(Hồi Kí) NGÔ ĐÌNH DIỆM, PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC VNDCCH

 “BÍ MẬT LỊCH SỬ”

  •   *(Hồi Kí) NGÔ ĐÌNH DIỆM, PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC
  •                                 VNDCCH

  • (Hồi Kí) NGÔ ĐÌNH DIỆM, PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC VNDCCH của LÊ XUÂN NHUẬN

*Tác Giả đang ở Mỹ*

  • NGÔ ĐÌNH DIỆM:

  • PHÓ CHỦ-TỊCH NƯỚC
  • VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Ngày 23-10-2011, tôi được người quen ở đường Willet gọi báo là có một người muốn được gặp tôi, nên tôi đến gặp.

            “Người ấy” tự giới-thiệu là “đàn em thân-tín” của cố Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ (Mời xem).

Người ấy giải-thích trường-hợp gặp tôi:

            – Vào năm 2004, Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ có nhờ tôi mang bỏ vào thùng thư Bưu-Điện một bức thư gửi cho ông Lê Văn Anh, ở Số 5 Đường Willet Court, Thành-Phố Alameda.  Tôi không biết rõ trong thư viết gì.  Nhưng tôi để ý thấy ông cũng là người ở Thành-Phố Alameda, mà trong hồi-ký của ông đăng báo cũng như in sách thì có đề-cập đến Đại-Tá Duệ.  Hôm nay tôi muốn gặp ông, song sợ đường-đột chưa biết tính-tình của ông thế nào, nên ghé vào nhà Ông Lê Văn Anh để hỏi dò trước, vì nghĩ rằng chắc hai ông có quen biết nhau; do đó Ông Anh mới gọi đến ông.            Tôi hỏi mục-đích người ấy muốn gì.

            Người ấy đáp là bất-đồng với những bài-viết của tôi, nhưng muốn thử-thách xem tôi có dám phổ-biến một bài xác-nhận là có kết-quả cụ-thể trong việc cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệmcố Cố-Vấn Ngô Đình Nhu thương-thảo với Ông Hồ Chí Minh và phe cộng-sản Bắc Việt.

            Thấy chuyện có vẻ hấp-dẫn, tôi mời người ấy vào một nhà hàng để ngồi nói chuyện cho thoải-mái hơn.

               Người ấy yêu-cầu tôi giữ bí-mật tính-danh, địa-chỉ của mình. Tôi hứa.

Mở đầu, người ấy nói là cuốn sách “Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm” không phải hoàn-toàn do Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ viết, mà ổng chỉ thảo nguệch-ngoạc mấy đoạn hồi-ký, rồi có người khác sửa giùm, phỏng-vấn mà viết thêm vào, cũng như tự họ viết thêm.

            Tôi hỏi: “Làm sao ông biết?” 

Người ấy trả lời:

            – Tôi là bạn thân (xưa cùng đơn-vị và cùng tổ-chức), hồi đó tôi ở gần ổng, thường đến thăm ổng, nên có nghe thấy việc này.  Nhưng họ đã viết lung-tung, thí-dụ:  đại-tá Trưởng Phòng II Quân-Đoàn II là Trịnh Tiếu mà họ viết là Trịnh Tiến; khi ổng nhắc chuyện có người nói là dân-chúng Miền Trung không thích bị đi Dinh Điền tận trên Cao Nguyên ─ là nói về chuyện Dinh Điền dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa ─ nhưng họ lại gài vào chuyện ổng làm Tỉnh-Trưởng Thừa-Thiên sau này, viết rằng sau này khi ổng ở Huế có rất nhiều người xin đi Dinh Điền mà không đi được.  Thật ra, thời-gian ổng làm Tỉnh-Trưởng ở Huế dưới thời Đệ-Nhị Cộng-Hòa, thì đâu còn có chương-trình Dinh Điền mà đòi xin đi!v.v…

            Tôi đã có đọc cuốn sách ấy rồi, và thấy không cần bình-luận gì thêm, mà chỉ nôn-nóng được nghe người ấy cho biết “kết-quả cụ-thể” của việc đàm-luận giữa họ Ngô và họ Hồ mà thôi. 

             Tôi nói:

            – Xin ông kể ngay về vụ liên-lạc giữa các lãnh-tụ hai Miền.

            Người ấy vẫn còn nói thêm:

Tôi muốn để ông biết rõ, là Đại-Tá Duệ trung-thành tuyệt-đối với Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, và cả dòng họ Ngô Đình; và tôi cũng thế.  Dù Đại-Tá Duệ trình-độ không cao*, nhưng tôi rất kính-phục ổng, là một mẫu người “trung-can nghĩa-khí”, đã được “Cụ Tổng”, “Ông Cố” và “Cậu Út” thương-yêu, thì quyết trọn đời tôn-thờ lãnh-tụ ân-nhân của mình, chứ không thay-đổi lập-trường như một số khác có trình-độ cao hơn ổng.  Và đó chính là nỗi khổ-tâm trọn đời của ổng, như tôi sắp kể tiếp theo.

