HOTNEWS ĐÃ CÓ ĐẦY ĐỦ BẰNG CHỨNG CÔ-VY

HOTNEWS ĐÃ CÓ ĐẦY ĐỦ BẰNG CHỨNG CÔ-VY VUHAN

*NHỮNG TIN NỔI BẬT HÔM NAY:
1-BIẾM HỌA-ẤN TƯỢNG
2-CLIPS HOTNEWS:

Linh Mục Bác Sĩ Anthony Phạm Hữu Tâm: Phục Vụ Bệnh Nhân COVID-19 tại NY

*ĐÃ CÓ BẰNG CHỨNG CORONA VIRUS ĐƯỢC TẠO RA TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM
* Sở Thuế IRS Cảnh Báo lừa Gạt
* Nóng Hổi: Lý Do ít ai biết, Hoàng Duy Hùng từ người chống cộng thành lưu manh bưng bô cho VC ?
*NGUYỄN THANH TÚ LẠI CHỬI CĐNVTNHN
* Bỏ tù Hillary Clinton & Obama vì tội phản quốc
* Cô bé Mỹ gốc Việt thắng giải World Junior Championship 2020

5-NHỮNG BÀI QUAN TRỌNG CẦN ĐỌC:
* GIÁO SƯ GORDON CHANG CẦN MỘT PHIÊN TÒA XỬ TC
*TRẦN HÙNG: CHIẾN LƯỢC CẤY NHỘNG ĐỎ
*TNS MỸ TOM COTTON: Truy cứu trách nhiệm dịch bệnh
*VŨ LINH: CHUYỆN KHÓ TIN MÀ CÓ THẬT
* Bill Gates người giàu nhất thế giới bán mình cho Trung cộng từ khi nào?

*SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ
*GIỚI THIỆU NHỮNG THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

*KHIẾT CHÂU*NGUYỄN NHƠN*HỒ CÔNG TÂM*
*TRẠCH GẦM*NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT* Ý NGA*
*ĐOÀN VIẾT HOẠT*ĐỨC HÙNG*LÊ THỊ HOÀI NIỆM
*NHẤT HÙNG*BÍCH TRÂN*M.Đ*TÍM*TRƯƠNG CHI*
*DƯ THỊ DIỄM BUỒN*XUÂN MAI*VIỄN KHÁCH*
*Đ.T*LÝ ĐỨC HUỲNH*MAI XUÂN THANH*
*NGUYỄN THỊ MỸ NGỌC*THÁI HUY*HỒ NGUYỄN*
*PHẠM THỊ MỸ PHƯƠNG*ĐINH THỊ NGỌC TƯỜNG*
*ĐÀO THỊ BÍCH TRÂN*KIỀU PHONG*

*NHỮNG CHUYỆN NGẮN KHÓ QUÊN:
* Chuyện Buồn Người Vợ Tù
*THÁNG TƯ ĐỔI ĐỜI
*TRỐN TÙ
*CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ
*NỖI ĐAU QUỐC HẬN
*XUYÊN QUA MÀN ĐÊM
***
*BIẾM HỌA-ẤN TƯỢNG:
* *CLIPS HOTNEWS:
TIN CHẤN ĐỘNG – Đã có đầy đủ bằng chứng CÔ-VY được tạo ra từ phòng thí nghiệm Vũ Hán


***
Sở Thuế IRS Cảnh Báo lừa Gạt .
Fri., Apr. 17 at 1:57 a.m.
Mời xem https://www.youtube.com/watch?v=IIF054ouyv0
***
*Nóng Hổi: Lý Do ít ai biết, Hoàng Duy Hùng từ người chống cộng thành lưu manh bưng bô cho VC ?

***
*DỊCH TRỞ CỜ: NGUYỄN THANH TÚ LẠI CHỬI CĐNVTNHNXin báo động khẩn cùng quý bà con cô bác, tên Việt gian Nguyễn Thanh Tú vừa tát vào mặt cộng đồng người Việt hải ngoại để “mừng” ngày 30 tháng Tư, 2020, mà chúng gọi là ngày “thống nhất đất nước”.

***
*Must see …Doctor – Catholic Priest Anthony Phạm-Hữu-Tâm / New-York Hospital.Xin cúi đầu Cám-Ơn người Tu-Sĩ, đương kiêm nhiệm là một Bác-Sĩ tình nguyện đã và đang Chiến-Đấu nơi tuyến đầu, nơi hiểm nguy nhất hiện nay; Để cứu người tại New-York / American.Nguyên do từ: China-Wuhan Coronavirus, đã và đang hoành hành nhân loại trên toàn cầu.

***
Bỏ tù Hillary Clinton & Obama vì tội phản quốc

***
*Cô bé Mỹ gốc Việt thắng giải World Junior Championship 2020 ….
Avonley NGUYEN / Vadym KOLESNIK USA Free Dance 2020 World Junior Championships

***
*NHỮNG BÀI QUAN TRỌNG CẦN ĐỌC

*GIÁO SƯ GORDON CHANG CẦN MỘT PHIÊN TÒA XỬ TCcủa hãng tin Daily Beast, các lãnh đạo TC cần phải đối mặt với các phiên tòa tương tự như phiên tòa Nuremberg với tội danh ‘Tội ác chống lại loài người’ vì đã khiến dịch virus Vũ Hán bùng phát và lan rộng trên toàn cầu, Breitbart đưa tin.
Được biết, tòa án Nuremberg là các phiên tòa quân sự do lực lượng Đồng Minh tổ chức dưới luật pháp quốc tế và luật chiến tranh sau Thế Chiến thứ hai nhằm truy tố tội ác chiến tranh, thảm sát các nhân vật chủ chốt của Đức quốc xã.
Trong cuộc trò chuyện trên Breitbart News Tonight, Giáo sư Chang còn nhận định sự bùng nổ của dịch virus Vũ Hán là cái giá phải trả khi giao thiệp làm ăn với Trung Quốc.
Mỹ hiện đang là quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất thế giới do dịch viêm phổi Vũ Hán. Có bình luận cho rằng mối quan hệ về chính trị, kinh tế cùng các lĩnh vực khác giữa ĐCSTQ và nước Mỹ chính là yếu tố trọng yếu gây nên hiện trạng này.
Một bài viết đăng trên tờ New York Times gần đây cho biết, ít nhất 430.000 hành khách đã bay trực tiếp từ Trung Quốc đến Mỹ sau khi dịch Vũ Hán bùng phát tại đại lục vào cuối tháng 12/2020, trước khi Tổng thống Donald Trump ban bố lệnh giới hạn đi lại.

Theo ước tính của giới chức y tế Mỹ, hơn 25% số người nhiễm virus Vũ Hán không có biểu hiện triệu chứng nhiễm virus, do đó các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm nghi ngờ khả năng virus Vũ Hán đã lây lan trên diện rộng suốt nhiều tuần trước khi ca đầu tiên ở Mỹ được ghi nhận tại bang Washington vào ngày 20/1.
Hiện bang New York đang là tâm dịch viêm phổi Vũ Hán ở Mỹ với 202.208 ca nhiễm tính đến ngày 15/4, chiếm hơn 33% tổng số ca của cả nước. Và ĐCSTQ cũng là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của bang này.
Ngoài ra, những nước đang có tình hình dịch Vũ Hán nghiêm trọng trên thế giới như Italy, Tây Ban Nha, Anh, Iran… đều là những đối tác chủ chốt của ĐCSTQ trên trường quốc tế.
Vì những mối nguy cơ tiềm ẩn khi hợp tác cùng Trung Quốc, Giáo sư Chang đã kêu gọi nước Mỹ cần có sự phân tách về kinh tế với chính quyền Bắc Kinh.
“Cuối cùng, chúng ta phải tách biệt với Trung Quốc. Quá trình này sẽ đau đớn và khó chịu. Nhưng chúng ta đã phải làm điều này rồi. Chúng ta không thể thay đổi chế độ Cộng sản Trung Quốc, và họ đã mang lại ảnh hưởng chết chóc đối với chúng ta”, ông Chang nói.
Ông Chang nhận định rằng nước Mỹ và các chế độ dân chủ sẽ biến mất và người dân các quốc gia sẽ không còn quê hương nữa nếu tham vọng bành trướng quyền lực của Bắc Kinh thành công. Và để tránh thảm cảnh không mong muốn này thì phải lập tức cắt đứt quan hệ với Bắc Kinh.
“Hãy nhìn những gì Bắc Kinh đã làm. Khi điều này kết thúc, nếu mô hình dự đoán của Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhà Trắng về virus Vũ Hán là đúng, chúng ta sẽ mất 100.000 người Mỹ. Và đây là cái giá không thể chấp nhận được. Đây là điều không thể đo đếm được bằng tiền”, ông Chang nói.
Nhà bình luận cũng chỉ ra rằng Mỹ và thế giới đã mất hàng nghìn tỷ và nghìn tỷ USD sản lượng kinh tế và sắp phải chịu tổn thất nhiều hơn nữa. Ông khẳng định rằng cái giá phải trả cho việc thân với Trung Quốc không gì ngoài việc tự biến bản thân thành gánh nặng và thế hệ tương lai sẽ phải chịu cảnh nợ nần. Ông Chang kết luận: “Những hậu quả đó không hề rẻ. Người mỹ đã trả giá bằng máu của mình.”
Nguồn: tinhhoa
***
*CHIẾN LƯỢC CẤY NHỘNG ĐỎ
Kinh nghiệm bẻ gãy chiến lược cấy nhộng tinh vi của Việt cộng

Tran Hung

Tại sao Thục Phán An Dương Vương mất nước bởi Triệu Đà ? Tại vì An Dương Vương dính kế độc “cấy nhộng” của Triệu Đà qua việc gả con gái của mình là Mỵ Châu cho con trai của Triệu Đà là Trọng Thủy.

Tại sao nhà Lý của Đại Việt đại thắng quân Nam Tống trên đất Tống ? Tại vì nhà Lý thành công trong chiến lược gài gián điệp trong đất Tống.

Tại sao Chiêm Thành cắt đất dân cho nhà Trần ? Tại vì nhà Trần đã hy sinh Công chúa Huyền Trân khi gả bà ta cho vua Chiêm Thành.

Tại sao quân lực Việt Nam Cộng Hòa có Lục quân và Không quân đứng thứ 4 thế giới, Hải quân đứng thứ 9 thế giới. So với đối thủ là cộng sản Bắc Việt và cộng phỉ Nam Việt thì Quân lực Việt Nam Cộng Hòa có ưu thế gấp 2 lần về quân số, gấp 4 lần về chiến xa và đại bác, hơn tuyệt đối về Không quân và Hải quân nhưng lại thua Việt cộng? Tại vì Việt Nam Cộng Hòa bị dính đòn “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ngay trong đất nước của mình và thua tức tưởi trên đại lộ New York bởi lực lượng phản chiến, bởi đảng Dân chủ thân cộng sản.

Nói như vậy để thấy rằng quân đông chưa chắc đã mạnh, binh tinh nhuệ chưa chắc đã thắng mà yếu tố quyết định còn phụ thuộc vào nghệ thuật tình báo, gián điệp gọi chung là “nghệ thuật cấy nhộng”.

Gián điệp không đơn lẻ chỉ là gián điệp quân sự mà nó là một sự tổng hợp của mọi phương diện với mục đích nắm được chiến lược, sách lược của đối phương để có giải pháp ứng phó thích hợp, kịp thời và hoạch định những chiến lược phản công phủ đầu, ngăn chặn từ xa những âm mưu tiềm năng của đối phương.

Hôm nay xin đơn cử một kinh nghiệm điển hình qua nhân vật NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh để từ đó phác họa bức tranh toàn cảnh về chiến lược cấy nhộng của Việt cộng hòng xóa bỏ hoàn toàn tinh thần DIỆT CỘNG của người Việt Nam.

Có nhiều người đã biết chồng sau của NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh chính là Lê Doãn Hưng, một tên an ninh được Việt cộng đưa vào làm nhiệm vụ “chống phản động” dưới cái mác ký giả về môi trường, một lãnh vực liên quan trực tiếp tới việc Việt cộng mở cửa rước Tàu cộng qua Việt Nam để đầu độc người Việt Nam bằng những cỗ máy giết người là những nhà máy, dự án tàn phá môi trường sống như bauxite Cao nguyên, Formosa, các nhà máy luyện thép, các nhà máy sản xuất hóa chất, nhà máy nhiệt điện than,… đồng hồ cũng liên quan tới lãnh vực cướp đất gây ra dân oan của Việt cộng.

Những năm từ 2010 trở về trước, thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa nơi NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cư trú là một trong những đích ngắm ưu tiên của Tàu cộng để làm nền cho việc Tàu cộng tung ra yêu sách đường lưỡi bò nuốt trọn Biển Đông vì Khánh Hòa có huyện đảo Trường Sa, có quân cảng và phi trường Cam Ranh, là trung tâm của sở chỉ biết của Tư lịnh vùng 4 Hải quân và cũng là đầu mối giao tông kết nối với Cao Nguyên Trung phần qua Quốc lộ 26 nối Nha Trang với Buôn Ma Thuột.

Nhận thức rõ tầm quan trọng về mặt địa chiến lược của Nha Trang, Việt cộng và Tàu cộng (sau đây gọi tắt là song cộng) đã tiến hành cử tuyển trạch viên về đây chiêu mộ “gián điệp quần chúng” và tên Lê Doãn Hưng được giao nhiệm vụ này. Khoảng năm 2010, Lê Doãn Hưng đã vào Nha Trang và sau khi sưu tra danh sách các ứng viên sáng giá cho nhiệm vụ “gián điệp quần chúng”, NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là ứng viên được Lê Doãn Hưng chấm điểm và chọn lựa.

Mùa Hè năm 2011, khi phong trào Mùa Xuân Ả Rập bước vào giai đoạn cao trào thì song cộng tiến hành một cuộc diễn tập quy mô lớn để vừa thử nghiệm kháng sinh trước căn bịnh Mùa Xuân Ả Rập và để “khoanh vùng dập dịch” được biết đến với tên gọi mỹ miều là “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011 tại Việt Nam”.

Lực lượng tham gia “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011 tại Việt Nam” rất đông đảo, từ các trí thức, nhân si, tới nhà cách mạng lão thành, các tướng lãnh, si quan trung, cao cấp hưu trí, các cựu quan chức, viên chức chánh phủ trung, cao, cho tới những trí thức có học vị, chức danh giảng dạy cao cấp, như các Giáo sư, Viện si, Tiến si,… đã, đang làm việc trong các ngành giáo dục, nghiên cứu, chính sách v.v… hoặc các cơ quan công quyền trong chính hệ thống quyền lực của nhà nước Việt cộng, của đảng cộng sản,…

Nguyên nhân nổ ra “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011” là việc song cộng diễn tuồng để kích hoạt sau các sự kiện tàu của Tàu cộng cắt cáp, tấn công và đe dọa tàu dân sự Việt Nam hôm 26/5/2011 tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền lâu nay của mình.

Hòa với “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011”, sau khi được chồng hờ Lê Doãn Hưng tuyển mộ, đào tạo, NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bay ra Hà Nội tham gia đợt biểu tình thứ 9 vào ngày 07/8/2011. Điều bất thường là tại lần biểu tình này, các nhơn vật hiện nay rất đình đám trong cái gọi là đấu tranh dân chủ, tiếng nói dân oan,… là các FBker, Bloger hiện nay như Lê Dũng Vo Va, Người Buôn Gió,… vào hôm đó đã cùng NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh biểu tình và trên ngực áo của tụi nó đều có gắn logo cờ máu để làm ám hiệu giúp côn an, an ninh phân biệt được “địch – ta”. Đặc biệt là tại cuộc biểu tình hôm đó, Việt cộng lại bật đèn xanh cho phép biểu tình mà không đàn áp, ngăn cản biểu tình.

Cuối cùng thì sau các đợt biểu tình của “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011”, phe ta (ở đây là phe của Việt cộng), đứa thì bị bắt để đưa vào tù đào tạo lại chuyên môn, đứa nào đủ điều kiện sau cuộc diễn tập thì được sắp xếp chạy trốn ra nước ngoài để tiếp tục làm chim mồi nhưng phe địch (phe thực tâm biểu tình để mong lật đổ, tiêu diệt Việt cộng) thì khốn đốn với bọn an ninh và đã phải ký cam kết riêng với an ninh là không dám tái phạm, với những người ngoan cường thì bị mất sức chiến đấu nên giã từ cuộc chiến vì do bị tai nạn lãng nhách dẫn tới thương tật, do bịnh hiểm nghèo, do bị mất việc dẫn đến khó khăn về kinh tế phải lo cày kiếm cơm,….

Sau khi NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh diễn tập thành công tại “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011” thì cháu Gấu tức Lê Doãn Nhật Minh, con trai của tên an ninh Lê Doãn Hưng được NÚM ĐỘC hạ sanh vào năm 2012. Lúc này phong trào biểu tình ở Việt Nam tắt hẳn dù hiệu ứng của cuộc cách mạng hoa Nhài – Mùa xuân Ả Rập vẫn lan tỏa khắp nơi. Phong trào biểu tình chỉ bù lại sau đó vào tháng 5/2014 khi song cộng tiếp tục diễn tuồng qua vụ khoan dầu Hải Dương Thạch Du 981 của Tàu cộng định vị ở vị trí cách đảo Tri Tôn (quần đảo Hoàng Sa) 17 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông vào ngày 01/5/2014 nhưng sau đó cũng tắt lịm như “Phong trào chánh trị – xã hội mùa Hè 2011”.

Vào năm 2016, khi phong trào biểu tình phản đối Formosa nổ ra khắp cả nước, lúc này con trai của NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh với an ninh Lê Doãn Hưng đã được 04 tuổi, NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh mò vào Sài Gòn tham gia biểu tình trong vai trò điểm chỉ viên, sau đó ả được an ninh Khánh Hòa cho xe vào hộ tống về Nha Trang. Ngày 10/10/2016, NÚM ĐỘC được Việt cộng gia tăng đắp tượng bằng việc bắt và khởi tố với tội danh theo điều 88 khoản 1 và được tòa sơ thẩm kết án 10 năm tù. Ngày 30/11/ 2017 tòa phúc thẩm tuyên án giữ nguyên án tù 10 năm của tòa sơ thẩm.

Trong thời gian NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được Việt cộng nâng cao kiến thức nằm vùng trong tù thì bên ngoài mà đặc biệt là tại tổ chức Việt Tân, một tổ chức được Việt cộng dựng lên để giữ đảng từ xa đã tích cực vận động cho NÚM ĐỘC đoạt giải Tự do Báo chí Quốc tế 2018 của Ủy ban bảo vệ các nhà báo (CPJ) và có mặt trong danh sách đề cử giải Nobel Hòa bình năm 2018. Ngày 17/10/2018, NÚM ĐỘC đã được Việt cộng bán qua Mỹ cùng mẹ và hai con.

Ai đã hà hơi tiếp sức cho việc Việt cộng cấy nhộng đỏ NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh qua Mỹ thành công? Đó chính là Việt Tân và những tên Việt cộng nằm vùng ở hải ngoại đã hợp sức thổi phồng hình ảnh của NÚM ĐỘC với những cái tên như Trịnh Hội, Vũ Đông Hà, Mã Tiểu Linh, Trần Nhật Phong, Trương Quốc Huy,…

Qua nhơn vật NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bức tranh vân cẩu phác họa CHIẾN LƯỢC CẤY NHỘNG của Việt cộng đã bộc lộ theo chiêu thức “PR – tung hứng – vận động – có các giải thưởng quốc tế về dân chủ, nhơn quyền” sau đó trở thành tượng đài dân chủ uy nguy để xóa hết tinh thần DIỆT CỘNG từ hải ngoại vào quốc nội với một chiến lược rất tinh vi có sự tham dự, hỗ trợ đắc lực của Việt cộng trong nước và Việt hải ngoại.

Lê Doãn Hưng là chồng sau của NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, là đồng chí chung nhiệm vụ cấy nhộng với tên đại tá quân đội Việt cộng là Nguyễn Văn Minh. Từ tên an ninh Việt cộng là Lê Doãn Hưng chồng sau của NÚM ĐỘC sẽ giúp quý vị liên tưởng đến việc tại sao ả NÚM ĐỘC liên tục phỉ báng tổng thống và ả ca sĩ Vẹm Mai Khôi thì đòi đái vào mặt ông Trump. Bởi vì chúng cùng nhiệm vụ giữ đảng từ xa. Vẹm cái Mai Khôi được nhạc si Tuấn Khanh ra mặt bảo vệ tới cùng về hành vi xấc láo của ả ta. Vẹm cái Mai Khôi từng diện kiến Obama và rất tích cực vận động cho “nhơn quyền” Việt Nam.

Tóm lại, những cái tên như NÚM ĐỘC Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Phạm Đoan Trang, thằng Buôn Gió, Lê Dung Vo Va… và đám hùa theo bảo vệ cho tụi này đều là đám chim mồi Việt cộng do Việt cộng dựng lên để giữ đảng từ xa. Tuy có lúc chúng nó giả đò tố nhau cho thiên hạ thấy chúng ta khác màu lông, giọng hót nhưng về bản chất thì chúng cùng chung một nhiệm vụ là làm chim mồi cho Việt cộng để giữ đảng từ xa.Tran Hung
***
*Truy cứu trách nhiệm dịch bệnh, Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đưa ra 10 sách lược đánh thẳng vào tử huyệt của ĐCSTC.
Vũ Dương

Thượng nghị sĩ Mỹ Tom Cotton
Ngày 10 tháng 4, Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Tom Cotton đã đăng tải một bài viết có tiêu đề “Coronavirus – Làm thế nào để khiến Trung Cộng trả giá cho đại dịch COVID-19” trên trang Fox News.
Ở phần đầu của bài viết ông Tom Cotton chỉ ra rằng, tại thời điểm khi mà đại dịch virus ĐCSTQ (viêm phổi Vũ Hán) đang lan rộng, nhiệm vụ chính phải được ưu tiên hàng đầu với các quốc gia là ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh để đảm bảo an toàn sức khỏe và tính mạng cho người dân. Sau khi tình hình dịch bệnh dịu bớt lại, “ưu tiên tiếp theo của chúng ta là truy cứu trách nhiệm của ĐCSTQ vì đã gieo rắc dịch bệnh này trên khắp thế giới”.
Sau đó, ông Tom Cotton đã lập một chuỗi danh sách các tội ác của ĐCSTQ trong lần đại dịch này.
Tội ác của ĐCSTQ: Trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Khi dịch bệnh chết người bùng phát ở Vũ Hán vào cuối năm ngoái, ĐCSTQ không những không đưa ra thông báo kịp thời, ngược lại còn che đậy tình hình dịch bệnh và ra sức trấn áp “những người thổi còi” dũng cảm như bác sĩ Lý Văn Lượng. Đồng thời, ĐCSTQ còn tiêu hủy các mẫu vật trợ giúp điều tra về nguồn gốc của virus và đóng cửa phòng thí nghiệm trước đó chia sẻ trình tự gen của virus trên Internet.
Đối với người dân Trung Quốc và người dân thế giới mà nói, mãi cho đến giữa tháng 1 năm nay ĐCSTQ mới bắt đầu thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus nhưng đã quá chậm trễ vì đã để vụt mất cơ hội vàng. Tiếp theo, các quan chức của ĐCSTQ đã thực hiện các biện pháp hà khắc vô nhân đạo, ví như phong tỏa cửa nhà của người dân để kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, mặc kệ người dân sống chết.
Thượng nghị sĩ Tom Cotton trích dẫn một báo cáo nghiên cứu từ trường đại học Southampton rằng nếu ĐCSTQ công khai đưa ra phương sách ứng phó trước đó một tuần, số ca lây nhiễm trên thế giới có thể giảm đến 2/3; còn nếu trước ba tuần sẽ có thể tránh được 95% trường hợp lây nhiễm.
Tuy nhiên, ĐCSTQ lại quan tâm đến việc “giữ thể diện” của bản thân hơn là chống lại virus để cứu lấy tính mạng người dân. Ngay sau khi dịch bệnh bùng phát không lâu, ĐCSTQ đã phát động một cuộc chiến quy mô trên các phương tiện truyền thông và tìm kiếm sự ủng hộ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong chiến dịch tuyên truyền.
Gần đây, đại chiến truyền thông của ĐCSTQ đã bước vào một lĩnh vực mới – rũ bỏ trách nhiệm của mình. Tháng trước, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ám chỉ rằng quân đội Hoa Kỳ đã mang virus đến Vũ Hán.
“Chúng ta không nên để ĐCSTQ rũ bỏ trách nhiệm gây ra trận đại dịch lần này, chúng ta cũng không nên để mình trở thành nạn nhân (bị ĐCSTQ bôi nhọ) thêm một lần nào nữa”, ông viết.
“Trước hết, điều này có nghĩa là chúng ta không chỉ nên xem đại dịch này là một cuộc chiến với mầm bệnh chết người, mà còn là chiến tranh truyền thông với ĐCSTQ”, ông nói.
Sau đây là 10 chiến lược hàng đầu được ông đưa ra để truy cứu trách nhiệm của ĐCSTQ. Trong đó 5 phương án sẽ được áp dụng ở Mỹ và 5 phương án sẽ được áp dụng ở cộng đồng quốc tế.
Năm phương án đối phó với ĐCSTQ được thực thi ở Mỹ
Thứ nhất, mặc kệ chiêu trò đổi trắng thay đen cũng như những ngụy biện đánh lừa dư luận của ĐCSTQ, đặc biệt là những cáo buộc chỉ trích chính phủ Tổng thống Trump gọi mầm bệnh gây ra đại dịch là virus ĐCSTQ, cho đó là tâm lý căm thù nước ngoài hoặc phân biệt chủng tộc của Mỹ.
Thứ hai, chính phủ Hoa Kỳ phải điều tra các quan chức ĐCSTQ đã che đậy dịch bệnh và áp dụng các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với họ. Ông nói rằng ông và Thượng nghị sĩ Josh Hawley vào cuối tháng 3 đã đề xuất một dự luật yêu cầu trừng phạt các quan chức nước ngoài có liên quan đến việc đàn áp hoặc bóp méo thông tin về khủng hoảng y tế cộng đồng.
Thứ ba, hạn chế các cơ quan tuyên truyền của ĐCSTQ (như các kênh truyền thông chính thức của ĐCSTQ và Viện Khổng Tử) truyền bá thông tin sai lệch ở Hoa Kỳ.
Thứ tư, đổi tên đường phố nơi đại sứ quán Trung Quốc đang đóng trụ sở tại Washington thành họ tên của những “người thổi còi” dũng cảm như tên của bác sĩ Lý Văn Lượng, để các nhân viên công tác trong đại sứ quán Trung Quốc mỗi ngày đi làm đều phải đối mặt với tên của các nạn nhân lương tâm đã bị ĐCSTQ bức hại.
Thứ năm, chúng ta cần phải ghi chép tường tận chi tiết về sự lây lan liên quan đến đại dịch “viêm phổi ĐCSTQ” một cách chân thật trong tư liệu lịch sử và chắc chắn ĐCSTQ sẽ phải trả giá đắt cho sự bất trắc của mình.
Năm cách đả kích ĐCSTQ trong cộng đồng quốc tế
Thượng nghị sĩ Tom Cotton còn chủ trương rằng nếu trận đại dịch này đã phơi bày tất cả, Hoa Kỳ cần phải có những hành động ngay lập tức để thay đổi vị thế của ĐCSTQ trong cộng đồng quốc tế, bao gồm:
Thứ nhất, hạ thấp vị thế của ĐCSTQ trong các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và các cơ quan đánh giá tiêu chuẩn kỹ thuật.
Thứ hai, vì ĐCSTQ đe dọa cắt đứt nguồn cung cấp vật tư y tế mà Hoa Kỳ rất cần trong giai đoạn dịch bệnh hoành hành, Hoa Kỳ nên kiện ĐCSTQ lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hủy bỏ những đãi ngộ thương mại đặc biệt mà Hoa Kỳ cấp cho ĐCSTQ.
Thứ ba, tiêu giảm ảnh hưởng của ĐCSTQ đối với WHO, ví như chức vụ của các quan chức WHO mà thân ĐCSTQ như Bruce Aylward phải do một quan chức công bằng chính trực đảm nhiệm.
Thứ tư, cần ủng hộ… và ủng hộ Đài Loan gia nhập WHO. Dưới sự khăng khăng của ĐCSTQ mãi cho đến nay Đài Loan vẫn chưa gia nhập được WHO, nhưng trong việc ứng phó với thảm họa đại dịch lần này, biểu hiện của Đài Loan đã vượt trội so với các nước khác.
Thứ năm, chiến lược quan trọng nhất để đáp trả ĐCSTQ là triệt tiêu chuỗi cung ứng hàng hóa của Trung Quốc, bao gồm chuỗi cung ứng thuốc men, mặt nạ phòng độc và các mặt hàng trọng yếu mang tính chiến lược khác. Giờ đã đến lúc Hoa Kỳ phải đặt dấu chấm hết về việc lệ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc, bắt đầu gây dựng lại năng lực sản xuất trong nước.
“Cuộc khủng hoảng lần này đã chứng minh rằng chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc là khổ nạn thảm khốc, người dân Trung Quốc và thế giới đang phải chịu đựng nỗi đau mà nó mang lại”, phần cuối của bài ông Cotton viết rằng: “Chúng ta cần phải ứng phó với ĐCSTQ hệt như ứng phó với bất cứ mầm bệnh quái ác nào: Tích cực ứng phó ngay… và ngay lập tức”.
Vũ Dương dịch và biên tập
***
*CHUYỆN KHÓ TIN MÀ CÓ THẬT
(Vũ Linh)

