KẺ NẰM VÙNG

0
333

Truyện dài “Kẻ Nằm Vùng”

của Nguyễn Thanh Việt nguyên tác Anh Ngữ

*Lê Tùng Châu dịch và chú thích

BBT: Chúng tôi hân hạnh được Nhà văn NGUYỄN VĂN HOA gởi đến & giới thiệu cuốn truyện dài The Sympathizer của Nguyễn Thanh Việt, tác phẩm được giải Pulitzer về tiểu thuyết năm 2016.

Tuy nhiên nhà văn NNH cho biết, qua bản dịch Kẻ Nằm Vùng do Lê Tùng Châu dịch sang Việt ngữ và chú thích về một số chi tiết sai lầm.

*Nhà văn NGUYỄN NGỌC HOA:

Mời quý thân hữu thưởng lãm tác phẩm nổi tiếng này với một tinh thần cởi mở nhưng thận trọng.  Tác giả là một giáo sư đại học dạy viết văn, viết hay — và viết giỏi nên mới được giải Pulitzer mười ngàn đô-la.  Nhưng theo thiển ý, vì ông rời Việt nam lúc mới bốn tuổi, những điều ông biết về “đất nước của ông” đều được thu lượm qua sách vở và báo chí Hoa kỳ — đôi khi cố tình bóp méo sự thật về Việt nam Cộng hòa.  Quý thân hữu nhớ đọc kỹ Lời Nói Đầu của dịch giả Lê Tùng Châu trước khi vào truyện chính.

THE SYMPATHIZER

Nguyên tác Anh ngữ by Viet Thanh Nguyen

Grove Press New York 2015

an imprint of Grove Atlantic 154 West 14th Street New York, NY  10011

Distributed by Publishers Group West

KẺ NẰM VÙNG

Lê Tùng Châu dịch sang Việt ngữ và thêm chú thích Saigon Vietnam – 41th Black April, 2016

Thương tặng MyNunhThuyNunhUon

Chân thành cảm ơn quý hữu Daingoang Libra BlueMoon C.H. Vienvanle NhiCa đã hỗ trợ tinh thần tôi rất nhiều để hoàn thành bản dịch này

Lời thưa

Trong ác nạn cộng sản tàn phá non sông kéo dài gần thế kỷ, chúng ta đã mất hết, duy chỉ còn Tri thức và Văn chương chữ nghĩa vừa làm hành trang vừa làm vũ khí cũng vừa là một dạng thức dược phẩm trị liệu cho những ai còn trụ được mảnh lương năng khao khát Tự do và Khai phóng không ngừng tìm về Chân Thiện Mỹ của kiếp nhân quần hữu hạn.

Cả một giải gấm vóc ngàn năm Cha Ông để lại nay chỉ còn là một bãi lầy văn chữ quái thai, nhảm nhí và hạ cấp.

Trong đường hầm bóng đêm ngự trị đó chợt một “Kẻ Nằm Vùng” được ghi nhận qua giải Pulitzer bỗng đâu lóe sáng lên ánh hồng một que diêm nhỏ như thể gieo vào đoàn lữ hành một tia hy vọng nơi giá trị miệt mài của Tri thức và Văn chữ không hề tắt.

Lịch sử không phải là văn chương nhưng văn chương vẫn có thể chuyển tải lịch sử dưới một chiều kích khác.

Nếu “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” không chỉ là chuyện tình Phạm Thái Trương Quỳnh Như … Truyện Kiều không chỉ là chuyện đời diễm lệ của một trang tuyệt sắc chịu khổ nạn lấm đời giữa chốn bụi trần …

Thì “Kẻ Nằm Vùng” cũng không chỉ là câu chuyện trần tình của một người ngụy tín ái quốc qua hành trạng của một gián điệp nhị trùng!

