 chiến sĩ Nhảy Dù bị rơi năm 1965 ở gần Tuy Hòa, đến thăm ông Trí Tạ, thị trưởng Westminster, hôm Thứ Sáu, 17 Tháng Giêng, và xin được đem hoa đến viếng ngôi mộ của 81 tử sĩ QLVNCH.
Bà lái xe từ Phoenix, Arizona đến đây chỉ để gặp ông Trí Tạ và ra thăm mộ 81 tử sĩ.
Bà Wieneke nói: “Ngay sau khi biết tin 81 người lính này đã có nơi chôn cất hẳn hoi, tôi liên lạc với Đại Tá Gene ‘Gino’ Castagnetti và yêu cầu ông đưa tôi đến Wesminster để tôi được đích thân cám ơn Thị Trưởng Trí Tạ vì tôi được biết ông đã có công rất lớn trong việc thúc đẩy thành phố Westminster mở cửa đón nhận những người anh hùng Việt Nam không nơi chôn cất trong suốt mấy chục năm trời.”
“Đồng thời cũng để cám ơn toàn thể cộng đồng người Việt ở đây đã chấp nhận những vị anh hùng này,” bà tiếp. “Xin cám ơn Westminster đã giúp 81 tử sĩ Nhảy Dù này có nơi an nghỉ.”
Chớp mắt, bà cố ngăn cơn xúc động một lúc rồi nói: “Họ chết trong cùng một phi vụ với cha tôi nên đã từ lâu, tôi coi họ như một phần ký ức của mình về cha tôi. Cha tôi và ba quân nhân Mỹ khác đã được an nghỉ tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington từ lâu rồi trong lúc cả 81 chiến hữu này vẫn chưa có chỗ an táng.”
“Bởi vậy, khi biết họ đã có được ngôi mộ xứng đáng, được chôn cất chung với nhau giữa cộng đồng người Việt hải ngoại và được công nhận là những vị anh hùng chiến đấu cho chính nghĩa tự do, tôi mừng lắm,” bà chia sẻ. “Họ như là người thân của tôi.”
Là người Mỹ, sinh ra và lớn lên ở Mỹ, nhưng bà Wieneke lại có số phận hẩm hiu như những đứa trẻ Việt Nam thời chinh chiến. Khi bà mới được ba tháng, cha bà lên đường tham chiến tại miền Nam Việt Nam. “Cha tôi tử trận lúc tôi mới 11 tháng,” bà kể. “Mẹ tôi phải một thân, một mình nuôi tôi khôn lớn.”
Cả tuổi thơ của bà Wieneke là một sự mất mát và thiếu thốn dài đằng đẵng nên bà cảm thông với những người bất hạnh. “Bởi vậy tôi rất thương những tử sĩ này. Họ bỏ mình vì đất nước nhưng hài cốt của họ lại bị những người làm chủ đất nước họ từ chối tới hai lần,” bà khẽ lắc đầu lộ ý chán ngán.
Vòng hoa trắng đem tặng 81 vị anh hùng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Đứng trước mộ phần 81 “Thiên Thần Mũ Đỏ” tại nghĩa trang Westminster Memorial Park, Westminster, bà nhìn ông Trí Tạ và lập lại lời cám ơn: “Tôi xin thành thật cám ơn ông và cộng đồng người Việt tại Westminster đã mở rộng vòng tay nhân ái và giúp 81 vị anh hùng này có nơi an nghỉ cuối cùng.”
Nhìn ông Gino Castagnetti, bà tiếp: “Như đã nói trước khi đến đây, tôi xin cám ơn ông và Thượng Nghị Sĩ Jim Webb đã không bỏ rơi bạn đồng đội của mình.”
Bà trịnh trọng đặt vòng hoa trắng có hình Thiếu Tá Phi Công Robert Horsky sát cạnh ngôi mộ tập thể rồi lặng lẽ đến bên mộ bia. Khẽ chạm tay vào bia, bà lẳng lặng ngồi sụp xuống rồi nghẹn ngào nhỏ lệ.
Toàn thân bà khẽ rung một lúc.
Trong vài giây sau đó, bà thì thầm gì đó với 81 tử sĩ Việt Nam rồi vội vã chùi nước mắt.
Cả ông Trí Tạ và ông Castagnetti nhẹ nhàng lùi ra xa để tỏ lòng tôn trọng giây phút thiêng liêng này. Họ cùng nhìn nhau thắc mắc không biết bà nói gì với những người chiến sĩ QLVNCH mà bà chưa hề gặp.
Giữa vòng hoa là di ảnh Thiếu Tá Phi Công Robert M. Horsky, người lái chiếc phi cơ định mệnh. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Quay ra đứng bên những người đang chờ đợi, nhìn hình cha mình giữa vòng hoa trắng, bà gắng nở nụ cười rồi nói: “Tôi nghĩ đã đến lúc họ gặp lại nhau. Tôi tin rằng họ vui lắm.”
Đầu đã hai thứ tóc nhưng sau cặp kính cận, đôi mắt bà lung linh một niềm vui thật ngây thơ. Mắt bà như đôi mắt đứa bé mồ côi cha quá sớm đang vui mừng khi thấy cha về thăm mình.
…Tưởng nhớ 81 chiến sĩ VNCH…
… và tưởng nhớ cha Robert M. Horsky… (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)
Vài dòng nhắc lại câu chuyện thương tâm của 81 “Thiên Thần Mũ Đỏ” này…
Vào ngày 11 Tháng Mười Hai, 1965, một chiếc máy bay C-123 bị rơi trên một vùng hẻo lánh ở Việt Nam, làm phi hành đoàn gồm bốn phi công Mỹ và 81 chiến sĩ Nhảy Dù VNCH thiệt mạng.
Lúc đó, Tiểu Đoàn 3 và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù vừa xong nhiệm vụ, chuẩn bị chuyển về Sài Gòn, thì được lệnh của Quân Đoàn 2 ở lại để đánh giải vây cho Sư Đoàn Mãnh Hổ của Nam Hàn đang bị kẹt ở Tuy Hòa. Chẳng may, Đại Đội 72 thuộc Tiểu Đoàn 7 lại đi trên chiếc máy bay C-123 định mệnh đó.
Vùng máy bay rơi là khu rừng hiểm trở, cách Tuy Hòa 32 cây số về phía Tây, gần như không thể vào được. Mãi đến năm 1974, khi người dân đi sâu vào rừng kiếm củi, họ mới phát hiện xác máy bay và các hài cốt.
Chiếc C-123 hôm đó bay từ phi trường Pleiku đến phi trường Tuy Hòa thì bị nạn. Tuy nhiên, tất cả hài cốt bị trộn lẫn vào nhau, nên người ta đưa vào một quan tài, và chuyển về Bangkok, Thái Lan.
Qua thử nghiệm DNA, Bộ Quốc Phòng Mỹ xác nhận được danh tính của bốn phi công Mỹ, đem về chôn cất ở Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington.
Trong khi đó, không có thông tin gì để xác nhận 81 người Việt Nam còn lại.
Năm 1986, 81 di cốt này được chuyển về Cơ Quan Tìm Kiếm Tù Binh/Người Mất Tích (DPAA) ở Hawaii, nơi phụ trách xác định danh tính những người tử trận hoặc mất tích trong chiến tranh.
Cách đây khoảng ba năm, ông Jim Webb, từng là bộ trưởng Bộ Hải Quân dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan, được Bộ Quốc Phòng Mỹ giao trách nhiệm giải quyết số phận của 81 di cốt này.
Ông Jim Webb đã hai lần đề nghị chính quyền CSVN tiếp nhận số hài cốt này để các tử sĩ trở về quê nhà nhưng đều bị từ chối.
Hôm Thứ Sáu, 13 Tháng Chín, một chiếc máy bay của Không Lực Hoa Kỳ chở 81 di cốt này đến California, để trong một căn cứ quân sự.
Ngày 26 Tháng Mười, 2019, hài cốt của họ chính thức được trở về nhà, trong lòng Little Saigon, ‘thủ đô của người Việt tị nạn.’
Trở lại không gian trầm lắng tại nghĩa trang Westminster Memorial Park…
Nhìn mộ bia 81 tử sĩ QLVNCH, ông Castagnetti nói: “Chúng tôi cố tình đặt chín ngôi sao hàng dọc và chín ngôi sao hàng ngang để tượng trưng cho 81 người anh hùng này.”
Phút giây trầm mặc trước mộ phần. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)
Ông Trí Tạ gật đầu chia sẻ: “Chúng tôi cũng chọn ngày 26 Tháng Mười làm ngày an táng họ vì ngày này năm 1956 là ngày Quốc Khánh của thể chế VNCH, của nền đệ nhất cộng hòa.”
Ngay sau khi chia tay ông Trí Tạ và ông Castagnetti, bà Wieneke lái xe quay về Phoenix, Arizona. (Đằng-Giao)