Đầu năm 2009, CIA nộp cho tân TT Obama một báo cáo đặc biệt, trình bày một viễn tượng của thế giới vào năm2025. Việc làm bình thường của CIA mỗi khi có tân tổng thống, trình cho tân tổng thống một bức tranh tổng thể đường dài giúp ông đề ra sách lược kinh bang tế thế.
Báo cáo này được một tác giả người Pháp tên là Alexandre Adler viết lại bằng tiếng Pháp. Rất tiếc kẻ này không tìm được nguyên bản báo cáo tiếng Anh của CIA.
Chuyện thật lạ lùng, không bình thường chút nào là báo cáo đã tiên đoán việc sẽ xẩy ra đại dịch mà ta đang thấy.
Kẻ này xin được lược dịch vài đoạn đáng suy nghĩ chứ không thể dịch nguyên văn vì nhiều danh từ y khoa chuyên môn mà kẻ này mù tịt không biết dịch:
“Sự xuất hiện của một bệnh về phổi, thật mạnh, cực dễ lây lan, mà người ta không có thuốc chữa trị, có thể sẽ gây ra đại dịch toàn cầu. …
Sự xuất hiện của đại dịch tùy thuộc vào sự biến thể tự nhiên, vào sự tái phối hợp của vài mầm bệnh hiện đã có, hay sự xuất hiện của mầm bệnh mới. Các chuyên gia nhìn thấy bệnh cúm gia cầmH5N1 có thể sẽ trải qua biến thể đó, cũng như bệnh cúm từ vi khuẩn coronavirus của SARS và các bệnh cúm khác với cùng đặc điểm.
Nếu một đại dịch xẩy ra, có lẽ sẽ phát tác ra từ một vùng với mật độ dân số cao, nơi mà người và thú vật sống gần nhau, như tình trạng hiện nay tạiTrung Quốc và Đông Nam Á, là nơi dân chúng sống trong nghề chăn nuôi. Việc chăn nuôi theo truyền thống cổ truyền không có luật lệ quy củ giúp vi khuẩn giống nhưH5N1 di chuyển giữa các con vật chăn nuôi, gia tăng khả năng biến thể của mầm bệnh, đưa đến đại dịch. Muốn phát triển nhanh, chỉ cần bệnh dịch phát tác trong một môi trường đông dân cư.
Trong kịch bản đó, bệnh dịch sẽ không được nhận dạng sớm từ xứ gốc là xứ không có phương tiện phát hiện đầy đủ. Phải mất nhiều tuần các phòng thí nghiệm mới cung cấp được những kết quả chắc chắn xác nhận sự hiện diện của một bệnh có thể biến thể thành đại dịch.. Trong khi đó, nhiều ổ bệnh sẽ phát triển trong các thành phố Đông Nam Á. Bất kể những biện pháp giới hạn các di chuyển quốc tế, những hành khách không có hay có ít triệu chứng có thể mang theo vi khuẩn qua các lục địa khác.
Những người bệnh sẽ mỗi ngày mỗi nhiều, những ca mới sẽ xuất hiện mỗi tháng. Việc không có thuốc ngừa hữu hiệu sẽ mang rủi ro lây bệnh lại cho dân cả thế giới. Trong trường hợp tệ hại nhất, sẽ có cả trăm triệu dân Âu Tây bị nhiễm, với cả chục triệu người chết. Trên thế giới còn lại, sự sa sút của hệ thống hạ tầng y tế và những thiệt hại kinh tế sẽ khiến một phần ba dân số thế giới bị nhiễm và cả trăm triệu người chết”.
Bỏ qua những kết luận cuối cùng nghe quá kinh hồn, phần trên đã hết sức chính xác, chính xác đến mức lạnh người luôn, khi mô tả vi khuẩn mới tấn công thế giới có thể là “coronavirus từ SARS” biến thể ra,phát xuất từ Tầu, và sẽ được khách du hành quốc tế không có triệu chứng bệnh, mang ra khắp thế giới.
Hình như báo cáo này, TT Obama đã không đọc, hay có đọc cũng chẳng có biện pháp nào. Ở đây ta cũng cần ghi nhận là ngay sau khi TT Obama nhận được báo cáo này thì Mỹ đã bị vi khuẩn cúmH1N1 tấn công tháng 4/2009, khiến 60 triệu người bị nhiễm với hơn 12.500 người chết, mà TT Obama im re không có phản ứng gì cho tới tháng Mười, tức là 6 tháng sau mới ban bố tình trạng khẩn trương. Bây giờ, TT Trump ban bố tình trạng khẩn một tháng sau khi COVID tấn công, họp báo mỗi ngày, vẫn bị chửi là lơ là.
Cuốn sách của ông Adler đang được lùng mua. Trên Amazon, đã có người rao bán với giá hơn200 đô trong khi trước đây, bán dưới 10 đô không ai mua.
***
*Bill Gates người giàu nhất thế giới bán mình cho Trung cộng từ khi nào
fb :Minh Phạm ! Z.

Hồ sơ Gates of Hell.

Kỳ 1: Bill Gates đã quỳ gối trước Trung Quốc như thế nào?

William Henry Gates III, hay Bill Gates lừng danh, bỗng xuất hiện đình đám trong thời gian gần đây, như một “đấng cứu thế” giữa tâm bão của đại dịch Chinese virus, với lời hứa hẹn về 7 nhà máy sản xuất vaccine.

Bill xuất hiện trên Fox News để khuyên bảo người Mỹ cách sống sót. Bill lên sóng CNBC để thảo luận khi nào thì nên mở cửa lại nền kinh tế. Bill viết bài cho Washington Post để chỉ dẫn các quan chức chánh phủ phải nói gì và làm gì.

Từ khi nào Bill Gates, một trong những người giàu nhứt thế giới với tài sản hơn 100 tỷ USD, hầu như cả đời kiếm tiền thông qua các chương trình nhu liệu điện toán của Microsoft, lại trở thành một chuyên gia về dịch tễ, miễn dịch học và vaccine?

Sự giàu có không biến Bill Gates thành chuyên gia của tất cả mọi thứ, nhưng đủ để mua sức ảnh hưởng và thu hút sự chú ý của công luận. Anh ta nói về đặc tính và sự nguy hiểm của Coronavirus. Còn những gì anh ta không nói, hay cố tình không nói?

Trong một cuộc thảo luận trên Reddit, Bill từ chối bắt buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về việc tuyên truyền, thông qua Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rằng virus này không thể lây truyền từ người sang người. Ngược lại, anh ta đã ca ngợi Trung Quốc về cách phản ứng và đối phó với dịch bịnh, và kêu gọi không nên định danh Chinese virus. Bill rõ ràng cảm thấy khó chịu về tên gọi đó.

Trong cuộc phỏng vấn với Đài phát thanh truyền hình trung ương Trung Quốc (CMG) ngày 9/4 vừa qua, Bill Gates một lần nữa đánh giá cao thành quả chống dịch của Trung Quốc: “Tổng số ca nhiễm Covid-19 tại Trung Quốc, đặc biệt là ở Vũ Hán, hiện nay đã rất thấp. Đây là tin tức tốt.”

Trong khi cả thế giới hoài nghi về độ trung thực và tính minh bạch trong báo cáo số liệu của chánh quyền Bắc Kinh thì Bill Gates lại tin tưởng vô điều kiện. Không những vậy, anh ta còn khích lệ: “Tôi tin rằng trong thời gian cách ly, mọi người đã trải nghiệm nhiều khó khăn. Chúng ta nên chúc mừng họ. Biện pháp cách ly đã thu được hiệu quả rất tốt, do đó hiện nay mới có không gian để cân nhắc khôi phục hoạt động làm việc và học tập [tại Trung Quốc].”

Nhà sáng lập Microsoft đánh giá tích cực các biện pháp chống dịch của Trung Quốc, ca ngợi kinh nghiệm ứng phó Covid-19 của nước này có thể cung cấp một “mô hình phòng chống”, ít nhứt là cho các nước giàu tương đương hoặc hơn Trung Quốc. Bill Gates nhận định Trung Quốc có thể đóng vai trò tích cực hơn nữa trong công cuộc hợp tác quốc tế ứng phó dịch bịnh trong tương lai!

Really, Bill? Anh thực sự mong muốn việc bịt miệng bác sỹ cảnh báo, đàn áp ký giả độc lập, dập tắt tiếng nói phản biện trở thành một “mô hình phòng chống”? Anh nghiêm túc kỳ vọng một chánh quyền giả dối số liệu, che đậy sự thật, ngăn chặn chuyên gia nước ngoài tới thị sát và giúp đỡ, cố tình phát tán virus ra toàn thế giới khiến nó trở thành đại dịch giết chết hàng trăm ngàn người, đóng vai trò tích cực trong hợp tác quốc tế phòng chống dịch?

Ở phía ngược lại, không hề ngạc nhiên khi ngày 21/2/2020, Tập Cận Bình viết thư cảm ơn Bill Gates vì đã hào phóng đài thọ tiền bạc cho Ủy ban Y tế quốc gia và Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bịnh của Trung Quốc. Trong nhiều năm, quỹ Bill & Melinda Gates Foundation đã và đang tích cực hợp tác với Bộ Khoa học và Kỹ nghệ Trung Quốc để nghiên cứu các sản phẩm y tế và nông nghiệp, như vaccine hay hạt giống biến đổi gene.

Bill Gates là quản trị viên danh dự của Đại học Bắc Kinh, ngoài ra còn được trao bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Thanh Hoa – vị tiến sĩ danh dự thứ 13 trong 82 năm lịch sử của ngôi trường lừng danh nhứt Trung Quốc. Vị tỷ phú nước Mỹ có quá khứ lâu dài gắn bó với Trung Quốc và mối giao hảo thâm tình với nhiều thế hệ lãnh đạo Bắc Kinh.

Năm 1992, văn phòng đại diện đầu tiên của Microsoft tại Bắc Kinh do chính giám đốc điều hành Bill Gates khánh thành, đánh dấu bước chân đầu tiên của tập đoàn này vào thị trường Trung Quốc.

Năm 2003, Microsoft đã trao cho Trung Quốc, cùng với 59 quốc gia, quyền tiếp cận bộ mã nguồn căn bản của hệ điều hành Windows và cho phép họ thay thế một số phần trong Windows bằng nhu liệu của chính Trung Quốc – một việc làm chưa từng có tiền lệ của Microsoft. Sau đó, Trung Quốc đã sử dụng chương trình của Windows trong các hệ thống hỏa tiễn.

Năm 2005, một scandal nổ ra khi Microsoft đóng một trang nhật ký điện tử cá nhân (weblog) của một nhà bất đồng chánh kiến Trung Quốc đặt trên máy chủ MSN Space của Microsoft, rồi sau đó Microsoft liên kết với một công ty quốc doanh để thiết lập dịch vụ MSN ở Trung Quốc. Mối quan hệ khăng khít giữa Microsoft và chánh phủ Trung Quốc đã làm dấy lên nhiều ý kiến phê phán tại Mỹ.

Mùa xuân năm 2006, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã đến thăm tổng hành dinh tập đoàn Microsoft rồi ăn tối tại tư dinh của Bill Gates ở Mỹ. Hồ nói với Bill: “Ông là bạn của nhân dân Trung Quốc, còn tôi là bạn của Microsoft”.

Năm 2007, Quỹ Bill & Melinda Gates Foundation mở cửa văn phòng tại Trung Quốc, với tuyên bố công khai “tập trung vào việc khai phá tiềm năng [như một chất xúc tác cho sự phát triển toàn cầu] theo cách có lợi cho Trung Quốc và phần còn lại của thế giới. Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi tiếp tục hỗ trợ Trung Quốc vượt qua các thách thức trong nước, thúc đẩy năng lực đổi mới ngày càng tăng của Trung Quốc để cung cấp các sản phẩm y tế phẩm chất cao, giá cả phải chăng cho những người có nhu cầu và hỗ trợ Trung Quốc trở thành đối tác mạnh mẽ hơn cho sức khỏe và sự phát triển toàn cầu.”
Năm 2011, công ty TerraPower – do Bill Gates sở hữu phần lớn cổ phần – hợp tác với Tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC) để liên doanh chế tạo lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới.

Đầu năm 2015, Microsoft đã được tạp chí Fast Company trao tặng giải thưởng “Top 10 công ty sáng tạo nhứt thế giới năm 2015 tại Trung Quốc” nhờ chiến lược phát triển sản phẩm địa phương và các cam kết giúp đỡ đối tác Trung Quốc, đồng thời được vinh danh là một trong những công ty giúp “tái xây dựng nền kinh tế Trung Quốc” cùng với Alibaba, Tencent, và Baidu.

Cũng trong năm 2015, tới lượt Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm trụ sở Microsoft ở Redmond, Washington.

Năm 2017, Bill Gates được kết nạp làm thành viên trọn đời của Học viện Kỹ thuật Trung Quốc (CAE), một trong những vinh dự cao quý nhứt ở nước này, nhờ dự án hợp tác hạt nhân nói trên. Nên biết, CAE – trực thuộc Hội đồng Nhà nước, cơ quan quản lý hàng đầu của Trung Quốc – đóng vai trò tư vấn cho chánh quyền Bắc Kinh về phát triển kinh tế và xã hội, và các thành viên của nó phải trải qua quá trình kiểm tra lý lịch chánh trị nghiêm ngặt mới được kết nạp.

Năm 2019, tờ Financial Times đưa tin các chuyên gia của Microsoft đang hợp tác với các nhóm nghiên cứu của Đại học Kỹ nghệ Quốc phòng Trung Quốc, cùng làm việc trong các dự án trí tuệ nhân tạo, mà giới quan sát độc lập cảnh báo là nó có thể được chế độ cầm quyền Bắc Kinh áp dụng cho việc giám sát và cai trị công dân nước này.
Với một lịch sử thân Trung cộng như vậy, dễ hiểu vì sao trong đại dịch lần này, Bill Gates hết lòng ủng hộ Bắc Kinh và WHO, cơ quan ngôn luận của Trung Quốc, chấp nhận tuyên truyền giả dối và cổ xúy một tư tưởng bịnh hoạn rằng chế độ cầm quyền Trung Quốc là hình mẫu chống dịch và đối tác tin cậy toàn cầu!

Bill Gates, ẩn đằng sau diện mạo khả kính, đạo mạo, là một Nhạc Bất Quần đúng nghĩa!
#GatesOfHell
https://soha.vn/tu-nhan-vat-kinh-dien-nhac-bat-quan-triet-ly-phan-biet-quan-tu-tieu-nhan-bat-cu-ai-cung-nen-hieu-ro-201710161514332.htm
***
*GIỚI THIỆU NHỮNG THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

*KHIẾT CHÂU*NGUYỄN NHƠN*HỒ CÔNG TÂM*
*TRẠCH GẦM*NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT* Ý NGA*
*ĐOÀN VIẾT HOẠT*ĐỨC HÙNG*LÊ THỊ HOÀI NIỆM
*NHẤT HÙNG*BÍCH TRÂN*M.Đ*TÍM*TRƯƠNG CHI*
*DƯ THỊ DIỄM BUỒN*XUÂN MAI*VIỄN KHÁCH*
*Đ.T*LÝ ĐỨC HUỲNH*MAI XUÂN THANH*
*NGUYỄN THỊ MỸ NGỌC*THÁI HUY*HỒ NGUYỄN*
*PHẠM THỊ MỸ PHƯƠNG*ĐINH THỊ NGỌC TƯỜNG*
*ĐÀO THỊ BÍCH TRÂN*KIỀU PHONG*
****THI SĨ KHIẾT CHÂU NGUYỄN HUY HÙNG
**THI SĨ HỒ CÔNG TÂM & NGUYỄN NHƠN
30 THÁNG TƯ, THƯƠNG VỀ NHỮNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO NĂM XƯA

THÁNG TƯ ĐẦU BẠC
Tháng Tư gấp vội khăn tang
Thấy trang sách cũ hai hàng lệ rơi
Ngó mây nước… dạ rối bời
Đi thời nghẽn lối, ở thời… đắng cay!
Tháng Tư ôi tháng Tư này
Đành thôi gãy súng… trắng tay chẳng ngờ!
Chồng đi cải tạo… Bơ vơ
Vợ nhà tần tảo đợi chờ héo hon!
Tháng Tư đen ngậm bồ hòn
Mất nhau từ đấy… Biển, con sóng gào!
Còn chăng là gió trăng sao
Bể dâu tan tác, non cao hận thù ?!
Tháng Tư buồn thấu thiên thu
Người thua kẻ thắng ngục tù đọa nhau!
Giờ đây mới rõ vàng thau
Thương ai đầu bạc qua cầu… Tháng Tư!
April 16th 2020
Hồ Công Tâm

MÙA ĐÔNG DƯỚI RẶNG TRƯỜNG SƠN
Mùa Đông Trường Sơn
Có nắng vàng hiu hắt
Tiếng tù ca ủ ê
“Suối A mai chảy dài ra Bến Ngọc
Đường ta đi qua Dốc Phục Linh
Đường ta đi, đường nghĩa, đường tình
Đường đi hạnh phúc, chúng mình đấp xây”(*)
Hạnh phúc nào đâu thấy
Những tang thương và tủi nhục
Của người thua trận ngậm ngùi
Đào đấp con lộ ngoằn ngoèo
Lượn quanh chân núi
Để xe trâu đưa đón
Những người vợ tù Miền Nam
Ngàn dặm tìm gặp mặt chồng
“Trèo đèo, vượt suối, sang sông
Gánh gạo nuôi chồng, nước mắt rơi rơi”(**)
Nhìn “những gót chân ngày xa xưa
Sợ lấm trong bùn khi mưa”(***)
Ngày nay đâu còn nữa
Chỉ còn những bàn chân chai sạn
Tảo tần nuôi bầy con nhỏ dại
Chắt chiu chút ít quà
Mỗi năm đôi lần
Gởi bù đắp cho chồng, tù nơi xa
Mùa Đông Trướng Sơn lạnh lắm
Chiếc áo ngự hàn năm cũ
Biết chồng có đủ ấm hay không?

Nguyễn Nhơn

(*) Thiếu tá Đạt, Tiểu khu Bình Tuy
(**) Thơ Bình Dương
(***) Nhạc: Tôi đưa em sang sông
***
*Nhật ký tháng TưTrạch Gầm
Hai mươi tháng Tư tiễn em đi Mỹ
Ta biết dễ dàng mất bé từ đây
Em lên máy bay, ta về đơn vị
Đất Biên Hòa buồn… chết điếng cỏ cây

Hai mốt tháng Tư ta vào Quân Đoàn
Ngồi nghe thuyết trình, nhận lệnh hành quân
Tay áo xăn cao một đời thám kích
“Kiến lửa bu đầy” nhột cả đôi chân

Hai hai tháng Tư… ta vào Đại An
Chứng kiến cảnh dân bỏ xóm bỏ làng
Dân chạy đến đâu… địch bò đến đó…
Đâu được như em chừ đã thênh thang

Hai ba tháng Tư… ta ngược Đồng Nai
Sương ôm mặt sông lau sậy thở dài
Địch xua quân tràn giữa đêm vắng lặng
Ta chỉnh pháo… và thây giặc chồng thây

Ta lạc mấy ngày trong lòng đất địch
Gọi đã khàn hơi chẳng thấy bạn bè
Thằng nào cũng đang giữ từng tấc đất
Đâu có thì giờ để cứu ta ra

Hai tám tháng Tư… ta ra lộ Một
Gặp ông tướng vùng thị sát thăm dân
Ông nói lung tung, ông thề sống chết
Ông nói xong rồi, ông bay biệt tăm

Hai chín tháng Tư… Biên Hòa xơ xác
Ta về Sài Gòn ngang qua nghĩa trang
Ta đứng nghiêm chào bạn ta đã chết
Như tự chào mình – nát cả tim gan.

Ba mươi tháng tư… ta ôm mặt khóc
Trên cầu Saigon cạnh phố Hùng Vương
Mười năm binh đao… mưòi ngày kết thúc
Ta còn nguyên mà…. mất cả quê hương !
*****
*THI SĨ NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT

HAPPY BIRTHDAY MELANIA

ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG
MELANIA

Thượng Đế kỳ công tạo dựng người
Đóa hoa Nhân ái giữa trần ai .
Vô ưu vô ngã đời vô nghĩa
Hương sắc Mela (1) quá tuyệt vời .

Áo mỏng bạch y phủ khoác ngoài
Đôi bờ vai nhỏ dáng liêu trai
Bước đi uyển chuyển ngoài sân cỏ
Nắng mới ru tình say đắm say .

Thế giới ngày nay dễ mấy ai
Sắc hương lổng lẫy lại đa tài
Giúp chồng tát cạn đầm lầy lội
Cứu thoát lương dân thoát lụt trôi.

Tâm niệm hy sinh chẳng ngại ngùng
Tiến lên phía rước diệt thù chung
Thề rằng quyết tử không hèn nhát
Bên cạnh minh quân khích lệ chồng.

Thượng Đế kỳ công tạo dựng người
Đóa hoa Nhân ái giữa trần ai
Vô ưu vô ngã đời vô nghĩa
Hương sắc Mela (1) quá tuyệt vời .

NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT
(1) Melania Đệ Nhất Phu Nhân
***
*NỮ SĨ Ý NGATỪ KHI CỘNG VÀO NAM
Bốn lăm năm, một nỗi buồn
Nỗi dân khốn khổ, nỗi nguồn cội đau!
Bên này tỵ nạn nhắc nhau:
Bên kia Việt Cộng rước vào sài lang!

Cộng Hòa thắng giặc vẻ vang
Ấy thua, ấy thắng rõ ràng cả ra:
Bên nào lạy lục hiến Nhà,
Gây bao thảm cảnh xót xa chia lìa?
Vì đâu nước mắt đầm đìa?
Vì đâu nên nỗi mộ bia chết chùm?

Người đi dẫu được thoát cùm
Chẳng quên người ở: tối um đường cùng!
Ý Nga, 18.4.2020
***
*THI SĨ ĐỨC HÙNG

*Chiến Sĩ Vô Danh

(Kính tặng những Chiến Sĩ đang âm thầm, lặng lẽ hy sinh cả cuộc đời cho một Dân Tộc, Đất Nước Việt Nam toàn vẹn, dân chủ, vinh quang, giàu mạnh)
*
Chiến đấu không cần ai biết tên
Chiến trường gào thét, nhớ ai bên
Chiến hào sát cánh cùng đồng đội
Chiến tích nhớ ơn, mãi báo đền!

Sĩ khí Quốc Gia cao ngất trời
Sĩ nhân, phẩm giá ánh sao ngời
Sĩ đài vòi vọi hồn anh kiệt
Sĩ thế anh minh, nhãn thức thời!

Vô địch sa trường vạn chiến tranh
Vô đời quyết quét sạch hôi tanh
Vô tình, bạc nghĩa, màng chi đấy
Vô giá công lao đạt vạn thành!

Danh có hay không cũng chẳng sao
Danh đền sự nghiệp đấng anh hào
Danh vang bốn biển trong dân tộc
Danh xứng ngàn năm rực chiến bào!

Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 25/06/2019
**
Tháng Tư Buồn Mộ Tập Thể Vô Danh
*
(Tưởng niệm Anh Linh của khoảng năm trăm Chiến Sĩ QL VNCH chống Cộng quyết liệt đã hy sinh vì nước vào tháng Tư 1975. Thi hài của các Vị Anh Hùng & của các Chiến Sĩ Vô Danh này hiện đang an nghỉ trong một Ngôi Mộ Tập Thể Vô Danh tại Việt Nam)
*
Tháng đó Anh lăn lộn chiến trường
Tư này quyết bám trụ kiên cường
Buồn phiền thấy bạn trong bom lửa
Mộ nghĩa tìm nhau giữa nắng sương
Tập kích tản hàng nơi tử địa
Thể tình chôn cất chốn an khương
Vô cùng, xin cảm ơn lòng tốt
Danh diện linh thiêng sẽ hiện thường!
Đức Hùng
Sydney-Úc Châu, 15/04/2020
***
***NỮ SĨ LÊ THỊ HOÀI NIỆM*Đêm nhìn thấy cả khung trời
Xanh xanh màu ngọc sáng ngời chùm sao
Nhưng lòng cảm thấy buồn rầu
Đau thương quê cũ tuôn trào bủa quanh

Tháng ngày dẫu có qua nhanh
Bốn mươi năm lẻ bao vành khăn tang?
Tháng tư năm ấy ngỡ ngàng
Tháng tư tang tóc bàng hoàng xót đau.

Người người kinh hãi bảo nhau
Bọn Việt cộng đến hãy mau di dời
Đoàn người rồng rắn tả tơi
Lê thê lếch tếch tìm nơi an toàn

Bên tai tiếng nổ kinh hoàng
Xác người ngã xuống máu tràn vết loang
Người di tản cứ băng ngang
Vượt qua nỗi chết xác nàng, xác ai?

Bao người nằm lại nơi đây?
Những con đường máu chất đầy oan khiên.
Miền Nam “tự vệ” triền miên
Bởi Bắc Cộng rắc lụy phiền nghiệt oan.
Từ khi người Lính tan hàng
Dân Nam thống khổ tan hoang của nhà.
Cộng sản! Quân cướp nước ta
Cái bọn miền bắc cháu già Hồ gian.

Một lũ độc ác, dã man,
Điêu ngoa, lộng ngữ, hung tàn, xâm lăng.
Mở miệng “đánh Mỹ cứu dân”
Nhưng rõ ràng chúng “tôi thần Tàu Nga”!

Cõng rắn về cắn gà nhà
Thờ Mao, tôn Mác, Ông Bà…bỏ rơi.
Bao năm “thống nhất” qua rồi
Chỉ bọn Cộng đỏ lên đời giàu to.

Dân đen bữa đói bữa no
Bốn mươi năm lẻ nghèo xo vẫn nghèo.
Đất nước chúng bán cho Tàu
Hoàng Sa biển đảo còn đâu nước mình?

Bao giờ rực ánh bình minh
Cộng nô tan biến quê xinh tái hồi?