***

*Sau đó, tôi tìm đọc lại bức thư của cố Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ viết gửi Ông Lê Văn Anh, mới thấy quả thật là Duệ “trình-độ không cao.”  Ai lại không nhớ ngày (tháng, năm) mình đến làm Tỉnh-Trưởng/Thị-Trưởng Thừa-Thiên/Huế, bao lâu, trong thư hồi-âm cho Ông Lê Văn Anh.  (Viết thư tức là có đủ thì-giờ tra-cứu, chứ đâu là phải trả lời điện-thoại tức-thì, mà bảo rằng mình chưa kịp nhớ ra, hay là nhớ sai?)

              Tôi đưa máy điện-thoại lên, định chụp hoặc nhờ kẻ khác chụp giùm một vài tấm ảnh, nhưng bị người ấy chối-từ.

            Tôi đành im-lặng ngồi chờ.  Người ấy xích tới gần tôi, nói chậm và rõ vào sát tai tôi.  Đại-ý như sau:

– Trước cuộc chính-biến 1-11-1963, Đại-Tá (lúc ấy còn là Thiếu-Tá) Nguyễn Hữu Duệ sai tôi mang một mật-thư của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm ra Huế để kín-đáo trao tận tay cho Ông Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn.  Tôi đã ra Huế vào ngày 30-10-1963, nhưng vì lo-ngại đám người hầu việc tại nhà “Cậu Út” đã bị “Đức Cha” mua-chuộc, nên tôi nấn-ná chờ xem có ai là bạn cũ không; mãi đến chiều ngày 1-11-1963 thì biến-cố lớn xảy ra, thành-thử tôi chưa trao được mật-thư của “Cụ Tổng” cho “Cậu Út”.

             Sau đó, vào lại Sài-Gòn, chờ-đợi cho đến khi có dịp may thoáng gặp lại Thiếu-Tá Nguyễn Hữu Duệ trong tình-huống mới, tôi quá bức-xúc nên mất tự-chủ, đã gật gật đầu, xem như báo-cáo là đã hoàn-thành công-tác mà ổng giao cho, để ổng an-tâm chịu đựng hoàn-cảnh khó-khăn.  Lỡ rồi, từ đó cho đến ngày nay, tôi vẫn còn giữ mật-thư nói trên. . . .

            Tôi hỏi nhẹ-nhàng:

            – Nhưng ông là người thân-tín, vả lại tình-hình đã lắng yên rồi, mà Đại-Tá Duệ đã làm việc lại, đã thăng lên cấp đại-tá, đã được cử làm Tỉnh-Trưởng Thừa-Thiên, bây giờ đã qua Mỹ rồi, còn gì cấn-cái mà ông không nói thẳng ra cho Đại-Tá Duệ biết rõ Sự Thật?

Người ấy lắc đầu:

            – Ông không là người trong cuộc, nên ông không hiểu rõ đâu. Tôi xin tóm-tắt như sau:

            “Sau khi chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa sụp đổ, hai phía─kể công cũng như kết tội─đều nhắm vào hai nhân-vật Ngô Đình DiệmNgô Đình Nhu, nhất là về vụ tiếp-xúc với phe bên kia.

            “Phía kết tội thì chê-bai là phản-bội Đồng-Minh, phản-bội Chính-Nghĩa Quốc-Gia, đem dâng Miền Nam cho Miền Bắc, chịu làm đàn-em dưới trướng của họ Hồ.

            “Phía kể công thì đề-cao tinh-thần tự-chủ, tái-lập hòa-bình, tạo nên cơ-hội cho Miền Nam ổn-định, giúp cho dân giàu nước mạnh, Việt-Nam Cộng-Hòa trường-tồn.

            “Chúng tôi─những người của chế-độ cũ─tất-nhiên là phía kể công.  Nhưng đại-đa-số thì chỉ kể công dựa trên lý-thuyết, dựa trên ước-muốn, dựa trên cảm-tính, chứ không đưa ra một kết-quả nào rõ-ràng. . . .”

            Tôi vội xen ngang:

            – Thế sao ông bảo là có kết-quả cụ-thể?

            Người ấy khoát tay:

            – Khoan đã, để tôi nói hết.  Rắc-rối là phía kể công lại chia ra làm hai bên.  Bên này thì chỉ đề-cập đến việc thương-thảo như một giả-thuyết, như một kế-hoạch tuyệt-vời, nhưng chưa thực-thi thì bị Hoa-Kỳ phá vỡ nên mất cơ-hội bằng vàng.  Bên kia thì cho là đã bắt đầu, có chỉ-dấu tốt, nhưng bị Đồng-Minh ngáng chân dở chừng nên mang uất-hận ngút trời. . . .

– Phần Đại-Tá Duệ, và ông?