Kẻ Nằm Vùng còn có thể dựng lại một miền gấm vóc thuần khiết và sáng tươi đã từng hiện diện ở miền Nam trong Chiến Sử quốc – cộng hai mươi năm bằng một ống kính khác, diễn bày Sự Thực qua những trang Văn bằng một lề lối khác âm thầm nhưng bền chắc khắc họa lại những giá trị của Tự do, Nghệ thuật và Nhân bản, khơi gọi trầm tư tỉnh thức về trang Sử buồn đã qua của nước non qua một lăng kính Triết học gợi mở khác …

 Trong tinh thần chiêm nghiệm giá trị những trang Văn của Viet Thanh Nguyen như thế, tôi tự nguyện bỏ công dịch The Sympathizer để xin được góp thêm ánh lửa một que diêm khác nữa cho xứ sở.

Nov. 2018

Lê Tùng Châu

LND 2 ANH

tặng Lan và Ellison

Chớ quá sầu đau khi chạm trán với hai chữ “Khổ Nạn”, trong hoàn cảnh cá biệt đó có khi ta còn tìm thấy bao điều khả dĩ giảm nhẹ nó, bù trừ cho nó thậm chí cả một nụ cười nở trên môi …

– trích Friedrich Nietzsche, trong Luận Triết On the Genealogy of Morals 1

CHƯƠNG 1

Tôi là một gián điệp, một kẻ mai phục, một con ma, một  kẻ hai mang. Có gì đáng ngạc nhiên khi tôi mang hai tâm trí trong cùng một xác thân. Cũng chẳng đến nỗi xem tôi như một cái gì dị dạng khác thường như những gì người ta thường thấy nơi các cuốn truyện tranh hay trong phim kinh dị, mặc dù nhiều người đã xem tôi như vậy. Giản dị là bởi tôi hay nhận thấy được cả hai mặt của cùng một vấn đề bất kỳ nào.

1 “On the Genealogy of Morals” [tạm dịch: Mạch Nguồn Đạo Đức] là một Luận Triết/Luận Chiến phát hành khoảng 1888 của Triết gia người Đức Friedrich Nietzsche (1844-1900). Luận Chiến này có nhiều Chương Đoạn (Essay, Section). Đoạn trích trên (để ở đầu sách The Sympathizer by Viet Thanh Nguyen) là ở đầu Section 7 trong Third Essay của On the Genealogy of Morals.

Có lúc tôi lấy làm tự hào rằng đấy cũng là một cái tài của mình dù phải thú thực rằng nó chẳng đáng gì và hơn nữa có lẽ cái tài của tôi chỉ có thế. Có lúc tôi thấy phân vân sao mà mình lại không ra tay làm cái gì có ích cho đời như bao người vẫn làm thay vì cứ đóng vai trò quan sát viên như thế, và tôi tự hỏi  những gì tôi có đó có đáng được gọi là tài năng không. Bởi vì xét cho cùng, tài năng là một cái gì khả dụng mà mình dùng nó chứ không phải để nó dùng mình. Tài năng mà ta không làm chủ được nó lại để nó làm chủ ta thì quả là một tai họa, tôi phải thú thật như thế. Thế nhưng khi những dòng giải trình thú thật này viết ra về cái tháng đó, dường như cách nhìn đời trong tôi vẫn còn thiên về mối ràng buộc tốt xấu hơn là mất còn, là điều đã khiến bao hiểm họa xảy ra tự thuở đầu.

Cái tháng vẫn còn đầy những dấu hỏi nghi nan đó chính là tháng Tư, tháng Tư nghiệt ngã. Tháng Tư ghi dấu một chiến cuộc dai dẳng kéo dài không ngừng leo thang cường độ bỗng như biến đâu mất, như thể đó là cách thế của bao cuộc chiến tranh khác của nhân loại. Tháng Tư, mọi thứ từ đâu bỗng đổ ập lên đầu  tòan thể dân chúng ở một góc nhỏ của thế giới, Tháng Tư không còn chốn dung thân cho ai hết. Đó là một tháng Tư mà nếu bảo là thời điểm kết thúc chiến tranh cũng được mà bảo khởi đầu cho. . . “hòa bình” cũng xong, nhưng, phải chăng dùng chữ “hòa bình” có cái gì không ổn ở đây phải không Thủ trưởng?

