HÔN THÚ GIẢ-Mỹ Cấm Nhập Cảnh Thực Phẩm

*HÔN THÚ GIẢ-Mỹ Cấm Nhập Cảnh Thực Phẩm

  • *Đề Tài Hôm Nay:
  •           1- HÔN THÚ GIẢ
  •           2-BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG NHÂN VẬT
  •                       ĐẤU TRANH CHO NGƯỜI TỊ NẠN
  •           3-Chứng Nhân Một Sự Kiện Lịch Sử
  •          4- MỸ CẤM NHẬP CẢNH THỰC PHẨM

***

*HÔN THÚ

    Nhóm H.O. chúng tôi rủ nhau về Orlando làm đủ thứ nghề trong Disney World. Công việc của tôi là giữ an toàn cho du khách lên xuống ở bến tàu. Theme Park này có một hồ lớn ở giữa, chung quanh hồ là từng khu văn hóa của mấy nước tiêu biểu như Anh, Pháp, Ý, Nga, Ai Cập, Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ… Du khách hoặc đi bộ hoặc ngồi tàu chạy quanh hồ và đậu lại từng bến trước khu văn hóa.

  Một hôm có một du khách nhận ra tôi là bạn học Pétrus Ký từ 50 năm trước. Ngó bảng tên “ON LE” trên ngực tôi, anh hỏi:

– Phải anh là Lê văn On học Pétrus Ký không? Tôi là Bá ngồi bên anh suốt 3 năm đệ nhị cấp đây.

Chúng tôi mừng rỡ bắt tay nhau. Vì Bá phải đi theo “Tour” nên chúng tôi chỉ kịp trao nhau số điện thoại để liên lạc với nhau sau.

   Tôi nhớ lại hồi đó Bá rất thắc mắc về tên ON của tôi. Theo hắn, ON chẳng có nghĩa gì cả.
Tôi giải đáp:

– Thằng em kế tao tên là Đơ. Ba tao đặt tên anh em tao theo âm tiếng Pháp.  Tuy tao số 1 (un) nhưng trong nhà vẫn kêu là thằng Hai, em tao số 2 (deux) nhưng vẫn là thằng Ba.

  Bá cười thích thú:

– UN! DEUX! Nghe như diễn hành. Tao khoái cách đặt tên của người Nam nôm na mà lạc quan: Lắm, Sang, Đày, Mạnh, Tươi, Vui, Đẹp…

  Thấy hắn thật tình, tôi mới kể thêm cho hắn nghe:

– Mày có nghe tên RI và BE bao giờ chưa?

– Mẹ tao dạy học cuối tháng đem sổ điểm về nhà, tao tò mò mở ra coi có thấy mấy tên như Võ văn Ri, Huỳnh văn Be. Tao đoán xuất xứ từ những câu “khóc như ri“ và “kêu be be“.

– Trật lất ! Đó là tên rút ngắn của tiếng Pháp HENRI và ROBERT.

   Bá vỗ bàn cười sặc sụa:

– Không ngờ người Nam tếu đến thế! Cách đặt tên của người Nam phản ánh đúng tâm hồn người Nam.

  Ngay tối hôm đó Bá gọi xin lỗi không gặp tôi được vì hôm sau phải theo Tour thăm NASA.
Bá mời tôi sang COLORADO chơi với anh 1 tuần vào đầu mùa thu.  Anh cho biết đó cũng là dịp giỗ đầu vợ anh. Tôi nhận lời.

  Bá đón tôi tại sân bay Denver. Kiến trúc sân bay rất  lạ mắt. Mái gồm mấy chóp nhọn như lều cổ truyền của người Da đỏ, lợp bằng một thứ giống như vải màu trắng.

Cách đây 40 năm Bá cùng vài bạn độc thân và hơn chục gia đình được một Nhà thờ bảo trợ về Fort Collins. Hồi đó thành phố này đìu hiu nằm dưới chân dãy  ROCKIES, cách Denver chừng 3 giờ lái xe về phía bắc. Vậy mà cũng có một trường đại học thành lập từ cuối Thế kỷ 19.

Cộng đồng Việt nam nhỏ bé nương tựa vào nhau như một đại gia đình.

Thế hệ con cháu lớn lên vỗ cánh bay xa chỉ còn lại những người hưu trí và những người mệt mỏi muốn yên phận.

Giỗ chị Bá rất đặc biệt. Anh Bá giải thích:

– Tất cả đều là ý muốn của nhà tôi.

Theo ý chị, giỗ không có tính cách tín ngưỡng nhưng là nghi thức tưởng nhớ người đã khuất, tương tự như lễ Memorial của Mỹ. Tuy nhiên gia đình và bạn bè vẫn tụ tập ăn uống vui vẻ để kết chặt tình yêu thương.

Anh chị có một gái đã có chồng và một trai chưa vợ. Chúng từ Tennessee và Indiana bay về từ 2 ngày trước.

Bàn thờ chị Bá rất đơn giản: Một tấm hình, một bình hoa, một bát nhang và cặp đèn cày.

Buổi sáng ngày giỗ, từ sớm mấy cha con đã chỉnh tề đứng hàng ngang trước bàn thờ.
Mỗi người một nén nhang cùng một lượt lạy 3 lạy. Cắm nhang vào bát nhang, cha con đứng yên tưởng niệm. Anh Bá có lúc bặm môi để ngăn xúc động. Con gái đã sẵn tissue trong tay, đôi lúc đưa lên chấm nước mắt. Tôi được nhờ đứng ngoài chụp hình. Cuối cùng tới lượt tôi thắp nhang và lạy chị Bá.

  Sau nghi thức đơn giản nhưng nghiêm trang, mấy cha con chia nhau nấu ăn. Góc vườn là lò gas, bếp điện và lò than. Anh Bá nấu dựa mận bằng thịt heo rừng. Con trai nướng sườn bò và đùi gà. Con rể hấp vịt ướp chao. Con gái ở trong bếp lo nấu xôi vò và làm gỏi tôm thịt.
Tôi giúp kê 2 bàn nối nhau ở giữa vườn và đặt ghế rải rác dưới gốc cây. Sau đó tôi ướp lạnh thùng đồ uống gồm Coca Cola và Heineken. 

Khách là bạn của anh chị và bạn của các con anh. Tôi được Bá giới thiệu với mọi người.
Hầu hết là những người ra đi từ 1975, chỉ có tôi thuộc thành phần ở lại. Do đó tôi phải trả lời nhiều câu hỏi.

Khi khách về hết, Bá kéo tôi vảo nhà uống cà phê, để con cái và bạn chúng dọn dẹp ngoài vườn.

Bây giờ chúng tôi mới thong thả nói chuyện với nhau. Bá kể:

– Nhà tôi chết vì tái phát ung thư vú. Từ chối hóa trị, nhà tôi bình tĩnh chấp nhận số mệnh. Nhà tôi nói:
”Em sống với anh và các con tới đây là mãn nguyện. Em không buồn tại sao anh buồn?”
Có lúc nhà tôi vui đùa:
”Sang thế giới bên kia em sẽ về đón anh sang với em“

Thân mật cầm tay Bá,  tôi ngỏ lời muốn đi thăm mộ chị. Bá nói:

– Nhà tôi muốn thiêu, tôi và các cháu làm theo ý nhà tôi. Nhà tôi còn muốn rắc tro xuống một cái hồ của một thành phố gần đây. Thành phố này có tên rất nên thơ  “LOVELAND“.

– Người ta dễ dãi cho rắc tro xuống hồ vậy sao?

– Đâu có được phép. Tôi phải giả câu cá rồi lén liệng hũ tro xuống hồ.

– Bộ chị tin tưởng điều gì chăng?

– Tôi cũng hỏi nhà tôi câu ấy, nhà tôi thì thầm vào tai tôi: ”Để nhớ tới hồ Than Thở Đà lạt.

Lần đầu tiên anh hôn em ở đó. Quên rồi hả?“

  Bá kể tôi nghe mối tình đầu tiên.