Lê Thị Hoài Niệm
***
*GS ĐOÀN VIẾT HOẠT
CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI
(Quê hương, những ngày di tản đầy máu và nước mắt, trong tháng 4, 1975,
Quốc Hận – do cộng sản phương Bắc vào cưỡng chiếm và tàn sát phương
Nam).
Mẹ già đi từ Cam Lộ
Nước mắt chảy mềm Gio Linh.
Gia tài không đầy đôi rổ,
Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.
Đá đổ mồ hôi : Thạch Hãn
Chạy dài đến đỉnh Hải Vân.
Leo đèo, Mẹ như mê sảng,
Chân voi : sưng đôi bàn chân.
Mẹ đi giữa trời thiêu đốt
Thây con lớp lớp trải dài
Dọc theo con đường Số Một,
Nằm bên dăm củ sắn khoai.
Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi
Bầy con đói khát bên đàng.
Biển người xô nhau, quằn quại,
Ngã dần… trong tiếng khóc than.
Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn,
Nhìn trời khói lửa Pleiku.
Đoạn đường mang tên Mười Bốn
Thành mồ hoang lạnh, thâm u.
Thây ai quàng manh chiếu rách,
Bàn tay nào vói trời cao ?
Ngập vùng tang thương Darlac,
Chân đi, Mẹ khóc nghẹn ngào.
Máu chảy lan dần mạch đất
Nha Trang chết vạn đàn con.
Vào Nam, sức già lây lất
Về đâu ? – Nẻo sống không còn !
Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá,
Mẹ lần đến mũi Quê Hương
Cà Mau nhìn ra biển cả
Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !
Mẹ già đi từ Cam Lộ
Cuối đường, chết mũi Cà Mau.
Trọn đời sống trong đau khổ
Chết còn trông thấy khổ đau !…

GS ĐOÀN VIẾT HOẠT (1975).
***
*THI SĨ M.Đ***THI SĨ NHẤT HÙNG ***NỮ SĨ DƯ THI DIỄM BUỒNNHỚ MỸ THO

Mỹ Tho ơi, miền quê hương yêu dấu…
Bến xe đò bao hành khách ngược xuôi
Dòng dịu hiền sông Bảo Định thảnh thơi
Đưa rau mác, lục bình theo nước chảy

Rặng lau sậy trên bến sông mềm mại
Uốn rạp mình theo cơn gió xoay chiều
Dọc theo bờ Giếng Nước gió hiu hiu
Hàng bã đậu, lá vàng lao xao rụng

Ngã Ba Cây Xăng, đường vào Xóm Bún
Chợ Lò Heo nằm ngang dọc bờ sông
Xe đổ về đường Nguyễn Trãi, Trung Long
Nơi bến bắc chờ đò qua Rạch Miễu

Chợ Vòng Nhỏ, biệt thự xây nhiều kiểu
Ôi thuở nào qua căn cứ Hải Quân
Có em đây rẽ đến Bến Lạc Hồng
Công viên đó, hẹn ngắm trăng sông Cửu

Bãi cồn xa le lói đèn ngư phủ
Bên này sông, đường đèn điện sáng trưng
Màn đêm buông, tiếng trống nhạc tưng bừng
Quán đón khách, rạp chiếu phim náo nhiệt

Mỹ Tho ơi! Bao nỗi niềm thân thiết
Nhớ làm sao, quà bánh dốc Cầu Quây
Mận hồng đào như đôi má hây hây
Tô hủ tíu Mỹ Tho ngon nổi tiếng

Đường Hùng Vương, khu sản khoa, bệnh viện
Bộ chỉ huy Sư Đoàn Bảy bảng đường
Lê Ngọc Hân, ngôi trường nữ dễ thương
Em ngóng anh nam sinh Nguyễn Đình Chiểu

Ngã Ba Trung Lương vùng trời niên thiếu
Cây phượng già mùa phượng tới đỏ bông
Thăm bến đò Đạo Ngạn, cội vông đồng
Tết chưa đến, hoa đầy cành rực thắm

Dòng ký ức vẫn còn in nét đậm
Chùa Vĩnh Tràng di tích có trăm năm
Cảnh trang nghiêm trong khói ngát hương trầm
Cổng tráng lệ, nạm miểng sành, miểng sứ

Đường râm mát, dừng bước chân lữ thứ
Ghé vào đây để tắm mát tâm linh
Thuở loạn ly trở lại buổi thanh bình
Quên phiền lụy, mở rộng hồn bát ngát

Cây ngọc lan gió đưa hương ngào ngạt
Ao nước trong, sen trắng lẫn sen hồng
Kiểng uốn hình rồng phụng, cá hóa long
Sân lót gạch bày một hòn non bộ…

Rặng lệ liễu rũ buồn bên tháp cổ
Vách đá cao dầy đặc lớp rêu thâm
Đã trải qua bao hưng phế thăng trầm
Còn ghi rõ nét son hằn kỷ niệm

Cây vú sữa sau chùa quằn trái tím
Rực bình minh, nầy bông điệp bông trang
Hẹn lên chùa bao tín nữ mơ màng…
Trong tiếng đại hồng chung vang tỏa rộng

Ngày rằm lớn, chùa dộng chuông, gióng trống
Sư Ông ngồi giảng đạo, nến lung linh
Hồn thảnh thơi theo tiếng kệ câu kinh
Tâm vứt bỏ những muộn phiền, cay đắng

Chùa Vĩnh Tràng dưới bầu trời ấm nắng
Có trường tồn trong mệnh nước nổi trôi?
Và Mỹ Tho thương mến của tôi ơi!
Hãy chờ buổi tôi trở về gặp lại…

Dư Thị Diễm Buồn
(Đặc San Lâm Viên)
***
*THI SĨ TRƯƠNG CHI

Bài thơ cho nước

Gửi Luật sư Trịnh Hội

1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ
Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do
và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế

2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ
Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền
Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên
Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ

3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ
Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?
Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua
Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”

4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu
Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời
Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi
Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng

5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”
“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”
Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường
Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải

6. Đất nước tôi có gì không độc hại
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan
Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian
Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt

7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?
Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng
Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…

8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người
Những phát ngôn của quan chức nực cười
Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”

9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình
Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”
Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng

10. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân
Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành
Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ

11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm
Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn
Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc

12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa
Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà
Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả

13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam
Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”
Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”

14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn
Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”
Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”

15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…
Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người
Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết

16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai
Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ hhđến một mai
“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt

17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn
Hít thở bầu khí quyển màu đen
Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản

18. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do
Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia
Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc

19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục
Và những người yêu Nước của hôm nay
Đã dấn thân vào những chốn đọa đày
Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu

20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu
“Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam
Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang
Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc

21. Hỡi những người trai, cô gái Việt
Hãy đứng lên vì non nước lầm than
Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn
Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi

22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi
Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương
Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương
Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.
***
*NỮ SĨ BÍCH TRÂN
*NỮ SĨ XUÂN MAI
***** VẾT SÂU XÉ LÒNG *****
( Viết tặng Thuyền Nhân VN )

Tên tôi là Nguyễn Thùy Nhiên
Viết dòng dư lệ oan khiên để đời
Trăm năm trong kiếp con người
Những điều bất hạnh một đời cưu mang
Đời tôi như triệu người đang
Nỗi đau mất nước bàng hoàng xác thân
Sống đời lưu lạc tha nhân
Niềm đau uất hận quẩn quanh tháng ngày
Cõi lòng bao nỗi đắng cay
Quê hương đất nước đong đầy vai mang
Nỗi nhà canh cánh ngổn ngang
Con tim rạn vỡ nát tan cuộc đời
Ngược dòng quá khứ xa xôi
Viết lên tâm trạng phận người lưu vong
Trải qua bao những thăng trầm
Vết thương rỉ máu mà lòng chưa nguôi
Bao nhiêu câu chuyện đổi đời
Trăm bề nghìn nỗi khóc cười đớn đau
Đoạn trường trong cuộc bể dâu
Oan khiên gieo nỗi thảm sầu ai đong?
Quê tôi bên dòng Cửu Long
Những con sông chảy xuôi dòng phù sa
Làng quê yên ấm nếp nhà
Đến ngày ly loạn bóng ma mượn hồn
Bẩy Lăm bao nỗi đoạn trường
Niềm đau thống khổ tiếng buồn hờn căm
Chong đêm ruột rối tơ tằm
Cảnh nhà tan nát ruộng đồng xác xơ
Quê hương nhuộm đỏ mầu cờ
Người đi cải tạo kẻ chờ chung thân
Sĩ phu vùi chốn rừng xanh
Để quân cướp nước lộng hành tác tung
“Đổi đời” máu nhuộm thành sông
Anh hùng tuẫn tiết một lòng trung trinh
Gái trai già trẻ giữ mình
Nổi trôi vận nước mưu sinh kiếp người
Cha tôi “lính ngụy nợ đời!”
Mười năm cải tạo phương trời cách ly
Mẹ tôi đánh đổi xuân thì
Nuôi chồng gánh vác tiếc gì chiếc thân
Nuôi con bao quản nhọc nhằn
Vùng kinh tế mới tập tành mưu sinh
Trẻ thơ theo cuộc hành trình
Nông trường lao động quấn khăn cổ cò
Cha già nặng gánh con thơ
Tìm đường vượt biển huyễn mờ xác thân
Trải bao cay đắng nhọc nhằn
Đợi đêm trừ tịch liều mình vượt biên
Lòng đau tấc dạ ưu phiền
Ra công lèo lái con thuyền TỰ DO
Bao nhiêu giông tố vỡ bờ
Ra đi một mất mười ngờ rủi ro
Dấn thân đánh đổi mầu cờ
Dẫu không chết biển cũng vô nhà tù
Quyết lòng đành đoạn sầu tư
Hy sinh hai chữ tuyệt mù bóng đêm
Bao năm đau đáu nỗi niềm
Bước đi một bước dặm nghìn gian truân
Bờ lau bụi nứa ẩn mình
Lương khô nước uống trăm phần lo toan
Đến ngày đêm tối thuyền quang
Dìu nhau dắt díu rỡ ràng qua sông
Nín hơi thở gượm tấc lòng
Con thuyền không bến dòng sông mơ hồ
Nghẹn ngào tiếng khóc trẻ thơ
Bóng đêm trừ tịch sóng xô thét gào
Biển trời thân phận lao đao
Chắp tay khấn nguyện đón chào bình minh
Bóng đêm xua đuổi bóng hình
Thuyền chao sóng vỗ dập dềnh biển khơi
Lênh đênh góc bể chân trời
Thuyền trôi rẽ sóng ngỡ người tầm ngư
Giật mình giây phút thiên thu
Niềm vui dập tắt kể như tàn đời!
Công an cướp biển ngoài khơi
Tóm thu vàng bạc bắt người chuộc thân
Đối đầu thập tử nhất sinh
Đang treo mạng sống trên cành cây khô
Trời thương bọn cướp giả lơ
Sau khi lấy của cũng lờ cho qua
Thuyền trôi đi mãi phương xa
Thoát cơn thống khổ chưa qua ngặt nghèo
Dật dờ trong cảnh óc eo
Gặp ngay hải tặc thét gào hung hăng
Đánh nhào uy hiếp thuyền nhân
Khảo tra vàng bạc mặc tình kêu van
Lũ người dã thú lòng hoang
Lưỡi lê giáo mác ngang tàng hành hung
Chị em lâm cảnh khốn cùng
Chúng giam hãm hiếp thét gầm kêu la
Súng kề miệng cổ âm ba
Sẵn sàng nả đạn bước qua xác người
Con thuyền trồi sóng ra khơi
Lắc lư trong tiếng hét cười dã nhân
Bỗng dưng thuyền vỡ tan tành
Đứt lìa hai mảnh xác thân chia lìa
Tiếng người gào thét thảm thê
Mồ chôn tập thể thác về biển khơi
Mẹ tôi bám ván thuyền trôi
Xác anh em thả khoang đời nắng mưa
Ông tôi chìm dưới sóng xô
Trăm nghìn lớp sóng vỗ bờ đêm đen
Bầu trời ngập nỗi oan khiên
Ma vương quỉ dữ hát trên thảm sầu
Biển đen thăm thẳm một mầu
Nỗi đau chung cuộc theo nhau về trời
Chuyến tàu định mệnh than ôi!
Cướp đi tất cả những người thương yêu
Hồn tôi như khói sương chiều
Nỗi đau tuyệt vọng, tiếng kêu xé lòng
Đất trời tiếng gọi hư không
Đêm sâu thăm thẳm tận cùng bóng đêm
Đời tôi đi giữa miếu đền
Viết dòng dư lệ thắp đêm nguyện cầu
Cho người nay đến nghìn sau
Khúc quanh lịch sử thẫm mầu bi thương
Trăm năm cát bụi mù đường
Tình quê non nước người thương theo cùng
Mai về thăm lại dòng sông
Bên bờ Đá Bạc trải lòng mơ xa
Bạc Liêu, Một chốn Quê Nhà!
Nhìn con trăng tỏ hồn ta chín chiều
Thắp lòng ngọn lửa tin yêu
Mong sao xóa được vết sâu xé lòng??
Ai về nghe chuyện dòng sông
Biển Đông dậy sóng cõi lòng mang mang
Tôi đi trên cánh đồng hoang
Ngược dòng quá khứ về ngàn dâu xưa
Quặn lòng nghe tiếng ầu ơ
Lời ru của Mẹ năm xưa vọng về
Bao giờ cất bước đường quê
Tôi về với Mẹ trong khe đá nằm
Ru đời hết những hờn căm
Trăm năm chung cuộc kiếp tằm nhả tơ
Vần thơ gói trọn sầu mơ
Cuộc đời ly loạn tiếng thơ đã chùng
Thơ tôi như gởi tiếng lòng!
Xuân Mai
***
Bông Điên Điển (Cổ Phong)

Điên điển quê tôi rực sắc vàng
Vào mùa nước nổi ngập mênh mang
Ngoại kêu đi hái về thay gạo
Kỷ niệm nhiều đêm nhớ lệ tràn
Vượt biển con đi ngày gió bão
Ngoại già ở lại nát tâm can
Tha phương mỗi độ thay màu lá
Vọng hướng làng xưa lệ mấy hàng

Viễn Khách

Gan lì

Ôn cố tri tân học đặng gì
Buồn thêm gợi lại cảnh sầu bi
Cờ Vàng dũng cảm ngăn bầy ác
Chính nghĩa can trường chận lũ si
Hảo hớn Địa Phương Quân đởm lược
Anh hào Cọp Biệt Động gan lì
Ngon lành Võ Bị,Tư Nguy bảnh
Vị quốc vong thân chiến sử ghi
Tím

Thơ thẩn thẩn thơ:

Trốn Dịch Cô Vi

Nằm khoèo trốn dịch biết làm gì
Lướt Net xem bài Trí Dũng Bi
Trí ấy đừng tin lời dại dột
Bi là chớ trách kẻ ngu si
Bây giờ lắm đứa cờ vàng dỏm
Hiện tại nhiều tên nhộng đỏ lì
Bởi vậy ngồi im nhìn thế sự
Tâm tà tánh dữ có trời ghi
Đ.T

From: tim nguyen <timthinguyen1986@yahoo.com>
Ngày nầy năm xưa: Tháng 4/75 mặt trận Tây Ninh

Dạ bài thơ cổ phong mọn
riêng kính Tặng Đại Tá thi vương Đinh Tường
và thi vương nhạc sư Mai Đằng :

Gan lì
“Ôn cố tri tân” học đặng gì ?!
Buồn thêm gợi lại cảnh sầu bi
Cờ Vàng(*)dũng cảm ngăn bầy ác
Chính nghĩa can trường chận lũ si
Hảo hớn Địa Phương Quân đởm lược
Anh hào Cọp Biệt Động gan lì
Ngon lành Võ Bị(1),Tư Nguy(2)bảnh
Vị quốc vong thân chiến sử ghi !
Tím April/15/2020
***
*BUỒN CHO XỨ MỸ

Thơ Hồ Nguyễn và Thơ Họa

BUỒN CHO XỨ MỸ

Thương thay xứ sở đất Hoa Kỳ,
Vũ Hán vi trùng xa cách ly.
New York xác đem nung hỏa táng,
Ca li đường cấm chẳng người đi.
Trump buồn hốc hác lo phai tóc,
Tập Cận Bình vui chẳng hối gì.
Thế giới đổi thay tai họa gởi,
Kẻ vay phải trả sớm…chờ ghi!

HỒ NGUYỄN
(15-4-2020)

Bài Họa:

THẢM HỌA Ở MỸ

Mừng xuân rượu rót khắp Huê Kỳ
Chúc phúc đang mời khách cụng ly
Dịch Hán âm thầm trong gió thổi
Phố phường rộn rã giữa ngày đi
Độc trùng lây nhiễm không rào cản
Lưỡi hái vung lên có ngại gì
Thiên biến hay người mưu bá chủ
Bao giờ sự thật tỏ tường ghi ?

Lý Đức Quỳnh
16/4/2020

Khó thoát

Toàn cầu dịch vật Tập vui kỳ
Báo hại bao người sống cách ly
Kinh tế năm châu đành sụp đổ
Nhân loài bốn biển phải ra đi
Tàu gian lộ diện đê hèn thấy
Chệt ác lòi đuôi tốt đẹp gì
Lồng lộng lưới trời thưa khó thoát
Trung hoa quả báo tiếng dơ ghi

Tím

Thơ thẩn, thẩn thơ:

Chống Dịch Cô Vi

Tui đang ở tại xứ Hoa kỳ
Rượu thuốc gia truyền cứ cạn ly
Cúm Chệt bay hồn nên bỏ chạy
Viêm Tàu mất vía phải dông đi
Nằm nhà lặng lẽ không lo sấc
Đóng cửa im re chẳng sợ gì
Đọc mấy bài thơ hay quá xá
Nên bèn lấy giấy viết ra ghi
Đ.T

Bài Họa:

THẢM HỌA Ở MỸ

Mừng xuân rượu rót khắp Huê Kỳ
Chúc phúc đang mời khách cụng ly
Dịch Hán âm thầm trong gió thổi
Phố phường rộn rã giữa ngày đi
Độc trùng lây nhiễm không rào cản
Lưỡi hái vung lên có ngại gì
Thiên biến hay người mưu bá chủ
Bao giờ sự thật tỏ tường ghi ?

Lý Đức Quỳnh
16/4/2020

 

charles nguyen <nguyenhuychang@yahoo.com> wrote:

BUỒN CHO MỸ
Họa :Buồn cho Xứ Mỹ

của Hồ Nguyễn
Buồn Mỹ nghe qua ấy rất kỳ
Nhưng rồi nghĩ lại khá lâm ly
Xưa thời mới nói liền ăn vạ
Hiện hả vừa vô đã vội đi
Những tưởng đùă vui nay vỡ lẽ
Đâu hay là thật hỏi can gì ?
Toàn dân,Covid đang đe dọa
Số chết tăng cao thiếu sổ ghi.
Thái Huy 4/16/20
From: ngoc nguyen

Sent: Thursday, April 16, 2020 12:21 PM
To: Thomas M

ĐẠI DỊCH VŨ HÁN.

Đại Dịch cúm Tàu độc lạ kỳ,
Gây bao cảnh tử biệt sinh ly.
Toàn cầu lây nhiễm buồn thê thám,
Thế giới giao thương vắng hẳn đi.
Trung Quốc manh tâm gieo rắc họa.
Ngoại bang bất cẩn chả lo gì.
Phải đành tổn hại bao sinh mạng,
Nước Mỹ u sầu hận khắc ghi.
Nguyễn Thị Mỹ Ngọc.

Apr.16/2020.
Thomas M <thomasmx9@gmail.com> wrote :
Góp Họa : Thãm Họa…

Chờ Xem Ai Trả Giá ?

Thãm Họa… nhìn chung, thấy cũng kỳ ?
Cô Rô Vũ Hán trước bi ly !… (1)
Bắc Kinh, Thượng Hải…gần, không “chết” ? ̣ (1)
Âu Mỹ, toàn cầu, phố vắng đi ? (2)
Kinh tế Trung Hoa chưa tổn thất ?… (3)
Lân bang Bình Nhưỡng chẳng lo gì… (4)
Văn Minh, họa gởi, tai bay khắp… ? (5)
Thế giới ” truy tìm thủ phạm ” ghi ?… (6)

Mai Xuân Thanh
Ngày 16/04/2020
***
****
SÀI GÒN LẠC MẤT TÊN

Bến nghé ngày xưa, Gia Định thành
Theo thời gian phát triển thành Sài Gòn
Sài Gòn với chợ Bến Thành
với tháp đồng hồ cổ kính
Một thời phồn thịnh
với Mỹ danh Hòn Ngọc Viễn Đông
Niềm hãnh diện của Nam kỳ Lục tỉnh

Từ ngày thành lập nền Cộng Hòa
Sài Gòn chánh thức là THỦ ĐÔ
của nước Việt Nam

Sau cơn khói lửa điêu linh
Giặc dữ tràn vào Thành Phố thân yêu
Tàn phá cướp đoạt tất cả
Người Sài Gòn lớp lâm thân tù tội
Lớp đi đày nơi Kinh Tế Mới
Tài sản giặc đỏ chiếm đoạt

Cả tên Sài Gòn chúng cũng xóa sạch
Thay vào là tên họ Hồ, tội đồ dân tộc
Kể từ ngày ấy, Sài Gòn mất tên
Tên chánh thức không còn
Nhưng trong lòng người dân Miền Nam
Sài Gòn thân thương mãi mãi còn

Một mai ách nạn cọng sản giải trừ
Sài Gòn lấy lại tên và cả tình người
Sài gòn, người Sài Gòn mãi mãi
THƯỜNG CÒN

Nguyễn Nhơn
( Nhân đọc chuyện Thành phố
trong Hồi tưởng )
THÁNG TƯ TANG KHÓ

ĐẢNG CSVN: TỘI ĐỒ DÂN TỘC!
Cách Mạng Đỏ Lòm khốn nạn thay,
Kể chi thân phận Ngụy tù đày!
Búa liềm mã tấu vào vơ vét,
Nón cối dép râu rõ cướp ngày!
Đốt sách giam cầm văn nghệ sĩ,
Phá chùa triệt hạ đạo… sư thày!
Tay sai bán nước cho Tàu Cộng
Nhục nhã để đâu Đảng mặt dày?!!!

Black April 2020
HỒ CÔNG TÂM

Khôi hài đen (thơ cổ phong)

Mặt chai

Mùa Xuân thắng đại ác lên thay
Thống nhứt miền Nam sống đọa đày
Lũ khỉ vào thành vơ sáng tối
Đàn bò tới phố vét đêm ngày
Công an láo cá đè đầu mợ
Cán ngố lưu manh cởi cổ thầy
Đất nước thanh bình lòi dốt nát
Quánh giùm chệt chó mặt chai dầy
Tím April/18/2020
***
*THI SĨ KIỀU PHONG

***NỖI ĐAU NGÀY QUỐC HẬN
*Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Trần Thị Thanh Minh

Một ngôi biệt thự nhỏ khiêm tốn cuối đường Hoàng Diệu, Đà Lạt. Phía sau là vườn hồng và có thể nhìn thấy trường Couvent thấp thoáng aó xanh lam của các nữ sinh nội trú. Đó là “ngôi nhà hạnh phúc” của chúng tôi cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó. Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc với ba đứa con thật dễ thương và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi nhất là Tết đến còn thêm “những con bà phước” (tức là những sỹ quan Võ bị không được về Sài Gòn ăn Tết vì cấm trại) tất cả đều quay quần vui chơi như chính nhà của họ, bởi vì các anh thích cái không khí thoải mái và thân thương nhất mà chúng tôi đã thật thân tình đón tiếp. Nếu cuộc sống ấy được kéo dài thì thật đúng là chúng tôi đã có một thiên đàng hạnh phúc thật sự rồi. Nhưng đâu có ai ngờ rằng Buôn Mê Thuột mất, mọi nơi di tản về Sài Gòn. Gia đình tôi cũng trong làn sóng kinh hoàng đó. Tôi và các con được ông bà nội các cháu yêu thương đùm bọc, và tôi đã sinh cháu bé ngay tháng tư năm đó. Cũng vì thế mà chồng tôi không thể ra đi một mình. Anh đã lên được tàu nhưng anh lại nhảy xuống bơi về. Nếu anh biết trở về rồi lại phải xa mẹ con tôi vĩnh viễn chắc anh đã chẳng quay về. Đó cũng chính là nỗi đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi của chúng tôi.

Tháng sáu anh đã đi trình diện học tập cải tạo, với hy vọng sau mười ngày sẽ trở về ….. Không có chồng tôi ở nhà, tôi rất sợ hãi và buồn lo. Anh đã cho tôi một đời sống ổn định vững vàng. Nay không có anh tôi không thể làm gì hết, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính của chúng tôi cho con cái sau này. Tôi không còn gì hết ngay cả mạng sống của tôi cũng rất mong manh vì mới sanh cháu còn quá nhỏ. Rất may nhờ sự lo xa của bà nội các cháu nên mẹ con tôi còn được ăn cơm thêm vài tháng. Toàn dân ở thành phố đã phải ăn khoai lang, khoai mì và bo bo. Lương thực bán theo sổ gia đình, hoàn toàn không có gạo. Khi nào được mua bột mì thì sung sướng lắm. Vì có thể đổi bột lấy bánh mì (món ăn ngon nhất lúc bấy giờ) Nhờ có bánh mì tôi có thêm việc làm để kiếm được vài đồng đi chợ. Tôi phải lo làm nước sốt (muối + cà chua) thái cà rốt củ cải dưa leo làm đồ chua mang ra trước cửa bán từ 4 giờ sáng.

Ngày tháng cứ qua đi với buồn lo nặng trĩu vì 4 đứa con cần ăn để sống. Tôi như con chong chóng hết bán bánh tôm bánh cuốn tại đường Duy Tân lại quay ra bún ốc bún riêu ở đường Gia Long. Nhưng cũng không được bao lâu vì “chiến dịch dẹp lòng lề đường”. Tôi lại phải chạy thuốc tây, ai cần bán cần mua là có tôi làm chân chạy. Tôi còn nhớ một lần có người cần mua 5 chai nước biển, mà tôi chỉ có đủ vốn cho 2 chai, thế là tôi phải chạy làm 3 lần từ chợ Vườn Chuối qua chợ Bà Chiểu mới giao đủ hàng được. Đạp xe đạp muốn kiệt sức vì mồ hôi và nước mắt nhoè nhoẹt đến không thấy đường đi. Nhiều lúc đầu óc tôi muốn vỡ tung ra vì những tính tóan cho cuộc mưu sinh, vì những thay đổi khôn lường của xã hội chủ nghĩa và nhất là vì những hoang mang lo sợ cho chồng tôi đã bao lâu biệt vô âm tín. Ban đêm, nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các con tôi trong giấc ngủ say sưa; tôi yên tâm vì tôi vẫn còn có chúng ở bên tôi. Nhưng chồng tôi nay ở đâu? Đói no ấm lạnh ra sao? Anh là người nặng tình chồng vợ, yêu qúy các con, liệu anh có yên giấc được không? Hay cũng như tôi thao thức suốt đêm thâu với bao nỗi lo âu tắc nghẽn không phương giải thoát. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc nức nở để vơi bớt nỗi buồn lo nặng trĩu bên mình. Tôi không dám khóc trước mặt các con vì chúng sẽ òa khóc theo ngay khi thấy tôi chảy nước mắt.

Mãi gần một năm sau tôi mới được tin chồng tôi dù chẳng phải là tin vui. Anh đang bị một cơn sốt rét ác tính và thiếu thức ăn trầm trọng có thể chết bất cứ lúc nào. Mong ước của anh là muốn biết tin tức của mẹ con tôi trước khi anh nhắm mắt. Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi. Tôi lạy van người đưa tin xin chỉ đường cho tôi đi gặp anh.

Sau cuộc hành trình khá vất vả, lội suối băng rừng, những con vắt cắn tôi chảy máu tùm lum mà tôi không hề biết sợ biết đau. Quần áo ướt hết, gió lạnh làm tôi rét run, xanh mét. Tới nơi chưa kịp mừng thì đã bị cán bộ trưởng trại tra hỏi lâu ơi là lâu. Cuối cùng vì “cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền Nam”. Họ cho tôi gặp mặt. Vì chồng tôi đau nặng nên anh em cùng “láng” cho mắc võng ở giữa còn các anh mắc võng chung quanh để che gió lạnh. Thật sự thì có che được bao nhiêu đâu vì mỗi khi gió tạt vào thì tất cả đều lãnh gió cát đầy cả mặt mũi. Tôi chết đứng khi thấy chồng tôi chỉ còn là bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra vì đôi má đã hóp lại, cặp mắt lõm sâu không còn thần sắc. Tôi khóc lặng lẽ nước mắt như mưa nhào tới bên anh, ôm lấy tay anh, còn anh thì không còn đủ sức để nắm tay tôi nữa. Thời gian như ngừng lại, các anh xung quanh cũng yên lặng ngậm ngùi.

Tôi không thể nào quên được đêm hôm ấy, trước đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt mà tôi chắc trước kia đẹp đẽ oai phong lắm trong bộ quân phục VNCH, bây giờ thì chao ơi là tội nghiệp, họ chỉ còn là những bộ xương người biết cử động. Thương người, thương mình tôi khóc đến đau nhức cả hai mắt. Chồng tôi thì nằm thoi thóp, miệng vẫn cố cười, chắc anh đã mãn nguyện? Đứa con gái út của anh mới tám tháng nên hãy còn bú mẹ. Hai bầu sữa căng nhức, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi mọi người ra xa để vắt sữa. Tôi bưng chén sữa bỏ thêm hai muỗng đường rồi đổ cho chồng tôi từng muỗng một.

Chồng tôi có lẽ nhờ vào mấy chén sữa của tôi mà tới sáng anh đã tỉnh hẳn. Mấy anh bạn cứ chọc anh là uống sữa tiên nên mới được như vậy.

Sau chuyến đi ấy tôi ngã bệnh cả tuần lễ. Vừa khỏi là tôi lại sửa soạn đi một chuyến nưã vì tôi biết chồng tôi rất cần thuốc men và tẩm bổ. Hai chân anh ấy không mang nổi tấm thân gầy chỉ còn 40 ký lô. Nỗi buồn lo này chưa hết, lại đến nỗi buồn vì con bé không thèm sữa mẹ nữa. Thế là tôi mất thêm niềm hạnh phúc vô biên là dược ôm con, ngắm cái miệng xinh xinh của con như gắn liền với bầu vú mẹ để dược mẹ chuyền cho giòng sữa chan chứa yêu thương. Các cụ đã nói là khi dang cho con bú thì không được cho ai sữa của mình kẻo trẻ sẽ chê sữa mẹ. Tôi cũng tin như thế nhưng biết làm sao hơn khi thấy chồng tôi cũng đang cần sức sống.

Muốn có thuốc men và đồ ăn cho chồng thì phải lo tiền nhiều hơn. Bán ngoài đường bị đuổi, tôi soay ra làm bánh croissant ở nhà. Tối nào tôi cũng nhờ mấy cậu hàng xóm sang nhào bột hộ, xong bắt bánh rồi chờ bột nở cho vào lò. Lúc đầu tôi tự làm, tự bán nhưng sau tôi để bà con lối xóm lấy bánh đi bán các nơi, bán nhiều thì lời nhiều. Nếu không bán hết thì tôi lấy lại để nướng khô bán cho các chị đi thăm nuôi. Vậy mà cũng chẳng được bao lâu thì hết vốn vì bánh thì vẫn phải làm mà tiền thì không thu về được vì ai cũng nghèo nên dù bánh bán hết cũng không đủ tiền mua gạo nên lại khất tôi lần sau, rồi lần sau nữa ….Dù sao tôi vẫn phải cố xoay sở cho có đủ tiền đi thăm nuôi chồng.

Tới năm 1977, chồng tôi bị “biên chế” chuyển từ Kà Tum qua Trại An Dưỡng Biên Hòa. Lúc đó chúng tôi mới được đi thăm chính thức. Cán bộ trong trại đã gửi giấy về nhà, cho phép thân nhân đi thăm sau gần hai năm biệt tăm tin tức. Có được đặc ân này là do những xôn xao, bất mãn của gia đình tù nhân cải tạo. Sau lần thăm đó, anh bị đưa ra Bắc lúc nào tôi không hay.

Thời gian này là khủng khiếp nhất vì họ đổi anh đi lung tung, nào Lào Cai, nào Yên Bái, nào Lạng Sơn! Vừa được tin ở nơi này thì đã bị chuyển đi nơi khác, không có cách nào thăm nuôi được. Tôi phải mua chui những tấm phiếu để được phép gửi quà, mỗi gói chỉ có 3 kg thôi, địa chỉ phải viết theo ám số. Tôi phải làm thịt kho với cả chai nước mắm, hy vọng mặn thì để được lâu vì không biết bao giờ gói quà mới tới tay người nhận. Trông thấy tôi kho thịt, các con tôi nói: “Bố sướng quá, có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình!” Còn gì đau khổ và xót xa hơn cho tôi khi nghe thấy câu so sánh thơ ngây này!!

Cuối cùng tôi cũng tìm ra được họ chuyển anh về Vinh-Nghệ Tĩnh. Tôi và chị anh vội ra thăm. Vì không có giấy phép nên chúng tôi phải đi tàu với giá chợ đen, nghĩa là đi từng chặng một và giá vé gấp đôi. Tới nơi tôi sẽ vào báo công an là tôi bị mất cắp nên mất luôn cả giấy phép thăm nuôi và xin họ chứng nhận cho. Phải có giấy đó tôi mới được phép vào trại thăm chồng tôi. Tôi đã phải nói dối mới thoát qua ải lính gác.