Tháng Tư, tôi ẩn náu trong một ngôi biệt thự chờ cái kết thúc đến, nơi đây tôi đã sống suốt năm năm trước, vây quanh là các vách ngăn bằng kính nâu tráng lệ bị bể vỡ nham nhở và tòa nhà như thể được người ta quàng vào đầu một chiếc vương miện bằng hàng rào kẽm gai rỉ sét. Nơi ngôi biệt thự này tôi cũng có phòng riêng giống y như cái phòng riêng của tôi trong trại cải tạo của ông đấy Thủ trưởng ạ. Nói cho đúng thì cái gọi là phòng riêng đó chính là “xà lim biệt giam” mới phải, và thay vì được một quản gia lo lau dọn hàng ngày, ông đã phái đến một tay quản giáo mặt non choẹt và chẳng hề lau dọn gì cả. Nhưng tôi chẳng phàn nàn gì về chuyện ấy. Không sạch sẽ cũng được nhưng được kín đáo riêng biệt là điều kiện tiên quyết duy nhất tôi cần để viết ra những dòng thú nhận này.

Dù là ngày hay đêm tôi cũng được riêng tư kín đáo trọn vẹn trong ngôi biệt thự của vị Tướng. Tôi là người duy nhất trong số các thuộc cấp của Ông được ông cho ở chung nhà, là thuộc cấp còn độc thân duy nhất và là người phụ tá được ông tín cẩn nhất. Buổi sáng, trước khi lái xe chở ông đi làm ở sở không xa nhà là mấy, chúng tôi cùng ngồi ăn sáng, phân tích các công văn ở một đầu bàn ăn làm bằng gỗ tếch, ở chỗ khác, vợ Ông đang chăm cho bốn đứa trẻ, đứa mười tám, đứa mười sáu, đứa mười bốn và đứa mười hai, cạnh một chiếc ghế bỏ trống vốn là của cô con gái đang du học tại Mỹ.

Không phải ai cũng thấy lo nghĩ tới giây phút kết thúc, nhưng ông Tướng thì đã có linh cảm điều đó. Một người đàn ông mảnh dẻ nhưng có một phong thái đĩnh đạc, ông vốn là một quân nhân kỳ cựu, được nhiều huy chương, và là một điển hình của người liêm khiết. Dù ông chỉ còn có chín ngón tay và tám ngón chân sau khi bị thương vì trúng đạn và lựu đạn, nhưng chỉ người nhà và vài thuộc hạ tâm phúc mới biết. Tham vọng của ông hầu như không bao giờ bị cản trở, thế nhưng ước muốn kiếm một chai vang Bourgogne thật tuyệt, thêm đá cục vào cùng ngồi khề khà với bạn bè … thì Ông chưa làm được. Là một người biết hưởng lạc và cũng là một Kitô hữu, nhưng trong chừng mực nào đó, Ông là người tin sâu vào Thiên Chúa và món ăn ngon; tin vợ tin con; và tin người Pháp tin người Mỹ. Ông quan niệm rằng, tuy họ đặt xứ sở chúng ta dưới một nền bảo hộ nhưng những gì họ đem lại còn tốt hơn nhiều so với những tên Phù Thủy  ngoại bang khác, những kẻ đã ru ngủ hầu hết người anh em miền Bắc và một ít người miền Nam, đó là những Karl Marx, V. I. Lênin, và Mao chủ tịch. Cũng chẳng phải vì ông từng đọc nhiều sách thánh hiền gì cho cam! Vì là việc của tôi nên tôi biết, tôi là tùy viên quân sự thân cận và đồng thời là sĩ quan tình báo cấp dưới, nên thường phải cung cấp cho Ông những bản sao chép cóp nhặt được, ví dụ trong đó có Tuyên ngôn Cộng sản (The Communist Manifesto) hay tập “Mao tuyển” (Mao’s Little Red Book). Rồi  là tùy Ông vận dụng nó và tìm dịp để chứng minh cho mọi  người biết kiến thức của mình về những toan tính của đối phương, ông thích lấy câu hỏi của Lenin, lấy ý tưởng trong câu đó bất cứ khi nào cần, đó là câu hỏi: “Quý ông, ông vừa nói vừa gõ đốt ngón tay vào lòng bàn tay kia, ta đã làm được những gì rồi?” Nếu ai đó trả lời là Nikolay Chernyshevsky thực sự đã làm thỏa câu hỏi đó -trong cuốn tiểu thuyết cùng tên- thì có vẻ như Ông không chịu. Bây giờ còn mấy ai nhớ tới Chernyshevsky? Nhưng Lenin thì được, là con người của hành động, người đã biết đặt câu hỏi và lấy đó làm của riêng mình.