Hồi đó học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thú vui cuối tuần của anh là tìm cảnh đẹp để chụp hình nghệ thuật. Khi hết cuốn phim anh đem sang hình tại một tiệm gần chợ. Tiệm có trưng tấm chân dung một cô gái tuy không kiều diễm nhưng gương mặt toát ra một vẻ thông minh. Bà chủ tiệm thấy anh nhiều lần đứng ngắm liền nói: – Cháu tôi đấy, con của anh tôi.

Ngó bà chủ, Bá nhận ra cô cháu giống nhau ở cặp mắt sâu và sáng. Bá hiểu bà chủ gợi ý nên đáp ứng liền:

– Cô làm mai cho cháu đi.

Bà chủ gật đầu cười :

– Chưa gì đã cô cháu rồi. 

Bá được mời ăn giỗ ông nội cô gái. Cô tên là Tràng Thi, đang học trường Bùi thị Xuân. Ông nội đặt tên cho cháu để nhớ tới ngôi nhà của tổ tiên ở phố Tràng Thi Hà nội.

Lần đầu tiên gặp Bá, Tràng Thi vượt qua được e lệ vì tự tin nơi mình. Chàng và nàng tiếp chuyện vui vẻ và cởi mở. Mọi người trong gia đình cũng tỏ ra niềm nở với Bá.

Từ đó mỗi cuối tuần Bá đều ghé chơi và được giữ lại ăn trưa. Thỉnh thoảng Tràng Thi được phép đi chơi với Bá. Nàng không thích song đôi dạo phố. Bá thường đưa nàng đi chụp hình ở các thác, các hồ và đồi thông.

Bữa chơi ở hồ Than thở, chàng và nàng ngồi bên nhau trên thân cây thông bị trốc gốc đã lâu năm. Tràng Thi đang kể chuyện về lũ bạn học thì bị phấn thông bay vào mắt. Ngăn không cho nàng lấy tay dụi mắt, Bá kề miệng vào đuôi mắt thổi mạnh cho phấn thông trôi ra. Mặt giáp mặt, Bá thừa dịp hôn nàng. Tuy không cưỡng lại nhưng nàng cảm thấy bẽn lẽn. Để trấn tĩnh, nàng nghĩ được một câu nửa trách nửa khen:

– Bộ hôn nhiều người rồi hay sao mà rành quá vậy?

  Bá thật tình:

– Bắt chước phim ảnh, tối nằm ngủ tập hôn lên cánh tay.

– Ngộ ha! Mà có tưởng tượng cánh tay là ai không?

– Sao không?

– Ai?

– Còn ai vào đây nữa.

Lần này cả hai hôn nhau biểu lộ mối tình bấy lâu chưa nói.

Tràng Thi thi đậu tú tài. Bá còn 2 tháng tới ngày mãn khóa. Bá muốn làm đám cưới sau khi ra trường. Nhưng Tràng Thi chỉ muốn làm lễ hỏi vì nàng có ý định học chính trị kinh doanh tại Đà lạt.

Lễ hỏi nhờ bà cô lo giúp nên bố mẹ Bá đỡ vất vả. Sau đó Bá về trình diện Quân đoàn 4 và được bổ sung cho Sư đoàn 21. Từ đó kẻ bận hành quân, người bận học, chàng và nàng chỉ gắn bó nhau qua thư từ.

Mỗi kỳ hè Tràng Thi về Sài gòn được mẹ chồng tương lai đưa xuống Cần thơ thăm Bá.
Bá chỉ xin được phép về Cần thơ nửa ngày.
Chưa chính thức là vợ lính nhưng đêm nghe tiếng súng xa xa Tràng Thi đã hiểu thế nào là “sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng“.

Ngày 30-4-75 Vùng 4 chiến thuật bỏ ngỏ, các đơn vị theo nhau rã ngũ trừ một vài đơn vị chiến đấu tới cùng. Khi ấy Đơn vị của Bá đang hành quân phối hợp với một Giang đoàn. Bá cùng một số sĩ quan được một tàu của Giang đoàn đưa ra khơi.

Tôi không muốn nghe Bá kể tiếp vì nỗi nhục của kẻ ra đi và nỗi nhục của kẻ ở lại đều là nỗi nhục của kẻ bại trận. Tôi lái sang chuyện khác:

– Rồi bằng cách nào anh đưa chị qua đây?

Rót thêm cà phê vào ly của anh và tôi, anh nói:

– Do áp lực của quốc tế, phía VN chịu thi hành chương trình ra đi trật tự của Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc. Chúng tôi viết thư hướng dẫn gia đình làm hồ sơ gửi sang tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok. Bố mẹ và các em tôi đều đủ điều kiện nhưng tôi không bảo lãnh được Tràng Thi vì chúng tôi chưa có hôn thú. Nghe nói ở VN bây giờ người ta làm giấy tờ giả mạo khéo lắm, tôi viết thư cho bố: “Tràng Thi làm mất hôn thú nên con không bảo lãnh được. Bố xin bản sao khác giúp chúng con“. Bố tôi hiểu. Vài tuần sau tôi được thư bố cho biết đã xin được hôn thú và hồ sơ của Tràng Thi đã gửi sang Bangkok.
Kết quả bất ngờ là Tràng Thi được sang Mỹ trước bố mẹ và các em tôi một năm.

    Chúng tôi cùng cười vui.

Bá ngó lên bàn thờ rồi tủm tỉm cười như vừa nhớ ra một chuyện, tôi liền hỏi:

– Có gì vui kể nghe coi.

– Chỉ là chuyện nằm mơ. Cách đây một tuần tôi nằm mơ thấy nhà tôi. Tôi hỏi: “Em về đón anh phải không?“ Nhà tôi lắc đầu nói: “Về thăm anh thôi. Hồ sơ em bảo lãnh anh sang với em bị bên kia người ta bác rồi“. 
Tôi hỏi: “Tại sao?“
Nhà tôi thở dài: ”Vì hôn thú giả mạo!“

***

*BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG NHÂN VẬT

“ĐẤU TRANH CHO NGƯỜI TỴ NẠN”?

Kính thưa quý vị, tôi tên là Nguyễn Đức Tiến, một trong số những thuyền nhân tỵ nạn ờ trại Sikiew cách đây hơn 30 năm về trước, đồng bào trong trại thường gọi tôi là Tiến “gà mìn”. Tôi bị cưỡng bức về VN năm 1996, nhưng đã trốn lại qua Thái Lan năm 2013, đúng vào lúc mà linh mục Peter Namwong vừa hoàn tất danh sách thuyền nhân gởi cho VOICE và chính phủ Canada, nên bị kẹt lại tại đây cho đến giờ phút này. Ngày trước tôi ở cùng trại với hầu hết những người tỵ nạn đã đi Canada trong đợt 108 người, cũng như những thuyền nhân đang còn sống vất vưởng ở Thái Lan hiên nay. Tôi biết rất rõ tất cả mọi trường hợp tỵ nạn như Dũng loa, Vũ Bắc Đẩu, Vũ Hoàng Hải, Nguyễn Thanh Minh Trị, Quang “cụt”, Sơn Dành, Thạch Thị Phay, ông Mười, ông Khải, gia đình Đào Bá Lê, “Ty Lek” Nguyễn Việt Trung, Cao Lê Vũ, Sabai Kieng, Nguyễn Văn Hải, Trần Thanh Mẫn, Nguyễn Mạnh Quát v..v.., và dĩ nhiên là cha Peter Namwong, người đã che chở chúng tôi từ hơn 30 năm qua, cho đến giờ phút này. Dù già yếu, bệnh hoạn và về hưu, nhưng cha vẫn không từ chối giúp đỡ trong phạm vi của ngài mỗi khi có ai cần đến.