Vừa xuống tàu là tôi đã hoảng sợ vì dân địa phương đứng chỉ chỏ bọn tôi: “Vợ ngụy kìa!” Cũng may họ không ném đá chúng tôi như đã ném đá các anh khi phải chuyển ra Bắc. Chúng tôi tới nơi là chiều thứ Bảy, họ không kiếm được chồng tôi. Qua ngày Chủ Nhật tôi vẫn còn hy vọng gặp mặt vì họ nói anh đi xa làm việc, đã cho gọi rồi, thứ hai sẽ gặp. Đêm Chủ Nhật, tôi nằm mê thấy anh về báo cho tôi biết là anh đã chết!? Anh linh thiêng như vậy chăng? Tôi tỉnh dậy khóc quá trời làm thức giấc mọi người. Các chị đi thăm nuôi an ủi tôi “ Sinh dữ tử lành, yên chí đi, mai được gặp”. Tôi không thể nào tả được hết nỗi buồn lo, bối rối của tôi đêm đó và thức luôn đến sáng, không thể nào ngủ lại được. Mờ mờ sáng tôi đã dậy. Mọi người lo nấu cơm vì nghe nói ở đó không bao giờ tù nhân có cơm ăn. Trời sáng hẳn. Dưới lớp sương mù của núi, từ trên nhìn xuống, tôi thấy từng toán người đi ra lao động. Tôi như người mộng du, như có ai đẩy tới, tôi từ từ đi xuống chân núi, nơi cấm các thân nhân tù cải tạo tới gần.

Toán 1 đi qua, rồi toán 2, rồi toán 3, tôi nghe thấy tiếng gọi “Chị Chung, chị Minh” và tiếp theo tiếng ai la to: “anh Chung chết rồi!” Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh lại, tôi thấy tay chân bị trói vào chõng tre, y sĩ đang chích thêm hai mũi thuốc khoẻ. Tôi nghe kể là tôi đã ngất đi và họ khiêng tôi lên núi cả tiếng đồng hồ qua rồi. Họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã làm gẫy kim chích. Tôi nói tôi không sao, cởi trói ra cho tôi. Sau cơn choáng quá đau tôi lại trở thành bình tĩnh quá làm họ cũng phát hoảng luôn. Tôi yêu cầu gì thì họ cũng cho phép hết. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kí lô quà tôi mang đến. Ai cần gì thì lấy rồi viết thư về nhà nhắn vợ con đem tiền trả tôi. Cuối cùng cán bộ mang đến cho tôi một cái túi xách tay, trong chả có gì ngoài bộ bà ba cũ mèm của chồng tôi. Họ cho tôi một chén cơm hẩm, hôi mùi gạo mốc, trên có quả trứng luộc dể mang ra mộ. Trẻ em theo sau để nhìn bát cơm, trầm trồ: “cơm kìa! cơm kìa!” tôi di như một thây ma sống, mắt mở to mà nào có nhìn thấy gì, tai cũng chẳng nghe thấy gì, bước thấp bước cao theo hai người dìu tôi đi, tim như đau buốt, nước mắt chảy không ngừng. Khi ra tới mộ tôi lại ngất đi một lần nữa. Giá mà khi ấy tôi dược đi luôn theo chồng tôi thì hay biết mấy!

Tôi trở về nhà với một thân xác rã rời, một đầu óc rỗng không, biếng ăn, mất ngủ, chả nói năng gì, mắt mở to mà chả nhìn thấy gì. Tôi đã phải ra, vào nhà thương Chợ Quán mấy lần. Rất may cho tôi và các con tôi là lúc đó tôi có một cô em và một người bạn lo lắng và chăm sóc mẹ con tôi tận tình.

Vài tháng sau, tôi nhận được 2 thùng quà trả lại với hang chữ “Người nhận đã chết. Trại yêu cầu hoàn.” Ra bưu điện lĩnh 2 gói quà xong, vừa ra đến cửa tôi lại ngất đi. Rất may có anh bạn hàng xóm đạp xe xích lô đang chờ để chở tôi về nhà. Tới bữa ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành với tóp mỡ ngào đường và nước mắm, quà của bố trả lại, nước mắt tôi lại chảy như mưa. Rồi tới gần cả năm sau, phường trưởng mới cử đại diện đến chia buồn và đưa cho tôi biên bản “phạm nhân chết”. Nhờ mảnh giấy này mà mẹ con tôi mới được đi Mỹ theo diện HO. (Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy này, xin gửi kèm theo đây để mọi người biết “tội ác” của chồng tôi!) Can tội: Giảng viên tâm lý chiến xã hội học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Án phạt tù: 3 năm; nhưng khi chết đã 3 năm 7 tháng. Nếu họ đúng lời chắc chồng tôi không thể chết.

Thế là xong là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó tôi sống cũng như chết rồi, nhưng vì bốn đứa con nhỏ, chúng đâu có tội tình gì. Bên nội bên ngoại ai cũng muốn nuôi dùm 1, 2 đứa nhưng tôi không thể nào chịu được nếu để 1 đứa con xa tôi. Tình thương con đã thắng cái “điên” của tôi để lo lắng cho chúng nhưng với phường khóm thì tôi thật là một “mụ điên dữ dằn”. Tôi không chịu đi họp tổ họp phường gì cả. Công an khu vực tới tận nhà bắt đi họp. Tôi nói: “Người mà các anh thấy có tội là chồng tôi thi anh đã chết rồi, tôi và 4 con nhỏ không còn gì phải họp với hành nữa”.

Lúc trước mình ngu nên cứ tin là phải họp hành cho tốt thì họ xét cho chồng về sớm. Nay tôi không còn gì để sợ nữa thì họ lại để tôi được yên thân.

Tôi bắt đâu tính chuyện vượt biên, mấy mẹ con dắt díu nhau đi tìm đất hứa không biết bao nhiêu lần. Hết đi từ Nhà Bè, Vũng Tàu, Mỹ Tho đến Rạch Giá, Sóc Trăng nhưng đều không thoát, ở tù cũng mấy lần. Xuống ghe ra biển lại thấy hối hận vì thương con, chưa thấy thoát mà chỉ thấy chết tới nơi. Bị bắt tù đày thì lại càng hối hận hơn vì các con không có thức ăn, nước uống chỉ có một ca nhỏ. Trong trại chỉ có 1 cái ao tù, ăn cũng đó mà tắm giặt cùng nơi. Bẩn thỉu không thể tả cho nên trẻ con không bị đau bụng ỉa chảy thì cũng ghẻ lỡ ghê hồn. Tôi sợ quá đến không dám nghĩ đến đi nữa. Phải cậy nhờ xin đi dạy lại dù biết là nhà giáo chỉ húp cháo thôi. Nhưng dù sao đi nữa cũng còn có chỗ để mua “nhu yếu phẩm” và được “thầu” để bán quà cho học trò trong trường.

Thời gian này tạm ổn định, lo cho các con tới trường cũng phải chạy chọt vì “nhất thân, nhì thế” của xã hội lúc bấy giờ. Phận mình thì xong rồi, bạn bè tôi còn rất nhiều có chồng dang tù tội. Thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau để “lá rách nát đùm lá tả tơi” đứa nào có thứ gì cho tù ăn được thì mang tới gom lại để chia cho những bạn sắp đi thăm. Trong cái tình đó tôi lại thấy được nhiều sự đau khổ mà người vợ tù phải chịu đựng nhục nhằn mà không ai có thể chia xẻ với họ. Chẳng hạn như một chuyện rất thật của một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã chia sẻ từng bó rau muống từng chén nước mắm “muối + nước màu” cho các con ăn. Từng viên đường thẻ để mang vào tù cho chồng. Chỗ chồng bạn tôi ở lại có “nhà hạnh phúc” và các anh tù phải làm việc thật tốt thì cán bộ mới cho phép gặp vợ tại đó. Lẽ dĩ nhiên chồng bạn tôi làm khổ sai cật lực để được ân huệ đó. Chị cũng là một cô giáo, sống rất đạo dức và thành tín, thương chồng vô cùng, nhưng khi vào thăm đã thấy “nhà hạnh phúc” có mấy cái trõng tre và mấy anh cán bộ ngồi canh. Chị đã không thể “cho anh” và điều này đã khiến anh nổi giận nghĩ là chị đã có “ai khác” ngoài đời. Chị đã bị anh chửi bới tơi bời còn gì thê thảm hơn nữa không? Thời gian đã qua tôi hy vọng anh đã thông cảm với chị về cái “không thể cho anh” đó. Mặc dù giờ thì anh chị cũng đã xa nhau, thật là một điều rất đáng tiếc.

Lại thêm một cô bạn láng giềng, may mắn có ông chồng được thả về sau bảy năm tù tội. Những tháng ngày trong lao tù khiến con người cũng thay đổi nhiều lắm. Dễ nóng giận và mặc cảm đầy mình. Một hôm cô bạn tôi được nhà nước cho mua một khúc vải may quần với giá rẻ dành cho các công nhân viên nhà nước. Cô mang về khoe nói là bán đi sẽ lời được sáu ngàn đồng. Ông chồng lại muốn may để mặc vì ông ta thấy cũng cần phải có một cái quần mới. Bạn tôi ngần ngại nửa muốn cho chồng may, nửa muốn bán đi để thêm tý tiền lo cho gia đình nên nói với chồng: “Khúc vải này sáu ngàn lận đó anh.” Chưa nói dứt lời là bạn tôi bị một cái tát tai choáng váng mặt mày, sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của mọi người. Anh chồng rất hối hận về hành động vũ phu của mình; tuy nhiên anh vẫn đổ lỗi cho bạn tôi cái tội “coi cái quần hơn chồng”. Đó lại là một trong muôn ngàn cảnh ngộ trớ trêu cuả vợ tù cải tạo.

Thắm thoát đã qua 7 năm lúc này cuộc sống mấy mẹ con tôi đã dễ thở vì chị em bạn bè ở ngoại quốc đã bắt đầu gửi tiền về cứu trợ. Tôi được mẹ chồng cho theo đi để bốc mộ Anh. Tâm trạng tôi thật rối bời và lo sợ liệu bốc lên có phải là Anh không hay lại là mồ của ai khác?!! Trên đường đi cũng không kém gian nan cực khổ như khi đi thăm nuôi tại Kà Tum. Tôi phải gửi mẹ tôi tại Nghệ Tĩnh để cùng với người cháu đi vào K3 chỗ họ chôn xác Anh. Đường thì xa, đất sét trơn trượt tôi nghĩ đành phải bỏ cuộc vì hai bàn chân đã sưng rát. Tôi ngồi xuống bên đường vừa khóc vừa van vái “anh có linh thiêng xin phù hộ cho em tới nơi để mang anh về gần em và các con”. Đang gục đầu khấn nguyện thì nghe tiếng xe lọc cọc do một con trâu kéo, trên là các cán bộ đi công tác về. Họ tra hỏi và tôi “thành khẩn khai báo” nên họ cho tôi lên xe quá giang tới tận nơi. Tôi nhờ người cháu trở lại để đón Mẹ tôi trở vào trại ngày hôm sau để bốc mộ. Tôi không thể nào quên cái cảm giác hãi hùng khi được anh cán bộ đưa lên núi, chỗ đó là chồ để các thân nhân tù lên ở tạm qua đêm vì không có xe về ngay. Khổ cho tôi là khi tôi tới nơi thì chỉ có một mình, có sợ cũng chẳng làm sao hơn được tôi đành cầu cứu nơi các đấng thiêng liêng, Chúa Mẹ, Phật Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cầu chồng tôi che chở bảo vệ tôi. Cứ mở mắt to mà van xin cầu nguyện đâu có dám nhắm mắt mặc dù đã quá mệt mỏi. Rất may trời bắt đầu tờ mờ sáng là mẹ tôi đã đến nơi. Chúng tôi được cán bộ hướng dẫn đi tìm mộ, may mắn tôi gặp được anh cán bộ người miền Nam rất tốt bụng đã cho phép chúng tôi được gặp những người đã chôn chồng tôi lúc trước. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi mới biết bốc mộ là gì và nhất là thấu hiểu được câu nói “cát bụi trở về với cát bụi”. Thịt da đã tan vào với cát, chỉ còn bộ xương trắng mà các bạn anh đã từ từ cầm lên từng cái đầu, xương vai, xương cổ ống tay ống chân, và ngay cả những đốt xương nhỏ họ cũng mò tìm cho đủ. Một sợi dây làm bằng giây thép nhỏ, cái mặt làm bằng kính máy bay có hình dáng 2 người đứng bên nhau đã được anh bạn lấy lên trao cho tôi và nói chính chồng tôi đã làm để tặng cho tôi khi nào tôi lên thăm gặp mặt. Anh đã phải cất giấu bao ngày vì nếu cán bộ thấy là bị tịch thu ngay. Rất may là có mẹ tôi và người cháu lo lắng lấy rượu rửa xương rồi quấn vào vải bỏ vão trong một cái bị to để chúng tôi mang về. Còn tôi ngồi chết cứng với nước mắt rơi sầu tủi. Xót thương anh.

Trên đường về mới gặp toán người thăm nuôi. Gặp cô bạn cũng đi với mẹ già, đang chuyển quà từng khúc một, tôi chạy lại đỡ một tay. Khi tôi dắt bà cụ qua một người tù đang cuốc đất dưới ruộng, ngẩn nhìn và khẻ gọi mẹ. Tôi quay lại giúp cô bạn còn vài giỏ đồ ăn, chúng tôi vừa đi ngang thì lại nghe anh ta gọi “em Liễu”. Cô bạn tôi nghe tên ngoảnh mặt lại nhìn và lại bỏ đi luôn. Đem đồ lên đặt cùng chỗ với bà cụ chúng tôi lại quay lại trở lại để đem nốt chỗ còn lại, tôi bảo cô bạn, có lẽ anh tù kia quen Liễu đấy. Ta thấy anh gọi Mẹ lại kêu tên Liễu đó. Chạm mặt nhau rồi mà Liễu vẫn không nhận ra. Tới khi anh ta quên cả sợ cán bộ chồm lên đường kêu Liễu. Anh dây, Tuấn đây mà. Lúc đó bà cụ cũng đã trở lại và nhận ra con, cụ khóc òa ôm lấy anh tù, còn Liễu cũng khóc nhưng la “không phải anh mà” không phải anh đâu. Người chồng yêu quý vì tháng năm đói khổ phải ăn khoai mì nên mặt anh ta biến dạng vì quai hàm bạnh ra và nhựa độc của khoai mì làm cho tất cả tù nhân đều có cái mặt vuông gần giống nhau cả. Tôi cũng không cầm được nước mắt lại nghĩ rằng chắc chồng tôi còn sống thì mặt mũi cũng chỉ như vậy mà thôi.

Từ trại về chỉ có độc nhất một chiếc xe đò, mọi người ngồi chật cứng trong xe, còn có nhiều người phải đứng bám vào cửa xe rất là nguy hiểm. Mẹ con tôi về đến ga Vinh là trời đã tối, lại ôm cồng kềnh một cái bị hài cốt của chồng tôi. Ngồi sân ga đợi tàu rất là nguy hiểm vì mẹ con tôi nhơ ngác với xứ lạ quê người. Mẹ tôi phải lấy giây buộc cái bị và cuốn quanh người. Chỉ sợ lỡ mất đi thì khổ lắm. Tôi hồi hộp sợ hãi còn hơn khi đi vượt biên nữa. Tôi đánh liều vào nhà nghỉ mát của nhân viên xe lửa. Sau một lúc nói chuyện gây cảm tình và nhờ có “thủ tục đầu tiên” ( xin trả tiền trước) nên mẹ con tôi được vào tạm trú qua đêm yên lành. Sáng hôm sau cũng nhờ có ông quản lý nhà nghỉ đó mà chúng tôi được lên tàu ở trong toa xe của các nhân viên đi nghỉ mát. Tôi phải tin tưởng là chúng tôi đã có ơn trên che chở nên đã mang thoát được bộ xương của chồng tôi về đến nơi đến chốn. Vì nếu không được ở trong xe đó chắc chắn chúng tôi không thể thoát khỏi xự khám xét trên tàu mà nếu họ phát giác ra là có xương người là lập tức đuổi chúng tôi xuống giữa rừng hoặc quăng xuơng đi. Giờ đây lâu lâu tôi lại có cơn ác mộng gặp lại cái cảnh mà công an đi sục sạo trên tàu, bắt mở tất cả mọi thứ để khám xét là tôi hét lên bật giậy mồ hôi ướt đẫm người. Sau đó lại nằm xuống với nước mắt trào ra không thể ngăn nổi vì nhớ thương anh và tủi phận mình đơn độc.

Hiện tại thì chồng tôi đã được yên nghỉ tại nghĩa trang Thiên Chúa Giáo ở Bình Dương. Nhưng cũng không biết được bao lâu nữa vì họ còn tính dẹp cả nghĩa trang mặc dù đó là đất tư mà gia đình tôi đã phải mua bằng những cây vàng lúc họ dẹp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngay trong thành phố Saigon.

Bốn mẹ con tôi xuống phi trường Dulles vào một buổi tối mưa tầm tả của tháng 6 năm 1994. Được gia đình cô em ra đón, tôi mừng quá nhưng vẫn chưa hết lo sợ, không biết đây là thật hay mơ. Nỗi ám ảnh bị bốc đi vùng kinh tế mới và sự không nói có, có nói không của nhà nước công sản đã khiến tôi mất hết niềm tin. Tôi chỉ còn biết cầu Đức Mẹ ban cho tôi một phép lạ.

Chúng tôi cố gắng học hỏi để hoà nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ. Nay các con tôi đã lớn, đã thành đạt và rất hiếu thảo. Chúng hết lòng lo lắng, chăm sóc tôi. Tôi thật mãn nguyện, nhưng tôi biết tôi không thể ôm giữ chúng mãi được. Chúng phải có cuộc sống riêng, hạnh phúc riêng. Dù biết vậy, nhưng mỗi khi chúng vắng nhà, còn lại một mình tôi, tôi lại thấy sợ hãi. Những năm tháng khổ cực, hãi hùng của thời dĩ vãng lại kéo đến ám ảnh tôi. Hình ảnh chồng tôi lúc oai hùng, mạnh mẽ trong bộ quân phục, lúc rách nát, tả tơi, thoi thóp trên trõng tre lại chập chờn quanh tôi. Tôi đã thì thầm với anh: “ Đợi em đi cùng!” Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên dể được xum họp với chồng tôi. Chúng tôi chỉ mới được hưởng hạnh phúc gia dình có 4 năm 5 tháng. Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa. Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ!!

Trần Thị Thanh Minh
***
*Kỷ Niệm Ngày Quốc Hận

Tôi tên Nguyễn Bá Quang, là một sĩ quan QLVNCH cấp bậc Đại Úy thuộc đơn vị 101 P2/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Ở tù CSVN tại trại tù Tiên Lãnh, Quảng Nam, Đà Nẵng suốt hơn 12 năm. Qua Mỹ với diện HO.5 năm 1991. Hiện cư ngụ tại Reda, Califonia.

Trong thời gian tôi ở tù chưa được thả, gia đình vợ con tôi vượt biển tìm tự do tại Cà Mau tỉnh Minh Hải. Trong chuyến vượt biển hãi hùng ngày 22-2-1985 vợ và sáu người con trai của tôi đã bỏ xác trên biển cả vì bọn hải tặc làm đắm thuyền. Ngoài ra còn có cả nhạc phụ của tôi và các em vợ cùng các cháu đã chết một cách tức tưởi trên chuyến tàu đau thương ấy. Chỉ còn sống sót người con gái yêu thương của tôi tên Thùy Nhiên và dì ruột của cháu là Phạm Thị Sa.

Năm 1975 mất nước, con gái tôi mới có tám tuổi. Khi CS Bắc Việt chiếm miền Nam chúng dọa nạt, đấy ải gia đình của các sĩ quan QLVNCH đi cải tạo tại các trại lao động khổ sai. Vợ con tôi phải đi kinh tế mới tại Cà Mau, Minh Hải, việc học hành khó khăn, cháu chỉ học tới lớp bảy rồi phải bỏ lỡ dở đi buôn cá tại vùng ven sông thuộc Cà Mau để kiếm tiền nuôi gia đình và các em trai còn nhỏ tiếp tục đi học, vì thế nên cháu chỉ có thể thuật lại Nỗi bất hạnh của đời tôi một cách trung thực.

Là ba của cháu, tôi cũng chỉ sửa những lỗi văn phạm, chính tả. Qua sự thúc bách của tôi, cháu mới có thể thuật lại câu chuyện thương tâm, vì mỗi lần nhớ lại những cảnh đau thương tang tóc của gia đình thì cháu đâm thẫn thờ, ngơ ngẩn hết mấy ngày, và lòng tôi cũng quặn đau vô vàn. Hiện cháu đã lập gia đình và sống với chồng con tại Úc. Sau đây là câu chuyện của con gái tôi, nỗi bất hạnh của cháu, cũng là nỗi bất hạnh của tôi.

(Nguyễn Bá Quang)

***** Dưới đây là bài viết *****

Thùy Nhiên (Tác giả)

Sau bao tháng ngày mẹ và các anh chuẩn bị ghe thuyền, từng can dầu, tom góp từng gói lương khô như gạo sấy, thuốc men v….v…một cách bí mật. Ông ngoại, gia đình bà dì ruột, gia đình của cha Liêm, từng tốp, từng tốp len lỏi trong đêm tối lần lượt đến điểm tập trung tai bãi Đá Bạc Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải.

Tất cả chúng tôi yên lặng lên thuyền, gồm có 22 người đã có mặt đầy đủ. Tiếng nổ dòn của máy lướt sóng ra khơi, mọi người chúng tôi nín thở hồi hộp.

Qua mấy giờ lầm lũi chạy trong đêm, trời đã sáng, ánh nắng chan hòa, chúng tôi đã rời khỏi hải phận Việt Nam, mọi người thở ra nhẹ nhỏm, vui mừng, bồi hồi xúc động vì đã thoát qua được chặng đường đầy nguy hiểm và bất trắc nhất, vì nếu chẳng may mà bị VC bắt lại, thì bị tù tội, tịch thu tài sản, tất cả đều mất sạch. Niềm vui thoát được khỏi bọn công an VC đang miên man trong đầu óc mọi người, bỗng nhìn đằng xa có chiếc tàu lớn hiện ra, tim tôi đánh thình thịch, tàu của ai đây? Của CS hay của thế giới tự do? Càng lại gần thì càng hồi hộp, một thoáng chán nản và sợ sệt hiện rõ trên nét mặt mọi người khi nhìn rõ màu cờ máu Liên Xô, Thuyền của chúng tôi cố ý lái chệch hướng chiếc tàu lớn, cứ thế tiến thẳng, đã qua thêm một sự nguy hiểm, và cũng vì thế thuyền đã chệch hướng đi như ban đầu đã định trước của mình. Chạy thêm vài giờ nữa thì đằng trước hiện lên một chiếc thuyền đánh cá treo cờ VC (cờ đỏ sao vàng), bên hông tàu thấy hai chữ Kiên Giang, giây phút trọng đại, mọi người như nín thở, từ thuyền bên kia phát loa yêu cầu thuyền chúng tôi ngừng lại để cho họ kiểm soát.

Không thể để bị bắt, rồi phải ngồi tù, tài sản bị mất sạch, nên thuyền chúng tôi quyết định mở hết tốc lực. Một loạt đạn AK nổ dòn bắn về phía chúng tôi, tài công lúc đó là anh Hai Liêm của tôi bị thương ở cánh tay, Mẹ bị thương ở bả vai, ông Ngoại bị thương nhẹ ở đầu. Thuyền bắt buộc phải ngừng lại. Tất cả bàng hoàng chờ đợi những gì xấu nhất sắp xảy ra.

Thuyền Kiên Giang là thuyền đánh cá nhưng có cán bộ VC, công an mang theo súng, bọn chúng bước qua thuyền chúng tôi lục soát từng người một kể cả những em bé 3, 4 tuổi, tịch thu một số vàng và tiền bạc (đô la) mà mọi người mang theo, chúng lấy một máy lớn của thuyền chúng tôi và dọa sẽ đưa trở lại vào bờ giao cho công an địa phương xử lý. Ông ngoại tôi là người lớn tuổi nhất trong thuyền, ôm vết thương còn chảy máu trên đầu loang xuống mặt, cố gắng năn nỉ giải thích:

– Các anh cho chúng tôi đi, nếu đưa chúng tôi trở lại bờ Việt Nam thì các anh chẳng có lợi gì cả, chúng tôi bị tù tội, tiền, vàng của các anh vừa tịch thu thì cũng phải giao nạp cho công an thôi.

Sau đó bọn họ cho chúng tôi đi, và chỉ hướng cho tàu chạy.

Còn lại một máy nhỏ, thuyền tiếp tục chạy một cách nặng nhọc, chậm chạp lướt sóng tiến về vùng biển Thái Lan. Chạy được một giờ đồng hồ nữa thấy có một chiếc thuyền giống thuyền đánh cá xuất hiện, khi chiếc thuyền này tiến lại gần không thấy treo cờ nước nào cả, nhưng dấu hiệu trên mạn thuyền được bôi lem, chạy với tốc độ nhanh rồi quay đầu chận ngang thuyền chúng tôi. Đã trải qua nhiều hiểm nguy, lần này tôi hồi hộp và lo sợ, tất cả như nín thở, những đứa nhỏ cũng biết được những gì quan trọng sắp xảy ra nên chúng ngồi thu mình vào thành ghe im re trông thật tội nghiệp. Tất cả không một tiếng động.

Tiếng nói ở thuyền bên kia là một tiếng lạ không ai hiểu gì, lúc đó cha Liêm là người biết tiếng Anh nói xin họ giúp đỡ. Toán người kia như không nghe biết, với cử chỉ hung hăng dữ tợn, cặp vào thuyền chúng tôi la hét lục soát từng người một.

Một lần nữa vơ vét sạch những gì tàu Kiên Giang VC vơ vét còn sót lại. Thấy kết quả lục soát chúng chẳng được là bao, chúng đi tìm từng bộ mặt một, nhất là nhìn chằm chằm vào những người đàn bà con gái. Mẹ tôi còn trẻ đẹp nhưng vừa bị thương mất máu co ro, mặt mày tái mét nên chúng bỏ qua không để ý tới.

Chúng đến gần tôi và chị H, bạn gái của anh Hai, chúng liền nắm áo chúng tôi kéo qua thuyền chúng nó.

Trước cảnh dã man này mấy anh tôi không kềm hãm được nên đã có phản ứng binh vực em mình (tôi lúc đó mới được 18 tuổi, cô kia xấp xỉ tuổi tôi hoặc lớn hơn một tuổi ) nên đã la ó phản đối. Mẹ tôi cúi lậy xin chúng tha. Ông ngoại, cha Liêm năn nỉ nài nỉ chúng chẳng nghe. Chúng đẩy chúng tôi qua thuyền chúng. Phẫn uất trước hành động tàn bạo này, mấy anh tôi đánh trả lại chúng. Chúng rút súng lục ra uy hiếp và chế ngự mấy anh. Lúc đó chúng lôi chúng tôi xuống nhốt dưới hầm tàu tối đen. Từ đó không hay biết chi nữa những việc xảy ra bên ngoài.

Sau khi bắt chúng tôi, chúng nổ máy cho tàu chạy, sau đó quay trở lại đâm vào thuyền chúng tôi làm vỡ thuyền, thuyền chìm, chuyện xảy ra tôi sẽ kể tiếp phần sau khi tôi gặp lại người dì ruột tại trại SongLa.

Ngồi trong hầm tàu tối đen mà lòng tan nát, tôi chấn tĩnh mình bằng lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra trước mặt tôi là hình ảnh của mẹ, các anh, em tôi và ba tôi. Mẹ, các anh em tôi giờ đây trên biển cả mênh mông đã trôi dạt về đâu rồi? Đã được tàu của thế giới tự do vớt chưa? Ba tôi trong trại tù CS tại trại Tiên Lãnh, Quảng Nam Đà Nẵng, ba là sĩ quan QLVNCH ở tù 10 năm rồi tương lai sẽ ra sao đây. Tôi nhớ hết những người thân thương, đầu óc tôi rối bời như có trăm ngàn mũi kim nhọn đâm vào quả tim bé nhỏ của tôi tan nát. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến hoặc tưởng tượng ra hoàn cảnh mà tôi phải gánh chịu như hôm nay. Nước mắt tràn đầy ra má mà chẳngoi hay biết gì, nước mắt đã làm dịu cơn khủng hoảng của tôi. Một niềm hy vọng loé lên trong đầu, chắc mẹ và các anh em của mình còn sống sẽ được tàu vớt, sẽ vượt qua nguy hiểm để đến bến bờ tự do và mình sẽ được gặp lại.

Ở trên tàu của bọn cướp được vài hôm, chúng chuyển tôi qua tầu đánh cá thứ hai, còn chị H. thì ở lại trên tầu của chúng nói tiếng Thái với nhau tôi không hiểu một tí gì cả chỉ biết cảm nhận theo linh tính của mình, thấy tàu này chuyên lo đánh cá, chắc là họ vừa đánh cá vừa làm hải tặc ăn cướp chăng? Một tuần sau chúng lại chuyển tôi qua tàu khác, cứ thế lênh đênh trên biển cả qua ngày thứ 51, ngày này chúng chuyển qua một tàu khác nữa, người trên tàu có vẻ hung tợn dữ dằn hơn những chiếc tàu trước đây.