Trong những ngày tháng Tư đen này, nếu phải đem câu hỏi nên làm gì kia ra đặt lại ắt hẳn viên Tướng sẽ thấy rằng những gì cần làm đã không còn có thể làm được nữa. Một người đặt niềm tin vào sứ mệnh khai hóa và đường lối Mỹ đã âm thầm bị nỗi hoài nghi cắn rứt.

Đột nhiên Ông bị mất ngủ, thường hay thẫn thờ đi dạo trong biệt thự với vẻ xanh xao vàng vọt như thể một bệnh nhân sốt rét. Hồi tháng ba, vài tuần trước khi phòng tuyến phía bắc của chúng tôi bị chọc thủng, ông hay hiện diện trước cửa văn phòng tôi hoặc tại biệt phòng của tôi trong biệt thự, hăm hở vồ lấy những tờ tin tức mà thường luôn báo tình hình ảm đạm. Có thể tin được không? ông cứ yêu cầu, còn tôi thì cứ phải nói một trong hai điều là: “Không, thưa Ông!” hoặc “Không thể tin nổi!”. Ông với tôi đều không thể tin rằng thành phố cà phê Ban Mê Thuột thơ mộng dễ thương, quê nhà Tây Nguyên yêu dấu của tôi, đã bị rũ bỏ vào đầu tháng Ba. Chúng tôi không thể tin rằng Tổng Thống của chúng tôi, ông Thiệu, một cái tên mà tôi mong sao thốt ra khỏi miệng thật nhanh, là, đã không thể giải thích được vì sao ông lại ra lệnh cho lực lượng phòng vệ của chúng tôi phải triệt thoái khỏi Tây Nguyên. Chúng tôi không thể tin rằng Đà Nẵng và Nha Trang đã thất thủ, hay quân đội của chúng tôi lại bắn vào phía sau thường dân để bằng mọi cách vượt thoát bằng sà lan và tàu thuyền, khiến con số người chết khi chạy loạn lên đến hàng ngàn. Trong văn phòng riêng tư bí mật, tôi mẫn cán chụp ảnh  hết những báo cáo quân sự ấy, mà tôi biết sẽ vui lòng Man, một cấp trên trực tiếp khác của tôi.