Tôi cũng quen biết và tình nguyện làm việc gần gũi với các tổ chức hoặc cá nhân sang Thái Lan giúp người tỵ nạn như BPSOS, VOICE, nhóm cựu quân nhân từ Úc Châu, ngay cả nhóm của ông linh mục Joseph Thiện Nguyễn hoặc các mục sư Tin Lành qua giúp đồng bào thiểu số. Tôi biết tên, biết mặt và hầu như biết cả những lý do hoạt động của họ. Vì thế để chia sẻ tin tức cùng giúp mọi người nhận rõ BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG NHÂN VẬT ĐẤU TRANH CHO NGƯỜI TỴ NẠN? Tôi sẽ bất đắc dĩ phải khai báo rõ ràng những điều mà tôi cùng đồng bào tỵ nạn, MẮT THẤY, TAI NGHE VỀ CÁC NHÂN VẬT SAU ĐÂY, MÀ CHÚNG TÔI SẼ LẦN LƯỢT PHỔ BIẾN: TS NGUYỄN ĐÌNH THẮNG, LS TRỊNH HỘI, NAM LỘC, NGUYỄN THANH TÚ, VŨ BẮC ĐẨU, LINH MỤC JOSEPH THIỆN, CAO LÂM v..v…

Hôm nay tôi xin nói về 2 nhân vật VŨ BẮC ĐẨU, và LINH MỤC JOSEPH THIỆN NGUYỄN vì những người này bất ngờ xuất hiện thời gian gần đây, và tạo sự ồn ào trong dư luận hiện nay:

  1. VŨ BẮC ĐẨU:

Vũ Bắc Đẩu là thuyền nhân sống ở trại tỵ nạn Sikiew cùng với tôi, Dũng “loa”, Sabai Kieng, và một số người mà tôi đã nhắc ở trên. Hắn có vợ và một đứa con sanh ra ở trong trại! Còn Dũng loa thì làm việc cho ban an ninh trại, có nhiệm vụ phát loa mỗi ngày, 7:45 sáng và 5:45 chiều để yêu cầu đồng bào ra sân chào cờ, sau đó là hắn đọc thông báo cùng tin tức của trại cho mọi người nghe, vì thế có biệt danh là Dũng “loa”!

VBĐẩu và Dũng loa không ưa nhau, nếu không muốn nói là họ ghét nhau như chó với mèo, vì VBĐẩu ở trong khu biệt giam A5-6, khu này luôn luôn chống đối bọn an ninh trại vì sự bắt nạt và hống hách! Nhưng về sau thì chính VBĐẩu cũng trở thành an ninh của khu biệt giam!

Một trong những hành động bất nhân của VBĐẩu mà rất nhiều đồng bào nhất là những giáo dân đã chứng kiến là vào khoảng năm 1995, linh mục Peter Namwong có xin phép được vào khu A5-6 để làm lễ cho đồng bào Công Giáo sống tại đây, vì thỉnh thoảng cha Peter cũng được một số ân nhân giúp đỡ để ngài đem quà vào thăm đồng bào sống ở khu biệt giam này. Tuy nhiên VBĐẩu cùng với nhóm người Việt trong BĐD không biết vì nguyên cớ gì, họ đã vu cáo là nhân viên của cha tham lam, cắt xén tiền bạc và quà cứu trợ của đồng bào trong trại. Sau đó chính ông “an ninh” VBĐẩu ra lệnh giữ cha cùng những người phụ tá suốt hơn 7 tiêng đồng hồ. Cuối cùng nhờ áp lực mạnh mẽ của đồng bào, bọn họ đã phải trả tự do, nhưng bọn chúng đã báo cáo với nhân viên quản giáo của bộ nội vụ Thái, vì vậy mà họ đã tống xuất cha ra khỏi trại và từ đó cha bị cấm trở lại để làm lễ cho các giáo dân tại khu biệt giam A5-6 này! VBĐẩu đã trở về VN năm 1996 và qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình vào khoảng đầu thập niên 2000.     

Và đó là chuyện ngày xưa, hiện nay VBĐẩu đang sống ở Orange County, California. Không biết tình trạng gia đình, vợ con hắn bây giờ ra sao, nhưng thời gian sau này VBĐẩu có say mê và cặp kè với một người phụ nữ mà hắn gặp từ khi còn ở trong trại tỵ nạn. Bà này đứng tuổi, có nhan sắc, và lại là người khá giả, ly dị chồng, tên là THN mà trong video mới nhất “tố cáo VOICE” VBĐẩu có nhắc tên người đàn bà đó rất rõ ràng. Trước đây VBĐẩu rất cảm phục LS Trịnh Hội và hỗ trợ việc làm của tổ chức VOICE, chính VBĐẩu đã giới thiệu bà THN này cho Trịnh Hội, vì bà ta cùng con cái của bà hay làm việc từ thiện. Tuy nhiên kể từ khi quen biết TH thì bà THN thường hay tham dự một cách tích cực vào các sinh hoạt của VOICE ở Mỹ, kể cả những chuyến đi xa như PLT hoặc TL v..v… Bà THN đóng góp tài chánh một cách rộng rãi và thường chụp hình chung với TH cùng những TNV của VOICE và khoe trên FB. Điều đó chính là động lực khiến VBĐẩu ghen tức và trở nên một người chống đối TH và VOICE, vì hắn nghĩ là mình đã mất cả chì ($) lẫn chài (tình), dù TH và bà THN không hề có bất cứ tình ý gì! Nói tóm lại, động lực đưa đến lý do “bênh vực và tranh đấu cho đồng bào tỵ nạn” của VBĐẩu hiện nay chẳng qua CHỈ VÌ GÁI MÀ THÔI! Tiếc là tranh đấu thì chẳng biết làm được gì, nhưng chắc chắn hắn đang tiếp tay những kẻ muốn khép lại niềm hy vọng cùng cánh cửa định cư của người tỵ nạn ở Thái đang mong đợi mà thôi! Chúng tôi sẽ trở lại để nói thêm về nhiều điều bất nhất và giả dối của nhân vật lợi dụng thời cơ để xuất hiện vào giờ thứ 25 này trong một dịp khác.

  1. LINH MỤC JOSEPH THIỆN NGUYỄN:

Linh mục Joseph Thiện Nguyễn sinh năm 1974 ở VN, trưởng thành và được giáo dục dưới chế độ CS. LM Thiện đến HK năm 2005, trở thành tu sĩ năm 2010 tại Iowa, đến thành phố Buffalo từ 2013, hiện là linh mục tuyên úy của Mercy Hospital thuộc giáo phận Buffalo, New York. Cũng tương tự như Vũ Bắc Đẩu, thoạt tiên LM Thiện rất ngưỡng mộ việc làm của VOICE và thường hay tổ chức gây quỹ để tiếp tay LS Trịnh Hội. LM Thiện cũng thường bay qua Thái Lan, nói là đem tiền giúp đỡ đồng bào tỵ nạn. Người thân thiết và cũng là cánh tay mặt của LM Thiện tại Bangkok chính là nhân vật Cao Lâm, một người tông tích rất mù mờ! Không ai biết đương sự là di dân hợp lệ hay bất hợp lệ ở Thái, có liên hệ gì với nhà cầm quyền CSVN? Nhưng hắn thường nhận may quần áo cho các hãng sản xuất y phục. Làm lậu ở nhà và thuê mướn người tỵ nạn để vừa trả lương hạ, vừa giúp họ có công ăn việc làm để sống qua ngày.

Khi vụ Trương Duy Nhất bị đổ bể, công an CSVN cho là Bạch Hồng Quyền có giúp TDN nên họ đã bay qua Thái, một mặt bắt cóc TDN và mặt khác truy lùng BHQuyền với lệnh truy nã mà nhà nước CSVN đã ban hành từ tháng 5, 2017 sau vụ BHQ và Hoàng Đức Bình (người đang thọ án 14 năm tù), tổ chức biểu tình cũng như lên tiếng báo động cùng thế giới về thảm họa Formosa! Tuy nhiên nhờ sự can thiệp của Cao Ủy Tỵ Nạn, của các tổ chức nhân quyền thế giới, trong đó có VOICE, cũng như của chính phủ Canada, cùng sự phối hợp của chính quyền quân nhân thuộc Vương quốc Thái Lan, BHQuyền và gia đình đã được đưa đến Canada một cách an toàn vào tháng 5, 2019. Ngoài ra còn một người nữa tên là Chung cũng đã dính líu trong vụ TDN và được Cao Ủy cấp bách đưa cả gia đình đi Đan Mạch. Thế nhưng chuyện rắc rối là sau đó Cao Lâm lại bị cảnh sát Thái bắt vào IDC rồi trục xuất về VN với tội danh “lao động bất hợp pháp”! Không hiểu sự việc bên trong thế nào, vai trò của Cao Lâm là gì và hắn làm việc cho ai? Vì ngay khi về lại VN Cao Lâm đã xuất hiện lập tức trên các video của Nguyễn Thanh Tú cùng với LM Joseph Thiện để lên án và tố cáo BHQuyền cùng TH và tổ chức VOICE một cách kịch liệt và thậm tệ, thậm chí ông Thiện còn cho rằng TH là người “đã đưa lậu TDN vào Thái Lan”, rồi sau đó “đưa lậu gia đình BHQ” đến Canada, qua mặt tất cả các cơ quan hay tổ chức nhân quyền cùng các chính phủ Thái Lan và Canada.