            – Ổng cũng như tôi, dù đứng về phía kể công; nhưng lại… khác bên.  Bên Đại-Tá Duệ thì là số đông─đúng ra là ổng đã chịu ảnh-hưởng của họ─Họ khẳng-định là không có “đi đêm,” rằng việc liên-lạc giữa “Cụ Tổng” & “Ông Cố” với “Cụ Hồ” chỉ do Ông Ngô Đình Nhu bịa ra để bỡn Hoa-Kỳ, đồng-thời “các Tướng” cũng phịa như thế để có lý-do mà “phản” Nhà Ngô.  Bên ấy mạnh miệng nhất, và mạnh thế nhất.  Họ đưa Đại-Tá Duệ đi khắp các Bang, qua Âu, qua Úc, tán-dương sách-lược Cách Mạng Nhân Vị, hoan-hô lập-trường chống Mỹ đổ quân, quyết-tâm bảo-vệ chủ-quyền Quốc-Gia, đề-cao tinh-thần yêu nước và khôi-phục danh-dự cho cố Tổng-Thống và cố Cố-Vấn họ Ngô cùng các cựu cộng-sự-viên…  Đại-Tá Duệ hăng say quá, nên tôi không thể nói gì chống lại ý ổng.

    – Còn về bên ông?

            – Bên tôi thì có một điểm đặc-biệt: ít người nhưng có uy-tín hơn mọi người khác.  Giáo-Sư Tôn Thất Thiện, Tiến-Sĩ Lâm Lễ Trinh, Đổng-Lý Quách Tòng Đức…  Họ đã xác-nhận là đã có tiếp-xúc giữa hai Miền, nhưng chưa thành-công, như mọi người đã biết.  Tuy nhiên, riêng tôi thì khác:  tôi có bằng-chứng là đã có kết-quả cụ-thể thành-công bước đầu. . . .

            – ???

            – Tôi đã tò-mò mở đọc mật-thư của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm gửi cho Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn.

Người ấy kể cho tôi nghe nội-dung của bức thư ấy, mà tôi chỉ nhớ đại-ý như sau:

              Ngoài những tin-tức đã lọt ra ngoài, thật ra thì chính Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố-Vấn Ngô Đình Nhu đã có nhiều đường dây liên-lạc khác, bí-mật, trực-tiếp với Ông Hồ Chí Minh.  Không lẽ tự dưng mà vào đầu năm 1963 Ông Hồ gửi vào biếu TT Diệm một cành đàotất-nhiên là đã từng có trao-đổi, thông-cảm, thỏa-thuận những gì trước rồi, đến lúc chín muồi thì mới bày-tỏ cảm-tình công-khai.

            Cả hai, NgôHồ đã qua quá-trình dài ngày mặc-cả với nhau.

            Đồng-thuận trước nhất là không còn có binh-lính Hoa-Kỳ hiện-diện tại Miền Nam.

            Miền Bắc gặp nhiều khó-khăn: đối-ngoại thì Nga-Cộng muốn “sống chung hòa-bình” (hòa-hợp BắcNam, ai lo phần nấy, không còn chiến-tranh); Tàu-Cộng thì muốn chiến-tranh, quyết đòi thống-nhất (thôn-tính Miền Nam); đối-nội thì Hồ muốn theo ý Nga, trong lúc Lê Duẩn & Lê Đức Thọ thì muốn theo ý Tàu.  (Việc này là một trở-ngại chỉ mới xảy ra sau khi Ông Hồ đã gửi cành đào vào biếu Cụ Ngô.)

            Miền Nam cũng có khó-khăn: đối-ngoại thì bị Hoa-Kỳ đòi đưa quân vào, trong lúc Giáo-Hoàng Giôn XXIII ủng-hộ một nước Việt-Nam thống-nhất dưới quyền của Hồ Chí Minh; đối-nội thì Mặt Trận Giải Phóng ngày càng lớn lên, Phong-Trào Phật-Tử Tranh-Đấu rộng ra.  (Cả hai cũng đòi đuổi Mỹ như “ta”.)

            Đề-nghị mới nhất là:  Thống-Nhất Đất Nước, với Cụ Hồ Chí Minh là Chủ-Tịch, Cụ Ngô Đình Diệm là Phó Chủ-Tịch, Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa.  Như thế thì: về đối-ngoại, Miền Bắc đáp-ứng được yêu-cầu của cả Liên-Xô lẫn Trung-Quốc, Miền Nam thoát khỏi áp-lực của Hoa-Kỳ; cả hai Miền thỏa-mãn được ý-đồ của Vatican cũng như ước-muốn của thế-giới qua Pháp, Ý, Ấn-Độ, Ba-Lan; về đối-nội, Miền Bắc hết đổ xương máu, noi gương Miền Nam mà tái-thiết và phát-triển; Miền Nam vừa xóa bỏ Mặt Trận Giải Phóng vừa dẹp tan Phong Trào Phật-Tử Tranh-Đấu.  (Trước đó, Cụ Ngô đòi làm Thủ-Tướng, hay ít nhất cũng là Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ tức Bộ Công-An, như đã yêu-cầu từ hồi 1945-46, để có thực-quyền, và có thể dành vài ghế Phó Thủ-Tướng, hay Bộ-Trưởng, Thứ-Trưởng, hay Tổng-Cục-Trưởng, cho Cố-Vấn Ngô Đình Nhu và Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn; nhưng đến phút chót thì phe Duẩn+Thọ không chịu, nên Cụ Hồ khuyên Cụ Ngô nhận chức Phó Chủ-Tịch Nước để có vai-vế tương-đương mà cũng có thể có vài Trợ-Lý cho Phủ Phó Chủ-Tịch Nước.  Cụ Hồ hy-vọng là có Cụ Ngô và Ông Nhu bên cạnh thì sẽ vượt được thế-lực của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.)