Trong khi những tin tức đó làm tôi hài lòng, cũng như liên tiếp những dấu chỉ suy thoái không thể tránh khỏi của chế độ, thì đồng thời tôi không sao tránh khỏi cám cảnh xao lòng trước tình cảnh của đông đảo quần chúng bần dân. Nếu nói bằng ngôn ngữ chính trị thì khi tôi còn thấy dấy lên trong tâm lòng trắc ẩn xót thương họ, là không đúng, thế nhưng nếu mẹ tôi còn sống thì bà sẽ là một trong số họ. Bà là quần chúng bần dân, tôi cũng là đứa trẻ bần hàn, và chẳng có ai thử hỏi tầng lớp bần dân đông đảo kia xem có thích chiến tranh không? Cũng chẳng ai hỏi những người nghèo khổ xem họ có muốn chết khát hay phơi mình trên bờ biển, hay họ có muốn bị chính những người lính của mình cướp bóc và hãm hiếp không? Trong hàng ngàn người vẫn còn sống cũng sẽ không sao tin được vì sao bao người đã phải chết, thật là không ai tin được người Mỹ -là bạn bè, là ân nhân và người bảo trợ chúng tôi- lại chối bỏ trọng trách trước tình trạng cấp thiết mà chúng tôi đang cần nhiều tài trợ hơn. Nếu nhận được tài trợ, chúng tôi sẽ làm gì nào? Mua nào là đạn dược, nhiên liệu, phụ tùng thay thế cho các loại vũ khí, máy bay, xe tăng … những nhu yếu mà người Mỹ vốn đã viện trợ cho chúng tôi trước đây vậy. Kim tiêm thì họ đã đưa rồi mà giờ đây lại không chịu đưa thuốc. (Hóa ra chẳng còn gì hết, vị Tướng lẩm bẩm, quả là cái gì người ta cho không thì rồi ta cũng phải chịu trả với một giá rất đắt)

Có hôm vừa dùng bữa vừa bàn luận với nhau xong, tôi châm  cho Ông một điếu Lucky Strike còn Ông cứ mãi đăm đăm vào xa xăm vô định nào tới nỗi để mặc điếu thuốc tự cháy dần đến tận kẽ tay. Đó là vào giữa tháng Tư, một lần khi tàn thuốc cháy vào tận tay bỗng như lay Ông quay về với thực tại đã khiến Ông thốt ra một lời không hay, trong khi phu nhân đã vừa kịp nghe ông nói vừa lo ngăn đám trẻ đang nô đùa giữ im lặng vừa đáp, nếu ông cứ ráng chờ thêm nữa, chúng ta sẽ không còn đi thoát kịp, ông nên yêu cầu Claude cho chúng ta một chuyến bay ngay đi. Vị Tướng vờ như không nghe vợ nói gì. Phu nhân, một phụ nữ có đầu óc của một cái máy tính, tính cách rắn như một nhà mô phạm kỳ cựu, và thân hình của một cô gái thanh tân ngay cả khi họ đã có với nhau năm người con. Tất cả những tính cách đó đã được tổng hợp lại trong một tổng thể nhất quán phong thái của bà và đã truyền cảm hứng cho nhiều họa sĩ tốt  nghiệp trường Mỹ Thuật thực hiện những bức họa màu nước với những nét phác thảo lung linh hãn hữu. Nói cách khác Bà là một mẫu người nữ lý tưởng của Việt Nam. May mắn có được một người vợ như thế cho nên vị Tướng luôn tri ân và kiêng nể Bà. Xoa  xoa các ngón tay nám đen vì khói thuốc, Ông nhìn tôi nói, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta ngỏ lời yêu cầu Claude cấp cho ta một chuyến bay là vừa. Ngay khi Ông vẫn còn bận bịu với mấy ngón tay cháy nám, tôi liếc qua nhìn thấy bà khẽ nhướn mày lên. Ý hay đấy thưa ông, tôi đáp.