Sự nhận định và cáo buộc quá khích nói trên của LM Thiện đã trở nên lố bịch, nhiều người hiểu chuyện ở bên Thái đã cười thầm vì ông cha Thiện này làm như Trịnh Hội có phép thần thông, qua mặt tất cả mọi người, tựa như là Tề Thiên Đại Thánh vậy! Tuy nhiên cũng vì thế mới có “hồi hai” khi người ta khám phá ra rằng sự tức tối của ông Thiện chẳng qua là vì mất đi một cánh tay mặt ở Thái Lan là Cao Lâm, vì Cao Lâm vừa là người liên lạc với các đồng bào tỵ nạn để cha làm “chuyện từ thiện”, mặt khác chính là người sắp đặt các cuộc “nghỉ hè tịnh dưỡng” cho ngài linh mục ở các thành phố biển bên Thái Lan, đồng thời lo “trai thanh, nữ tú” và rượu chè để cha “retreat” sau những ngày làm việc mệt nhọc tại Hoa Kỳ! Cao Lâm có nhờ tôi giúp hắn đôi ba lần trong các “dịch vụ” này nên tôi biết khá rõ!  

Cao Lâm, người đứng ngoài cùng

Chuyện “nóng” được loan truyền nhanh nhất ở Bangkok gần đây là tin LM Thiện đã có một đứa con trai tên là Paul Nam Nguyễn, người này và mẹ anh ta hiện sống ở đâu, chưa ai biết. Tuy nhiên cũng không ai ngạc nhiên lắm, vì nếu ngắm dung nhan của cha phơi bầy cùng các “người đẹp” như những tấm ảnh dưới đây thì chuyện có một đứa con, hay một chục đứa thì chắc cũng không lấy gì làm lạ!

Dựa hơi Nguyễn Thanh Tú, thừa nước đục thả câu. Để trả thù TH và VOICE, LM Thiện cùng VBĐẩu đã liên kết với nhau để tố khổ TH và VOICE. Nhưng gần đây, hình như FB của LM Thiện đã phải lấy xuống những lời vu cáo TH, NL và tổ chức VOICE một cách bừa bãi và vô trách nhiệm mà ông ta đã post lên. Người ta cho rằng có lẽ do hậu quả của việc vị giám mục lãnh đạo giáo phận Buffalo, vừa phải xin từ chức vì áp lực của tòa thánh Vatican, lý do là ngài đã che chở cho các vị linh mục thiếu đạo đức và có hành vi dâm ô. Tuy nhiên, lợi dụng sự “vắng bóng” của LM Thiện thì tên háo danh Vũ Bắc Đẩu đã đơn phương xuất hiện ngay lập tức và mong mỏi được trở thành một “nhà đấu tranh cho đồng bào tỵ nạn”. Cuối cùng và kết luận thì cả hai người này quyết định nhập cuộc cũng chỉ vì TIỀN và GÁI mà thôi.

Là những người tỵ nạn thống khổ đi tìm tự do từ hơn 30 năm qua, giấc mơ của chúng tôi là được đặt chân đến các quốc gia định cư như quý vị. Chúng tôi chẳng binh vực tổ chức hay cá nhân nào! Thế nhưng cuộc đấu đá giữa quý vị hiện nay tại hải ngoại chẳng giúp ích gì được cho chúng tôi! Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết! Quý vị chửi bới và tố cáo lẫn nhau, nhưng không ai đưa ra được giải pháp thực tế nào hay can thiệp với đất nước nào để giúp đỡ chúng tôi, nếu không nói ngược lại, chỉ làm trở ngại cho cơ hội nhỏ bé mà chúng tôi đang chờ đợi để được Canada nhận vào từ từ! Giả thuyết mà quý vị đưa ra là phải “hối lộ” cho Trịnh Hội hay VOICE để được đi chỉ là một trò cười, không hề có chuyên đó và sẽ chẳng bao giờ quý vị tìm được bằng chứng là chuyện đó đã xẩy ra. Vậy nếu không vận động giúp cho chúng tôi thì xin vui lòng đứng ra ngoài. Đừng lợi dụng chúng tôi để phỉ báng nhau chỉ vì sự tỵ hiềm và tư thù cá nhân.

Tôi là một người theo đạo Phật, và rất ngạc nhiên khi nhì thấy những tấm hình của LM Thiện được phổ biến ở Thái Lan, nhưng không dám đưa ra lời bình luận. Tôi có hỏi thăm và cho môt số vị theo đạo Công Giáo xem qua những tấm hình đó, thì sau cùng chính họ đã kết luận: là một linh mục mà có những hình ảnh và hành vi như vậy thì quả là một điều thiếu đạo đức của một vị chăn chiên. Tôi không có ý kiến, chỉ xin mời quý vị tự nhận định sau khi duyệt qua các hình ảnh đính kèm ở bên dưới. Đức Tiến xin kính chào tạm biệt và mời quý vị nhớ đón xem nhân vật kỳ tới “Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng”!

Nguyen Duc Tien <muangthai93@gmail.com>

***

Chứng Nhân Một Sự Kiện Lịch Sử  

Tinh Hoai Huong

Sau những chấn động kinh khủng xảy từ vụ hăng say hoạt động cách mạng, chống đối, xuống đường biểu tình biểu tọt liên miên bùng nổ, thì lúc nầy tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam (như chiếc ghế cũ, chỉ còn ba chân gập ghềnh), càng ở vào giai đoạn “dầu sôi lửa bỏng”. Thụy Mi nghiệm thấy đằng sau hậu trường có bóng dáng của những tay “mưu đồ chính trị chuyên nghiệp”, họ đã giựt dây ngầm tạo ra sự vô tổ chức về những đợt sóng bạo loạn. Có tình trạng những kẻ “trẻ người non dạ rất hỗn”, hầu lợi dụng thời cơ… vênh váo thừa nước đục thả câu, điều nầy sẽ rất nguy hiểm khi họ có quyền lực trong tay, mà không biết ôn nhu, khoan hoà, khiêm tốn, khôn ngoan, nhất là phải tri thức và trung dung. Nói chung, tình hình chính phủ lúc đó quả thật là một xã hội rối rắm như mớ bòng bong, đang trôi bồng bềnh trên biển cả, giống như một chiếc tàu không người lái. Mặc ai muốn làm gì thì làm. Luật pháp bị xô ngã, nhường bước cho sức mạnh bạo lực hổn độn lên nắm chính quyền điều hành.

Dạo ấy, các bạn sinh viên năm thứ hai Văn Khoa, cùng Thụy Mi, Vì Dân… tuy còn rất trẻ, nhưng có nhiều băn khoăn, đắn đo, bâng khuâng suy nghĩ về khả năng, tài đức… của những vị “lãnh đạo cách mạng” nầy. Thêm vào đó, dựa vào một vài dữ kiện đáng ghi nhớ đã xảy ra về sự kiện lịch sử: cay đắng đến xót xa chua chát bàng hoàng, khiến nó mất đi tất cả lý-tưởng cao trọng trong “cuộc lãnh đạo kháng chiến”, tín-trung vào lề lối đấu tranh trung-dũng. Vì Dân cảm thấy “sự cách mạng” lạt lẽo, mù mờ, vô bổ từ đó. Hơn nữa, chính lúc nầy chuyện bè phái chính trị hoàn toàn không phù hợp với quan niệm, hoài bão, lập trường của Dân và Mi. Hai cô muốn tìm riêng cho mình sự thảnh thơi, bình lặng trong đời sống, quyết giữ tinh thần ôn nhu, trong sáng, tìm một cuộc sống vô-tư-lự, thanh thản, hữu hiệu, thật sự đáng sống; để mình có thể góp phần nho nhỏ giúp ích trong cuộc đời, một cuộc đời thực sự bình dị, mến thương nhau, ôn hoà, an lành, có nghĩa có tình như mọi công dân hiền hậu khác: Không oán ghét, chẳng vò xé hận thù. Không vướng mắc mọi ưu tư ray rứt dày vò ở trong lòng. Do một tuần lễ công tác trong tổng-hội sinh-viên Việt Nam ở Huế, đã gây cho Mi & Dân bao điều băn khoăn, nghẹn ngào, xót xa quá cay đắng. Vì, khi làm việc với nhau trong tuần lễ đó, có một anh sinh viên sống tại Huế rất qúy mến các bạn từ Sài Gòn, Đà Lạt… đến Huế, anh ta ngầm ngầm báo với họ là:

– Hãy hết sức cẩn thận. Đề phòng. Tính mạng của các anh chị hiện đang nằm gọn trong tay “họ”.