            Kết-luận là cả Tổng-Thống Ngô Đình Diệm lẫn Cố-Vấn Ngô Đình Nhu đều cần ý-kiến thuận của Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, trước khi chính-thức thỏa-hiệp với Chủ-Tịch Hồ Chí Minh, dự-trù sẽ cùng thình-lình công-bố một lần, để đặt cả thế-giới trước một “sự đã rồi”, trong năm 1964 (sẽ thảo-luận thêm, là vào ngày 7-7 hoặc 26-10 theo đề-nghị của Cụ Ngô, hay là vào ngày 19-5 hoặc 2-9 theo đề-nghị của Cụ Hồ). . .

              Tôi hỏi người ấy sao không phổ-biến tin này sớm hơn.  Người ấy trả lời:

            – Mật-thư chưa đến được tay “Cậu Cẩn” thì cả chế-độ đã tiêu-tan rồi.  Sau đó, tôi phải giấu kín, vì sợ nếu Đại-Tá Duệ mà biết là tôi─tức là chính ổng─đã không làm tròn sứ-mạng của Ngô Tổng-Thống tín-cẩn giao cho, thì ổng sẽ hối-hận khủng-khiếp và căm-thù tôi ghê-gớm, không lợi-ích gì cho cả hai…

            Tôi hỏi một câu cuối cùng:

            – Tại sao hôm nay ông lại muốn tôi công-bố chuyện này?

– Vì Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ đã chết.  Tôi định đợi đến 2-11-2013, kỷ-niệm ngày giỗ lần thứ 50 của “Cụ Tổng” Ngô Đình Diệm và “Ông Cố” Ngô Đình Nhu thì sẽ tung ra.  Đây là kết-quả cụ-thể của cuộc mật-đàm 2 bên, nếu không bị vụ binh-biến 1-11-1963 phá hỏng thì hẳn nước ta đã là một Quốc-Gia thống-nhất, thanh-bình, thịnh-vượng, hùng-cường, nhờ ơn của nhị vị vĩ-nhân, Khai-Sáng Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa và La-Sơn Phu-Tử Tái-Thế của Việt-Nam.  Tôi sợ qua năm 2012 thì có “tận-thế” theo lịch của người Maya, không còn cơ-hội nào nữa; đồng-thời, tôi muốn thách ông, là người chống lại sáng-kiến và nỗ-lực của Nhà Ngô dàn-xếp nội-bộ giữa 2 Miền Nam+Bắc, xem ông có dám phổ-biến bằng-chứng thành-công này (dù chưa viên-mãn) đến với quảng-đại độc-giả gần+xa?

Lời kết: “Người ấy” tuyệt đối “cấm” tôi tiết lộ tên và địa-chỉ trong khi còn sống, vì đây là “bí mật thâm cung.”

LÊ XUÂN NHUẬN  

*Về Tiểu Sử Tác Giả: Văn Thi Sĩ kiêm nhà Biên Khảo.

Lê Xuân Nhuận

GIỚI-THIỆU TÁC-GIẢ

LÝ-LỊCH:

*Tên thật: Lê Xuân Nhuận.
*Ngày sinh: 02-01-1930.

*Nơi sinh: Huế.
*Quê cha: chính-quán Làng Phượng-Lâu, Phủ Kim-Ðộng, Tỉnh Hưng-Yên; sinh-quán Hà-Nội (Bắc-Việt).
*Quê mẹ: chính-quán Làng An-Cựu, Huyện Hương-Thủy, Tỉnh Thừa-Thiên; sinh-quán Huế (Trung-Việt).