Claude là người bạn Mỹ tín cẩn của chúng tôi, trong tình thâm giao đó có lần ông đã thổ lộ với tôi ông vốn mang dòng máu da đen đến đời thứ mười sáu. Ah, thế là tôi cũng vừa gõ vào chai Tennessee Whiskey vừa nói luôn, thảo nào tóc ông đen, phơi nắng thật lì, và còn nhảy cha-cha chẳng thua gì bọn tôi. Ông nói tiếp, Beethoven cũng giống như tôi vậy cũng thuộc dòng thứ mười sáu. Tôi đáp, hèn gì ông có thể kéo dài nhạc điệu “Happy Birthday” cứ như không. Chúng tôi đã biết nhau đã hơn hai thập niên qua, kể từ cái lần ông chộp tôi trên một chuyến tàu chở người di cư hồi 1954 và mau chóng nhận ra tôi có chút khả  năng. Tôi đã sớm phát triển khi mới lên chín và hồi ấy cũng đã trang bị được một số kha khá tiếng Anh tươm tất, nhờ một nhà truyền giáo người Mỹ tiên phong thuở đó dạy cho. Còn Claude lúc ấy có lẽ làm việc trong ủy hội cứu trợ người tị nạn. Hiện Claude đang là một đặc phái viên của tòa đại sứ Mỹ, ngụy trang dưới vai trò công tác thúc đẩy phát triển du lịch nơi xứ sở đang thời chiến của chúng tôi. Một người như thế ta có thể thấy hội tụ những gì điển hình làm nên tinh thần Mỹ quốc. Kỳ thực, Claude đã là một nhân viên CIA từ thời xứ này vẫn còn nằm dưới ách thuộc địa của người Pháp. Dạo đó, khi Hồ Chí Minh có toan tính cậy nhờ Mỹ để chống Pháp thì tiền thân của CIA bấy giờ là OSS2. Thậm chí ông Hồ còn mượn dẫn lời nhà lập quốc của Hoa Kỳ để đưa vào Tuyên ngôn Độc lập 3. Đối thủ của bác Hồ quy kết ông là kẻ môi mép nói nước đôi, nhưng Claude thì tin rằng ông Hồ đã nhận ra 2 mặt của vấn đề ngay thời ấy.

Từ văn phòng của tôi nằm ở sảnh ngay bên dưới thư phòng của vị Tướng, bằng tiếng Anh, tôi gọi thông báo cho Claude biết. Tiếng Việt của Claude đã tệ mà tiếng Pháp còn tệ hơn, có tiếng Anh thì ngon! Sở dĩ tôi phải nêu ra điểm này vì những điều thế này không nên để cho nhiều người Việt khác nghe được.

2 Viết tắt của Office of Strategic Services: cơ quan tình báo Mỹ thời Đệ nhị Thế chiến

3 Tuyên ngôn Độc lập do ông Hồ đọc ở Bãi Cột Cờ Hà Nội Sep. 2, 1945   (trang 10)

Đến đoạn kết rồi, tôi bảo vậy, mà quả là khi tôi nói ra điều đó với Claude thì cái kết có vẻ đang đến thực sự. Tôi cứ lo Claude có thể phản đối và sẽ dằng co rằng máy bay Mỹ vẫn còn làm chủ bầu trời, hoặc là kỵ binh không quân Mỹ sẽ sớm phát động trực thăng để cứu hộ chúng tôi nếu cần, nhưng Claude đã không thế, ông không làm chúng tôi thất vọng. Lẫn trong những tạp âm trong ống nói, ông ôn tồn bảo tôi nên thu xếp những gì có thể,  và tôi tưởng tượng ra tình trạng lộn xộn trong Tòa Đại Sứ, với  hệ thống điện tín bị quá tải bởi bao cuộc kết nối khẩn cấp chằng chịt giữa Sài Gòn và Washington, các nhân viên làm việc không ngơi nghỉ, và nỗi lo sợ giờ phút thất thủ đã khiến cái nóng bức chẳng còn thấm tháp gì. Cũng có đôi lúc dịu lại, Claude lấy lại bình tĩnh hơn, vì vốn đã quen sống ở đây lâu ngày rồi nên ông không đến nỗi vã mồ hôi trong cái hầm hậm ẩm thấp của khí  hậu vùng nhiệt đới. Khi vẫn còn ở đây thì dù Claude có thể tạm lánh mặt trong bóng tối, chứ đâu có mất dạng đi đâu được. Tuy là một trí thức, Claude lại là một kiểu người Mỹ khác thường, cơ bắp cuồn cuộn chẳng khác nào vận động viên chèo thuyền và là một tay vật tay đáng gờm. Trong khi xu hướng giới học thuật ở xứ tôi thường là da dẻ xanh tái, mắt cận thị, và thân hình thì gầy gò … thì Claude tới 62 kg, một ngoại hình không chê vào đâu được, và cứ mỗi sáng luyện dáng bằng hai trăm cái hít đất, còn cõng cả trên lưng một cu cậu làm tạp vụ được nữa. Hễ có lúc  nào rảnh rỗi là ông đọc sách, lúc nào ông đến thăm biệt thự là thể nào cũng cắp theo một cuốn sách dưới cánh tay. Mới mấy ngày trước ông đến, đem đến mấy cuốn bìa mềm như “Cộng sản châu Á và Dạng thức Tàn Phá Phương Đông” của  Richard Hedd. Sách là phần tôi, còn phần ông Tướng là một chai Jack Daniel, loại quà tặng mà tôi rất thích nếu được chọn. Dẫu vậy, tôi vẫn để ý xem kỹ bìa sách, chi chít những lời giới thiệu đến ngộp thở của nhà xuất bản cốt đánh bóng cho cuốn sách mà hẳn là cóp lại đâu đó từ một câu lạc bộ những thiếu nữ hâm mộ, thêm vào đó là cái cười rạng rỡ của một bộ đôi bộ trưởng quốc phòng với một thượng nghị sĩ đã từng đến thăm đất nước chúng tôi hai tuần như một chuyến đi thực địa, và một tay tổ ngành truyền hình nổi tiếng, kẻ hay bắt chước lối nói của đấng tiên tri