Vào khoảng nửa đêm một tên đàn ông vào kéo tôi dậy, nhìn cặp mắt nó, thấy dễ sợ như muốn ăn tươi nuốt sống tôi. Người tôi run bần bật, miệng thầm đọc kinh xin ơn trên phù hộ cứu giúp. Chúng nó sờ mó và bắt cởi hết quần áo, chúng nói gì với nhau tôi không hiểu, chỉ biết kẹp hai chân cứng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, và nhìn vào vết thẹo nổi đỏ trên cánh tay tôi. Lúc nhỏ khoảng hai tuổi bị tai nạn phỏng dầu làm đường đến 50% khi chữa lành vẫn còn vết thẹo luôn ửng đỏ. Không biết ai xui khiến cho tôi cứ nhìn vào vết thẹo ấy và kêu la thảm thiết. Bọn chúng nói với nhau những điều gì, tôi cảm nhận như chúng e ngại về vết thẹo của tôi là bị bệnh phong cùi gì chăng? Sau khi bàn bạc chúng đã xô tôi xuống biển không cho một vật gì có thể trôi nổi trên mặt biển.

Nước lạnh làm tỉnh hẳn người, tôi đã thoát qua những bàn tay con quỷ dữ, cố gắng với hai chân để người mình nổi lên trên mặt nước (ở Cà Mau tôi sống bên sông nên bơi lội cũng khá giỏi. Trên biển giữa đêm đen, có gì ghê rợn bằng. Tôi cố sức mình chống chọi với bao ý nghĩ bi thương, bản năng sinh tồn lại đến với tôi mãnh liệt, tôi kêu xin mẹ Maria bổn mạng hãy cứu giúp tôi. Một lần nữa hình ảnh của mẹ, anh, em và Ba tôi ở trại cải tạo lại hiện ra như khuyến khích tôi hãy ra sức cố gắng chống chọi với tử thần để ráng sống may đâu có người cứu vớt. Vì thế mà đã qua được năm tiếng đồng hồ dưới biển lạnh.

Trời đã hừng đông, một tia hy vọng đến với tôi, nhưng người càng ngày càng bị lạnh cóng, sắp sửa không chịu đựng nổi nữa rồi, thì may thay, nghe có tiếng động cơ của thuyền chạy đến.

Tôi cố giơ tay lên nhưng thân hoàn toàn cóng cứng, rất may trên thuyền họ nhìn thấy, dừng thuyền lại và vớt tôi lên. Nguyện xin đây là một chiếc thuyền làm ăn lương thiện để tôi còn được sống an bình. Thật quả như lòng mong ước, tôi được những người này săn sóc tận tình, cho quần áo để mặc, cho ăn uống đàng hoàng và dùng máy vô tuyến gọi police (cảnh sát ) Thái cho tàu ra đón tôi vào bờ và đưa đến trại Song La và đến trại Sikiew.

Hằng ngày ở trại, cô đơn lạc lõng, thân gái dặm trường, hằng đêm nguyện cầu cho lòng vơi đi ít niềm đau. Mong chờ mẹ, anh em sẽ đến với mình, nhưng càng ngày càng thấy bặt tăm vô âm tín, lòng buồn rười rượi. Mỗi khi có người mới nhập trại tôi thường đến để cầu mong gặp người thân. Hôm nay bất thần tôi thấy dì Sa, em của mẹ thất thểu bước vào trại, dì cháu gặp lại nhau, nước mắt tuôn trào như mưa, và Dì đã kể lại những gì xảy ra kế tiếp khi tôi bị hải tặc bắt qua tàu của chúng.

Sau khi bọn hải tặc bắt con và H qua tàu của chúng. Vì không chịu nổi những uất ức các anh con đã phản ứng mãnh liệt đánh lại chúng nó. Nhưng chúng có súng, nên các anh con đành thúc thủ. Chúng lồng lộn lên lục soát nát bét trên tàu, bắt mọi người cởi bỏ hết quần áo chỉ cho mặc một quần lót mỏng, lấy hết những gì còn lại trên tàu, rồi rú máy cho tàu chạy.

Mọi người chưa kịp hoàn hồn thì thấy tàu hải tặc quay đầu trở lại, và chạy rất nhanh đâm thẳng vào hông thuyền của mình đánh rầm, thuyền vỡ làm đôi, một số người văng xuống biển. Đồ vật nặng chìm xuống nước, những vật nhẹ nổi lềnh bềnh. Trong lúc hỗn loạn, mỗi người đều bơi lội, vớ lấy can đựng dầu, đụng nước làm phao. Các anh con, Chương, Long bơi vớt những tấm ván để kết làm bè, kèm lên phần thuyền còn lại nổi trên mặt nước. Phần bè và thuyền nổi cho mẹ, dì, con của dì và Đạt, Hoài, hai em con. Ông ngoại và anh Liêm đã ra đi trong lúc thuyền bị đánh chìm vì cả hai đều bị thương.

Trời bắt đầu sập tối, nỗi kinh hoàng xâm chiếm lòng người. Màn đêm đem đến sự sợ hãi cho mọi người trong cảnh thập tử nhất sinh, lạnh đói và khát, nhưng vẫn cố gắng bu lấy bên nhau, cùng nhau sống chết.

Thấy các em con vì đói khát và lạnh, quá tội nghiệp nên Chương liều bơi, lặn xuống lòng thuyền may ra tìm được nước uống hoặc thức ăn. Nhưng đã lâu không thấy Chương trở lại, mẹ và Dì kêu gào thật lâu chẳng có tiếng trả lời. Hễ người nào chịu không nổi buông tay ra là đi vĩnh viễn. Thấy những người thân lần lượt ra đi, lòng mẹ và dì tan nát nhưng biết làm sao đây hỡi trời, chỉ biết đọc kinh cầu nguyện Chúa, Mẹ cứu giúp, hộ phù. Phía bên kia có Linh mục Hồ Quang Liêm và người em Hồ Quang Lập cùng mấy người bà con của cha trong đêm đó cũng ra đi.

Ngày thứ hai kể từ ngày đắm thuyền chỉ còn có dì, mẹ và mấy đứa nhỏ vì được ngồi trên bè, nên chống được sự lạnh cóng. Mẹ con bị thương máu ra nhiều, không ăn, không uống nên người mệt lả đi, hơi thở yếu dần, dì gọi mẹ không trả lời nổi, mẹ tức tưởi ra đi. Đạt, Hoài hai em của con ôm mẹ khóc thảm thiết, dì đứt cả ruột gan. Các cháu cứ muốn giữ mẹ lại bên cạnh không xa rời, dì khuyên nhiều lần các cháu mới chịu để mẹ con xuống lòng đại dương. Còn lại con Châu, con Xuân của dì mềm người vì đói khát lặng lẽ ra đi. Dì như người mất hồn, không còn biết gì nữa, đặt con mình xuống nước cho dòng nước trôi xuôi, đau đớn vô cùng.

Ngày thứ ba chỉ còn lại Dì, Em Đạt của con, mệt quá gục trên tấm ván, bỗng nó ngồi nhổm dậy nói: Để con lấy nước cho dì, con thấy có dòng suối trong xanh, nước ngọt lắm dì ơi nó định bước xuống nước để đi. Dì cầm tay nó kéo lại: Con ơi không có đâu, đó chỉ là ảo ảnh mà thôi, con ngồi xuống đây đọc kinh với với dì xin ngài ban phước. Sau khi kinh nguyện, yên tĩnh được một lúc, nó lại kêu lên khát nước quá dì ơi con chịu hết nổi rồi. Dì nói trong vô thức hay con uống đại một hớp nước biển xem có chống chọi được không? Sau khi uống một miếng nước vào bụng, tức thì cháu ôm bụng rên la khủng khiếp, nước bọt trào ra nơi miệng, nước bọt giống như bọt xà phòng trào ra, trào ra, cháu lịm người dần và nằm bất động, người cuối cùng ở bên cạnh dì cũng ra đi.

Còn lại một mình đang nằm chờ chết dưới ánh nắng như thiêu như đốt bỗng thấy có đám mây đen kéo đến trời đột nhiên dịu xuống, một vài giọt mưa rơi trên mặt dì, dì liếm từng giọt nước, nhưng người dì đã kiệt sức không còn hay biết gì nữa cả. Khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên thuyền đánh cá của người Thái Lan. Theo tàu họ trên biển, 15 ngày sau thì được đưa vào trại Batani, qua trại SongLa và dì gặp con tại đây.

Ôi ! Những biến cố đó trong đời làm tôi điên dại, sống dưới ánh nắng mặt trời mà như trong hang âm u. Tôi đã mất mẹ, mất anh, mất em, mất ông ngoại, cậu, cháu và những người thân yêu, 18 người đã chết tức tưởi, bỏ mình trên biển cả … Đó là tất cả NỖI BẤT HẠNH CỦA ĐỜI TÔI.

Mẹ ơi! Sao mẹ nỡ xa lìa con, xa lìa ba, ba đã chịu bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục trong ngục tù Cộng Sản. Các anh ơi! Các em ơi! Tất cả đã xa lìa tôi, vĩnh viễn ly biệt tôi một cách tức tưởi: Khổ đau tột đỉnh, hận thành non cao, Biển xa sóng lớn dạt dào, nhớ anh, em, mẹ có ngày nào nguôi.

Thùy Nhiên, viết từ Úc Châu

* Viết để kính dâng linh hồn mẹ Phạm Thị Khanh, Ông ngoại Phạm Văn Đình, Cậu Phạm Văn Tiếng, các Anh: Nguyễn Bá Liêm, Nguyễn Bá Chương, Nguyễn Bá Long, các em, Nguyễn Bá Phú, Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Bá Hoài, Chú nguyễn Văn Dậu, các em con dì Nguyễn thị Minh Châu, Nguyễn thị Minh Xuân, Nguyễn Minh Toàn và Linh mục Hồ Quang Liêm, chú Hồ Quang Lập và các anh bà con với cha Liêm mà tôi không nhớ tên.

* Viết cho Ba là Nguyễn Bá Quang. Ba và con cùng chịu NỖI BẤT HẠNH trên cuộc đời này.

Qua câu chuyện của thuyền nhân Nguyễn Thùy Nhiên, tôi mạn phép viết thành thơ để tặng tác giả và những mảnh hồn thương đau trong giai đoạn lịch sử Tháng Tư Đen 1975 đầy uất hận, bi thương.
(Xuân Mai)

***** VẾT SÂU XÉ LÒNG *****

(Viết tặng Thuyền Nhân VN)

Tên tôi là Nguyễn Thùy Nhiên
Viết dòng dư lệ oan khiên để đời
Trăm năm trong kiếp con người
Những điều bất hạnh một đời cưu mang
Đời tôi như triệu người đang
Nỗi đau mất nước bàng hoàng xác thân
Sống đời lưu lạc tha nhân
Niềm đau uất hận quẩn quanh tháng ngày
Cõi lòng bao nỗi đắng cay
Quê hương đất nước đong đầy vai mang
Nỗi nhà canh cánh ngổn ngang
Con tim rạn vỡ nát tan cuộc đời
Ngược dòng quá khứ xa xôi
Viết lên tâm trạng phận người lưu vong
Trải qua bao những thăng trầm
Vết thương rỉ máu mà lòng chưa nguôi
Bao nhiêu câu chuyện đổi đời
Trăm bề nghìn nỗi khóc cười đớn đau
Đoạn trường trong cuộc bể dâu
Oan khiên gieo nỗi thảm sầu ai đong?
Quê tôi bên dòng Cửu Long
Những con sông chảy xuôi dòng phù sa
Làng quê yên ấm nếp nhà
Đến ngày ly loạn bóng ma mượn hồn
Bẩy Lăm bao nỗi đoạn trường
Niềm đau thống khổ tiếng buồn hờn căm
Chong đêm ruột rối tơ tằm
Cảnh nhà tan nát ruộng đồng xác xơ
Quê hương nhuộm đỏ mầu cờ
Người đi cải tạo kẻ chờ chung thân
Sĩ phu vùi chốn rừng xanh
Để quân cướp nước lộng hành tác tung
“Đổi đời” máu nhuộm thành sông
Anh hùng tuẫn tiết một lòng trung trinh
Gái trai già trẻ giữ mình
Nổi trôi vận nước mưu sinh kiếp người
Cha tôi “lính ngụy nợ đời!”
Mười năm cải tạo phương trời cách ly
Mẹ tôi đánh đổi xuân thì
Nuôi chồng gánh vác tiếc gì chiếc thân
Nuôi con bao quản nhọc nhằn
Vùng kinh tế mới tập tành mưu sinh
Trẻ thơ theo cuộc hành trình
Nông trường lao động quấn khăn cổ cò
Cha già nặng gánh con thơ
Tìm đường vượt biển huyễn mờ xác thân
Trải bao cay đắng nhọc nhằn
Đợi đêm trừ tịch liều mình vượt biên
Lòng đau tấc dạ ưu phiền
Ra công lèo lái con thuyền TỰ DO
Bao nhiêu giông tố vỡ bờ
Ra đi một mất mười ngờ rủi ro
Dấn thân đánh đổi mầu cờ
Dẫu không chết biển cũng vô nhà tù
Quyết lòng đành đoạn sầu tư
Hy sinh hai chữ tuyệt mù bóng đêm
Bao năm đau đáu nỗi niềm
Bước đi một bước dặm nghìn gian truân
Bờ lau bụi nứa ẩn mình
Lương khô nước uống trăm phần lo toan
Đến ngày đêm tối thuyền quang
Dìu nhau dắt díu rỡ ràng qua sông
Nín hơi thở gượm tấc lòng
Con thuyền không bến dòng sông mơ hồ
Nghẹn ngào tiếng khóc trẻ thơ
Bóng đêm trừ tịch sóng xô thét gào
Biển trời thân phận lao đao
Chắp tay khấn nguyện đón chào bình minh
Bóng đêm xua đuổi bóng hình
Thuyền chao sóng vỗ dập dềnh biển khơi
Lênh đênh góc bể chân trời
Thuyền trôi rẽ sóng ngỡ người tầm ngư
Giật mình giây phút thiên thu
Niềm vui dập tắt kể như tàn đời!
Công an cướp biển ngoài khơi
Tóm thu vàng bạc bắt người chuộc thân
Đối đầu thập tử nhất sinh
Đang treo mạng sống trên cành cây khô
Trời thương bọn cướp giả lơ
Sau khi lấy của cũng lờ cho qua
Thuyền trôi đi mãi phương xa
Thoát cơn thống khổ chưa qua ngặt nghèo
Dật dờ trong cảnh óc eo
Gặp ngay hải tặc thét gào hung hăng
Đánh nhào uy hiếp thuyền nhân
Khảo tra vàng bạc mặc tình kêu van
Lũ người dã thú lòng hoang
Lưỡi lê giáo mác ngang tàng hành hung
Chị em lâm cảnh khốn cùng
Chúng giam hãm hiếp thét gầm kêu la
Súng kề miệng cổ âm ba
Sẵn sàng nả đạn bước qua xác người
Con thuyền trồi sóng ra khơi
Lắc lư trong tiếng hét cười dã nhân
Bỗng dưng thuyền vỡ tan tành
Đứt lìa hai mảnh xác thân chia lìa
Tiếng người gào thét thảm thê
Mồ chôn tập thể thác về biển khơi
Mẹ tôi bám ván thuyền trôi
Xác anh em thả khoang đời nắng mưa
Ông tôi chìm dưới sóng xô
Trăm nghìn lớp sóng vỗ bờ đêm đen
Bầu trời ngập nỗi oan khiên
Ma vương quỉ dữ hát trên thảm sầu
Biển đen thăm thẳm một mầu
Nỗi đau chung cuộc theo nhau về trời
Chuyến tàu định mệnh than ôi!
Cướp đi tất cả những người thương yêu
Hồn tôi như khói sương chiều
Nỗi đau tuyệt vọng, tiếng kêu xé lòng
Đất trời tiếng gọi hư không
Đêm sâu thăm thẳm tận cùng bóng đêm
Đời tôi đi giữa miếu đền
Viết dòng dư lệ thắp đêm nguyện cầu
Cho người nay đến nghìn sau
Khúc quanh lịch sử thẫm mầu bi thương
Trăm năm cát bụi mù đường
Tình quê non nước người thương theo cùng
Mai về thăm lại dòng sông
Bên bờ Đá Bạc trải lòng mơ xa
Bạc Liêu, Một chốn Quê Nhà!
Nhìn con trăng tỏ hồn ta chín chiều
Thắp lòng ngọn lửa tin yêu
Mong sao xóa được vết sâu xé lòng??
Ai về nghe chuyện dòng sông
Biển Đông dậy sóng cõi lòng mang mang
Tôi đi trên cánh đồng hoang
Ngược dòng quá khứ về ngàn dâu xưa
Quặn lòng nghe tiếng ầu ơ
Lời ru của Mẹ năm xưa vọng về
Bao giờ cất bước đường quê
Tôi về với Mẹ trong khe đá nằm
Ru đời hết những hờn căm
Trăm năm chung cuộc kiếp tằm nhả tơ
Vần thơ gói trọn sầu mơ
Cuộc đời ly loạn tiếng thơ đã chùng
Thơ tôi như gởi tiếng lòng!

Xuân Mai
***
*TRỐN TÙ

Tháng tư đen lại về, mời đọc lại câu chuyện Trốn tù cs của 4 vị Đại tá phe ta.
Bốn Đại tá trốn trại tù “cải tạo”

Võ Hữu Hạnh

Những năm dài tháng tận rồi cũng trôi qua trong nhọc nhằn khổ sở cả thể xác lẩn tinh thần. Thắm thoát đã hai năm qua ở mảnh đất tận cùng biên giới phía Bắc Việt Nam này. Hàng ngày chúng tôi phải dậy thật sớm trước khi tiếng kẻng rùng rợn vang lên giữa đêm giá rét O độ của miền Bắc rẻo cao này, để xếp hàng làm vệ sinh cá nhân, vì hể một khi tiếng kèn đã nổi lên rồi thì mình sẽ không còn là mình nữa,mà là một con trục quay cuồng trong guồng máy luyện thép khổng lồ.Thời gian đó các cai tù phân công chúng tôi ra từng cặp một trẻ một già, một khoẻ một yếu để vác một cây bồ đề dài khoảng 6 thước, chu vi chừng vài tấc trở lên qua đoạn đường rừng gần 10 cây số, mỗi ngày cặp tù nhân đó phải vác đủ ba chuyến như thế cho đủ chỉ tiêu. Lúc dó khoảng 4 giờ chiều, tôi và một anh bạn trẻ đang khiêng một cây Bồ Đề to lớn, đã cố sức vưọt qua bao nhiêu ngọn đèo,chỉ còn một đèo chót là đến nơi đang xây dựng bệnh xá được xây thêm cho càng ngày càng có thêm bệnh nhân tù.

Trời mưa tầm tã, dưới chân chúng tôi nước chảy thành dòng như muốn cuốn trôi mọi thứ, chúng tôi phải hết sức kềm chân cho chặt vừa phải oằn vai chịu sức nặng đẫm nước của cây tươi vừa đốn hạ. Bỗng nhiên anh bạn gánh vai sau trợt chân té ngửa, buông rơi cả thân cây to, khiến đầu cây còn lại đập mạnh vào hông phải tôi. Đau đón tôi ngất lịm, chân bị trật cả gân lẫn xương. Tôi vào bệnh xá dể được một ông y sĩ Trường Sơn, mỗi lần chữa bệnh, vừa xem cuốn sách châm cứu do Miền Nam ấn hành, vừa châm vào tôi cây kim dài đã hơ qua ngọn lửa vừa nói:

– Tổ chức châm cứu săn sóc anh đây. Chừng nào anh cảm thấy đau buốt thì cứ la lên, tôi sẽ tìm huyệt khác đúng hơn!.

Nhờ mỗi ngày chịu trận cho ông y sĩ dỏm này thực tập vài ba tiếng, tôi mới được ông ký giấy cho “Miễn lao động “ trong ngày ấy.

Ngày hôm trước ngày tôi bị cây to đè ngang hông, khi tôi khiêng cây dến đoạn đường Nghĩa Lộ, vừa đói vừa khát, kiệt sức tôi ngã vật xuống bên lềđường. Hai cán bộ bảo vệ trẻ thương hại mới đỡ tôi dậy, nhưng ngay lúc đó cán bộ phó trại, ngưòi mập lùn đi ngang qua, không cho đỡ tôi lại còn đay nghiến: “-Các đồng chí không việc gì mà phải đỡ hộ họ!” Rồi anh cán bộ phó trại quay sang chúng tôi sang sảng: “ Tôi biết rõ ở trong Nam, mỗi tuần các anh hầm thuốc Bắc một đứa trẻ từ một tuổi để bồi dưỡng, đúng là quân man di mọi rợ không có tính người! Vì thế anh nào cũng béo tốt như ri, lao động một chút không bằng ai mà cũng giả vờ té xỉu..nhất là mấy anh tỉnh trưởng!!!”

Nhìn vẻ mặt anh ta đỏ gay, gân cổ lên mà nói to ra vẻ rất hiểu biết, để gây thêm căm thù, chúng tôi bổng thấy thương hại sự ấu trĩ của họ hơn là oán ghét. Còn lạ gì một anh chăn trâu suốt đời không được học hành giáo dục, chỉ biết lặp lại nhai lại y khuôn những gì Đảng nói và nhồi sọ cho họ, gây căm thù giai cấp càng nhiều càng tốt. Họ có biết đâu lúc đó tại các thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn, hàng ngày các bác sĩ cán bộ được lệnh “Kế Hoạch Hóa Gia Đình”, để hợp pháp giết non hàng ngàn thai nhi vô tội.

Chúng tôi vẫn tiếp tục lê gót sống những ngày tù khoắc khoải, thì một hôm nọ, trời vừa hửng sáng là trại bị bọn cán bộ, lính bảo vệ trang bị súng ống chĩa vào các lán trạì tù. Ngày hôm đó họ kiểm soát rất gắt gao, nhân dịp tịch thu tất cả những gì chúng tôi có thể để dành ăn chống đói như đường,sữa, bánh ngọt khô.

Cán bộ phó oang oang cái miệng hò hét om sòm:

– Dzõ dzàng nà các anh ngoan cố phản động không chịu học tập cải tạo tốt để sớm lên ngườì công dân xã hội chủ nghĩa tốt, nhất là mấy bọn đại tá các anh đã phụ nòng tin tưởng khoan hồng của Bác, Đảng và Chính phủ, các anh có biết chuyện gì xảy ra sáng nay không?

Ai nấy đều rõ nhưng vẫn im lặng như không. Các lán trại đã tung tin rất nhanh về việc 4 ông đại tá đã trốn trại làm nức lòng nhũng trại viên còn lại. Họ vừa mừng vừa lo và van vái thầm cầu xin cho các vị đó được mau thoát đến đất Lào và biết đâu đến bờ Tự Do đất Thái.

Họ đi theo đội hình như sau:

– Đại Tá Thành, trung đoàn trưởng, trưởng toán trốn trại, mở đường.

– Kế đó là Đại tá Nguyễn Văn Thi, binh chủng Pháo Binh, người giữ địa bàn định hướng.

– Người đi giữa mang thực phẩm cho toán là Đại tá Đỗ Trọng Huề, cựu giám đốc QuốcGia Nghĩa Tử, cố vấn văn hóa cho tổng thống Thiệu.

– Và người giữ mặt hậu là Đại tá Quế, chỉ huy trưởng căn cứ không quân Pleiku.
Mỗi ngày trôi qua là thêm một ngày củng cố lòng tin cho mọi người. Các cán bộ điên cuồng như ác thú lùng sục tất cả núi đồi. các đội tù đi lấy cát, đá, vôi ở Bến Phà Ô Lâu cũng như các đội lao động nặng lên rừng đốn gỗ đều được lệnh tạm đình chỉ. Chỉ riêng 4 đội tăng gia và hái chè là còn hoạt động cầm chừng dưới sự giám sát gấp đôi của những chú bộ đội phúng phính trong bộ đồ “ Cứt Ngựa “.Các giờ giài lao 10 phút thưòng lệ đều bị cắt bỏ, chỉ tiêu tăng gấp đôi để mọi người mệt nhoài không còn thời giờ nghỉ ngơi dù là một phút giây nào. Vài anh tù “ nông cạn” vội chưởi rủa bốn anh trốn trại, vì họ mà cả bọn chịu cực khổ thêm. Còn lại đa số đều “ phấn khởi hồ hởi “ vì họ thêm một ngày hi vọng cho những ai chuẩn bị trốn trại sau đó.

Trại cho thay đổi ngay những người “ anh nuôi “. Những người nầy bị an ninh điều tra thô bạo. Anh đại tá Võ Ân bị gọi lên xuống mấy chục bận mỗi ngày để điều tra manh mối xem ai là người xếp đặt hậu cần cho các anh trốn một cách bí mật chu đáo mà không ai hay biết.

Bốn anh Đại tá trong đội “Cơ Động” hàng ngày đưọc phân công dùng xe cải tiến đến Bến Phà Ô Lâu chở vật liệu nặng về xây cất cho trại. Các anh lợi dụng những chuyến đưọc xuất trại xa như thế đã ngấm ngầm cấu kết với nhau âm mưu trốn trại qua Lào, với sự giúp đỡ của anh Võ Ân, phụ trách nhà bếp trại.

Sau cả tháng mỗi ngày giấu một ít thực phẩm khô, ngày N,giờ G, thừa lúc mấy anh bảo vệ lơ là, các anh ĐT nhà ta lần lượt biến mất sau mỗi quả đồi, hẹn nhau tại một điểm tập trung và … chạy trốn!

Các anh đã đi suông sẻ suốt ngày đầu tiên mà không ai hay biết cho đến chiều tối lúc điểm danh. Đội cơ động bị phát hiện thiếu mất bốn người khiến cán bộ quản giáo, bộ đội canh gác bấn lọan, bắn súng loạn xạ. Lúc đó cả trại mới hay có bốn ông “Bò Lục” trốn thoát, ít nữa là ngày đầu tiên, ai nấy vừa lo vừa mừng cho các anh.

Chúng tôi lo lắng vì noi miền rẻo cao này, mỗi người dân đều là Cộng Sản, là cán bộ tình báo của chúng để quan sát theo dõi chúng tôi sít sao, vì thế mà họ không ngại “thả” chúng tôi ra ngoài để lao động khổ sai vì vùng này họ cho là an toàn nhất,một con ruồi còn khó qua mắt họ.

Nhóm anh Huề, anh Thành, Anh Thi và anh Quế vớí sự trợ giúp hậu cần của anh Võ Ân, tưởng đã trốn trại được đến gần biên giới Lào vẫn bị chúng nó phát hiện sau năm ngày sát biên giới, mà theo lời kể của các anh là “chỉ cần qua bên kia con sông đang chảy xiết là đến đất Lào rồi”, kể thì các anh quá giỏi đã vạch kế hoạch, đi đúng hướng chính xác mục tiêu, thất bại chẳng qua là.. số mệnh dun rủi mà thôi!

Chúng họ theo đuổi lùng sục các anh tận biên giới, nơi chắc chắn các anh sẽ đến, quả thật bọn chúng đánh giá không thấp trình độ của các sĩ quan ta. Khi giải các anh về bọn chúng như bầy quỷ dữ khát máu hung hăng, tha hồ đánh đập hành hạ các anh chết đi sống lại cho hả cơn giận của chúng. Riêng anh Thành, trưởng nhóm vượt ngục, bị nhốt riêng rồi thay nhau đánh đập tra khảo anh từ suốt đêm đến sáng. Càng bị hành hạ, anh càng lớn tiếng chưởi bới, cho đến khi gà gáy sáng thì anh không còn có thể la mằng gì được nữa vì chúng nó đã treo cổ anh rồi.

Sau này khi tôi bị biệt giam với các anh Huề, Thi, Võ Ân, Tâm, Huy, Bình, Đức ở khu F, phòng 7, trại Hà Tây, Tỉnh Hà Sơn Bình, mỗi khi nhắc đến anh Thành là mọi người yên lặng rơi lệ, thành kính tưởng niệm một anh hùng bất khuất, nhất là anh Huề, Thi,Võ Ân.

Theo lời anh Huề, sau khi chuẩn bị kỷ lưỡng cà mấy tháng trời những địa điểm tiếp tế các anh đã lần lượt chôn dấu thực phẩm cho những ngày đầu còn ở gần trại thì các anh bắt đầu đi suốt ngày đêm, tránh gặp dânchúng. Đến ngày thứ ba và thứ tư qua, bốn anh em mừng rỡ tưởng gần như thoát nạn rồi. Đường càng xa Yên Bái thì núi non càng cao dần lên, nhiều nơi dốc như thẳng đứng khiến anh em khốn khổ vô cùng. Đến sớm ngày thứ tư thì anh Thành thoáng thấy từ xa một buôn làng có những cuộn khói bốc lên từ các mái tranh. Tuy mừng rỡ nhưng anh em bảo nhau đề cao cảnh giác đi bọc vòng xa ngôi làng.

Bổng đâu có tiếng rào rào như giông to sắp đến nơi, anh Thi, người định hướng đi trong rừng giỏi nhất vì anh là cấp chỉ huy pháo binh, kể chuyện tiếp:
“Lúc đó mọi người đều rã rời vì cơn khát nung nấu dày vò,nhưng tiếng động lạ càng lúc càng to dần,mọi người dều thủ dao sẳn bên mình, sẳn sàng chiến đấu một mất một còn với bất cứ ai khám phá ra bọn người đang quyết tâm đi tìm tự do với bất cứ giá nào.

Tiếng rì rào càng phút càng to dần trên đầu, bọn ngươì núp vào kẻ đá trong lùm cây chờ đợi. Thật bất ngờ! Mọi người há hốc mồm nhìn lên … đó là một con kỳ đà khổng lồ rất dài đang le chiếc lưõi đôi nhìn bọn người trốn trại nhỏ bé đang ép mình vào kẹt đá.