Thú thật, các bạn trong nhóm Mi & Dân không hiểu nỗi mình làm thiện nguyện bổ ích cho đời thì đã có gì sai? Và, khi anh ta nhấn mạnh ở điểm nầy, thì hai cô chẳng thể biết ra sao, không hình dung chữ “họ” ở đây, là anh ta muốn “ám chỉ” về ai? Ai? Bởi vậy, ban ngày Mi, Dân, và các bạn ghi tên ở khách sạn, nhưng ban đêm cùng nhau lo đi ẩn nấp, chui rúc nơi bờ bụi như lũ chuột, khi các bạn ngủ chỗ nầy, khi ngủ dưới ghe bà Nẫm, đến khuya các bạn lại cho ghe neo đi chỗ khác, lúc thì lên gần gầm cầu Bạch Hổ, khi chạy về khu Gia Hội. Vân vân… Đồng thời, Thụy Mi rất buồn vì chuyện tình yêu giữa “chàng và nàng” bị đổ vỡ vô cớ. Kèm theo chuyện chính trị náo loạn dị kỳ, cô quá chán ngán, không muốn mọi thứ ấy luôn thọc mũi dùi vào đời sống sinh viên, quấy rối lòng mình nữa! Bởi vì; (tất nhiên trong đó có cả các anh chị bạn, và… nhất là có người yêu dấu của cô):

Cô cảm nhận ra rằng ở tại miền Trung bấy giờ hoàn toàn do nhóm sinh viên sừng sỏ hùng hậu chi phối chính quyền địa phương. Đấy là dấu hiệu “loạn” đã lên cao độ rồi. Cái nền độc lập tự do dân chủ vừa mới sơ sinh, mà manh nha nhiều thủ đoạn “rối” như thế nầy, thì… tương lai đất nước sẽ tối đen như đêm ba mươi Tết. Theo thiển ý của Thụy Mi: nếu tham gia làm cách mạng (vì thực sự yêu nước, muốn cùng nhau xây dựng một quốc gia hùng cường, một đất nước tự do hưng thịnh, vinh sang và trường tồn); thì ta không chỉ chìm đắm bới móc quá khứ, mà ôm hận thù. Điều cần thiết và cấp bách là muốn thực thi cách mạng, trước tiên ta cần phải an-nội.

Thế nhưng… giờ đây thanh niên là rường cột của quốc gia, đang giống như con dao hai lưỡi. Rồi mọi chuyện sẽ đến đâu? đi đâu? về đâu? Thật ra đám sinh viên thiện nguyện đi Huế công tác bây chừ cảm thấy buồn bã, chán nản lên tột đỉnh. Có thể nhận thức của họ về vài vấn đề nào đó còn eo hẹp, khiếm khuyết, nông cạn, không hữu hiệu, phiến diện và ít sắc bén trong suy nghĩ, nên không thể đạt được sự cảm thông và khuyến khích với “những vị có hào quang chói lọi trên đài danh vọng khi đi kháng chiến cứu… bồ chăng”. Thế nhưng khi Mi nghe: Albert Einstein (1879-1955) đã nói: “The world is a dangerous place to live, not because of the people who are evil but because of the people who don’t do anything about it”. (Thế giới là nơi nguy hiểm để sống, không phải chỉ vì bọn cùng cực hung ác, mà còn vì những người ù lỳ, không làm bất cứ một điều gì, để trừ khử cái ác ấy). Hoặc giả như Napoléon Bonaparte (1769-1821) đã trầm ngâm suy tư: “Le monde souffre enormément, non pas à cause de la violence des gens malsains mais à cause du silence des gens braves”. (Thế giới chìm đắm trong đau khổ, không phải chỉ vì bạo lực của bọn ác, mà còn vì sự im lặng của người tử tế).

Thế thì ta có nên nên cúi đầu lanh lẹ quay gót, lo thụt lùi lui xa chính trường, không hề dám ngoảnh lại len lén liếc nhìn… hay không nhỉ? Bởi, Vì Dân còn nhớ rất rõ: Buổi chiều đó, một buổi chiều có mây trắng bồng bềnh bay bay trên lưng trời, có nắng nhạt nhè nhẹ rót xuống thế trần, có gió mơn man trên đầu cây ngọn cỏ, cảnh vật êm ả bình thường như bao buổi chiều khác. Có khác chăng là một tí nữa đây Vì Dân, Thụy Mi và hai ba anh bạn sẽ được vinh dự trở thành số ít người hiếm hoi, tận mắt chứng kiến một sự việc đặt biệt ghi đậm nét như một dấu ấn lịch sử: Từ đầu đến cuối sự kiện trọng đại nầy: đã có nhiều dư luận, có nhiều lý thuyết, có nhiều phán đoán, có nhiều nghi vấn. Nhưng “trăm nghe không bằng mắt thấy” về những nhân vật trọng đại, liên hệ đến lịch sử.

Đó là một buổi chiều định mệnh… vô cùng đớn đau bi thảm vào đầu tháng 11 năm 1963. Đúng hơn là buổi sáng ngày 02 tháng 11 năm 1963, ông Trần Trung Dung (nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Ông Dung đã gọi phone đến nhà Năm Tony. Trong nhà Năm có thêm bạn: Trung, Thạch, Thụy Mi và Vì Dân ngồi gần bàn làm việc. Năm bắt phone và chuyển sang cho ông Ba chủ trại hòm Tobia. Sau một hồi trao đổi, giọng ông Ba trở nên lo lắng. Bối rối. Quắt quay. Bồn chồn. Như có điều gì bức bách lắm. Cuối cùng ông Ba thở dài, buông phone xuống, e dè nhìn mọi người hiện diện, đôi mắt ông rướm lệ rồi ngập ngừng nói nhỏ:

– Tổng thống, và ông cố vấn đã chết trong chiếc thiết vận xa M113 mang số 80.989, bởi lệnh của ông Dương văn Minh, do sát thủ là Nguyễn văn Nhung giết hại rùi.

Sửng sốt, bàng hoàng. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, tất cả vội túc trực trong phòng khách, mở radio lên lắng nghe. Hội đồng tướng lãnh do Trung-tướng Dương Văn Minh đứng đầu đảo chánh đã thành công. Ông Minh tuyên bố: “Tôi tạm thời lãnh đạo quốc gia”. Đài Phát Thanh Sài Gòn chỉ mở nhạc hoà tấu, nhưng luôn luôn nói đi nói lại là: “Anh em ông Diệm đang ẩn nấp, hoặc… tẩu thoát đâu đó”…

Chẳng nói chẳng rằng, ông Ba vội vã kiếm người đi gọi đạo tỳ đến xưởng hòm, để chuẩn bị “hậu sự” cho Tổng Thống Diệm và ông cố-vấn Nhu. Ở nhà kho của ông Ba có nhiều hòm tuy đẹp, đắt tiền. Nhưng không mấy xuất sắc. Chỉ còn một cái hòm tốt nhất bằng gỗ gia tỵ rất quý hiếm, có bọc sẵn thêm cái hòm kẽm ở bên trong. Ý ông Ba muốn để cái hòm nầy cho ông cố vấn Nhu. Ngoài ra, còn một cái hòm nhôm mới toanh láng cón của quân đội Mỹ. Chiếc quan tài nầy rất đẹp, làm bằng nhôm nhẹ, có hai lớp. Bên ngoài mạ lớp sơn bóng loáng, bên trong bọc một lớp đệm nhung mỏng, êm ái như tấm đệm giường ngủ, có thể mở nắp ra đóng vào bằng kính dễ dàng, lộ cả khuôn mặt người quá cố, cho mình nhìn tiễn biệt phút cuối cùng, hòm có chốt cài bên hông. Nếu là xác đã ướp lạnh, có thể để lộ hẳn ra ngoài. Ở Việt Nam chưa xuất hiện loại hòm tân thời như thế.