BÚT-DANH:

*Thanh-Thanh (thơ);
*Kiều-Ngọc (truyện, tùy-bút);
*Nguyệt-Cầm (kịch, kịch thơ);
*Nguời Thơ (thi-thoại, bình+luận thơ);
*Tú Ngông (thơ trào-phúng);

*Lê Chân-Nhân (thời-đàm);

*Đức-Cố Lê (biên-khảo);
*V.v…

NGHỀ-NGHIỆP & HOẠT-ÐỘNG CHÍNH-TRỊ:

>>   TRƯỚC THÁNG TƯ ÐEN 1975:

*Phục-vụ trong ngành Hình-Cảnh Quốc-Gia tại Huế;

        *1947—54: Cộng-tác với các báo đối-lập “Công Lý” và “Dân Đen” tại Huế.  Xuất-bản đặc-san “Mùa Gặt Mới”. Bị tù 3 tháng (10—12/1949) vì viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” ngụ-ý chống Pháp thực-dân và Bảo-Ðại bù-nhìn.
*(Bị/được động-viên chuyên-môn với tư-cách văn-nghệ-sĩ & kí-giả), phục-vụ trong Quân-Lực Quốc-Gia và Việt-Nam Cộng-Hòa tại Ðệ-Nhị Quân-Khu;
*Làm phóng-viên chiến-tranh, biên-tập-viên báo-chí Quân-Đội, giảng-sư Chiến-Tranh Tâm-Lý, giám-đốc chương-trình phát-thanh “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Ðệ-Nhị Quân-Khu;

            *1954—56: Dùng Ðài “Tiếng Nói Quân-Ðội tại Ðệ-Nhị Quân-Khu” để công-khai chống lại phe Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh (Tổng-Tham-Mưu Trưởng) & Đại-Tá Trương Văn Xương (Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu) là tay sai của Pháp, kêu-gọi mọi giới đồng-bào ủng-hộ chí-sĩ Ngô Ðình Diệm.  Là người đầu tiên công-khai và chính-thức góp phần hữu-hiệu củng-cố địa-vị Thủ-Tướng cho ông Ngô Đình Diệm vượt qua khó-khăn từ những ngày đầu.
*Dạy tiếng Anh trên Ðài Phát-Thanh, tại một số công-sở và tư-gia ở Huế; tại trường trung-học Duy-Tân ở Buôn Ma Thuột, v.v…  Là người đầu tiên trên thế-giới dạy tiếng Anh cho người Việt qua làn sóng vô-tuyến truyền-thanh.

         *1956—60: Bị quản-thúc 3 tháng (05—8/1960) rồi bị kết tội phản-động; đày lên Cao-Nguyên (vùng “nước độc và nguy-hiểm”); theo-dõi hành-vi chính-trị; và cấm giữ các chức-vụ quan-trọng, thăng+thưởng, xuất-ngoại, về các thành-phố miền xuôi…  Là người đầu tiên công-khai chỉ-trích các sai+lầm của chế-độ Ngô Ðình Diệm, ngay tại cơ-quan Cảnh-Sát Huế trong một buổi “học-tập chính-trị và công-dân giáo-dục” (do Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu chỉ-đạo), vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (03-3-1960), trước cả các hành-động chống-Diệm của các nhân-vật khác tại Saigon và các nơi khác.
        *1960—75: Phục-vụ trong Lực-Lượng Ðặc-Cảnh Quốc-Gia; Giám-Đốc cơ-quan An-Ninh & Phản-Gián lần-lượt tại Cao-Nguyên Trung-Phần, Vùng II Chiến-Thuật, và Khu (Vùng) I Việt-Nam Cộng-Hòa (cho đến 29-3-1975 là ngày thất-thủ Ðà-Nẵng, cứ-điểm cuối-cùng của Quân-Khu I).

         *1967: Can-thiệp với CIA để phá vỡ âm-mưu đảo-chính nội-bộ do nhóm Nguyễn Cao Kỳ & Nguyễn Ngọc Loan cầm đầu, giữ nguyên chức-vị Tổng-Thống cho Trung-Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

         *1971: Bị giáng-chức rồi theo-dõi liên-tục vì chống khuynh-hướng quân-phiệt dưới thời Ðệ-Nhị Cộng-Hòa.  Là người duy-nhất công-khai chống lại chính-sách “quân-cách-hóa” Hành-Pháp (do đó ít nhất là làm giảm sút hiệu-năng của cơ-quan chuyên-môn chủ-yếu về an-ninh, chính-sự, và hình-sự của Chính-Quyền — là Cảnh-Sát Quốc-Gia).

         *1973—75: Là viên-chức dân-sự mà đề-nghị và được Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Khu I, cho quyền chủ-trì công-tác của mọi cơ-quan đơn-vị an-ninh quân+dân tại các vùng có dân-cư, nên đã vô-hiệu-hóa được mọi hoạt-động của CSVN tại khắp các thành-phố/thị-xã và vùng phụ-cận thuộc Vùng I trong suốt một năm rưỡi cuối-cùng của VNCH.