***

*SINH HOẠT CĐNV VÙNG Washington, D.C., Maryland và Virginia, và Hội Người Việt Cao Niện HTĐ

*HÌNH CHÀO CỜ MÙNG 2 TẾT

CHÀO CỜ MÙNG 2 TẾT 26-1-2020

https://photos.google.com/share/AF1QipMqDGh1qh-TGdEaNnTwMjamunKm-fSF5JMGruYt1jgwqyBBgWnUvc7bFkw9cpfqGA?key=RDN4ck5nVGhvUjkxbTQyQzhCTEpVZFJ4eVIwRUh3

      KATHY BLOC

** Video clip của VATV, phóng sự Buổi Lễ Thượng Kỳ đầu năm Canh Tý 2020 tại Falls Church, Virginia.

Do anh Đậu Thanh Vân và Cô Lê Bích Phượng thực hiện..

https://youtu.be/GWh-ikmRy_A

** Chương trình lần thứ 1441 của Truyền hình HTĐ, sau phần tin tức là phóng sự chợ Tết của Cộng Đồng Việt Nam 

vùng Washington, D.C., Maryland và Virginia, và Hội Người Việt Cao Niện HTĐ đã được tổ chức tại Trường Trung học Justice, 

Falls Church, Virginia hôm 19/1/2020.

Video clips do Anh Nguyễn Phúc, Chị Bạch Mai và Cô Lê Thúy Thanh thực hiện..