Ngươì ta thuờng nói “Ra đường gặp kỳ đà cản mũi, ắt việc không thành tựu được!”. Nhưng lúc đó đối với các anh tù vượt ngục đói khát suy nhược thì con kỳ đà này là món quà trời thương ban, giúp các anh có thêm sức lực.

Họ đã thấy xa xa con sông to dài tung lên những bọt trắng xóa chứng tỏ nước chảy rất mạnh. theo bản đồ và la bàn thì con sông đó có thể là sông Mekong chảy xuyên qua Trung Cộng, Lào, Kampuchia và Việt Nam, vì từ trên đỉnh núi cây lá dày đặc nhìn xuống thì nó rất rộng và dài vô tận uốn khúc như con rắn khổng lồ.

Gần bờ sông các làng mạc mọc nhiều, dân cư hay lên rừng đốn củi, săn thú nên anh em quyết định ngày ngủ dêm đi, di chuyễn dần lên phía Bắc nơi con sông hẹp hơn để vượt qua. Ai cũng mừng vì sắp thành công cuộc vượt ngục hi hữu này, cố làm sao đủ sức vượt sông đến khu rừng tre dày đặc bên kia xứ Lào.

Khi con người cố gắng hết sức để đạt mục tiêu, cơ thể có khả năng siêu việt vượt qua tất cả, để một khi đạt hay gần khi gần tới mục tiêu, cơ thể rũ liệt kiệt sức,các anh em vượt trại mấy ngày đêm nay thấy gần thành công thì bỗng dưng bao mệt mõi đổ ụp xuống, tuy nhiên anh em cũng cố gắng thay phiên nhau trực canh, tìm mọi phuơng cách để vượt sông an toàn.

Bổng nhiên có tiếng chó sủa càng lúc càng gần càng rộ lên. Thì ra, dân bản xứ đi rừng khám phá dâu chân lạ trên con đường mòn, gần bờ suối cây lá bị đạp ngã, họ thả chó đánh hơi và báo đồn công an, nghi ngờ có bọn thổ phỉ buôn lậu thuốc phiện xuyên biên giới.

Tiếng chó sủa dữ dội cùng tiếng súng bao vây các anh, nhữngtiếng quát tháo rợn người vang lên:

– Ai muốn sống giơ tay khỏi đầu ngay!

Rồi những gương mặt dữ dằn của bầy lang sói độc ác xuất hiện kèm theo những trận mưa đòn tàn bạo, gậy gộc báng súng đánh tới tấp trên đầu, cổ, mặt mũi, mình mẩy những nạn nhân tù đày ốm đói run rẩy không chút tự vệ.

Giữa trận mưa máu, có tiếng một cụ già:

– Thôi cho tôi xin các ông! Tưởng là bọn thổ phỉ buôn lậu biên giới, hóa ra là tù “cải tạo” Miền Nam. Họ không thể chống cự, hà tất phải đánh đập họ đến chết như thế!

Bốn anh em ngất lịm đi trong cơn mưa đòn khủng khiếp nhất trên đời. Mặt mũi mình mẩy họ không còn là con ngườii nữa mà là những con vật hình thù méo mó tả toi dươí những trận đòn từ những ác quỷ đầy hận thù đội lốt người thắng trận!

Chiều hôm đó tại lán trại, sau khi nhận điện báo khẩn, trại trưởng huy động hai đội lao công khẩn trương đục hang vào sưòn núi sâu, không ai biết để làm gì, tưởng là nơi để họ cất giấu vũ khí hay chứa thực phẩm lưong khô, đến khi có những tấm vĩ sắt dựng thành cửa ngục lên thì ai nấy đều hiểu ra đó là nơi để giam giữ tù vượt trại. Chúng tôi hoài nghi có lẽ bốn “Bò Lục” đã bị bắt và đang trên đường trở về.

Thật đúng như vậy! Một buổi chiều u ám, từ chân trời có tiếng vó ngựa tung bụi mờ, giữa bầy quỷ dữ đang hò hét trên lưng ngựa cho chiến thắng vĩ đại là bốn người tù bị lôi xểnh theo sau lưng ngựa, hứng chịu những trận đòn, họ té khụy xuống rồi lại bị lôi dậy lúp xúp chạy theo vó ngựa, rồi loạng choạng té xuống mặc cho những sợi dây trói chặt quấn lấy thân thể rách bươm lôi kéo họ như những thanh gổ vô tri giác!

Chúng tôi chết điếng lặng ngưòi nép bên đường nhìn họ đi qua sau giờ chúng tôi lao động cải tạo vể, vô tình hay cố ý họ cho chúng tôi thấy hình phạt khủng khiếp của những ai có ý định trốn trại. Chúng tôi để mặc cho giòng lệ tuôn trào từ những đôi mắt trũng sâu, lăn dài trên đôi gò má hốc hác khắc khổ. Anh em chúng tôi đó! Những NGƯỜI HÙNG sau cuộc chiến! Không thành công đã thành NHÂN! Dù không còn ai có thể nhận ra các anh, vì các gương mặt đã bị bầm dập tan nát sau trận mưa đòn thù.

Sáng hôm sau, anh Thành đã chết cách anh dũng bất khuất! Xin dâng anh một nén hương lòng!

Vài hôm sau đó, có lẽ để xoa dịu lòng căm phẫn nhem nhúm trong tù trại Yên Bái trại 2, hoặc gây chia rẽ nghi ngờ giữa các anh em tù, hoặc muốn tỏra rằng Đảng ta luôn khoan hồng nhân đạo,nên trong một buổi học tập chính trị toàn trại, người ta đem anh Quế trình diện mọi người, đề cao anh là “thành phần tiến bộ “, biết “ tội lỗi mình làm “, xin tập thể trại viên nhận anh lại vào hàng ngũ những người cải tạo tốt. Còn hai anh Huề và Thi hãy còn ngoan cố,chưa xứng đáng được nhân dân tha thứ, còn phải chờ lâu dài. Mọi người khẽ thở dài, không ai có ý kiến gì, bởi vì không ai đoán bọn CS thâm độc mưu mô này sẽ còn dùng chiêu thức gì nữa.

Ít lâu sau đó, ngày 19/07/1977, hàng ngũ tù Đại tá chúng tôi được lệnh chuyển sang trại Tám ở thâm sơn cùng cốc đầy ao tù nước vàng đặc, nếu lỡ đạp chân xuống đó sẽ bị nhiễm sốt rét hoặc sốt rét rừng kinh niên. Ngay ngày đầu tiên khai hoang vùng hoang địa này dể trồng trọt, tôi là bệnh nhân sốt rét rừng đầu tiên. Cứ khoàng 4, 5 giờ chiều cơn rét kéo tới hành hạ tôi run lập cập, đắp bao nhiêu mền vẫn không đủ ấm, cái lạnh từ trong xương lạnh ra, rồi đến 12 giò đêm thì nóng sốt như lủa đốt như có muôn ngàn ngọn lửa châm vào đầu ngón chân mình mẩy. Thế mà sáng ra không được nghỉ ngơi, họ cho là tôi bệnh vờ nên tôi vẫn phải lao động như thường. Như chưa đủ khốn khổ, người phát thuốc ở trạm xá, vốn là người “ của ta “, nhưng nhờ “quen biết “ cán bộ, nên bắt chẹt anh em, mỗi lần anh ta bố thí cho vài viên Quinine, đã bị anh ta liếm hết chất ngọt bọc đường bao quanh, là đổi lại chúng tôi phải biếu hắn thuốc lào ba số hoặc đồ thăm nuôi. Thuốc men gia đình chúng tôi gửi nuôi đều bị trại cất giữ hộ, họ phát “Xuyên Tâm Liên “ để trị bá bệnh!

Võ Hữu Hạnh
***
*CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ ( bài viết rất hay)

“Tôi vào lính năm 18 tuổi. 12 năm 4 tháng làm lính. Chuyện cải tạo Vườn Đào và người tù về sớm nhất có thật 100% là tôi”.
Phi Hùng.
“Tượng nào cao bằng tựơng Trần Hưng Đạo
Lính nào xạo cho bằng lính Hải Quân”.

Tôi sáu năm làm lính, thêm sáu năm làm quan, binh chủng Hải Quân. Xạo là chuyện đương nhiên.

Xứ VNCH ta, Bộ Binh, Không Quân chỉ có 4 vùng chiến thuật nhưng Hải Quân có vùng 5 Duyên Hải; Phú Quốc, Côn Sơn. Như nhiều chàng lính biển khác, tôi có thừa tài xạo. Xạo như thật. Xạo với gái bán bars, xạo cả với thượng cấp, nhưng không dám xạo với gái nhà lành, vì tôi rất sợ vướng nợ giai nhân rồi dính lưới hôn nhơn. Đời lính biển đầy những chuyến hải hành dài cả tháng mà có vợ thì xác suất nuôi con của thiên hạ rất cao.
Thôi thì cứ xạo với mấy em bán bar, mấy cô chịu chơi cho đời vui cái đã rồi tính.
Cùng dòng họ Trần Thiện như tôi, có một ông Đại Tướng, 2 ông Đại Tá, mấy chục ông tá, ông uý.
Ông bà nội tôi là loại điền chủ sau khi đã bị chánh phủ VNCH mua lại bởi luật người cày có ruộng; vẫn còn 100 mẫu để canh tác và 15 mẫu ruộng hương hỏa. Cha tôi là một triệu phú có đủ thứ, villas, nhà lầu 4 tầng với mấy chục phòng cho Mỹ mướn rồi sáu bẩy căn phố. Tôi thằng con trưởng nam, vậy mà không được ai nuôi cho ăn học. Ngay khi biết mình 18 tuổi, tôi tự nguyện vào lính hải quân dù chưa nhận được lược giải cá nhân.

Làm lính chưa đầy 6 năm tôi mang lon Thượng sĩ, năm chưa tròn 24 tuổi; đi đâu cũng bị quân cảnh xét giấy tờ coi có mang lon giả hay không. Tôi chỉ mong hết 5 năm để giải ngũ, nhưng rồi chiến cuộc leo thang nên bị lệnh lưu ngũ. Sau đó, tôi đi học làm quan, thăng cấp từ chuẩn úy lên trung úy thì tự động.
Dù làm lính hay làm quan, tất ba gai không bỏ. Gái đến cầu tàu rủ rê đi chơi thì dù đang gác cũng đem súng giao cho sĩ quan trực và bỏ đi chơi 5 ngày sau mới về; vì đi 6 ngày bị cho là đào ngũ nên chiều ngày thứ 5 là tôi về trình diện và vui vẻ nói lý do là “Tại gái xuống tận cầu tàu rũ đi chơi” và vui vẻ đi tù.

Từ đầu tháng Tư 1975, ngay khi thấy chộn rộn, nhiều người tìm đường ra đi, tôi đã chọn đã chọn ở lại. Là sĩ quan hải quân, tôi mà muốn ra đi thì tàu nào cũng lên đi được hết. Tàu nào cũng có bạn cùng khóa lính hay khóa quan hay cùng đơn vị khi xưa; Hơn nữa, nơi tôi phục vụ là Trường Chiến hạm của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, chuyên huấn luyện tác chiến và thanh tra các chiến hạm của hải quân nên gần như quen biết rất nhiều. Những thường dân mang cả gia đình đứng lớ ngớ trước Hải Quân Công Xưởng muốn vào phía trong để xuống tàu mà không vào được tôi còn dẫn dùm vào. Tôi xa mẹ từ thuở nhỏ nay chỉ muốn được sống bên mẹ của tôi mà thôi. Tôi tự tin là dù hoàn cảnh nào, mình cũng có thể xoay trở để sống còn.

Chiều 30 tháng Tư, lần đầu tiên tôi đến nhà ba tôi. Đứng trên sân thượng của building 4 tầng trên đường Chi Lăng, nhìn những chiếc T. 54 của Quân Bắc Việt từ bệnh viện ung thư và tòa hành chánh tỉnh Gia Định quẹo qua đường Chi Lăng ngang bót Hàng Keo qua trước nhà ba của tôi để tiến về Dinh Độc Lập. Tôi rơi nước mắt. “Thế là hết; Tôi thua trận; Tôi bị mất Nước!”

Tôi rời bỏ Biên Hòa về quê mẹ nhưng bị truy tìm nên phải về quê của Ông Ngoại và 15 ngày sau mới trình diện ở Quận Chợ Gạo. Hai tháng sau khi trình diện, tôi được đưa đến tập trung ở Đình xã Tân Lý Tây. Ngôi đình nầy được cho là linh thiêng vì không bị dấu vết của bom đạn. Ở đây chúng tôi phải khai lý lịch chừng chục lần trong 2 tháng. Ngay lần khai đầu tiên, tôi hiểu ngay đây là lúc phải xài tài ba xạo. Mấy ông họ hàng Trần Thiện theo phe quốc gia không dính gì đến tôi. Bố mẹ, chú bác anh em nhà tôi đều theo kháng chiến, có cả lô tử sĩ. Nhiều lúc đang ngủ bị dựng dậy bắt khai lý lịch vì lệnh trên bắt khai lại. Lý lịch của tôi là lý lịch xạo thì làm sao nhớ mà khai cho đúng y như nhau nên phải chép thật nhỏ giấu vào trong bâu áo. Mỗi lần khai là lần lấy ra xào lại.

Sau đợt lý lịch, một ngày Thứ Bảy gần tối, cả bọn trình diện được lùa lên một đoàn xe GMC và xe hàng loại chở heo đến. Lệnh chỉ ngắn gọn, “chuyển trại”, không cho biết sẽ đi đâu. Xe chạy về hướng Cai Lậy, một bên lộ là con kinh. Một tên trên xe nói tới Mỹ Phước Tây rồi.
Mỹ Phước Tây cái tên nầy nghe quen quá. Tôi cố moi trí nhớ. Phải rồi, đây vùng nằm giữa Đồng Tháp Mười, trên đường đi Mộc Hóa.
Qua Mỹ Phước Tây chừng 2 hay 3 km, xe dừng lại. Cán bộ coi tù cho biết đây là Trại Cải tạo Vườn Đào. Tên Vườn Đào là vì ngày xưa có người lập vườn trồng đào lộn hột nhưng rồi bỏ hoang. Trên chục dãy nhà lá dài hàng mấy chục thước. Vào trại, tôi được một số trại viên cũ cho biết họ bị bắt trước ngày 30 tháng 4 và đưa về đây, lùa đi đốn cây làm nhà cho trại. Chúng tôi được chia ra 25 người vô một tổ. Trải nylon quấn mền ngủ qua đêm vì quá tối không thể tìm cách giăng mùng.

Trại cải tạo Vườn Đào đúng là cái trại tù không giống bất cứ nơi đâu. Trong trại không ai nhìn ra tôi. Tôi nhận ra một Thiếu úy ngày xưa ở quân trường Nha Trang tôi làm Đại đội trưởng của hắn nhưng nay nhìn tôi hắn ta ngó lơ. Thế cũng là tốt.
Thời mới đến trại Vườn Đào, tôi nhờ được Mẹ lên thăm vừa tiếp tế vừa dúi tiền cho, nên ăn no xài bảnh. Nhưng những ngày tù “huy hoàng” cũng tới lúc kết thúc. Đổi tiền. 22 tây tháng Chín, 1975, tôi còn trên 100 ngàn, phải chia cho bạn bè đổi dùm. Cán bộ đưa cho mấy đồng còn bao nhiêu giữ lại. Vậy là hết thời vung vít.

Trong trại, ngoài màn lao động còn đủ kiểu họp hành, bắt viết đủ thứ “tự khai” rồi “thu hoạch.” Anh nào bị gọi lên “làm việc” là có chuyện vì bị báo cáo gì đó. Tự biết mình khai lý lịch xạo, muốn yên tôi đóng luôn vai dữ, sẵn sàng đập lộn. Hăm he và thừa cơ đánh vào chỗ yếu của thiên hạ là cách sống còn mà trường đời dạy tôi. Nhược điểm là thằng nào cũng muốn được thả về sớm. Tôi thì tuyên bố tao không cần ra sớm. Tiền bạc mẹ và em của tao đủ sống nhiều năm nữa; Tao không cần ra sớm vì tao biết không thể nào ra sớm; Thằng nào cà chớn tao đập để cùng nhau ở trại tù muôn năm cho vui.
Đòn phép này có vẻ hữu hiệu, vậy mà yên được ít lâu, rồi cũng có ngày tôi bị gọi đi trình diện “làm việc”. Chắc là bị báo cáo gì đây. Trước khi đi, tôi còn hâm he:
– Tao mà bị gì thì thằng nào báo cáo nên trốn đi chứ không thì đừng trách tao nặng tay.

Người chờ “làm việc” với tôi không phải tay cán bộ coi an ninh trại mà là một Trung Úy cán bộ người Miền Nam nằm vùng Đồng Tháp Mười. Ngay khi gặp mặt, anh ta tự xưng là “chính trị viên” và trấn an tôi ngay:
– Tôi gọi anh lên chỉ để nói chuyện chơi cho biết thôi, không có gì quan trọng.
Sau đó, tôi còn được mời ngồi, rồi chính viên trung uý cán bộ này đưa thuốc lá của anh ta ra mời hút.
– Tôi vừa đọc xong mấy bài thu hoạch của anh. Anh là văn sĩ à?
À thì ra anh ta thích đọc “văn xạo” của tôi. Trong tự khai rồi thu hoạch của tôi, mẹ tôi từng là cán bộ huyện Giồng Trơm tỉnh Bến Tre từ thời Thanh Niên Tiền Phong chống Pháp và cha tôi thì thời đầu kháng chiến từng là đồng chí của tướng Trần văn Trà. (Thực sự thì Ba tôi có một thời tham gia kháng chiến, biết Trần văn Trà trước khi ông rời khỏi chiến khu về thành) Chuyện trò lan man, anh ta còn hỏi làm sao bài tôi viết đề cập tới nhiều người chính anh ta cũng chưa biết.
Sau hơn tiếng đồng hồ được mời trà mời thuốc, trước khi ra về, viên Trung Uý còn bảo tôi cứ về trại an tâm tin tưởng cách mạng luôn có tình có lý. Được thả về trại bình an, bạn tù vây quanh thăm hỏi việc gì vậy, tôi trả lời:
– Trung Úy Chính Trị Viên (thay vì nói là cán bộ) kêu tao lên hút thuốc nói chuyện chơi và khen bài viết của tao có thể xuất bản thành sách cải tạo!
Tù cải tạo được cán bộ gọi lên nói chuyện chơi mà không có gì hết thì đúng là “đáng ngờ.” Saù đó tôi thật là thoải mái dễ sống, không tên nào dám báo cáo gì hết.

Một hôm, vừa cơm trưa xong tôi bị kêu lên gặp cán bộ. Vẫn viên trung uý chính trị viên lần trước, nhưng lần này anh ta không ngồi văn phòng mà đứng sẵn trên bậc thềm khu cơ quan đón tôi. Sau màn chào hỏi, anh ta vui vẻ dẫn tôi lại văn phòng thuộc khu của trưởng trại, bảo tôi chờ phía ngoài. Anh ta vào phòng một lát rồi đi ra, bảo tôi bảo “Hôm nay anh sẽ làm việc với đồng chí bí thư, tôi sẽ gặp anh sau.“ Nói xong, viên trung uý ra dấu cho tôi đi tới phía văn phòng cửa mở sẵn rồi bỏ đi. Tôi đứng lại tần ngần bên cửa, đang tự hỏi không hiểu chuyện gì thì từ trong phòng, một giọng nữ miền nam vang ra:
– Anh vô đi.
Giọng nói có vẻ lạ. Tôi bước vào phòng. Không thấy ai. Bàn làm việc ghế ngồi bỏ trống. Vẫn cái giọng nữ ấy vang lên phía sau tôi.
– Anh ngó lui coi. Tôi ở đây.
Giọng nói vang lên ngay bên cửa, nơi tôi vừa bước qua. Không phải khăn rằn. Cũng không bà ba đen. Một cô mặc áo sơ mi trắng ngắn tay bó sát chưa quá ba mươi tuổi đứng khoanh tay bên cửa. Cô ta nhìn thẳng vào mặt tôi:
– Anh không nhớ tôi đâu nhưng tôi biết anh. Tôi biết anh đánh lộn trong trại. Tôi biết anh khai lý lịch xạo.
A, phút nguy hiểm đã tới. Thì ra cái người mà viên trung uý gọi là “đồng chí bí thư” là cô này. Phải coi cô ta là thứ người gì rồi mới liệu đường mà thoát hiểm. Ai đây? Động nào, bars nào. Có phải mấy cô tôi từng gặp ở làng Cam Ranh hay ở bến bờ nào đây?
– Anh đang cố nhớ mà không thể nhớ ra. Tôi không ở những nơi mà anh đang nghĩ đâu. Anh cứ nhìn tôi coi có nhớ gì không?
Cô ta vẫn đứng yên bên cửa, vẫn khoanh tay nhìn tôi và như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi. Có vẻ thấy tôi giống như con nai vàng ngơ ngác giữa trời mùa đông, cô ta nhắc lại điều vừa nói:
– Anh đừng cố tìm tôi trong những chỗ anh thường lui tới. Tôi không phải loại đó. Thong thả, tôi sẽ nhắc cho anh nhớ. Chúng ta chỉ gặp nhau một lần.

Biết tôi không thể nhớ ra gì hơn. Cô ta tiếp tục:
– Có lẽ chưa đầy 30 phút. Nhưng tôi biết về anh. Tôi đã coi tất cả hồ sơ của anh. Bao năm qua, tôi vẫn quyết phải tìm cho ra anh. Đầu tháng Năm, sau khi ổn định tình hình; tôi lên Sài Gòn vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Giấy tờ hồ sơ của hải quân còn đầy đủ cả. Một người của chúng tôi nằm vùng ở phòng tổng quản trị đưa cho tôi danh sách những người trình diện; còn anh ta thì tìm giúp tôi danh sách các quân nhân hải quân trước 75. Có ba người trùng tên anh, tất cả đều là sĩ quan. Một Trung tá là người Bắc di cư; một Trung úy người Nam và một thiếu úy người miền Trung. Tôi biết anh người Nam. Trong danh sách sĩ quan hải quân trình diện, tôi tìm thấy tên anh, một Trung úy người Nam, địa chỉ Tân Vạn Biên Hòa. Tôi lên ngay Biên Hòa thì công an xã cho biết anh bỏ cây xăng trốn đi đâu không biết. Anh đâu có trốn khỏi tay tôi.
À, đúng là một tay nguy hiểm. Không hiểu mình gây thù chuốc oán gì mà bị săn lùng tới mức này. Chắc phải giả ngây giả dại mới qua khỏi ải này, tôi nghĩ. Cô ta nói tiếp:
– Tôi biết anh đã trình diện. Sau khi có lệnh tập trung cải tạo tôi tìm hầu hết các trại cải tạo miền Tây và đến Mỹ Tho nầy thì thấy tên anh; Lý lịch anh khai ở trại này toàn là thứ ba xạo, đúng chưa? Con trai độc nhất trong nhà như anh thì đào đâu ra mà có anh ruột là Thương Uý tập kết tử trận ở Cà Mau. Anh muốn tôi kể thêm nữa không?
– Cô… Cán bộ. Cô…

Thấy “con mồi” đứng lơ ngơ chịu trận, cô ta có vẻ hài lòng, thong thả rời chỗ đứng về lại bàn rồi bảo tôi:
-Trong trại này anh còn dám đánh lộn rồi còn tuyên bố chẳng cần được thả sớm. Anh “chì” lắm ma, sao nay ú ớ vậy. Thôi, ngồi xuống đi. Bây giờ chú ý nghe tôi nhắc. Anh nhớ Năm Căn không? Nhớ đi…
– Năm Căn Cà Mau?
– Còn Năm Căn nào nữa. Ngày ấy anh chỉ là một anh thuỷ thủ quèn mà làm tàng… Nhớ đi. Rán coi. Tôi nhắc thêm nghe. Thấy trên cánh tay bọn tôi có bốn dấu xâm, anh ba hoa giảng lung tung rồi bảo chúng tôi đi đi, mau mau về nhà lo làm ăn mà kiếm tấm chồng…
….

À á. Năm Căn. Bốn vết xâm. Tôi bắt đầu nhớ. Chuyện đã mưới mấy năm trước, hồi tôi mới vào lính. Sau 2 tháng được huyến luyện quân sự ở Nha Trang, tôi xuống chiếc tàu Há Mồm ( HQ. 500) làm thủy thủ tập sự và được tham dự “Chiến dịch Sống Tình Thương” ở quận Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Đây là nơi mà khi tàu ủi bãi, có mấy đứa con nít đến, dơ tay gõ vào thành tàu rồi la lên “bằng sắt thiệt tụi bây ơi”; Chúng tôi thấy lạ kỳ nên hỏi vậy chớ các em nghĩ tàu làm bằng gì. Bọn nhỏ nói các ảnh nói tàu làm bằng cạc tông.
Cũng trong chiến dịch này, có bữa địa phương quân đưa xuống tàu chúng tôi ba nữ giao liên gửi cho hải quân giữ chờ hải thuyền đến chở giao về tỉnh Cà Mau. Chiến dịch chấm dứt, tàu tôi được lệnh phải đi công tác khẩn chuyển quân ra miền Trung. Chỉ huy tàu bảo ba cô giao liên chỉ là bọn con nít, chẳng biết gì, cho lệnh phóng thích luôn. Tôi đang phiên gác với một ông Trung sĩ nên được lệnh xuống phòng tạm trú dẫn ba cô lên bờ thả cho đi. Đúng là cả ba đều con nít, hai cô 15 tuổi, cô lớn chắc cũng chỉ 16, 17 tuổi. Thấy trên cánh tay các cô có 4 dấu xâm, tôi nói:
” Các cô có biết 4 dấu chấm xâm trên cánh tay ý nghĩa là gì không? Sinh Bắc Tử Nam là để cho người miền Bắc vượt tuyến vào Nam thề chiến đấu cho đến chết vì Bác vì Đảng. Các cô sinh ở miền Nam không lẽ Sinh Nam Tử Bắc hay Sinh Nam Tử Nam thì chống lại với người Miền Bắc hay sao? Về xóa hết đi lo làm ăn kiếm tấm chồng mà sống cho bình thường. Chuyện đánh nhau là chuyện của đàn ông, con trai đừng xía vào cho khổ thân.”
Không lẽ chỉ nói chừng đó mà thành mối hận để bay giờ phải trả. Thấy tôi nín thinh, cô cán bộ áo trắng nhắc tiếp:
“Anh nhớ thêm đi. Lúc anh bảo ba cô đi đi, tôi không chịu đi mà đòi anh đem giao chúng tôi cho tỉnh Cà Mau. Anh hỏi tại sao thả mà không chịu đi mà đòi giao cho tỉnh. Tôi nói chứ không phải thả đi để các anh bắn từ phía sau lưng hay sao? Anh phá ra cười rồi hỏi ai bảo các cô vậy? Tôi nói nghe các anh lớn nói. Anh hỏi lại nếu thả để bắn sau lưng thì còn ai sống mà kể lại cho các anh lớn biết. Rồi anh tiếp là chẳng những hải quân mà tất cả các binh chủng khác cũng không có binh chủng nào thả người rồi bắn sau lưng. Anh còn nói bắt người thì phải đưa ra tòa xét xử, nếu có tội thì phạt tù chỉ khi nào giết nhiều người, làm hại nhiều người thì mới bị kết tội tử hình công khai chứ không bao giờ bắn sau lưng cả. Anh nhớ ra chưa?

Thấy giọng cô ta bỗng như dịu lại, không có vẻ gì là hằn thù, tôi làm bộ như vừa chợt nhớ ra và kêu:
– A…A… Cô có thể cười cho tôi coi không?
– Có lẽ anh đang nhớ ra rồi; vì ngày đó anh có khen tôi cười có hai núm đồng tiền nên dễ kiếm chồng lắm.
Cô ta nhìn thẳng vào mặt tôi và cười. Hai núm đồng tiền, bên phải sâu hơn bên trái.
– Đúng rồi. Đúng cái mặt cười năm xưa. Tôi nhớ sau khi tôi khen cô bé còn nguýt tôi một cái thật dài. Tôi nhớ hoài cái nguýt dài ấy.
– Ở đó mà cô bé, cô bé….
Tức thì thêm một cái nguýt dài trên mặt cô cán bộ. Đôi má núm đồng tiền bỗng như linh động hơn.
Sau cái cười và cái nguýt dài của cô cán bộ áo trắng, tôi cảm thấy nhẹ người.
– Anh nhìn lại coi. Hơn 12 năm rồi. Đâu còn con bé nào ở đây.
Đến lượt tôi cũng nhìn thẳng vào mắt cô ta và cười. Câu chuyện từ lúc này bắt đầu thấy dễ chịu. Tôi nói:
– Sau khi đưa các cô tới gần cái chợ nhỏ bên sông, thấy chỗ an toàn, tôi mới bảo các cô đi đi. Khi các cô đi qua khu chợ, tôi còn đi theo một đoạn canh chừng. Không thấy cô ngó lui.
– Tôi không ngó lui nhưng biết anh đi theo.. Chắc anh không thể ngờ là khi về nhà rồi, ngay ngày hôm sau tôi còn trở lại khu bến sông ấy, nhưng tàu của anh đã đi rồi.