Lẽ ra là chiếc hòm rất sang trọng đẹp đẽ qúy hiếm nầy sẽ đựng thi hài của một viên Tá người Mỹ đã từ trần tại Việt Nam. Nhưng không hiểu sao họ lại mang vất bỏ chiếc quan tài ấy ở bên hông nhà ướp lạnh trong phi trường Tân Sơn Nhứt!?. Tình cờ ông Ba đi làm việc đã thấy. Tiếc quá nên ông Ba nài nỉ, thương lượng với tên quản lý nhà xác, và ông đã mua lại. Ông Ba đem về trưng bày trong tiệm cuả mình, coi chơi. Ai đến mua giá cao cỡ nào, ông cũng không bán. Thế là ông Ba quyết định:

– Chỉ có Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới xứng đáng nằm an nghỉ trong đó thôi.
Cả hai khuôn hòm được mang ra lau chùi bóng loáng, sát trùng sạch sẽ, họ chuẩn bị sẵn sàng; chờ lệnh. Gần 11 giờ trưa, phone của ông Trần Trung Dung gọi báo:
– Nhờ ông vui lòng mang khuôn hòm đến nhà xác bệnh viện Saint Paul. Ở đường Tú Xương. Tuyệt đối không cho đông người đi, và người lạ tháp tùng. Xe chỉ chở đến đó… mỗi lần một quan tài mà thôi.
Ông Ba nêu ý kiến:

– Có nên lấy thêm một xe nữa. Đi theo phía sau xa xa xe kia. Hay không?
– Không. Chở từng cái một, mỗi xe đi cách xa nhau khoảng nửa giờ. Mang cái “đầu tiên” đi trước.

Ông Ba tuân lệnh. Đem cái hòm đặc biệt “đầu tiên” đi. (ý họ muốn nói đến “cái đầu tiên”: là khuôn hòm của Tổng-thống Diệm, người sẽ liệm trước tiên). Chiếc xe tang từ từ lăn bánh. Trên xe có bà chủ tiệm hòm, Năm, Mi & Dân, Thạch, Trung, cộng thêm bốn người đạo tỳ. Xe lao vào đường phố vắng tanh như đi trong thành phố chết, hoặc đang vào giờ giới nghiêm, thiết quân luật vậy. Đến đường Tú Xương, Vì Dân mới thấy phe cách mạng lật đổ chính phủ đã cho cảnh sát, quân cảnh đứng canh gác ở các chốt. Xe jeep chận ngang ngỏ vào nhà xác.

Ngoài các anh: Năm, Thạch, Trung, Mi, Dân, bà chủ tiệm và bốn đạo tỳ ra, còn có hai soeur có lẽ ở bệnh viện nầy. Thêm vợ chồng cháu rể của tổng thống đang lăm le chiếc máy ảnh trong tay. Khi xe tang vào tới bên trong, thì một soeur rón rén, lấp ló, len lén nhìn trước ngó sau, coi soeur có vẻ gian, sợ sệt lén lút, như người làm chuyện mờ ám gì, chả biết. Hình như soeur có lệnh trước, đã vội vàng kéo cánh cửa đóng ập lại liền. Trong nhà xác chỉ có một ngọn đèn vàng lù mù, leo lét, treo lơ lửng tòn ten trên trần.

Bốn đạo tỳ mang quan tài đặt trên bệ đá cẩm thạch trong nhà xác. Họ đợi khoảng hai mươi phút sau, thì có một chiếc xe hồng thập tự kiểu Dodge nhà binh (màu cứt ngựa) thắng lết bánh, đỗ xịch lại. Bà soeur canh cổng kia lật đật mở cánh cửa nhà xác ra. Từ trên xe có bốn quân nhân nhảy phóc xuống, họ vội vội vàng vàng khiêng chiếc băng ca lắc lư nhún nhảy. Trên đó có một người nằm cũng nhún nhảy lắc lư theo nhịp bước mau. Họ mang băng ca vào hẳn phía trong, để xuống dưới đất. Họ chả buồn nhìn ai hay nói câu nào, họ cúi đầu vội vã quay trở ra, leo tọt lên xe. Chiếc xe Dodge rít lên nghe rợn tóc gáy vút đi trong sự im lặng hãi hùng…

Lúc bấy giờ cả nhóm đông trong phòng liền bước tới đứng sát bên băng ca. Người nằm trên băng ca là vị tổng thống kính mến của nền Đệ Nhất Cộ̣ng Hòa miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm (1901-1963). Ngài mặc bộ veston màu xanh rêu, thắt cà vạt xanh đậm có chấm trắng. Dưới chân ngài mang một chiếc giày màu đen, bên chân kia chỉ có một chiếc tất trắng. Cả bộ comple chìm trong màu máu, trên đầu tổng thống có một vết thương sâu từ dưới ót trổ lên đỉnh đầu, bê bết máu. Ngài nằm đó thản nhiên im lặng, dường như tổng thống say chìm trong giấc ngủ ngàn thu bình an không muộn phiền, chẳng khổ đau…

Ánh sáng vụt loé lên. Thì ra ông cháu rể ngoại quốc kia đã bấm được vài ba tấm ảnh. Chả hiểu ông cháu nầy lúng túng, run rẩy, sợ hãi, lo lắng hay sao, mà ông lại vội cất dấu máy hình, không chụp thêm mà lại ngưng? Hay ông thấy cảnh máu me lan tràn như thế, thật hãi hùng và đau lòng. Nên ông không cầm nỗi cơn nghẹn ngào xúc động đau đớn dâng tràn bờ mi?!

Đạo tỳ khiêng xác ngài lên, đặt trên một bệ đá cẩm thạch có lót hai lớp vải trắng. Bà chủ tiệm nói với Năm, Thạch, Trung, Vì Dân, và hai soeur:

– Nhờ lấy bông gòn và compresse nhúng đầy alcohol, lau nhẹ nhàng, lau sạch sẽ, lau rất cẩn thận các vết máu cho tổng thống giúp tôi.

Họ lộ vẻ kính cẩn, ân cần, chu đáo sửa sang áo quần Tổng-thống Diệm chỉnh tề, ngay ngắn. Bốn đạo tỳ chăm chỉ cắm cúi lo tẫn liệm ngài đàng hoàng. Bà chủ tiệm hòm lâm râm đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người quá cố. Bà nhét vào tay tổng thống xâu chuỗi hột mân côi. Hình như Tổng Thống Diệm vừa mới chết, cho nên hai bàn tay ông đã nhẹ nhàng khép lại dễ dàng giữ xâu chuỗi, như ông đang lim dim đọc kinh lần hạt. Mọi người hiện diện nín thở, có cảm tưởng tim đập thiếu nhịp, thở hụt hơi: Nghẹn ngào. Ngậm ngùi. Cay đắng. Bẽ bàng xao động. Đau xót kinh khủng. Thương tiếc sâu sa. Buồn mênh mông cho kiếp phù sinh bạc mệnh. Ngắn ngủi!