  1. Tin Tức : https://youtu.be/8Ax3n9roiS0
  2. Phóng Sự CĐ : https://youtu.be/B-12PLZT5Cw

***

*HOÀNG THỊ THỌ: HƯƠNG VỊ TẾT HUẾ

Hương vị Tết Huế

Jan 26,2020
Ba tháng mưa lạnh triền miên rồi cũng qua. Tháng Chạp trời Huế ấm dần lên, Tết đang lấp ló ngoài ngõ, trên những luống cải nở bông vàng rực sau vườn, lòng người rộn rã vui.
Bánh Tết Huế (ảnh HTT)
Nắng lên rồi! Dù chỉ mấy ngày hiếm hoi đủ để hong khô màu vôi mới sơn lại ở những ngôi nhà, mai vàng hé nụ, nhiều người cắt tỉa lại hàng chè tàu thẳng tắp, nắng lên đủ hong khô những củ, quả của thẩu dưa món…, và nắng lên giúp người lao động nghèo tranh thủ chạy thêm cuốc xe để mua cho con bộ quần áo mới.
Trong thời buổi đã có nhiều đổi thay, cái gì cũng vội vàng cho kịp với tốc độ của thời hiện đại, đến như cái ăn- một trong những vấn đề quan trọng nhất cũng đã có dịch vụ lo. Bởi vậy, bây giờ đã vơi đi cái không khí háo hức chuẩn bị công phu trong từng gia đình. Tuy vậy, Tết ở Huế vẫn còn giữ gìn được nhiều mỹ tục hay từ màu sắc, hương vị rất đáng để thưởng thức. Nhắc đến Tết Huế là nhắc đến những lễ nghi cúng tế, chiêm bái tưởng nhớ… Trước Tết, nhiều người cúng tổ nghề truyền thống, hai ba tháng Chạp cúng đưa ông Táo về trời, cuối năm chọn ngày lành để cúng Tất niên mời ông bà về ăn Tết cùng con cháu, cúng Giao thừa.
Ngày hai chín, ba mươi Tết là thời điểm bận rộn nhất mà ngập tràn niềm vui. Từ sáng tinh mơ, các chợ đã tấp nập người mua bán, người ta đi chợ mua sắm bởi nhà nào cũng muốn làm mâm cơm tươm tất dâng cúng tổ tiên. Chính cái không khí rộn ràng mỗi người mỗi việc đã làm nảy sinh thêm tình cảm yêu thương, gắn bó mọi người với nhau.
Tết là quay về dưới mái nhà xưa của thời thơ ấu. Gia đình đoàn tụ êm ấm, hạnh phúc trong lễ cúng Tất niên, rước ông bà về ăn Tết cùng con cháu. Bàn thờ tổ tiên được lau chùi sạch sẽ, sáng trưng, hoa trái thơm tho quyện trong mùi hương trầm nhẹ bay ở gian thờ làm cho không khí thêm ấm áp, thiêng liêng. Các món dâng cúng tổ tiên được nấu nướng công phu với nhiều màu sắc, trình bày đẹp vào những chén dĩa nhỏ với lòng thành kính. Cúng xong, mọi người quây quần bên mâm cơm trong chiều cuối năm đầy ắp tiếng cười…
Cúng giao thừa (ảnh Đào Hoa Nữ)
Quét dọn sân vườn xong, thong thả đi trong nhà ra ngoài ngõ, mọi vật đều sạch sẽ, tinh tươm, hít thở không khí trong lành giữa tiết Xuân. Các thành viên trong nhà nói năng nhỏ nhẹ, ai cũng muốn làm những việc tốt lành, ước nguyện cả năm gặp điều lành. Cúng giao thừa là lễ cúng thiêng liêng nhất, giây phút giao hòa giữa Đất- Trời với hồn người. Khi hai kim đồng hồ nhích đến số 12 là lúc nén hương và lò trầm được đốt lên với mâm cúng mứt bánh, hoa trái, xôi chè… Chắp hai tay đứng trước bàn thờ hướng vọng tổ tiên, lòng người lắng xuống, tĩnh tâm, xa xa chuông chùa Thiên Mụ  vọng ngân…
Sáng mồng một Tết, việc đầu tiên là thắp hương và xông trầm bàn thờ tổ tiên. Mọi người mặc những bộ áo quần sạch sẽ, chuẩn bị đón khách đến chúc Tết, con trẻ xúng xính quần áo mới chạy tới chạy lui, hân hoan chờ đón người lớn mừng tuổi đầu năm.
Ở Huế, người ta coi trọng việc xông đất” sáng mồng Một. Những người được “nhắm” đến xông đất là người tử tế, làm ăn thành công hoặc những người hoạt bát, vui vẻ. Người Huế dành trọn ngày mồng Một để đi thăm bà con, thắp hương cho người đã khuất và viếng mộ. Tục đi chùa ngày Tết được nhiều người giữ gìn, vì chính ở những ngôi chùa- một không gian biểu trưng cho sự thanh khiết với mùi trầm hương và hoa trái… làm lòng người nhẹ tênh. Những ngày Tết, sáng nào người phụ nữ cũng dậy sớm, mọi cử động đều nhẹ nhàng, gắp mứt bánh vào những chén dĩa nhỏ xíu để cúng trà. Nhiều gia đình vẫn coi trọng việc cúng cơm cho ông bà ngày ba bữa, mồng Một cúng chay, ngày thường cúng mặn, trước cúng sau cấp. Mồng Ba Tết người ta làm mâm cơm cúng đưa ông bà. Ngày 9 tháng Giêng cúng trang ông, trang bà, cúng sao, cúng rằm tháng Giêng- Tết Nguyên tiêu.
Từng là kinh đô, nên của ngon vật lạ khắp nơi được quy tụ về Huế. Theo thời gian, nơi đây có chừng 1300 món ăn nấu theo lối Huế, bao gồm các món ăn cung đình và dân dã. Ngày thường, món ăn đã rất phong phú, mùa nào thức ấy. Ngày Tết càng là dịp để người phụ nữ Huế thể hiện sở trường “ Công- Dung- Ngôn- Hạnh” của mình- một tài sản vô giá của bao thế hệ bà mẹ Huế để lại và từ ngôi trường Nữ trung học Đồng Khánh Huế ngày trước  trao cho qua môn học Nữ công gia chánh. Dù rất bận rộn, phụ nữ Huế thật hạnh phúc khi làm những món ngon ngày Tết để tiếp bạn bè và khách thăm. Ngoài những món Tết truyền thống như mứt gừng, mứt bí, mứt me, bánh tét- dưa món, phụ nữ Huế còn làm nhiều món ngon như: thịt bò kho riềng, thịt heo dầm giấm, dầm nước mắm, giò heo rút xương, tôm chua, mắm tôm vằm, chả lụa, chả thủ, nem, tré…, các món ăn kèm cho đỡ ngán những ngày Tết là vả, chuối chát, dưa cải chua cay; củ kiệu, hành hương, súp lơ, cà rốt… dầm chua ngọt…
Về cách làm tré – một trong những món ngon, thì thật thú vị và tài hoa biết bao, bà Trương Thị Bích, dâu của Tùng Thiện Vương- Miên Thẩm, nhạc mẫu của bà là phu nhân của Tùng Thiện Vương, đã dạy cho bà về cách nấu nướng: “Bắt chước bà gia thuở dọn xơi/ Làm thành thực phổ dạy cho người”. Trong tác phẩm “Thực phổ bách thiên” của mình, bà Trương Thị Bích đã bày vẽ dâu con nghệ thuật nấu trên một trăm món ăn bằng những bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Về món tré, bà viết mấy câu dễ nhớ, dễ làm: “Thịt này làm tré phải ram da/ Tỏi cựu riềng non xắt rối ra/ Thính muối mè đường đều trộn bóp/ Gói bằng lá ổi bó tranh tra”. Một món ngon khác được ưa chuộng trong ngày Tết là tôm chua ăn kèm với thịt heo phay- dưa giá hoặc khế, vả, rau thơm cho đỡ ngán, bà viết: “Tôm tươi phèn rửa hớt đầu đuôi/ Muối rượu say sưa để một hồi/ Ớt tỏi măng riềng xôi đủ vị/ Trộn đều gài chặt ấy là rồi”.
Cùng với các món mặn, phụ nữ Huế còn làm hàng chục loại bánh mứt thật ngon và đẹp như: bánh ngũ sắc, bánh măng mận, bánh phục linh, bánh phất, bánh lá vải, bánh bó, bánh gấc, bánh cây, bánh hạt sen, bánh in bột nếp, bột đậu xanh, bột bình tinh, bột đậu quyên, bánh thuẩn, bánh trái cây, bánh nóc chùa, bánh khô, bánh nổ…, mứt gừng xăm, mứt chanh, mứt cam, cam quật, mứt me, mứt táo, mứt thơm, mứt khế, mứt khoai… Với các thứ mứt bánh làm công phu và đẹp nên vừa ăn vừa thưởng thức mới tận hưởng hết hương vị của từng loại bánh trái.
 Dành nhiều trí tuệ, tâm sức  và thật công phu, nhưng bù lại là được giữ gìn những nét văn hóa Tết đặc sắc của miền Hương Ngự. Tết Huế ý vị, lắng sâu. Dẫu có đến bao nhiêu tuổi, dẫu có đi xa bao lâu, người Huế không thể không nhớ mùi vị cay, thơm rất đặc trưng của mứt gừng Huế mẹ làm trên bếp lửa hồng những ngày giáp Tết, không thể không nhớ mùi thơm của  trầm hương và hoa trái giữa tiết trời lất phất mưa bay… 
Hoàng Thị Thọ