– Tôi có nghe viên trung uý vừa rồi gọi cô là đồng chí bí thư. Chắc cô đã là đảng viên lâu năm.
– Vậy là anh đã nghe. Đúng là tôi đã 12 tuổi đảng. Ngay khi trở về, tôi được kết nạp đảng. Sau đó được chuyển về làm công tác nội thành, theo dõi thầy cô và hiệu đoàn học sinh trường trung học Cà Mau nên tôi học thi lại Tú tài 1 và năm 65, tôi đậu luôn Tú Tài 2. Sau đó ít lâu, tôi chuyển về công tác nằm vùng tại đại học Long Xuyên cho tới ngày giải phóng. Anh không biết là bao năm qua, tôi vẫn tin là sẽ có ngày tôi gặp lại anh…
Tôi nói:
– Thì chúng ta đang gặp nhau ở đây.. Hôm nay tôi đã là người tù. Cô là người thắng trận. Ngày ấy, thấy trên cánh tay các cô có mấy vết xâm, tôi lỡ nói mấy câu gì đó. Mong cô không để tâm.
– Anh khỏi cần phải mong. Mấy câu anh nói ngày ấy tôi không bao giờ quên. Hôm nay tôi cố ý mang áo sơ mi ngắn tay để anh thấy trên tay tôi không còn vết xâm nữa. Tôi đã xoá bỏ chúng từ lâu. Anh thấy chưa, không còn dấu vết hay để thẹo gì cả.
Cô ta vừa nói vừa đưa cánh tay ra. Thấy tôi im lặng, cô ta nói luôn:
– Anh không cần phải sợ tôi. Hơn 12 năm trước, khi trở lại bến sông ở Năm Căn tìm anh, tôi chỉ muốn anh biết là tôi cám ơn anh. Hôm nay cũng vậy. Trước đây, khi bắt đầu đi tìm tung tích anh, tôi chỉ mong một lần gặp lại coi anh sống ra sao, vợ con dùm đề thế nào. Khi coi hồ sơ, tôi đến địa chỉ ghi trong lý lịch thì ra là nhà của ông ngoại anh chứ không phải nhà của mẹ anh. Tôi hỏi địa chỉ và đến thăm mẹ anh ở xóm Tân Vạn. Chính bà than phiền với tôi là cho đến nay anh vẫn còn độc thân. Nhìn hình trong nhà, tôi nhận ra anh ngay. Bao năm qua, tôi không thể quên ánh mắt tinh nghịch nụ cười nửa miệng của anh. Mẹ anh kể là mấy cô bạn anh toàn là gái giang hồ, bán bar. Anh sợ lập gia đình nên không dám quen gái nhà lành. Mẹ anh nói có lần bà bảo anh cưới cô giáo nhà bên cạnh nhưng anh nói không muốn có vợ vì sợ phải nuôi con thiên hạ. Anh biết vì sao mẹ anh kể tôi nghe mọi chuyện về anh không?
– Vì cô hỏi thì bà kể. Mấy chuyện đó có gì đâu mà mẹ tôi phải dấu.
– Không phải vì tôi hỏi mà mẹ anh rất thương tôi, tự bà kể ra. Bà muốn tôi phải biết tất cả về anh. Tại sao anh biết không? Tại tôi nói với mẹ anh rằng tôi là người anh thương của anh. Anh đã tính đưa tôi về ra mắt mẹ nhưng chưa kịp làm. Tôi không chỉ nói mà còn ở lại với mẹ anh hai ngày hai đêm. Bà nói với tôi không sót điều gì, từ ba anh tới bà con chú bác dòng họ. Mẹ anh còn nói bà thiệt mừng khi thấy tôi tự đến ra mắt bà. Hôm nay gặp lại anh, chúng ta không có nhiều thì giờ để vòng vo nên tôi phải nói luôn với anh chuyện này. Tôi thật lòng muốn làm bạn với anh.
Một cô cán bộ 12 tuổi đảng muốn làm bạn với tôi. Chuyện thật khó tin.. Tôi nói:
– Cám ơn cô nhưng tôi chỉ là một tên tù không biết ngày nào về, làm sao có thể là bạn của cô được.
– Ngày xưa anh từng mang tôi ra khỏi nhà tù, lần này, đến phiên tôi sẽ cứu anh ra khỏi nơi này.

Chuyện tưởng như đùa nhưng cô ta nói nghe chắc như ăn bắp. Tôi từng nghe chuyện lý lịch với phía cộng sản là sinh tử. Có nhiều cán bộ cao cấp tập kết ra Bắc nay thấy con cháu đi tù cải tạo mà ngó lơ, không ai dám dỡn mặt với kỷ luật đảng. Tại sao cô cán bộ này dám nói ra miệng là sẽ ra tay cứu mình. Cô ta là thứ bí thư gì vậy. Âm mưu gì đây mà cô ta phải tìm đến ở với mẹ tôi mấy ngày đêm để nắm hết lý lịch bí ẩn của tôi. Mẹ tôi vốn cả tin. Chưa bao giờ tôi mang bất cứ người cô nào về nhà ra mắt mẹ. Nay thấy một cô gái có vẻ con nhà lành dễ thương tới xưng là người tình của thằng con, bảo sao bà ta không tin ngay mà thương. Nhưng tôi đâu có khờ như bà mẹ mình được. Tôi nói:
– Cô đã biết hết lý lịch thật của tôi. Tất cả rồi sẽ bị phanh phui, chắc tôi sẽ khó sống. Cô tuy có 12 tuổi đảng nhưng dính đến tôi sẽ có ngày liên lụy. Xin cô tha cho tôi.
Cô ta cười to và nói:
– Anh khỏi lo dùm tôi. Tôi đã hứa là sẽ làm. Anh cứ sống bình thường như mọi người trong trại là được rồi.
Cô ta đưa cho tôi một túi quà và nói:
– Đây là quà của riêng tôi biếu anh. Mẹ anh cũng muốn gửi quà nhưng tôi nói bà cứ giữ đó. Tháng tới tôi sẽ đưa bà lên thăm anh. Thôi, anh về đi. Trưởng Trại có lẽ sắp trở lại.
Tôi nhận gói quà, chào cô ta ra về mà gần như người mất hồn. Về tới trại giam, tôi chỉ trả lời qua loa trước những lời dò hỏi của bạn tù.

Đúng như lời hẹn, tháng sau cô ta đi cùng với mẹ tôi lên thăm. Không phải thăm riêng mà bình thường như bao người cải tạo khác. Cùng gặp một lúc tại nhà thăm nuôi, chỉ 15 phút… Mọi lời lẽ tù nói với người thăm gặp phải diễn ra trước mặt viên cán bộ phụ trách. Từ đó, cô ta tiếp tục đi cùng mẹ tôi đến thăm tôi hàng tháng. Chẳng thể nói gì, tôi đành phó mặt cho số mệnh. Thấy cô cán bộ 12 tuổi đảng đóng vai phó thường dân ngồi cười cười bên bà mẹ thăm nuôi, tôi nổi tánh lì, trò chuyện tự nhiên, đôi khi còn chọc cười như ngày xưa ở các bars hay động. Tôi còn gì để mất? Cô ta muốn gì ở tôi? Tôi có gì để mà lợi dụng? Thôi thì phó mặc cho số phận.

Tháng Một năm 1976, một buổi chiều vừa ăn cơm xong, sắp tới giờ điểm danh vô chuồng, bỗng có cán bộ cầm danh sách đến gọi đúng tên tôi bảo thu dọn gọn lẹ đồ đạc cá nhân mang theo ra điểm danh.
Bất ngờ gọi tên lúc chiều tối hẳn không phải lệnh tha. Thu dọn đồ đạc mang theo kiểu này chỉ có thể là chuyện trại. Nơi tập họp điểm danh là sân trại. Số tù được gọi ra điểm danh có hai mươi mấy mạng, trong số này có tên chỉ còn anh chỉ còn một chân. Một cán bộ trẻ mang lon thiếu uý dẫn chúng tôi đi ra cổng. Không thấy xe cộ gì. Cả bọn cuộc bộ, không thấy có quản chế súng ống kèm sát như khi đi lao động. Một tên đánh bạo hỏi:
– Chúng tôi đi đâu đây cán bộ?
– Đi tới nơi làm lệnh tha.
– Tha về hả cán bộ?
– Bộ tha rồi không về ở lại ăn hại à?
Cả bọn nửa tin nửa ngờ; Trời bắt đầu tối. Thả vào giờ nầy, xe cộ đâu mà về?

Cả bọn được dẫn ra đến nhà thăm nuôi. Đèn được thắp sáng. Có viên trung uý xưng là chánh trị viên tôi từng gặp đợi sẵn. Thấy tôi trong đoàn người, anh ta cười ra vẻ “hồ hởi” bảo hôm nay anh sẽ thấy cách mạng luôn có tình có lý. Các anh tập trung lại bàn thăm nuôi khai lại địa chỉ và người nhà cho chính xác một lần, sau đó sẽ nghe đồng chí trại trưởng tới nói chuyện.

Chừng nửa giờ sau, Đại Úy Trưởng Trại ra tuyên bố:
– Các anh thuộc diện gia đình cách mạng được bảo lãnh cho về; Kể từ giờ phút nầy tuyệt đối không được liên lạc với những người trong trại; Từ đêm nay các anh ăn ngủ tạm tại nhà thăm nuôi này. Cán bộ sẽ phát mền chiếu v, gạo và lương thực để các anh tự nấu nướng. Ngày mai sẽ làm thủ tục nhận lại đồ ký gởi và lệnh tha. Sau đó chờ liên lạc, gặp gỡ thân nhân bảo lãnh và làm lễ ra trại… Trong mấy bữa chờ làm lễ, các anh tuyệt đối không được liên lạc với các trại viên cũ.
Hôm sau, cả bọn được tập trung lên cơ quan nhận lệnh tha, tiền và đồ dùng ký gửi. Riêng phần tôi, kiểm lại thấy còn vài trăm bạc mới. Ba ngày sau, đã thấy đoàn người thân nhân trong đó có bà mẹ tôi có mặt tại nhà thăm nuôi. Hai mươi mấy tên tù được tha, kể cả tôi, hầu hết đều do mẹ là người bảo lãnh.
Cán bộ ra đưa cho một số tiền để mua thức ăn làm bữa tiệc chia tay. Một bà mẹ đến từ Cao Lãnh nghe nói trước là chủ nhập cảng các loại máy ghe tàu, “xung phong” nhận sẽ “ủng hộ” thêm tiền chợ và còn tình nguyện lãnh đi chợ dùm. Bà ta hỏi có thể cho một hay hai người đi theo mang phụ thức ăn. Cán bộ nói:
– Bây giờ thì các anh có thể đi tự do; muốn mấy người theo cũng được.
Thế là khu chợ gần Trại Cải Tạo Vườn Đào được một buổi chợ trúng mối. Heo, gà, vịt, tôm càng, cá… rau cải mua nguyên thúng, nguyên sàn, hỏi giá bao nhiêu là mua bấy nhiêu khỏi cần trả giá; tiền chợ được bà chủ Cao Lãnh xuất hầu bao, mớ tiền chợ ít ỏi do trại phát có lẽ được bà mẹ nầy cất riêng để làm kỷ niệm ngày con được ra tù.
Tiệc chia tay thức ăn ê hề nào gỏi, nào ca ri, cá hấp, tôm càng nướng, thịt heo, gà, vịt luộc. Thế rồi tiệc cũng bế mạt. Thức ăn gần như còn nguyên vì ai cũng chỉ nếm cho có vị và cán bộ cũng không dám ăn bửa tiệc giá đáng mấy chục lần số tiền cho để làm tiệc. Mấy Bà xin đem thức ăn cho mấy người trong trại thì cán bộ không cho bảo phải đem chôn hết.

Ra khỏi trại mọi người đứng chờ đón xe Mộc Hóa để về Cai Lậy. Từ phía hàng rào trại, thấy lố nhố người đứng trông ra. Tôi quay lui, cũng không dám nhìn lâu không còn nhận được dáng của đứa nào!.
Tôi nói với Má:
– Mình đi lần, bao giờ có xe thì đón. Chứ đứng đây chờ nhìn vào các bạn trong kia nhìn ra, con thấy bất an!
Tôi và má Tôi đi lần dọc theo lộ. Tất cả gần như thấy vậy cũng đi theo.

*
Là người tù trại Vườn Đào được về sớm, tôi biết thân ở yên với mẹ già. Chòm xóm không thấy làm khó dễ.
Sau khi được trao trả quyền công dân, tôi còn được cử ông Nông Hội Ấp đề nghị tôi làm trung đội trưởng lao động ấp; mọi người vỗ tay táng thành. Thế là từ đó ai thấy tôi đến nhà là biết bị gọi đi lao động không công cho XHCN, nào đào kinh, lấp kinh, rồi nước đọng cây trái bị úng nước, ruộng lúa bị ngập nước không rút kịp lâu ngày cây cối chết, lại phải đi phá đập, vác lúa thu thuế… Tôi không dám nhìn khi thấy bà con nông dân ai cũng đầy nước mắt khi bồ lúa vơi đi hơn phân nửa để đóng thuế. Nghe nói lúa thuế được chở tiếp tế cho Miền Bắc.
Mỗi tháng Cô Bí Thư đều đem nhiều khô mắm từ Cà Mau lên thăm Tôi và ở chơi 3 hay 4 ngày. Cô ta ngủ chung với mẹ tôi, vẫn có vẻ được bà thương mến, tin cẩn. Tôi cũng không nói hay hỏi gì thêm ngoài việc cho mẹ biết là bà đã vô tình đem sói vào nhà vì cô ta là ní bí thư trên 12 tuổi đảng.
Cũng có lần cô ta biệt tăm luôn 3 tháng; rồi một hôm bỗng đến thăm với nhiều quà từ miền Bắc. Cô cho biết vừa đi tập huấn ở Hà Nội về. Tôi hỏi:
– Em sáng mắt ra chưa?
Cô ta lườm và nói:
– Anh chưa thấy quan tài nên chưa biết đổ lệ!

Đầu năm 1980, Cô ta đến thăm và tối hôm đó có mặt mẹ của tôi. Cô ta nói:
– Mẹ muốn em lo cho anh ra đi; nhưng em có điều kiện là anh phải nhận em làm vợ cho đến khi định cư rồi sau đó tùy anh. Em cho anh một tháng để nghĩ suy và trả lời em.
Mẹ tôi khuyên tôi nên nhận cô ta làm vợ vì cô ta thương tôi thật sự. Tôi thì nghĩ không hẳn. Cô ta bỏ nhiều công phu tìm tôi, giúp tôi và nay muốn cùng tôi vượt biên với tư cách là vợ một sĩ quan hải quân để làm gián điệp như bao trường hợp nằm vùng khác, có người làm tài xế, người giúp việc trung thành tận tâm cả chục năm nhưng sau tháng tư đen thì mới lòi mặt thật. Nhưng đâu còn đường nào khác để tính.

Chưa đầy một tháng sau cô ta lên và bảo tôi chỉ đem theo một bộ quần áo gọn nhẹ để mai đi. Tôi hỏi:
– Em chưa biết anh có đồng ý hay không mà bảo ra đi.
– Thông minh như anh thì không bao giờ bỏ mất dịp may, vì anh không mất gì cả, kẻ mất nhiều nhứt là em nhưng là em tự nguyện; Mọi chuyện ra sao sau này anh sẽ biết.
Tôi hỏi cô ta có an toàn không.
– Anh có cần tàu Hải Quân biên phòng hộ tống hay không? Nếu muốn em cũng có cho anh.
Tôi nghe mà khiếp. Chẳng rõ cô ta nói đủa hay nói thật. Cỡ bí thư huyện ủy cung không thể có quyền vào Bộ Tư Lệnh Hải quân xưa để tầm kẻ thù; Không hiểu cô ta là thứ gì? Không ra hải ngoại để nằm vùng hay làm gián điệp thì còn gì nữa? Nghĩ vậy nhưng thôi kệ. Cô ta làm gì hay là ai tính sau, cứ thoát ra khỏi nước cái đã. Thế là chúng tôi từ giã mẹ ra đi.

Tàu vượt biên dài 12 mét mới toanh, máy cũng mới và số người đi là 52 người do một cựu hàng hải thương thuyền ngày xưa lái; nhưng cuối cùng 26 người bị rớt lại vì ghe nhỏ chuyển ra ghe lớn bị chận giữa đường mà trong đó có gia đình tài công. Cô bí thư hỏi:
– Anh lái được chứ ?
– Lái được nhưng không có bản đồ mà chỉ có la bàn thì phải chạy thẳng ra hải phận quốc tế rồi theo hướng Tàu buôn mà lấy hướng đi thì sẽ sang Singapore hay tấp vào các đảo của Indonesia.
Tôi lái suốt 5 ngày đêm mới gặp một ghe đánh cá của Indonesian và hỏi thăm thì được chỉ cho một chỗ cách đó không xa. Tôi lái vào và ở đó một ngày một đêm thì được tàu của Indo đưa đến trại tỵ nạn Kuku. Một tháng sau chúng tôi được đưa sang trại Galang và dĩ nhiên trong lý lịch của Hải quân Trung úy VNCH nay có thêm cô vợ bí mật nhiều phần là gián điệp.

Trên bước đường lưu vong quê người xứ lạ làm thân thất quốc, chúng tôi cô đơn lạc lõng như nhau. Ngày qua ngày cả hai đứa đi học tiếng Anh về nấu cơm chung rồi chung mùng va thành vợ chồng thật.
Ở Galang tôi gặp lại bạn bè quân ngũ xưa; vì gần như mỗi tàu là có đôi ba hải quân xưa được đi không tốn tiền để lái tàu. Quán Trùng Dương là nơi tụ họp để nhận ra nhau kể chuyện xưa và bàn chuyện tương lai. Các cựu hải quân xưa làm sổ lưu niệm giống như thời học trò viết lưu bút ngày xanh cho những tháng nghĩ hè. Lắm ông ghi cả số quân đơn vị xưa và dán cả hình. Ôi các quan lính ơi Tôi mà đem cái sổ nầy về thì e rằng cô bí thư mười mấy tuổi đảng sẽ lén ghi lại hết gởi về Bắc Bộ phủ thì gia đình các ông cũng mà khó sống ở VN!. Tôi từ chối viết sổ lưu niệm và cũng không đến quán hội họp nữa.
Cũng tại trại Galang, tôi có người bạn trước là thiếu úy ngành điện khí được mướn làm người gác máy điện phụ cho một thợ điện người Indo. Anh Indo nầy khá am tường về tình hình VN và có phân tích như sau:
– Các anh vượt biên nghĩ rằng ra ngoại quốc rồi Mỹ sẽ giúp cho thành lập một đoàn quân để trở về dành lại VN. Có lẽ các anh lầm rồi. Mỹ không bao giờ giúp các Anh đâu vì giúp các Anh; Mỹ được lợi gì? Các anh đánh nhau mà nhiều nữ tính quá. Nhân đạo với kẻ thù thì chỉ có con đường chết; Phải như chúng tôi kìa. Chỉ một đêm thôi không một tiếng súng; toàn dùng dao, búa, mã tấu mà giết cho tuyệt giống cộng sản. Chỉ một đêm là xong gần triệu mạng…

Sáu tháng sau chúng tôi được đi định cư. Tôi không tham gia đoàn thể nào, không hội họp với cả hội đồng hương nhưng lúc nào cũng canh chừng cô vợ bí thư đảng viên.
Cô ta cũng như tôi chẳng quen ai; đến cả dùng điện thoại cô ta cũng không sử dụng. Mẹ tôi mất năm 83. Mẹ cô ta mất năm 84. Năm 90 ba tôi và ba của cô ta cùng mất trong một năm. Chúng tôi nhận thư nhưng không về và đến nay cũng chưa về. Chúng tôi đồng ý không có con. Tôi 72 và vợ 70 tuổi; nếu còn ở Việt Nam, cô ta nay đã 52 tuổi đảng, không biết làm tới chức gì.

Mất nước bốn mươi năm, lưu vong hơn 35 năm, chúng tôi chưa bao giờ có ý định về thăm lại quê hương… Trong lòng tôi đã chôn một chế độ và trong lòng vợ tôi cũng chôn một chế độ. Chúng tôi không con nối dòng nên khi chúng tôi chết thì “cả hai chế độ” cũng tan thành tro bụi. Với tôi, vậy là chôn xong hai chế độ. Ngày ấy không xa.

Trần Thiện Phi Hùng
***
*Tháng Tư ” Đổi Đời “, người ra đi, kẻ ở lại

Trong những bài viết về Tháng Tư Đen năm nay, có bài của một nhân viên Bộ Y Tế VNCH (1975) về mấy ngày cuối cùng ở Sài-Gòn mà ông ta tìm đường ra đi và những ngày đầu tiên nơi ông ta đến, kể lại những điều mình thấy và mình nghĩ. Ai không trải qua kinh nghiệm ấy, đọc xong, có thể nhắm mắt tưởng tượng cảnh nước mất nhà tan nó hãi hùng, kinh khủng, tuyệt vọng, điên khùng, thê lương…ra sao:
…..
Tối 27/4 chúng tôi vào Tân Cảng nằm chờ tầu đi Phú Quốc. Vào đến nơi đã thấy cả trăm người nằm ngồi la liệt ở trại, sau một đêm nằm trong connex, được xem lén T.V. thấy cụ Hương quần áo trắng, rút khăn trắng lau nước mắt trao quyền cho tướng Minh, cụ run run nói: “Tôi xin hỏi Đại tướng giờ đây Đại tướng lấy thế gì để nói chuyện với bên kia? Thế này là thế mất nước”. Cụ Trần Văn Hương tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm đồng môn với thân phụ tôi ở Hà Nội thời 1925- 26. Có lẽ cụ là nhà chính trị hiếm hoi trong lúc này còn giữ được lòng yêu nước yêu dân, hình ảnh một ông già khóc vì vận nước là hình ảnh một thuở Chiến Quốc đẹp bi hùng nhất sử Việt mà mấy chục năm sau tôi vẫn không quên được và vẫn thấy rung động như đọc truyện ĐCLQ!

Không như tên dân biểu B. nước sắp mất còn thèm cái ghế bộ trưởng, thì thọt hão huyền “Bảo Đại về là xong hết, cụ Huyền làm Thủ Tướng, tướng Kỳ làm Quốc Phòng..v.v…” Giữa cuộc tranh đấu sống còn mà trong đầu sẵn một chữ Hoà, thì ắt là phải Thua. Nói chung, rất nhiều thanh niên sinh viên xuất thân từ các địa phương nghèo, tỉnh nhỏ, muốn vùng lên tìm cho chính mình một chiếc chiếu danh dự trong xã hội, họ rất dễ ngả sang tả phái, ngỡ đây là môi trường tiến thân, sôi nổi phá phách nền móng cũ, tiêu diệt đối thủ, rút cuộc chẳng thấy xây dựng được chút gì khả dĩ gọi là cách mạng ngoại trừ thỏa mãn cái Tôi vọng động, ghen ghét khả ố của chính mình. Chống đối để xác định một cái Tôi mù mờ chưa khôn lớn chín chắn, chính là ngọn lửa sân hận oan oán trùng trùng duyên khởi ác nghiệp đốt cháy thế gian. Oái oăm thay, không ít các chú tụng một bồ Các Mác dại dột chơi lửa hận ấy, và chính mấy gã di cư chạy CS 1954 cũng bị mê hoặc vào mấy chữ hoà bình thống nhất, một số vẫn mang mặc cảm thầm kín tự trị, nghênh ngang riêng một góc trời, rút cuộc mắc vào tròng bịp bợm quốc tế, anh chạy trối chết, anh kẹt như “gái ngồi phải cọc”, ông bạn đồng nghiệp của tôi, Nguyễn v. T. gặp lại ở Philadelphia cúi gầm, than: hành động của chúng tôi trong quá khứ sớm làm mất miền Nam, một lời sám hối nửa vời, thành thử vì óc phân hoá mà miền Nam mắc bẫy, vì lý tưởng hoà bình hão huyền mà người ta trao trứng cho ác, vòng ngoài lũ nặc nô Âu Mỹ Do Thái lấy nước nhược tiểu làm bãi chơi, miệng hút cần sa, lưỡi phun độc tố!

Cho đến sáng 28/4, sau đêm chứng kiến cảnh thả bom dinh Độc Lập và súng Hải quân bắn lên ầm ầm, cũng chưa ai dám nghĩ là Sàigòn có thể mất nhanh thế. Ngồi ở vọng canh xem binh sĩ Dù xả súng bắn đại đội VC về gần xa lộ và thấy trực thăng còn quần thảo trên trời, bên trong Tân Cảng người Mỹ mở kho P.X. cho ai muốn vào lấy gì thì lấy, tôi bỗng thấy lòng quặn đau trước cảnh tao loạn: dưới quân sĩ ghì súng chặn địch, trên nóc nhà mấy ông phóng viên ngoại quốc thâu hình như quay ciné, trong trại dân chúng nằm chờ tầu ra đi! Giữa lúc hỗn loạn một số người bỏ ra về, trở lại Sàigòn. Chúng tôi, 3 người, một dược sĩ quê Sóc Trăng, một bác sĩ quê Bến Tre, và tôi dân di cư Hà nội 1954, nghĩ có về cũng kẹt thà cố ở lại chờ xem sao, may ra có tầu đi, con tầu Đại Hàn Pioneer Boohung vẫn nằm kia chưa tách bến, còn hy vọng…

Đúng 11 giờ sáng 29/4 chừng mươi người Mỹ lên tầu và sửa soạn cho tầu rời bến, dân chúng chờ đợi suốt đêm được lần lượt leo lên tầu, mấy thủy thủ Đại Hàn nhìn chúng tôi ái ngại thông cảm trong khóe mắt. Tầu ra tới gần Vũng Tàu mới có khoảng hai ba trăm người nên hầm tầu rộng rãi thoải mái.

* * *

Đáng lẽ chỉ mất có hai, ba ngày là tới Phi Luật Tân nhưng tầu dừng lại 10 ngày để vớt các thuyền nhỏ, đa số là dân chúng từ Phước Tỉnh, Phước Hải leo dần lên tầu, tới 3000 người. Một chiếc xuồng chở cả xe Citroen của một vị linh mục, xe gắn máy… bị ném xuống lòng biển cả.

Sau mấy ngày lênh đênh, ngủ ngồi, ăn cơm khô của lính, sáng ngồi boong tầu nhìn sóng, mặt biển đầu tháng Năm thật êm, chúng tôi tới Subic Bay Phi Luật Tân ngày thứ Ba 6 tháng 5. Tới đây mới thấy cơ quan Mỹ đã lập trại tỵ nạn sẵn sàng từ bao giờ. Một anh lính Mỹ vui đùa “cười lên tí nào” (smile, smile) thật hỗn hào vô duyên, cái hỗn hào vô ý thức của đám dân văn minh Coca Cola mà Bác sĩ Rankins, tân Giám Đốc WHO không hết lời chửi rủa. Nhưng sau nghĩ lại, dân Mỹ là dân rất mới, lập quốc 200 năm trong những điều kiện khác hẳn các nước khác, xã hội tổ chức tử tế, ăn mặc dư thừa, sang xứ khác, đầy sân hận lạc hậu nhỏ nhen, họ không thể hiểu được và không thể thông cảm được.

Sau 5 tuần chúng tôi lên máy bay đi đảo Guam ngày 7/6, ở đây trại tràn đầy ánh nắng chói chang bụi bậm không như ở Subic Bay, may thay ở một ngày đã được rời vào Anderson Airport chờ chuyến bay vào Mỹ. Trại của Không quân, rất sạch sẽ, nên ai nấy đều thoải mái.

Trong trại tôi gặp lại Giáo sư Lê Trung Nhiên, quyền Khoa Trưởng Văn Khoa, tháng trước còn gặp ông ở Văn Khoa xin ký giấy tờ tài liệu, gặp thêm cả một cô sinh viên Minh Đức mấy tuần trước thầy trò còn ngồi trong lớp học hành thi cử như thuở thanh bình!

Chờ tới một tuần sau, ngày thứ Sáu 13/6 chúng tôi lên máy bay vào Indiantown Gap, tiểu bang Pensylvania, một trại binh rộng rãi, quy củ, bỏ trống, ở đây ăn ngủ dưỡng sức bắt đầu đời mới. Bạn bè cũ lác đác gặp nhau thật quý hóa, đúng với cái câu “tha hương ngộ cố tri”, tưởng đâu màn sắt đã buông xuống thì chẳng bao giờ còn gặp lại bạn bè thân nhân nữa!

Trong trại nhìn ông hổ tướng Nguyễn Đức Thắng đi xếp hàng ăn cơm, ông không cần trốn tránh, một quân nhân được đồng bào yêu mến kính trọng, một ông tướng đúng mặt tướng.

Cơ quan bảo trợ Tolstoi xếp đặt đưa tôi lên Boston cuối tháng 6, do một cô bạn học Mỹ cũ bảo lãnh, năm sau gặp vị cựu Tổng trưởng Y Tế, bác sĩ Trần Minh Tùng lên nội trú bệnh viện ở Boston, ông nhận định “ở xứ người, mình chỉ dùng được sở đoản chứ không dùng được sở trường”, một vị bác sĩ nguyên Giám đốc trường Quân Y, một cựu Tổng Trưởng Y tế, cựu Thượng nghị sĩ, nay sáng sáng đi tập lấy tuỷ sống! Gần đây khi đọc bài cụ Nguyễn Mạnh Tường nhận định: “chỉ ở trên mảnh đất quê hương mình mới có sức mạnh… chỉ có quê hương mới là sân khấu của mình…”. Thế hệ I di dân chẳng giữ vai nào trên sân khấu mới, dù là vai nhắc tuồng kín đáo dưới gầm sân khấu, và có lẽ đúng hơn, thế hệ từng gắn bó với quê hương, chẳng thấy hào hứng gì trên sân khấu với đám khán giả xa lạ, lạc lõng, với thời, thế, cơ, khác hẳn, như Trạng Trình từng tiên tri:

Bấy giờ kẻ Tấn người Tần
Người Ngô kẻ Sở khôn bề tựa nương!
Hạ Long Lưu Văn Vịnh)

(ngưng trích)

Và, đây là cuộc “đổi đời” vào ngày 30.4.1975 của một kẻ ở lại, một luật sư tại Sài-Gòn:

Cuối tháng 3.1975, dân Sài-Gòn đã rục rịch lo chạy. Vậy mà khi ấy tôi chẳng nghĩ đến đi đâu. Không phải tôi thích cộng sản hay không sợ cộng sản. Nhưng tôi có vài lý do để quyết định “ở lại”. Một là tôi tin tưởng Quân đội VNCH không thể tan hàng một cách dễ dàng và mau chóng sau hai mươi năm chiến đấu vẫn giữ vẹn toàn lãnh thổ miền Nam, nhất là qua hai trận Tết Mậu Thân 1968 và “Mùa hè đỏ lửa” 1972, “thiên tài quân sự” Võ Nguyên Giáp của “Quân đội Nhân dân” CSBV đã lợi dụng yếu tố bất ngờ đánh úp, tung toàn lực tổng tấn công định “dứt điểm” miền Nam Việt Nam, nhưng cuối cùng đã đại bại. L‎ý do thứ hai là nhiều người thân của tôi, trong đó có em ruột và em rể tôi, còn đang ở ngoài mặt trận, họ đang đổ máu vì mình, họ nghĩ gì nếu biết mình đang tìm đường bỏ chạy ra ngoại quốc?