Họ chưa kịp đậy nắp hòm, thì chiếc xe hồng thập tự lúc nãy đã trờ đến. Cánh cửa lớn do bà soeur kia lum khum hé mở ra. Đám lính lật đật bưng cái xác thứ hai vào. Bà soeur vội vàng khép nhanh cánh cửa ngay. Đó là ông Cố-vấn Ngô đình Nhu mặc áo sơ mi trắng cụt tay ngực đẫm máu. Áo bỏ trong quần màu nâu hơi xộc xệch, thắt dây lưng da, chân mang đôi giày màu kem. Gương mặt ông Nhu có vẻ oán hận, bất bình điều gì, vầng trán thật cao cau lại với nhiều nếp nhăn. Đôi môi ông mím chặt nghiêm nghị. Không thấy ông Nhu có nét thanh thản bình an (như gương mặt thản nhiên của người anh). Ông nằm hơi nghiêng qua một bên. Họ thấy ông bị nhiều vết đâm sau lưng, loại dao bayonet của quân đội. Máu vẫn ứa ra từ các vết thương đó. Trên đầu, ngay thái dương có hai vết thủng. Đó là dấu đạn đi từ bên nầy xuyên sang bên kia.

Công việc tẫn liệm cũng tuần tự diễn ra. Cẩn thận, nhưng hơi vội vàng như lần trước. Không khí lúc nầy quả thực nặng nề kinh khủng! Im lặng hoàn toàn. Hình như ai ai cũng thở rất nhẹ. Vì họ sợ mỗi tiếng động làm dấy lên từ đáy lòng mình tiếng nấc, mà họ đã kềm sâu trong lòng, để khóc thương một kiếp người phù sinh: khi họ đứng trên tột đỉnh danh vọng cao sang dường bao, ấy thế mà lúc họ lìa đời thì quá ư bẽ bàng, bạc phận!? Hoặc sẽ làm hỏng không khí kính cẩn tôn nghiêm; nơi con người thực sự đã bước chân vào cõi vô cùng hư vô? Quả đúng là phân giới giữa sự sống và cõi chết: chỉ ngăn cách bằng một sợi tóc dài lê thê và mỏng tanh, bởi một bức màn sô vô hình tầm thường mà mong manh như sương khói. Nhưng, kiếp người ở hai phân giới ấy đã không thể làm gì khác hơn. Người ở biên giới nầy không thể va mặt, chạm tay vào biên giới vô hình kinh khủng bên kia, và càng không thể biết thêm gì nhau hơn!

Đó là hình ảnh nhỏ nhoi tầm thường rất cô độc của con người hiện hữu đối mặt trước sự siêu hình, cao cả của sự sống và sự chết. Quả thật không là gì cả khi thân xác ấy trở thành bất động, lung linh như ảo ảnh hư vô mà vô cùng sống động, thực tế và quá đỗi thương tâm. Các bạn: Mi, Dân, Năm Tony, Thạch, Trung sẽ không bao giờ quên, không bao giờ phai mờ hình ảnh bi thương ấy trong trí óc. Vì, rất thật. Quá thật tình cờ… vô tình mình làm chứng nhân một sự kiện lịch sử trong thế kỷ. Ý thức nhận rõ ràng: Cuộc sống sao quá mỏng manh như một bóng mây trắng hờ hững bay giữa lưng trời rám bạc. Như cành cây oằn thân trong bão khi gió muốn lặng, mà dễ đâu nào!

Vì Dân cảm thấy mệt lả, nhịp tim rung lên từng cơn run rẩy, nghẹn nghẽn nỗi đau trong cổ, nàng vội kéo Năm, Thạch, Trung, bước ra thềm nhà xác, đi về hướng Phan Thanh Giản, là mong cho dễ thở hơn. Ngay lúc đó, Mi thấy một đoàn biểu tình náo nhiệt rầm rộ kéo nhau xuống đường. Họ vừa đi vừa giơ nắm tay hò la, hét tướng lên: đả đảo “chế độ gia đình trị họ Ngô”. Họ đi thẳng tới biệt thự đường Phan Thanh Giản của ông Bộ-trưởng Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương, (người đã từng nắm giữ chức vụ Tổng Ủy-trưởng, Tổng Ủy Di Cư năm 1954).

Họ lao vào nhà ông Lương đập phá, hôi của. Tất cả mọi thứ trong nhà thoáng chốc “biết đi” biến sạch hết ra ngoài đường. Thậm chí Vì Dân còn thấy có mấy người bưng hai con chó Nhật sợ hãi nhìn quanh, như nó đang muốn tìm cố chủ. Đám biểu tình nhốn nháo bắt đầu xúm lại nổi lửa trong sân. Rất may, lúc đó có toán Cảnh-sát Dã-chiến đến. Họ can ngăn kịp thời. Ôi! Cuộc Cách Mạng phừng phưng thành công rồi đó. Toàn dân bấy giờ đã thoát ra khỏi chế độ “gia đình trị họ Ngô”. Nhưng, rồi đây sẽ đến phiên ai đi tới đi lui, đi lên và đi xuống, đi qua và đi lại? Sẽ ra sao? Xin nhường câu trả lời cho lịch sử từ bây giờ, và những tháng năm sau nầy phán xét.

Nghe tiếng bà chủ gọi, các anh, chị, vội chạy trở về nhà xác: khi hai chiếc xe hồng thập tự đã đến lấy quan tài hai anh em họ Ngô. Họ nói với tài xế: “Vô Bộ Tổng Tham Mưu”. (Vì lý do an ninh, nên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chuyển hai xác anh em tổng thống vào Bộ Tổng Tham Mưu, an táng trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo, cạnh chùa An Quốc). Hiện diện, làm việc cấp tốc trong đêm khuya có vị linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung, Trung-tá Nguyễn Văn Luông (trưởng ban mai táng), một số ít quân nhân ở Tổng Tham Mưu.

Thế rồi tiếp theo sau mấy cuộc đảo chánh. Chỉnh lý. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đương nhiệm nghe lời ông thầy địa lý phán một câu xanh dờn:

– Vì hai huyệt mộ kia đã chôn nhằm “long huyệt”. Cho nên đất nước Việt Nam đã xảy ra lộn xộn liên tục. Muốn cho yên ổn. Phải cho dời đi ngay.

Thế là sau ngày đảo chánh ít lâu, bên phòng mai táng ở quân đội miền Nam Việt Nam Cộng Hòa lại cho mời ông Ba đến, họ bàn trước tính sau cặn kẽ, nhờ ông Ba làm hai cái kim tĩnh xây gạch, tráng xi măng trước. Ông Ba lại cho người lên bộ Tổng Tham Mưu lén lút, hì hục đào bới cả hai anh em cố Tổng Thống vào ban đêm. Đạo tỳ làm việc bù đầu suốt canh thâu không ngưng nghỉ; từ choạng vạng tối đến tờ mờ sáng mới xong. Ông Ba đem hai thi thể: ông Diệm và ông Nhu về chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Khi hạ rồng rồi, ông Ba có lệnh chỉ được phép lóng cát phủ lên bề mặt hai ngôi mộ bằng phẳng cho đầy. Bên trên mặt chỉ được lấp ba tấm ván sơ sài. Trông hai ngôi mộ rất hèn mọn, quá tầm thường. Tuyệt đối ông Ba không được phép ghi tên tuổi, ngày tháng trên bia mộ gì cả. Dù chung quanh đó có những ngôi mộ cẩm thạch bóng loáng, vinh sang hào nhoáng lộng lẫy khác. Vì nền Đệ Nhị Cộng Hoà “họ” sợ dân biết tin hai vị ấy nằm đó, dân sẽ đến cầu nguyện và ngưỡng mộ (!?). Nhưng làm sao mà che được tai mắt dân lành!? Không biết do đâu “rò rỉ ra” nguồn tin:

– Chính hai ngôi mộ đơn sơ không tên không tuổi, không hình bóng nầy: là mộ phần của anh em Tổng-thống Ngô Đình Diệm.