***

*SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ

*THI SĨ TRẦM VÂN

*THI SĨ ĐINH TƯỜNG

 *THI SĨ THANH THANH

CHIỀU

     Chiều nay trời đẹp vô ngần,
Hai ta nghỉ việc nằm gần bên nhau.
     Nhà ngang tưởng mấy tầng lầu,
Lá bay qua cửa: muôn màu bướm hoa.
     Chim sâu cũng ngỡ sơn-ca,
Nghe đàn chim ngói nói là họa-mi.
     Cảnh nghèo nghĩ nữa mà chi,
Trăm ngàn hận tủi quên đi một chiều.
     Sống vui với tấm tình yêu,
Vợ+chồng ai hạnh-phúc nhiều hơn ta?
     Ngày mai, cuộc sống phiền-hà
Lại làm ta mệt, làm ta nhọc lòng.
     Nhưng đời dù mấy long-đong
Cũng còn những phút thong-dong thế này.
     Hai ta lại gối kề tay,
Nằm im không rượu mà say ái-tình…

 THANH-THANH

                                                    (trong “Tuần Trăng Mật”)

***

THI SĨ PHÚ SĨ

 QUÊ EM MIỀN BIỂN GÒ CÔNG
                   Thơ: Phú Sĩ
Mời anh về thăm miền biển quê em
Đêm bình lặng ngắm mây trời tim tím
Anh sẽ thấy dịu dàng bờ cát mịn
Thắm chân tình vùng đất biển 
Gò Công
Đây thiếu nữ áo dài xinh như mộng
Nét diễm kiều bao lữ thứ hoài mong
Đến nơi này trong một buổi chiều hồng
Hồn thơ thẩn ngỡ ngàng bao khát vọng
Chiều mênh mông cơn thủy triều khỏa sóng
Những nụ cười tươi nở bóng hoàng hôn
Ai ra đi lòng khắc khoải bồn chồn
Nhớ thương lắm điệu buồn con sáo sậu
Đêm buông xuống thuyền xuôi dòng cửa Đại
Qua Bình Luông, cửa Tiểu mãi xanh màu
Nghe tiếng hò cô gái phía ngoài xa
Quanh năm vắng bến đò đưa tiễn khách
Về nơi đây giữa bạt ngàn hoa trái
Những tấm lòng nhân ái của quê em
Sóng vỗ về tình biển mặn nỗi niềm
Nhớ lắm anh, hãy về cùng em nhé…

***

*Em Gái Gò Công 2 – Kha Thi | Tác Giả : Nam Khai – Phan Quỳnh Như | NHẠC NHÀ LÀM


***

*KHAI BÚT ĐẦU NĂM CANH TÝ
Đã bốn mươi lăm Tết xứ người
Ngày về sao vẫn tít mù khơi
Thân mòn sức kiệt nhơi chờ chết
Trí thiển tài sơ lết đợi thời
Đất nước tả tơi Tàu lấn chiếm
Hành trang phù phiếm Việt ăn chơi
Quê hương hơn nửa đời xa cách
Kỷ niệm từng đêm vách trống phơi

Trần Văn Lương

Cali, Mùng Một Tết Canh Tý 2020
Xin góp vui bằng bài họa:
HỌA Y ĐỀ
Xuân đến chung vui có mấy người
Biết ai tâm sự vượt ngàn khơi
Quê hương rách nát, sao vô cảm
Đất nước đứng lên, dậy tức thời!
Tổ quốc lâm nguy Tàu khởi chiếm
Thời trang đú đởn trẻ ham chơi
Ra đi từ độ tàn chinh chiến
Nay đã thân tàn tóc bạc phơi.