          Cũng thời-gian trên, là viên-chức duy-nhất khởi-xướng và thực-hiện hữu-hiệu việc móc nối tuyển-dụng nhiều sĩ-quan Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi trong Ủy-Hội Quốc-Tế tại Việt-Nam để rồi, sau khi về nước, họ đã hoạt-động nội-tuyến cho CIA trong Ðảng, Nhà Nước và Quân Ðội của họ, dọn đường cho các biến-cố lật đổ cộng-sản tại Ba-Lan, Hung-Gia-Lợi và Đông-Âu sau này (mãi đến cuối năm 1978, hơn 3-4 năm sau, Hồng-Y Karol Jozef Wojtyla của Ba-Lan mới lên làm Giáo-Hoàng, tức John Paul II; và qua năm sau nữa, năm 1979, Giáo-Hoàng John Paul II mới về thăm Ba-Lan lần đầu tiên).

>>   SAU QUỐC-BIẾN 1975:

*Bị Cộng-Sản Việt-Nam bắt tập-trung “cải-tạo” hơn 12 năm (từ 17-4-1975 đến 20-4-1987), rồi quản-chế tại-gia nhiều năm sau khi về nhà;
*Tái định-cư tại Hoa-Kỳ, theo diện tị-nạn chính-trị,  từ ngày 17-1-1992;
*Hiện cư-ngụ tại thành-phố Alameda (Bắc California).

*Đã phá vỡ huyễn-thoại rằng cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm có được cấp Giải Lãnh-Đạo Magsaysay và đã tặng số tiền ấy cho Đức Đạt-Lai Lạt-Ma của Tây-Tạng: chủ-tịch Quỹ ấy khẳng-định là TT Diệm không hề đoạt giải Magsaysay.

*Đã tìm ra Sự Thật rằng “Đức Mẹ La Vang” chỉ là vài lời khai dối của mấy ông lão sắp chết vì sợ không được linh-mục làm phép cho lên “thiên đàng” nên đã nhận bừa là có nghe các tổ-phụ [sau khi họ đã chết hơn trăm năm trước] kể chuyện có thấy “Đức Mẹ” hiện ra. Sau đó, chính Giáo-Hoàng John Paul II đã xác-nhận rằng tại “tòa thánh” Vatican không hề có tài-liệu lưu-trữ về “Đức Mẹ La Vang”.

SINH-HOẠT VĂN-HÓA & TÁC-PHẨM:

>>   TẠI QUỐC-NỘI (TRƯỚC 1975):

*Chủ-trương đoàn thi+văn và nhà xuất-bản “Xây Dựng”;
*Ðã ấn-hành nhiều tuyển-tập thơ+văn của mình và của nhiều nam+nữ thi+văn-hữu Bắc, Trung, và Nam;

*Là người đầu tiên làm thơ ca-tụng vợ (qua tập thơ “Tuần Trăng Mật”) khi tuổi còn trẻ và vợ còn sống (Đông-Hồ chỉ khóc vợ khi vợ đã chết rồi).
*Ðược công-nhận thành-quả văn-học của mình trong “Ðại-Hội Văn-Hóa Toàn-Quốc”, đại-hội văn-hóa duy-nhất của Việt-Nam Cộng-Hòa, do nhà văn Lê Văn Siêu thụ-ủy thực-hiện tại thủ-đô Sài-Gòn (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) là một cành trong “Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam”.

         **   Ðã xuất-bản:

* Thơ: “Ánh Trời Mai”; “Ánh Trời Mai” tái-bản; “Ánh Trời Mai” tập mới; “Kiếm Xuân-Thu”; “Nhạc Ngày Xanh” (chung với Như Trị, Xuân Huyền, và Hoài Minh); “Lá Thu Rơi” (chung với nhóm Khánh Sơn); “Tuần Trăng Mật”; “Với Thượng Ðế”; 
* Kịch Thơ: “Quán Bên Sông”;
* Truyện Ngắn: “Ray-Rứt”;
* Tạp-văn: “Nắng Mới”; “Mùa Gặt Mới” các tập I, II, và III (chung với đồng-Nhóm “Xây Dựng” và các Nhóm bạn);

         **   Ðã công-diễn và đăng-tải:

* Kịch Thơ: “Hồ Quý Ly”; “Lữ Gia”; “Quán Bên Sông”; “Gươm Chính-Nghĩa”; “Ông Ba Kẹ”; “Tiếng Trẻ Khóc”; “Dòng Lệ Tố-Như”; “Lão Ăn Mày”; “Dòng Thác Lũ”; “Bức Tranh Tàu”; “Nắm Xương Khô”; v.v…
* Kịch Văn: “Thằng Con Trai”; v.v…

>>   TẠI HẢI-NGOẠI (SAU 1975):

*Góp bài theo lời mời cho một số tạp-chí tiếng Việt tại Hải-Ngoại, và thơ tiếng Anh cho nhiều nhà xuất-bản thơ của Mỹ và Anh, cũng như trong nhiều Nhà Mạng trên liên-mạng truyền-thông toàn-cầu;

*Chủ-trương sáng-tác bằng tiếng Anh, hoặc phiên-dịch qua tiếng Anh, các tác-phẩm của người Việt;