Thế là từ đó, mỗi khi ai ai có dịp vào thăm nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, họ liền đi vào cổng chính, đến đoạn giữa “hai ngôi mộ Anh Em”, nằm đối diện với cái tháp tưởng niệm, và ngôi mộ cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ to lớn nguy nga, tráng lệ nhìn sang “hai anh em: Gioan Baotixita Huynh ; Giacobe Đệ”. Có một điều rất khác biệt với những ngôi mộ lộng lẫy sang trọng kia, thì trên hai ngôi mộ đơn sơ đạm bạc đớn hèn khiêm tốn nầy, luôn luôn có những bó nhang trầm nghi ngút khói, có đóa hoa tươi màu thay đổi mỗi ngày, có bốn ngọn nến sáng lung linh thắp suốt đêm. Hình như người dân dù sợ hãi người khác thanh trừng, nên chỉ âm thầm lén lút đi thắp nến đốt nhang cầu nguyện. Họ luôn tưởng niệm cho “Ngày dài nhất thế kỷ, buổi chiều định mệnh đó”. Họ là những người dân hiền lương ẩn danh nghèo hèn như thầm nói:

– Vĩnh biệt Tổng Thống Diệm. Vĩnh biệt ông Cố-vấn Nhu. Xin các ngài cứ bình thản an nghỉ. Vì, đất nước Việt Nam vẫn còn là đất nước Việt Nam. Có thay đổi chăng, chỉ là đổi mới những sự kiện, và những con người lãnh đạo quốc gia mà thôi. Nguyện cầu nhị vị an nhàn bình thản ra đi… hạnh phúc phiêu lãng ngao du sơn thủy, đi khắp trên mọi miền đất nước Việt Nam, và xin quý ngài phù hộ cho dân lành được ấm no, bình an hạnh phúc thật sự, như qúy vị hằng đợi mong. Xin qúy vị lãng quên cuộc đời bạc bẽo. Quên con người hết sức trắng trợn độc ác tham tàn và… xin hãy tha thứ cho con người rối rắm hèn kém suy nghĩ kia, những kẻ đã tàn nhẫn hại mình. Kiếp người ô trọc đảo điên và phù du rồi sẽ khép lại sau đôi mắt hờ hững lặng nhìn. Vì Dân tôi, một chứng nhân vô tình hèn mọn trong bóng tối lịch sử buông tiếng thở dài sâu lắng, trầm buồn và ngậm ngùi trên mỗi phím loan: Ối ôi ồi!!! …

Mãi về những năm gần đây, sau nầy thôi, thì hài cốt “hai huynh – đệ: Gioan Baotixita Huynh ; Giacobe Đệ” (trên bia mộ vẫn không ghi tên thật, ngày tháng năm gì cả) lần thứ ba, họ lại được thân nhân đào lên, cải táng cho nhị vị về an nghỉ tại “Nghĩa-trang số 6”, ấp Đông An, xã An Bình, huyện Dĩ An. Lần nầy, Thụy Mi Vì Dân chấp đôi tay khẩn thiết cầu xin Thiên Chúa cho quý “Huynh-Đệ” thật sự bình an, yên nghỉ vĩnh viễn dưới lòng đất quê hương Việt Nam. Xin đừng “bới móc thi hài người quá cố” lên thêm lần thứ bốn làm chi nữa! Đã quá đủ thảm thương rồi!

                                 ***

*MỸ CẤM NHẬP CẢNH THỰC PHẨM tại các sân bay

Bắt đầu từ tháng 4 năm 2020 này. Khi nhập cảnh vào Mỹ , Nếu quan thuế cửa khẩu phát giác ra du học sinh hay du khách người Việt Nam mang theo đồ khô như mực khô cá khô đều sẽ bị tịch thu và phạt 200,000 usd không cho nhập cảnh vào Mỹ nếu không nộp phạt.

Vì thế khi các công dân nhập cảnh Mỹ sẽ bị kiểm tra rất nghiêm ngặt. Mỹ thực hiện chế độ kiểm dịch khá GẮT GAO đối với các mặt hàng nông sản và hải sản.

Một số mặt hàng nông sản bị cấm mang vào Mỹ là các loại hoa quả tươi như xoài, cam, đu đủ, ớt, các loại rau củ quả tươi.

Một số sản phẩm thịt gia súc, gia cầm… đồ khô như mực kho cá khô bắt đầu từ tháng 4 Nếu bị phát hiện sẽ bị tịch thu, đồng thời sẽ phạt tiền mặt, nếu người vi phạm không nộp tiền sẽ bị cấm nhập cảnh chứ Mỹ không có quyền tịch thu visa như các bài báo đã nói.

Ngoại tệ, ngân phiếu hoặc tiền Mỹ Khi nhập cảnh hoặc xuất cảnh Mỹ, du khách vào Mỹ có thể mang theo số tiền ngoại tệ, ngân phiếu hoặc tiền Mỹ có trị giá dưới 10.000 USD thì không phải khai báo.

Nếu mang số lượng lớn hơn 10.000 USD thì phải khai báo hải quan. Nếu vi phạm, có thể bị phạt theo Điều luật Giao dịch Ngoại tệ của Mỹ (Foreign Exchange Transactions Act).

Khi khai báo có mang hơn $10,000, khách du lịch sẽ phải điền mẫu đơn 105, có tên “Report of International Transportation of Currency or Nonetary Instruments,” do nhân viên quan thuế cung cấp.

Sau khi khai xong mẫu đơn 105, du khách có thể đi vào Mỹ với số tiền này. Quan thuế Mỹ không giữ gì cả.

Nhưng vì nhiều người không hiểu, sợ bị tịch thu, nên không chịu khai báo. Nếu không khai báo và bị phát giác, số tiền sẽ bị tịch thu, và du khách có thể bị bắt

Hàng hóa có trị giá dưới 4000 USD sẽ không phải nộp thuế, bạn có thể mang theo 1 lít rượu, 200 điếu thuốc, 50 điếu Xì Gà, 2 oz nước hoa và 250 gram các sản phẩmm thuốc lá. Kiểm dịch động thực vật:

Tất cả các loài động, thực vật và các sản phẩm từ động thực vật nhập khẩu vào Mỹ đều phải kiểm dịch ở sân bay, cảng vào thời điểm đến.

Trong trường hợp nhập/xuất cảnh một số tài liệu/ấn phẩm v.v bị cấm liên quan đến an ninh quốc gia, sức khỏe cộng đồng, hoặc tinh thần cộng đồng đều bị phạt nặng bằng án tù lên tới 10 năm hoặc tiền phạt lên tới 200 ngàn USD.

Nếu phát hiện xuất/nhập cảnh mang theo hàng hóa khác với những gì khai với hải quan, hoặc không khai với hải quan có thể bị phạt án tù lên tới 5 năm tù giam hoặc tiền phạt bằng cho tới gấp 10 lần thuế hoặc giá bán hàng hóa bị phát hiện.

Chính phủ Mỹ nghiêm cấm tất cả các Thực tập sinh, du học sinh, du khách nước ngoài… Khi nhập cảnh vào Mỹ mang theo loại thực phẩm, rau củ quả, thức ăn sau:

Tất cả các loại thịt khô, kể cả khô gà, mỳ tôm có chứa thịt … Tất cả các loại thuốc liên quan đến trị bệnh (Thuốc cảm, sốt,…) Tất cả các loại trái cây tươi và khô dưới mọi hình thức. Tất cả các loại rau củ quả tươi sống như: hành, tỏi, ớt,…

Tất cả các loại thịt, thủy sản (như chà bông, xúc xích, tôm, cá sấy khô dưới mọi hình thức)

Tất cả các loại rau củ quả, hoa, chậu hoa tỉa cảnh hoặc cả chậu hoa có đất, Nghiêm cấm mọi hành vi cầm tiền và hành lý giúp người khác.

Tuyệt đối không tiếp xúc với gia súc, gia cầm, chuồng trại (Heo, gà, vịt, bò,…) trước và sau khi đến Mỹ.

Nếu du khách mang theo dược phẩm có thành phần thuốc gây nghiện hoặc gây tê, hoặc thuốc ho, thuốc ngủ…, cần phải khai báo ngay.

Số thuốc ấy phải còn nhãn mác, đóng gói nguyên gốc, có đơn thuốc hoặc giấy tờ chứng minh mới được chấp nhận.

Ngoài ra, bất cứ loại thuốc Đông y hay thuốc nam bạn cũng cần có các đơn thuốc để bạn chứng minh mình đang phải sử dụng thuốc là được.

Các loại như tổ yến, ngưu hoàng… đều thuộc loại vật phẩm bị cấm, cần phải khai báo, không nên giấu. Hình thức xử phạt: Tịch thu 100% tại sân bay Phạt tiền đến 200 ngàn USD tương đương với hơn 4 tỷ VNĐ Không đóng phạt buộc trả về nước tại sân bay.