Thiết Bảng

Bài họa thuận vận:
KHAI BÚT ĐẦU NĂM CANH TÝ
Bạn thân đếm lại chẳng bao người
Chết ở trong tù, chết biển khơi 
Đất nước lầm than cơn mạt vận
Quê hương thống khổ buổi suy thời
Dư đồ một bức Tàu xâu xé 
Sông núi hai miền Việt dạo chơi 
Đã bốn lăm năm thương chiến hữu
Mồ hoang mả lạnh nắng sương phơi

Đinh Tường 

28/1/2020
On Monday, January 27, 2020, 11:41 PM, Cang Nguyen <cangsanjose@yahoo.com> wrote:
Xin góp vui bằng bài họa;
HỌA Y ĐỀ
Xuân đến chung vui có mấy người
Biết ai tâm sự vượt ngàn khơi
Quê hương rách nát, sao vô cảm
Đất nước đứng lên, dậy tức thời!
Tổ quốc lâm nguy Tàu khởi chiếm
Thời trang đú đởn trẻ ham chơi
Ra đi từ độ tàn chinh chiến
Nay đã thân tàn tóc bạc phơi.

Thiết Bảng

***

Xuân Hy Vọng

Xuân về chạnh nhớ đến quê hương
Xuân đến hoa xuân điểm mặt đường
Xuân ấy gia đình đành cách biệt
Xuân nào chồng vợ phải đôi phương 
Xuân buồn chia xẻ niềm yêu mến
Xuân khóc ủi an nỗi nhớ thương 
Xuân trước khổ đau xin bỏ lại
Xuân này non nước sẽ kiên cường 
TQS

TẾT XỨ NGƯỜI

Tết mãi nản buồn xa cố Hương
Tết nơi xứ lạ thiếu gì đường
Tết nhiều đào thắm Mai Vàng sẵn
Tết lắm pháo hồng đốt tứ phương
Tết ngắm hoa xuân lòng chán ngán
Tết nhìn én liệng dạ ngùi thương
Tết gìn dân khí luôn kiên quyết
Tết giữ giống nòi biết quật cường!!