*Hiện là hội-viên của Văn Bút Quốc-Tế (PEN International) qua Trung-Tâm Hoa-Kỳ (PEN America); thành-viên trọn đời của Hiệp-Hội Quốc-Tế Thi-Nhân (“International Society of Poets”); thành-viên của một số Hội Thơ khác;

        **  Ðã có thơ được chọn in trong khoảng 50 tuyển-tập thơ tiếng Anh tiêu-biểu tại Mỹ và Anh:

*Do “The National Library of Poetry”:

        “Wind in the Night Sky”, 1993;

        “Best New Poems”, 1994;

        “Outstanding Poets of 1994”;

        “The Sound of Poetry” (audio tape), 1994;

        “Best Poems of 1995”;

        “Best Poems of 1997”;

        “Outstanding Poets of 1998”;

        “Best Poems of the ’90s”;

*Do “The International Library of Poetry”:

        “A Celebration of Poets”, 1998;

        “Letters From My Soul”, 2001;

        “The Best Poems and Poets of 2002”;

        “The Colors of Life”, 2003;

        “Eternal Portraits”, 2004;

         “Forever Spoken”, 2007;

            “The Best Poems and Poets of 2007” 2008;

         “Forever Spoken”, 2008;

*Do “The Poets’ Guild”:

        “Best New Poems”, 1994;

*Do “Amherst Society”:

         “American Poetry Annual”, 1994;
*Do “Who’s Who in New Poets”:

        “Who’s Who in New Poets, Volume I”, 1996;
*Do “Famous Poets Society”:

         “A Treasury of Great Poems”, 2000;

        “On the Wings of Pegasus”, 2000;

        “New Millennium Poets”, 2002;

        “Our 100 Most Famous Poets – the Brief Chronicles of Our Time”, 2004;

        “Great Poems of the Western World”, 2005;

         “Great Poems of the Western World”, 2010;

        “Our Great Modern Poets – The Best Poetry of Our Times”, 2012;

*Do “New Publications”:

         “Poetry Magazine – March and May 2001”;

*Do “Noble House” (United Kingdom):

        “Theatre of the Mind”, 2003;

        “Colours of the Heart”, 2004;

        “Labors of Love”, 2005;

*Do “League of American Poets”:

        “A Treasury of American Poetry III”, 2007;

         “Expressions 2”, 2007;

         “Expressions 3”, 2007;

*Do “Jukebox Press” (PEN Center Oakland, California):

         “Oakland Out Loud”, 2007;

*Do “The Poet Sanctuary”:

         “Splash of Verse”, 2007;

*Do “Poetryfest Press” (Ashland, Oregon, USA):

         “Immortal Verses”, 2008;

        “Our Great Modern Poets”, 2011;

        “Today’s Best Poets”, 2013;

         “Our Best Contemporary Poets”, 2014;

*Do “PEN Oakland Publications” (California, USA):

        “Fightin’ Words”, 2014;

*Do “Betty Cummins Starr-Joyal” (Ashland, Oregon, USA): 

         “On the Wings of Pegasus”, 2014;  

         “Flights of Angels, 2015;

        “Poetry Over the Rainbow”, 2015;

       “Trumpets to Heaven”, 2016;

        “Today’s Great Poets”, 2016;

        “On the Wings of Angels”, 2016;

        “Angels for the Ages”, 2017;  

        “America’s Great Living Poets”, 2017;

        “Angels of Heaven and Earth”, 2017;

        “Awsome Poems of The Western World”, 2018;

       “Angels of the Morning”, 2018;

       “Angels of Poetry”, 2018;

etc…

V.v…

        **  và trong các tạp-chí văn-học tại Mỹ:

         “Poetry” (Poetry Foundation), 2001;

         “WordBridge” (The Writers Post), 2002—2005;

V.v…

        **  Ðã góp phần phiên-dịch trong các tuyển-tập thơ Việt-Mỹ tại Hoa-Kỳ:

*“The Silence of Yesterday” của “Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn” của Song Nhị ở San Jose, Bắc California;
*“Flowers of Love” I, II, III, IV của “Hội Thơ Tài-Tử Việt-Nam” của Như Hoa ở Dallas, Texas;

*“The Old Days” của Như Hoa ở Sacramento, Bắc California, 2001;

*“Poems in Rain & Flowers” của Vi Khuê ở Burke, Virginia;

*“Tiếng Hót Loài Chim Di” của Song Nhị ở San Jose, Bắc California, 2004;

*“Viet Pen” của “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” qua Yên Sơn ở Spring, Texas, 2010;

*“Ru Thầm Tiếng Gọi Việt Nam” của Ngọc An ở San Jose, Bắc California, 2013 ;

*“Còn Lại Chút Tình” của Nguyễn Phú Long ở Glen Allen, Virginia, 2016;

* V.v…

        **  Ðã xuất-bản:

    Hồi-Kí:

*“Về Vùng Chiến-Tuyến”, hồi-ký  (ISBN 1-886566-15-1), Văn Nghệ, 1996;

*“Cảnh-Sát-Hóa, Quốc-Sách Yểu-Tử của Việt-Nam Cộng-Hòa”, hồi-ký (ISBN 0-9665293-7-5 – LCCN: 2001097126),

    Xây-Dựng, 2002;

*“Việt-Nam Cộng-Hòa — Cảnh-Sát-Hóa: Quốc-Sách Yểu-Tử”, hồi-ký (ISBN 0-9665293-8-3 – LCCN: 2003106623),

    Xây-Dựng, 2005.