Sự tin tưởng của tôi đã trở thành mù quáng khi vẫn bình tâm ở Sài-Gòn trong lúc vợ và đứa con trai nhỏ của tôi còn ở Đà-Lạt. Trước khi trở thành một luật sư, tôi làm công chức và sống với vợ con ở Đà-Lạt. Khi đổi nghề, tôi về Sài-Gòn một mình trước vì vợ dạy tại Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân, chưa xin thuyên chuyển được, định hai tháng nữa, mãn niên học, tôi sẽ lên Đà-Lạt đón vợ con về Sài-Gòn luôn.

Một hôm, Đại tá Đỗ Tùng, nguyên Đổng lý Bộ Quốc Phòng, gặp tôi ở Văn phòng luật sư, hỏi thăm vợ con tôi. Khi biết họ còn ở Đà-Lạt, ông đã trợn tròn đôi mắt, nói lớn như ra lệnh: “Anh phải bay ngay lên Đà-Lạt đưa chị và cháu về đây!”

Tôi gọi điện thoại ngay cho người quen làm trong Air Việt Nam nhờ mua vé lên Đà-Lạt ngày hôm sau và trở về Sài-Gòn sớm nhất cho cả gia đình.

Thành phố Đà-Lạt an bình suốt những năm tháng trong cuộc chiến dài, đang rúng động, xao xác, sau khi Ban-Mê-Thuột thất thủ. Nhiều người đã bỏ đi, cửa đóng then cài. Gặp Luật sư Hoàng Huân Long (Hoàng Cơ Long), “Tư lệnh Sư đoàn Nhân dân bảo vệ TP Đà-Lạt” (do tỉnh trưởng mới thành lập), trước Chợ Hòa Bình, tôi hỏi tình hình ra sao. Ông cười gượng gạo: “Hôm nay còn bình an!”

Ngày hôm sau, chúng tôi đóng cửa nhà, với đồ đạc y nguyên bên trong, xách mấy va-li quần áo lên máy bay về Sài-Gòn. Mấy ngày sau, Đà-Lạt rút quân, di tản, bỏ ngỏ thành phố.

Không bao lâu sau, Sài-Gòn bắt đầu lên cơn sốt với dân tị nạn từ miền Trung tiếp tục đổ vào và tiền quân CSBV đã áp gần thủ đô, trên Xa-lộ Biên Hòa đã thấy xuất hiện nhiều nút chặn chống xe-tăng với sinh viên các quân trường cũng được đưa ra ứng chiến, sẵn sàng cho trận đánh đầu tiên và cuối cùng. Mọi người quay cuồng tìm đường ra đi, và nhiều người đã ra đi. Tại Tòa án Sài-Gòn đã vắng mặt một số thẩm phán, luật sư, biện l‎ý…

Văn phòng Pháp Lý do Ls Nguyễn Phượng Yêm làm chủ cũng đã ra đi một nửa, trong đó có Ls Phạm Kim Vinh và Thẩm phán Nguyễn Hữu Dương. Một hôm ông Yêm hỏi tôi: “Mét” (Maitre, theo tập quán xưng hô với đồng nghiệp của giới luật gia thời Pháp) có định đi không?” Tôi đáp: “Không.”

Ông cầm tay tôi, nhìn tôi với đôi mắt mỏi mệt, cố giữ cho giọng nói đừng run: “Mét’ ở lại chắc là không sao. Tôi thì khác. Chúng nó mà vào đây thì chúng ‘bụp’ tôi ngay. Tôi phải cố tìm đường đem vợ con đi. Mẹ tôi không chịu đi. Nhờ ‘mét’ giúp tôi lo cho cụ. Nếu còn làm ăn được, xin ‘mét’ mỗi tháng cho cụ ít tiền đủ sống tạm trong lúc loạn lạc. Nếu chúng nó cướp được miền Nam này thì nhờ ‘mét’ đưa mẹ tôi vào Chùa Tam Tông Miếu. Tôi đã nói chuyện với Chùa để cụ có chỗ nương thân.”

Đó là lần cuối cùng tôi gặp ông Yêm. Sau đó, tình hình biến chuyển nhanh đến chóng mặt. Tôi nằm nhà suốt mấy ngày, ôm chiếc ti-vi theo dõi thời cuộc, không dám bước ra đường. Ngày 2 tháng 5, tôi lái chiếc xe Volswagen con cóc cẩn thận rời nhà ở Cư xá Thanh Đa, sang Khu Nguyễn Tri Phương vấn an mẹ tôi.

Đường xá, phố phường này tôi đã thân quen trong mấy mươi năm sao lúc ấy thấy như đang lạc vào một nơi chốn xa lạ. Những lá cờ đỏ máu này, những con người cổ quái này như xuất hiện trong một cơn ác mộng. Một cảm giác sợ hãi làm tôi ớn lạnh.

Sau khi thăm mẹ tôi và biết mọi người bình an, kể cả hai người em đã về nhà sau khi tan hàng, tôi xuống đường Lê Lai thăm bà mẹ Ls Nguyễn Phượng Yêm. Tôi hỏi: “Anh Yêm đưa gia đình đi thoát rồi, phải không, thưa bà?” Bà cụ gật đầu rồi chắp hai tay, ngửa mặt khấn nguyện: “Cầu trời khấn Phật cho cha con nó đi bình an. Thời buổi chi mà khốn khổ như ri? Suốt mấy đời chạy giặc!” Rồi bà cúi xuống, thấy tờ “Sài-Gòn Giải Phóng” số đầu tiên với ảnh Hồ Chí Minh chiếm gần một phần tư trang nhất để bên cạnh, bà cụ giật tờ báo, đặt xuống đít, ngồi lên mặt HCM, nghiến răng: “Cũng vì thằng già ni!”

Bà cụ cùng quê với HCM, và là nạn nhân của chiến dịch “cải cách ruộng đất” đầu tiên ở Nghệ An, đã may mắn cùng các con trốn qua Lào và thoát được vào Nam trước Hiệp định Genève. Tôi không biết lý‎ do thực sự khiến bà quyết định ở lại Việt Nam, dù con cháu đều ra đi. Ông Nguyễn Phương Thiệp, anh Ls Nguyễn Phượng Yêm, khi đó làm Đại sứ VNCH tại Tây Đức, có xin cho mẹ một chỗ trên chuyến bay rời khỏi Sài-Gòn, nhưng bà đã từ chối cái chỗ mà bao nhiêu người đang mơ ước. Bà có người con trai, Nguyễn Phượng Nhu, em ông Yêm, làm phi công cho Air Việt Nam bị chết trong một tai nạn máy bay ở Quảng Tín năm 1974 và được an táng trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Không biết có phải đó là lý do khiến bà ở lại. Trái tim của một bà mẹ Việt Nam có lý lẽ riêng, không ai hiểu được. Vài ngày sau, tôi thu xếp đưa bà cụ vào Chùa Tam Tông Miếu trên Đường Cao Thắng.

Cũng trong mấy ngày tới lui lo cho bà cụ, tôi được biết ông Trần Chánh Thành đã tự sát, do người nhà tới báo tin và cho biết ông có cơ hội để ra đi nhưng đã từ chối. Câu nói cuối cùng của ông: “Đi đâu bây giờ? Mỹ à? Họ đã bỏ rơi cả dân tộc này cho cộng sản, mặt mũi nào mà tôi bỏ chạy theo họ?”

Nhật báo Tiền Tuyến có một Văn phòng trên đường Lê Lai, ngay bên cạnh VP Ls Nguyễn Phượng Yêm, để tiếp xúc với độc giả và thân chủ quảng cáo. Có một cô thư ký, con một Thượng sĩ, làm việc tại đây. Tôi được tin hai cha con đã tự sát vào ngày 30.4.1975 sau khi TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Nghe tin này, lòng tôi se lại, mắt cay cay.

Một hôm tôi nhận được lệnh tới trình diện “Tổ Luật” tại “Hội Trí Thức Yêu Nước” ở Đường Duy Tân. Tới nơi mới biết Tổ trưởng Tổ Luật của “Hội Trí Thức Yêu Nước” là Thẩm Phán Trần Thúc Linh. Nhớ lại trước đó mấy tuần, một hôm tất cả luật sư và thẩm phán tại Tòa Án Sài-Gòn đã ngưng công việc trong một giờ để bước ra thềm trước Tòa, phản đối Tổng Nha Cảnh Sát bắt giam ông Trần Thúc Linh, và yêu cầu chánh quyền trả tự do cho ông. Bây giờ Thẩm Phán Trần Thúc Linh ngồi trước mặt tôi, nhân danh “cách mạng”, phán: “Luật ở đâu, thời nào thì cũng phục vụ giai cấp thống trị. Làm chủ đất nước bây giờ là giai cấp công nhân lao động. Các anh cần biết như vậy để chấp hành pháp lệnh của cách mạng.” Không có trường luật nào dạy sinh viên như vậy. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì cả, và sau mười ngày học tập chính trị, ngồi nghe vài viên chức trong ngành tư pháp từng sống bằng tiền lương của chế độ cũ nay thay phiên lên kể tội chế độ ấy và nói toàn giọng “cách mạng 30”, tôi không bao giờ lại Hội Trí Thức Yêu Nước nữa. Nghe nói về sau ông Trần Thúc Linh đã được “cách mạng” cho đi Pháp, sau khi đóng trọn vai trò “tên ngốc hữu dụng”.

Trước cuộc “đổi đời” khổng lồ đang diễn ra trong xã hội miền Nam VN lúc ấy, tôi không tìm được lối đi thì một hôm, một người bạn cũ đã hiện ra trước mắt tôi như một con ma đội mồ sống dậy sau 20 năm biến khỏi trần gian. Nguyễn Hữu Lộc. Người bạn học cũ của tôi ở Sài-Gòn. Rất thân với nhau. Lộc là con của chủ tiệm vàng Tân Việt trong Chợ Lớn, bảnh bao ngon lành như “dân cậu” con nhà khá giả của đất Sài Thành thuở ấy. Bỗng một hôm vào năm 1955, Lộc hẹn gặp tôi tại cái công viên nhỏ trước Sân Cộng Hòa. Sau khi liếc quanh không thấy ai khác, anh ta nghiêm giọng nói: “Ngày mai tôi sẽ đi tập kết ra ngoài Bắc.” Tôi liếc nhìn mặt Lộc xem có phải nó nói đùa không. Nó biết tôi đang như trời trồng nên giải thích: “Chị tôi ra ngoài đó nên tôi phải đi theo. Hẹn bạn sau hai năm anh em sẽ gặp lại nhau.”

Tờ mờ sáng hôm sau, tôi ra Kho 6 bến tàu Sài-Gòn tiễn Lộc lên đường. Sau đó, tôi được biết Lộc có người chị, Nguyễn Thị Ngọc Dung, là một người trong mấy nữ sinh Marie Curie đã ném lựu đạn trong Rạp Majestic năm 1951, giết chết viên Trung úy Pháp, trưởng “bót” Catinat. Cả đám đã chạy thoát nhưng về sau đều bị bắt, bị đưa ra tòa lãnh án tử hình. Sau được “tòa mũ đỏ” (Tòa Thượng thẩm) ở Paris, giảm án còn khổ sai đày ra Côn đảo. Năm 1955, thi hành Hiệp Định Genève về trao đổi tù binh, Ngọc Dung được đưa ra miền Bắc.

Sau 20 năm, thay vì 2 năm, chúng tôi đã gặp lại nhau. Hôm ấy, tôi đang đứng trên bao lơn căn nhà trên lầu 4 Cư xá Thanh Đa hóng gió từ dưới sông đưa lên, chợt trông thấy một người đàn ông cưỡi chiếc xe Honda, dừng lại bên dưới. Y mặc một chiếc áo Montagu màu đỏ, có một khẩu Colt 45 đeo lủng lẳng bên hông. Y ngước mặt nhìn lên và nhăn răng cười. Tôi quay vào gọi vợ tôi: “Loan ơi, thằng Lộc nè!”

“Thằng Lộc đâu đây?” Vợ tôi trả lời, không tin, nhưng cũng chạy ra nhìn. Người đàn ông loay hoay khóa xe xong, lại ngước mặt lên cười lần nữa, trước khi đi vào cầu thang. Vợ tôi cũng đã nhận ra Lộc vì cùng là bạn học, đưa một bàn tay bịt ngang miệng, không thốt nên lời. Chúng tôi đều nhận ra cái răng khểnh khi cười của Lộc, vì từ 20 năm nay, hình ảnh Lộc cùng những kỷ niệm với nhau trong mấy năm ngồi chung lớp tại một trường tư ở Sài-Gòn không bao giờ phai mờ trong đầu chúng tôi.

Chúng tôi cùng quay vào trong nhà, mở cửa đứng chờ. Khi thằng Việt Cộng xuất hiện, chúng tôi ôm lấy nhau, cùng ứa nước mắt. Sau 20 năm chinh chiến không ngừng, hàng triệu sinh linh đã bị tàn sát, bao nhiêu vật đổi sao dời, tôi đã di chuyển mấy lần, căn chung cư này cũng là nơi ở tạm, vậy mà Lộc cũng tìm ra. Hắn nhìn tôi với đôi mắt ngấn lệ cảm thương, nói:

– Chúng tôi dại khờ nên bị sập bẫy. Còn ông, ông nghĩ sao mà còn ở lại đây?
Còn biết nói sao, khi cả một dân tộc đã bị lừa trong suốt mấy thế hệ.
Mà hình như không có mấy người đã mở mắt.

Ký Thiệt
***
*Xuyên qua Màn Đêm

Minh Văn

(Ghi theo lời kể của bác Hoàng Vũ Lai – người tù nửa thế kỷ trước)
Tuy đã ngoại thất thập, nhưng dáng vẻ và tinh thần bác Hoàng Vũ Lai vẫn còn sắc sảo, tinh anh lắm. Bác tiếp tôi ngay trước ngôi nhà của mình (tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An), rồi mời ngồi bên cạnh bộ giong giản dị. Bằng một giọng nói hùng hồn chưa vơi nhiệt huyết, bác sang sảng kể về những năm tháng tù đày của cuộc đời mình. Cây bút trong tay tôi phải ghi chép liên tục, để bắt kịp câu chuyện của bác – một người tù hơn nửa thế kỷ về trước.
Mặt trận Cộng Hòa bắc Việt Nam
Miền Bắc Việt Nam những năm 1960, xã hội còn chìm trong tăm tối, đói nghèo và lạc hậu. Người ta vẫn mãi loay hoay với phong trào xây dựng hợp tác xã bình quân và chi viện sức người sức của cho tiền tuyến. Ánh sáng của vùng nông thôn miền bắc lúc bấy giờ chỉ là ngọn đèn dầu, và vốn tri thức duy nhất là chiếc loa kim để nghe thông tin về công cuộc xây dựng “chủ nghĩa xã hội” và tình hình chiến sự. Người dân chẳng thể biết gì hơn, ngoài những phương tiện tuyên truyền khép kín như vậy.
Giữa thời buổi tăm tối đó, một phong trào cách mạng khai sáng đã bùng lên mạnh mẽ như ngọn đuốc cháy rực, một âm thanh chấn động quốc dân. Phong trào đó có tên gọi là “Mặt trận Cộng Hòa Bắc Việt Nam”, với tôn chỉ: Bài Phong, chống Thực, diệt Cộng.
Mục tiêu của Mặt trận là thiết lập một nền Cộng Hòa đúng nghĩa, để đất nước có được tự do và dân chủ. Bác Hoàng Vũ Lai là một trong những người tham gia mặt trận, với tất cả bầu nhiệt huyết sục sôi của tuổi thanh xuân.
Bị bắt và kết án
Năm 1962, phong trào thất bại, 155 người bị bắt giữ. Đó là một vụ án chính trị lớn và chấn động nhất lúc bấy giờ. Trong số này, 55 người bị đưa ra xét xử, trong đó có bác Hoàng Vũ Lai.
Phiên tòa được xử lưu động tại xã Xuân Thành, có đông nghịt người dân tò mò đến xem. Trước khi xử, người ta cử cán bộ đến nói với bác là hãy biết “khôn khéo” và tỏ ra ăn năn để được hưởng khoan hồng. Thực tế đã diễn ra ngược lại, trước tòa, bác trả lời hùng hồn, khiến cho tòa phải lúng túng và nhân dân thì đồng tình ủng hộ.
Kết thúc phiên xử, bác Hoàng Vũ Lai bị kết án 18 năm tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Lúc ấy bác vừa mới hai mươi mốt tuổi.
Tòa hỏi bác rằng:
– Anh có thấy hối hận vì hành vi chống chính quyền của mình không?
Bác đĩnh đạc trả lời:
– Đối với tôi, mười tám năm tù chỉ là một giấc ngủ trưa!
Câu nói đã trở nên nổi tiếng, thế hệ những người cùng tuổi với bác sau này cũng thường hay nhắc lại, để bày tỏ sự khâm phục đối với khí phách hiên ngang của một người tù trẻ tuổi.
Khi các tù nhân bị giải đi, người dân thương cảm, bịn rịn tiễn đưa. Chợt có một em bé chừng mười hai tuổi, chạy theo và dúi vào tay bác Lai mấy đồng bạc, ngây thơ nói:
– Cháu thương bác lắm! Cháu cho bác mấy đồng bạc để bác mua gì thì mua!
Bác cầm tay cháu bé, rơm rớm nước mắt:
– Bác cảm ơn cháu! Nhưng bác không cần tiền của cháu đâu, cháu cầm về cho mẹ nhé!
Những mẫu chuyện tù
Trong suốt thời gian tù đày trường niên của mình, bác có biết bao nhiêu là chuyện cảm động. Sau đây là mấy mẫu chuyện mà tác giả ghi lại được.
Giả điên để cứu đồng đội
Cô Nhâng là một tù nhân chính trị, người ở Ba Làng – Thanh Hóa. Cô và một số đồng đội nữa chuẩn bị tổ chức vượt ngục, sự việc chẳng may bị bại lộ. Những người có ý định vượt ngục sẽ phải gánh chịu hình phạt tăng án, hoặc có thể bị xử bắn. Họ bắt cô khai, sợ các đồng đội của mình bị tội, cô đã phải giả điên, cởi hết quần áo, bốc cứt ăn và bôi lên đầu.
Nhờ hành động dũng cảm đó của cô Nhâng, các đồng đội khác đã được thoát tội. Sau đó người ta đưa cô sang giam ở một trại khác.
Người tù hiển Thánh
Trại Công Trường 75A Hà Nội (Sau này đổi thành CA 1417 – KS 15D, rồi lại đổi thành TD 63 QT). Thực chất đây là trại Quyết Tiến ở Lũng Bạ – Hà Giang. Ngày 01/11/1965, một số tù nhân chính trị ở tổ “Đục đá, phá mìn” gồm: Nguyễn Bá Khánh Sơn, Tôn Thất Tần (Hội trưởng hội thể dục thể thao Hoàng Gia, là chú họ Vua Bảo Đại), Nguyễn Trung Tính, Đỗ Bá Lung, Ngô Tú Hoàng, Lưu Nam…ngồi nói vui với nhau rằng:
– Hôm nay chúng mình ăn mừng đệ nhất chu niên (một năm đến trại cải tạo) nhé!
Lúc đó có kẻ nghe lén được, mới vu khống với quản trại rằng họ đang ăn mừng một năm Quốc Trưởng lên cầm quyền. Mấy hôm sau thấy cửa trại đột nhiên đóng lại, rồi một đám đông công an và bộ đội cầm gậy xông vào. Họ bắt những người trong tổ “Đục đá, phá mìn” ngồi riêng một chỗ để xét hỏi và đấu tố, cuối cùng thì bắt đi 37 người. Sau đó tòa án đặc biệt của Bộ Công An về xét xử, kết án những người này tội: Tử hình không bắn.
Tiêu chuẩn của những người bị kết án “Tử hình không bắn” được chia làm ba loại:
1/ Một tháng ăn 6 kg. Cùm hai tay, xiềng chân, không chăn, không chiếu
2/ Một tháng ăn 7,5 kg. Cùm hai chân, không chiếu.
3/ Một tháng ăn 9 kg. Cùm một chân, một chiếc chiếu.
37 người này, sau khi bị giam theo “tiêu chuẩn” đó, đến ngày thứ 6 thì đã có người đầu tiên bị chết.
Ngày 2/9/1966, ông trưởng ban giáo dục trại giam cho mang vào suất cơm ngon hơn ngày thường, rồi nói với các tù nhân:
– Hôm nay là ngày Quốc Khánh. Các anh vẫn được hưởng chế độ như những trại viên khác.
Anh Đỗ Bá Lung nói:
– Ông hãy mang về đi! Chúng tôi không ăn đâu!
Ông ta hỏi nguyên nhân, anh trả lời:
– Đây là ngày Quốc Hận chứ không phải là Quốc Khánh!
Sau đó anh Đỗ Bá Lung tuyệt thực, mấy ngày sau thì qua đời, khi vừa mới 32 tuổi.
Trong số này, chỉ duy nhất có Nguyễn Trung Tính là người sống sót sau cùng. Ông vốn là một tu sĩ, người làng Thái Yên, Nông Cống, Thanh Hóa. Một lần ông bị kiết lị, một ngày một đêm mà phải đi đại tiện 55 lần. Vì bị cùm tay chân, cho nên cứ nằm để cho phân chảy ra quanh người. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Sức khỏe ông suy kiệt, cái chết đã ở cận kề. Đêm hôm đó ông nằm mơ thấy anh Đỗ Bá Lung hiện về, nói:
– Anh quờ tay trái, bốc được cái gì ăn cái đó thì sẽ hết bệnh!
Nguyễn Trung Tính chợt tỉnh, mồ hôi đầm đìa. Nhớ lại giấc mơ, nhưng lại băn khoăn, vì trong phòng giam chẳng có gì ngoài cứt gián, cứt chuột, nấm mốc và bụi bặm. Nhưng rồi anh cứ thử xem sao, liền quờ tay bốc cái gì đó rồi ăn. Nào ngờ, tự nhiên khỏi bệnh thật.
Sau đó một thời gian, Nguyễn Trung Tính lại có một giấc mơ thứ hai, thấy Đỗ Bá Lung báo mộng:
– Chiều mai có hai người sẽ được thả ra trại ngoài!
Đúng chiều hôm sau có hai người được thả ra trại ngoài, y hệt như trong giấc mơ vậy.
Cách ăn cơm tù
Hồi đó tù nhân được tiêu chuẩn ăn một tháng 10,5 kg, trong đó hai phần ba là độn. Vì vậy mà đến bữa, mỗi người chỉ được phát một cục cơm bằng quả cam nhỏ. Để đối phó với cái đói, các tù nhân mới nghĩ ra cách ăn làm sao cho được no lâu. Họ vo cơm thành những viên nhỏ bằng đầu ngón tay, mỗi lần ăn một viên như vậy lại uống một hớp nước, rồi lại hút một điếu thuốc lào (thuốc lào làm bằng lá ngải cứu, chứ không có thuốc lào thật). Được một lúc lại cứ thế, buổi ăn vì vậy mà kéo dài ra, khiến cho có cảm giác no được lâu hơn.
Đi vệ sinh trong trại
Tại một số khu vực giam đặc biệt, người ta ngăn cản các tù nhân không được gặp nhau, kể cả lúc đi vệ sinh. Vì sợ các tù nhân sẽ trao đổi được thông tin bên ngoài.
Vì vậy mà mỗi lần muốn đi vệ sinh, tù nhân phải báo cáo:
– Thưa bộ đội! Tôi muốn đi vệ sinh!
Sau khi được đồng ý thì tù nhân mới được đi. Nếu trong nhà vệ sinh đang có người, thì người đó phải e hèm lên một tiếng để thông báo cho bên ngoài biết. Khi người đó đi vệ sinh xong, cũng phải báo cáo:
– Thưa bộ đội! Tôi đã đi vệ sinh xong!
Khi đó họ mới bố trí cho người tiếp theo vào, vì sợ trên đường đi vệ sinh tù nhân gặp được nhau.
Quê hương và bài thơ cảm tác

Bác Hoàng Vũ Lai nhớ mọi thứ rất rành rọt, sâu sắc. Lúc nói chuyện, bác đề cập nhiều đến các vấn đề xã hội, các thể chế nhà nước và học thuyết chính trị. Nói chuyện với một con người hiểu biết như bác, rất là thú vị và hữu ích vậy.
Bác kể rằng, năm ngoái có một đoàn cán bộ và công an đi xe ô-tô đến nhà.
Họ hỏi bác:
– Bây giờ bác còn chống đảng và nhà nước nữa không?
Bác thẳng thắn trả lời:
– Tôi chẳng chống ai cả! Nhà nước các anh làm bậy quá, chúng tôi phải đấu tranh để thay đổi thôi. Đó là quyền của người dân. Các anh là nhà nước, không có nghĩa là các anh muốn làm gì thì làm. Chính các anh cũng đã nói, nhà nước là của dân, vì dân phục vụ kia mà?
Họ lại hỏi:
– Vậy bây giờ bác thường làm gì?
Bác trả lời sâu cay:
– Tôi làm nghề mót lúa. Các anh biết rồi đó. Sau mỗi vụ mùa, những hạt lúa mẩy sẽ rụng xuống, còn hạt lép hoặc nhẹ hơn thì ở trên bông. Cho nên tôi thích những hạt lúa rụng vì đó là những hạt tốt nhất. (Ý bác ám chỉ rằng, những người bị nhà nước này đày đọa và gạt bỏ là hạt lúa mẩy, còn những con người đang làm việc trong bộ máy nhà nước như họ là hạt lép còn ở trên cành).
Khi bị bắt và xét xử năm 1962. Bác được chứng kiến tình cảm xúc động của người dân đối với tù nhân. Họ cảm thông và thương những người như bác lắm. Bác đọc cho tôi bài thơ cảm tác lúc đó, nghe thật hay và xúc động. Thơ rằng:
Trong trăng nước của những ngày lửa máu
Một quê hương in bóng giữa lòng tôi
Tôi ra đi với cuộc đời chiến đấu
Nhớ quê nghèo không một phút nào nguôi
Ôi nhớ lắm làng quê tôi đã tới
Với bao nhiêu sầu tủi của tù nhân
Tình dân chúng như tre làng mát rượi
Tỏa quanh tôi như gió âm thầm
Nhớ củ khoai mẹ già đưa vụng trộm
Nhớ bát cơm em nhỏ đút qua đường
Nhớ cảnh chiều về bà con thôn xóm
Chút thanh bần lén lút gửi tình thương
Buổi chia tay nắng trưa vàng lấp lánh
Đường liên hương dân chúng ngập ngừng theo
Tay du kích nắm tay tù xiết mạnh
Nhớ thương ai sầu xiết gió trăng nhiều
Bao chuyện nữa chúng tôi truyền nhắc mãi
Đem cho nhau hơi ấm buổi lưu đày
Nơi xa xôi tôi thầm mong trở lại
Để nghe hồn ru nhẹ giữa vòm cây
Quê nghèo ơi nền cộng hòa ta đó
Sẽ trả cho đời ánh sáng tươi vui
Người của ta không làm ta khổ nữa
Nông dân ta no đủ biết ngọt bùi
Quê ta ơi nghe chăng mùa gió nổi
Chim bay về báo hiệu những mùa vui
Tổ quốc từ nay chuyển vào thắng lợi
Đây Xuân Thành rực sáng giữa lòng tôi
(Quê chung – Hoàng Vũ Lai)
Tôi hiểu rằng, khi kể những tâm sự này, bác đã phải vượt qua một hành trình dài xuyên màn đêm của tù đày vì sự phân biệt ý thức hệ. Cuộc hành trình của nghị lực và niềm tin đối với các giá trị tự do tốt đẹp nơi con người.

Câu chuyện bi tráng về những người Miền Bắc kiên cường chống cộng sau 1954 KHÔNG HỀ THIẾU – CHỈ TIẾC LÀ HỌ ĐÃ BỊ THẤT BẠI NHƯ VNCH ( 1954-1975). Vận nước quá khắc nghiệt và đau thương gần một thế kỷ kể từ 2/9/1945 cho đến nay, 45 năm sau 30/4/1975!!
***
*

SA CHI LỆ TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI QUÝ VỊ GHÉ THĂM & SHARE

*LINKS: SACHILECHANNEL

https://www.youtube.com/channel/UCuj0eHW5cyCLgEytawmUmgQ/videos?disable_polymer=1

https://www.youtube.com/channel/UCuj0eHW5cyCLgEytawmUmgQ?disable_polymer=true

*LINKS: MAI ĐẰNG CHANNEL

https://www.youtube.com/user/eastwood4real/featured?