ThaNhân họa với Đồ Lô PAH

Camthành Jan 27, 2020

***

*BÙI ĐỨC TÍNH: TRĂM ĐẮNG NGHÌN CAY

Trăm Đắng Nghìn Cay
BÙI ĐỨC TÍNH
Xa xa tiếng đại bác vẫn không ngừng dội về.
Trời đã về đêm, tướng Lee cho lệnh dừng quân, đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng, gần toà thị xã Appomattox, nằm vào phía Nam tiểu bang Virginia. Đây là một nơi hẻo lánh, có độ chừng 20 căn phố, chỉ vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán.
Cuộc nội chiến Hoa Kỳ xảy ra trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống Lincoln từ 1861 đến 1865, bắt đầu vào ngày 12 tháng 4-1861.
Khi cuộc chiến Nam Bắc bùng nổ, nước Mỹ chia đôi. 11 tiểu bang miền Nam ly khai với 9 triệu dân và thêm 4 triệu dân nô lệ da đen. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ còn lại 21 tiểu bang miền Bắc với 20 triệu dân.
Quân đội chính phủ liên bang Hoa Kỳ, do tướng Ulysses Grant chỉ huy, gọi là quân đội miền Bắc hay quân đội Potomac, lấy tên của dòng sông diễm lệ chạy qua thủ đô. Các tiểu bang miền Nam sống về canh nông, cương quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ để khai thác cho nông nghiệp. Tổng thống miền Nam là ông Davis. Thủ đô là Richmond và quân đội do tướng Rober Lee chỉ huy được gọi là quân đội Virginia, hay quân đội miền Nam.
Sáu ngày trước, lực lượng của tướng Lee đã di chuyển không ngừng nghỉ về dãy núi Blue Ridge, nơi ông từng tuyên bố là quân đội của mình có thể kiên cường chiến đấu ít nhất là 20 năm. Thế nhưng, đêm nay, khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu của ông quyết định đóng quân tại đây thì tất cả quan quân đều mệt mỏi, sa sút tinh thần. Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào John Gordon, một vị tướng trẻ gan dạ. Hy vọng rằng, sáng sớm ngày mai, lực lượng của tướng Gordon sẽ tiến quân phá vỡ tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.
Khởi từ 5 giờ sáng, từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng sau đó, khi qua phía bên kia đồi, lực lượng này đã đụng phải hai đơn vị bộ binh dàn quân kéo dài hơn 2 dặm. Lại thêm, từ phía sau là hai đơn vị bộ binh khác đang tiến lên. Quân lính của tướng Gordon bị vây ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, không còn lối thoát nào cả.
Được tin thất trận của tướng Gordon, tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu để có quyết sau cùng. Trong Ban Tham Mưu có người đề nghị phân tán để giữ lực lượng và chuyển sang đánh du kích, nhưng tướng Lee chọn quyết định đầu hàng. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng nhưng sau cùng đành chấp nhận thua cuộc và xin hẹn gặp nhau.
Nhận được thư chấp nhận đầu hàng của tướng Lee, tướng Grant rất vui mừng, chuẩn bị đón tiếp tướng Lee. Ông ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với vị tướng tư lệnh bại trận.
Trưa ngày lịch sử 9 tháng 4-1865, tướng Lee và một đại tá tùy tùng cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn ước. Nửa giờ sau, tướng Grant đến. Ông tự tay thảo điều kiện về đầu hàng trao cho tướng Lee, như sau:
“ Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền, nếu họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”
Gương mặt lo lắng của tướng Lee giờ tươi hẳn. Qua cam kết của tướng Grant, ông an tâm khi biết là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Họ cũng sẽ không bị bắt giữ và truy tố về tội phản loạn. Ông đồng ý với các điều kiện đề ra, nhưng trình bày: hiện nay quân đội của ông không còn lương thực và xin cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính của ông đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu; không như quân đội miền Bắc, ngựa do chính phủ cung cấp.
Nghe vậy, tướng Grant cho biết là không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng tuyên hứa là sẽ cho lệnh để lính miền Nam được phép đem lừa ngựa của mình về nhà mà xây dựng lại nông trại, tạo sinh kế. Ông cũng không ngần ngại hứa hẹn cung cấp 25,000 khẩu phần cho quân đội miền Nam.
Thi hành văn kiện đầu hàng đã ký kết, ba ngày sau, binh lính của tướng Lee đi trên con đường hướng về phía Đông rừng Appomattox.Hai bên đường có quân đội của tướng Grant nghiêm chỉnh dàn chào nghênh đón, do tướng Chamberlain, thay mặt tướng Grant, chỉ huy nghi thức tiếp nhận quân đội đầu hàng.
Tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, thừa lịnh tướng Lee, hướng dẫn toàn quân đến đầu hàng.
Không thông báo trước và ngoài nghi thức sắp đặt, tướng Chamberlain ra lệnh cho quân đội của ông thi hành nghi thức chào kính. Kèn lệnh vang lên, đoàn quân nghiêm chỉnh thi hành, tiếng báng súng đồng loạt vang lên.
Phía đối diện, tướng Gordon của quân đội đầu hàng, thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trân trọng chào đáp lễ. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua thế bồng súng chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”. Họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.
Buổi lễ và các thủ tục đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trao nộp trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược,…Người chiến thắng cùng người chiến bại đều tôn kính lẫn nhau. Người đích thực chiến thắng năm 1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ!