*“Biến-Loạn Miền Trung”, hồi-ký (ISBN 978-0-9763498-5-3 – LCCN: 2012900099), Xay-Dung, 2012.

    Nội-dung loạt hồi-kí này được xem là những nguyên-nhân chưa ai đề-cập vì sao Việt-Nam Cộng-Hòa đã sụp đổ nhanh-chóng và dễ-dàng đến thế vào Tháng Tư Đen năm 1975.

    Thơ tiếng Việt:

*“Cơn Ác-Mộng”, thơ (ISBN 0-9665293-0-8 – LCCN: 98-090684), Thế-Giới Mới và Xây-Dựng, 1998;

*“Thơ và Người Thơ – Bảy Mươi Năm Làm Thơ”, thơ (ISBN 978-0-9763498-6-0 – LCCN: 2012908820), Xây-Dựng, 2012.

    Thơ tiếng Anh:

*“Poems by Selected Vietnamese”, thơ tiếng Anh (ISBN 0-9763498-1-7 – LCCN: 2005906908), Xay-Dung, 2005.

*“Vietnamese Choice Poems”, thơ tiếng Anh (ISBN 978-1-4931-2196-0 & 978-1-4931-2197-7 ), Xlibris, 2013.

     Tuyển-tập này (146 bài thơ tiếng Anh dịch từ nguyên-tác của 81 tác-giả sống tại Mĩ, Canada, Úc, Bỉ, Pháp, Đức, Na-Uy, và Việt-Nam) được nhà tổng-phát-hành sách+báo quốc-tế Amazon chọn là một trong những tác-phẩm giá-trị nhất trong năm 2014. 

       **  Sắp ấn-hành:

*“Miền Ðất Hứa” (thơ);

*“This Land of Promises” (thơ tiếng Anh);

*“Poetry with Vietnamese” (thơ tiếng Anhdịch từ tác-phẩm của một số nhà thơ Việt-Nam);

* V.v…

TÔN-CHỈ:

        Lê Xuân Nhuận phụng-thờ Chân+Thiện+Mỹ với phong-thái mở đường, dấn thân, và nêu gương.  

         Đối với các nhân-vật, chủ-trương, và kế-hoạch tốt, Lê Xuân Nhuận hết sức, tận tình, và liều mình hậu-thuẫn, mà không mưu-cầu tư-lợi.

         Đối với các cá-nhân, tập-đoàn, chính-sách, và chế-độ chính-trị xấu, Lê Xuân Nhuận quả-cảm đứng lên chống-đối trực-tiếp ngay trong không-gian và thời-gian đương-thời, chứ không phải đợi đến khi tình-thế đã đổi-thay mới đánh người ngã ngựa.  

         Khi đề-cập đến một cựu thành-viên dân-sự hay quân-sự nào của Việt-Nam Cộng-Hòa, Lê Xuân Nhuận công-khai phê-bình trên báo, trên mạng, trong sách, khi họ còn sống, chứ không phải đợi đến khi họ đã qua dời, không còn cơ-hội để tự bào-chữa.

         Lúc bị tấn-công, Lê Xuân Nhuận chỉ nhã-nhặn trả lời, nêu rõ nhân-chứng và dẫn-chứng đường-hoàng, chứ không tự đồng-hóa với đối-phương bằng cách bịa-đặt, vu-khống, phỉ-báng, nhất là sử-dụng từ-ngữ vô-văn-hóa.

         (Lê Xuân Nhuận tuân-thủ châm-ngôn của Khổng-Tử [Quân-Tử] Hòa Nhi Bất Đồngvà  của Voltaire I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it, nên vẫn giữ được thân-tình với nhiều nhân-vật khác chính-kiến và/hoặc khác tín-hướng.)   

Wikipedia 

The Life and Times of a South Vietnamese Special Police Officer:

Part 1: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-1/

Part 2: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-2/

Part 3: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-3/

Part 4: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-4/

Part 5: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-5/

Part 6: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-6/

Part 7: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-7/

Part 8: http://washingtonbabylon.com/valentine-vietnam-8/

Part 9:

http://washingtonbabylon.com/the-life-and-times-of-a-south-vietnamese-special-police-officer-part-9-capture/

______________________________________________________________________________________________

Về CỔNG CHÍNH

http://lexuannhuan.tripod.com/TacGia.html

**SA CHI LỆ PHỔ BIẾN

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here