* * *
Chiếc GMC, loại quân đội dùng chở quân lính, dừng lại. Tấm bạt che kín người bên trong xe, mở lên từ phía sau. Ánh mặt trời buổi chiều bất chợt hắt vào những tù nhân bên trong xe, làm bàn tay đưa lên che vội bên trên khuôn mặt hốc hác nhễ nhại mồ hôi, đôi mắt hấp háy tránh né tia sáng chói chang và đột ngột. Hai bộ đội trẻ, rất trẻ, đứng canh chừng bên lối xuống xe, tay ghìm cây AK với lưỡi lê dài nhọn đe dọa.
– Cho xuống xe!
Cán bộ “quản giáo” rời buồng lái, tay đeo vòng cái túi vải qua bên trái, cho khỏi che vướng cây súng ngắn K54 đeo lủng lẳng bên hong, ra lệnh. Những người tù lếch thếch nhích dần ra phía sau và mỏi mệt lần lượt xuống xe. Chân rảo bước về phía sau xe, có vẻ chưa vừa lòng, hắn cáu kỉnh hét: 
– Khẩn trương lên!
– A!
Bất chợt có tiếng người kêu lên. Hai cái lon sữa Guigoz cột đeo trên vai anh, rớt xuống, lăn lóc nghe loảng xoảng. Mớ nước uống còn sót trong lon đổ tuôn ra, nhuộm ướt lớp sỏi đất trên sân trại thành màu đỏ sẫm. Tiếng kêu thảng thốt, khe khẻ, nhưng đủ làm những người quanh anh cùng cảm nhận. Các bạn tù còn trên sân khựng lại, nhìn xem. Bàn tay trái của anh cầm chặt nơi cổ tay mặt. Mắt anh kinh ngạc nhìn ngón tay của mình. Lúc xuống xe, chiếc nhẫn trên ngón tay, không may, máng vào đầu cây đinh ốc bị tuôn và nhô ra bên ngoài thanh gỗ dựa lưng của băng ghế. Sức nặng của thân thể và tốc độ nhảy xuống làm vòng kim loại cắt và tuột trọn da thịt trên ngón tay của anh quá nhanh, trong chớp nhoáng. Cảm giác thật sự chưa kịp đến. Cái đau lúc này ít hơn nỗi kinh hoàng khi mắt mình nhìn thấy các lóng xương ngón đeo nhẫn phơi bày ra trần trụi.
Dùng lưỡi lê trên đầu cây AK ghim chọc vào giữa vòng kim loại đang nằm trong nhúm thịt và máu. Đưa chiếc nhẫn máng trên thân lưỡi lê lên xem:
– Báo cáo cán bộ: chiếc nhẫn này của “ngụy”!
Thực vậy, không cần phải đọc cho được hàng chữ “Trường Võ Bị Quốc Gia – Việt Nam”, quanh viên ngọc trên mặt nhẫn; hình ảnh con rồng uốn quanh cây kiếm và bản đồ Việt Nam, quá đủ để quân cộng sản nhận ra: đây là dấu hiệu liên hệ với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bây giờ, máu tuôn trào. Cảm giác đau nơi ngón tay lúc này thật sự là đau buốt. Nhìn gương mặt im lặng chịu đựng, của nạn nhân, viên cán bộ cay cú:
– Cực kỳ ngoan cố! … Cách ly nó!
Quay sang những người tù còn đứng gần đó, dợm chân, có ý muốn bước đến giúp đồng đội của mình, hắn gằn giọng:
– Cấm mọi quan hệ! Cấm cứu thương!… Không băng bó chi cả!
Anh bị giam riêng. Rừng về đêm giá lạnh, ngón tay không thuốc men hay băng bó càng thêm đau đớn. Cái đau đớn tận cùng không chỉ ở vết thương!
Đến trưa hôm sau, người ta đem anh ra xe và chở đi…
Sau khi quân cộng sản chiếm trọn miền Nam tự do. Những người lính miền Nam Việt Nam, những công chức, nhà văn, nhà báo và tất cả những thường dân bị nhà cầm quyền cộng sản kết tội có liên hệ với chế độ Tự do của miền Nam, đều bị tống giam vào các trại tù, dưới tên gọi là “trại cải tạo”. Ngay cả thương binh cũng không thoát khỏi chính sách trả thù hèn hạ, hiểm độc. Họ bị tống đuổi ra khỏi bệnh viện, bất kể tình trạng thương tích trên người, với vải băng bê bết máu kéo lê trên mặt đất dơ bẩn.
Năm 1975, Trung tá Vũ văn Sâm, phục vụ tại Trường Sĩ quan Bộ binh Long Thành. Ông bị cộng sản giam giữ tại Long Giao, rồi chuyển đến trại tù Tân Hiệp (Biên Hòa). Ở đây, nhạc sĩ Thục Vũ có sáng tác nhạc phẩm “Suối Máu” với 8 câu thơ cảm đề của chính mình:
“Em ở Sài Gòn anh ở đây
Đồi pha cát trắng kẽm gai đầy
Ngẫn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược
Để nhớ nhung về che khuất mây
Tôi vẫn thường đêm thương nhớ con
Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn
Thương mình ray rứt từng đêm trắng
Thương bạn anh trong chuyện mất còn”
Cũng vì lời nhạc thương nhớ bày tỏ tình cảm của mình, người viết nhạc bị quân cộng sản đày đọa lên trại tù Sơn La, ở chốn rừng thiêng nước độc. Tại đây, Thục Vũ sáng tác thêm nhạc phẩm “Anh Ở Đây”; chỉ một thời gian ngắn bị giam giữ và gục chết cũng tại nơi đây, vào ngày 15/11/1976. Tấm mộ bia đơn sơ với đôi hàng nguệch ngoạc “Vũ Văn Sâm, 1932”, được bạn bè ghi lại, cắm làm dấu xác người tù bạc phận đã phải nằm lại tại trại tù Sơn La.
Người tù Sơn La Nguyễn Quang Tuyến, cũng là nhà văn Văn Quang.
Nhà văn Văn Quang được biết đến qua rất nhiều tác phẩm văn chương. Bốn tác phẩm được làm thành phim. Chân Trời Tím là phim có rất nhiều người biết đến, cùng các ca khúc như Nửa Hồn Thương Đau, Chân Trời Tím.
Sau năm 1975 ông bị bắt giam hơn 12 năm tù.
Trong bài “Mừng Cho Người Chết Trong Nhà Tù “Cải Tạo”, nhà văn Văn Quang có viết về cái chết của bạn tù Vũ Văn Sâm, tức nhạc sĩ Thục Vũ: “Anh Tô Kiều Ngân không ở cùng trại tù với tôi, anh đi “lao động” bị ngã gãy tay, phải đưa về trạm xá gần trại giam tôi ở từ năm 1976 khi được đưa ra Sơn La “học tập”. Dịp đó, nhạc sĩ Thục Vũ, tên thật là Vũ Văn Sâm, ở cùng đội với tôi, anh bị đau gan đến vàng mắt. Khi bệnh tình quá nặng, Thục Vũ được đưa sang bệnh xá. Nói là bệnh xá, chứ ở đây cũng chẳng có thuốc men gì chữa chạy cho bệnh nhân. Thậm chí mỗi lần lên khám bệnh xong, anh y tá bôi cho tí dầu cù là vào tay rồi bảo về uống đi hoặc nằm ngửa cổ ra để “cán bộ y tế” nhỏ cho vài giọt nước củ tỏi vào mũi. Thế là xong. Bệnh nhân nặng chỉ còn việc nằm chờ chết. Thục Vũ cũng ở trong trường hợp ấy.
Một buổi sáng sớm, …Tôi nhận ra ông Phan Lạc Phúc, khoác chiếc áo trây di cũng tả tơi “đồng bộ” với cái quần rách. Nước mắt ông Phúc chảy rất chậm trên mặt, ông nghẹn ngào cất tiếng:
– Thằng Sâm chết ở bệnh xá đêm qua rồi.
Tôi lặng người, bởi mới hôm qua, tôi lẻn sang bệnh xá thăm, Thục Vũ đưa cho tôi hai gói thuốc lào nhỏ, anh nói: “Tôi mệt không hút thuốc được nữa”. Ngồi nói chuyện vài phút, anh Tô Kiều Ngân ở trạm xá này cũng đến ngồi chơi. Tôi thấy Thục Vũ vẫn còn khỏe, vậy mà đêm qua đã ra đi.
Sau đó, anh Tô Kiều Ngân nói với tôi lời an ủi đúng nhất, ngắn nhất và cũng bi thảm nhất: “Mừng cho nó, từ nay nó không còn biết đói rét và không ai hành hạ được nó nữa”.
Đám tang Thục Vũ, hình ảnh bi thảm nhất trong cuộc đời chúng tôi.
Vào buổi chiều năm 1977, khi đồi núi Sơn La bắt đầu chạng vạng, bất chợt nhìn sang lối ra từ bệnh xá một khung cảnh hết sức đau lòng. Trên con đường đá cũ nhỏ, vòng theo sườn núi cao vút chập chùng, cách vườn rau là cái ao, đám tang bắt đầu di chuyển chậm chạp. Hai cai tù vác súng AK đi đầu, theo sau là một anh tù cầm vài nén nhang, đến 4 anh tù khiêng cỗ quan tài mộc, sau cùng lại là 2 cai tù vác súng AK. Suốt con đường dài âm u đó, chỉ có đám người ấy lặng lẽ chuyển động như những bóng ma.
Ở vùng đồi núi bóng tối đổ xuống rất nhanh, mang theo sương mù mỏng dăng ngang triền dốc dựng đứng như những bức tường đá của nhà giam thiên nhiên, chẳng cách nào thoát ra được. Chúng tôi biết chắc đó là đám ma Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ. Tất cả hơn ba chục tù nhân trong đội đứng ngẩn ra, dán mắt nhìn theo cái đám ma thê thảm ấy. Ông Phan Lạc Phúc, đến bên tôi, không nói lời nào, quay mặt đi giấu nước mắt. Nhìn sang phía bên trạm xá, Tô Kiều Ngân và mấy anh bác sĩ trẻ cũng là tù, đứng sau hàng rào kẽm gai cũng ngơ ngẩn. Ngân vẫy tay cho tôi và anh Phan Lạc Phúc chẳng biết để làm gì. Là một sự cảm thông tận cùng hay nói lời từ biệt.
Mấy tay coi tù cũng đứng lặng, nhìn chúng tôi và họ hiểu rằng lúc đó dù bắt chúng tôi thu dụng cụ về trại cũng chẳng ai chịu về, dù có bị bắn tại chỗ. Tất cả đứng như tượng gỗ dõi theo đám tang đi trong buổi hoàng hôn lạnh ngắt, dần khuất vào cuối con đường cong phía chân núi. Sương mù bắt đầu tỏa xuống…
Hình ảnh cái đám ma Thục Vũ còn in đậm trong tâm khảm chúng tôi cho đến bây giờ. Tôi chắc anh Tô Kiều Ngân, đến cuối đời cũng chưa quên được hình ảnh này. Nó trở thành những kỷ niệm rất riêng nhưng cũng lại rất chung của những ai đã từng sống dở chết dở qua những cái được gọi là “trại cải tạo”.
“Ôi đời ta, ngờ đâu trăm đắng nghìn cay
Khúc sắn bát ngô vơi đầy
Sầu nuôi thân xác hao gầy
Bao ngày qua đợi chờ tin vui chẳng thấy
Hận thù yêu thương còn đấy
Vui đành như cánh chim bay” *
Cho đến nay, cứ đến ngày 30 tháng 4, đảng cộng sản lại thản nhiên tưng bừng ăn mừng ngày chiếm miền Nam tự do và gọi là Đại thắng mùa Xuân.
Hơn 40 năm qua, đã có hàng trăm hồi ký, truyện ngắn, truyện dài viết về trại tù “cải tạo” của cộng sản. Biết bao câu chuyện thương tâm đã được ghi lại trong Thân Phận Người Lính Gãy Súng, Xử Tử Tù Cải Tạo, Nữ tù nhân “cải tạo” ở Z30D, Những Người Tù Cuối Cùng, Núi Lạnh, Cuối Tầng Địa Ngục, Trại Tập Trung, Trại Kiên Giam,… và hãy còn biết bao câu chuyện không thể nào được kể lại trọn vẹn, hay chưa bao giờ được biết đến; vì người tù đã vùi thân xác đâu đó trong rừng hoang khi vượt trốn trại, hay trong các bãi chôn tù, như nghĩa trang Đồi Bà Then trên Cổng Trời. Hoàn cảnh khắc nghiệt tại trại giam Cổng Trời khiến tù nhân chết do bệnh tật, thiếu ăn, biệt giam hay lạnh giá hầu như xảy ra hàng ngày. Đồi Bà Then là cái tên mà người nào ở Cổng Trời đều biết. Nó là một mảnh đất nhỏ được dành làm nghĩa trang mà cán bộ trại giam luôn lấy làm biểu tượng để cảnh cáo những người tù cứng đầu nhất. Biết rằng: không ai thoát khỏi cái chết trong cõi đời này, nhưng người tù “cải tạo” phải chứng kiến và chấp nhận cái chết đến với mình. Chỉ riêng trại giam có tên là Trại Cổng Trời đã có quá nhiều hồi ký ghi nhắc đến.
Thảm cảnh đày đọa và chết chóc trong trại tù cộng sản đã được biết bao nhân chứng viết kể lại. Nhưng ngôn từ không thể nào diển tả trọn vẹn được nỗi đau đớn của họ cùng thân quyến. Nỗi đau của những vết thương nhục hình này không bao giờ lành được theo thời gian, sẽ còn đó mãi mãi cùng xương cốt của những người tù vẫn còn nằm lại trong các mồ hoang.
Anh ở đây!
Anh vẫn còn ở đây!
Chiều Suối Máu, chiều Sơn La,….
Chiều Việt Nam mưa vẫn rơi, mưa rơi nhòa nước mắt!
BK Tính 323

***

*TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CHANNEL CỦA NHẠC SĨ MAI ĐẰNG XIN VUI LÒNG BẤM LINK:

https://www.youtube.com/user/eastwood4real/videos

https://www.youtube.com/user/eastwood4real/featured?

***

*SACHILECHANNEL:

https://www.youtube.com/channel

/UCuj0eHW5cyCLgEytawmUmgQ?disable_polymer=true

https://www.youtube.com/channel/UCuj0eHW5cyCLgEytawmUmgQ/videos?disable_polymer=1