Moses 4, hay lối diễn xuất của tài tử Charlton Heston 5. Y cứ vào chủ đề của sách thì hiểu vì sao họ rạng rỡ phấn khích: “On Understanding and Defeating the Marxist Threat to Asia” (“Nhận Diện và Chận Đứng Nguy Cơ Mác xít hóa châu Á”). Claude bảo, ai cũng cần nên đọc sách này để biết cách tự vận dụng, tôi đáp chắc chắn tôi sẽ đọc. Ông Tướng, thì khui chai rượu, chẳng còn tâm trí nào để mà bàn luận hay tán gẫu về sách vở, cũng chẳng còn lòng dạ nào khi thủ đô đang bị mười tám sư đoàn địch bao vây. Ông muốn bàn tới chuyến bay đã yêu cầu, trong khi Claude lăn qua lăn lại ly whisky trong lòng bàn  tay vừa nói là ông ta nên kiếm một chuyến bay riêng, không giấy tờ kế hoạch gì hết và tốt hơn cả là một chuyến vận tải cơ C-130, loại có thể chở chín mươi hai lính nhảy dù cùng với quân trang quân dụng của quân số đó, là điều vị Tướng chẳng lạ gì vì ông vốn xuất thân từ Không Quân trước khi được Tổng Thống thuyên chuyển qua nắm ngành Cảnh Sát Quốc Gia. Có điều là, ông giải thích với Claude, đại gia đình của Ông cũng đã lên tới con số năm mươi tám rồi. Trong số đó có người Ông không ưa hoặc có người Ông coi thường, nhưng Ông biết vợ ông sẽ không để Ông yên nếu không giải cứu hết tất cả số thân nhân trong hai bên gia đình.

Thế còn các thuộc cấp của tôi thì sao, Claude? Lần này thì vị Tướng nói rành rẽ trang trọng bằng tiếng Anh. Cả họ nữa ư? Cả hai người, vị Tướng và Claude đều đưa mắt nhìn tôi. Tôi cố lấy vẻ bình thường đối diện với giây phút đó. Trong các viên chức thuộc cấp của ông Tướng, tuy tôi không phải là sĩ quan cao cấp nhưng với vai trò sĩ quan tùy viên cho Ông, và cũng am hiểu về văn hóa Mỹ hơn mọi người, lại được dự hầu hết các cuộc họp Việt – Mỹ, tôi thấy các đồng nghiệp người Việt cũng như chính tôi hầu như ai cũng nói tiếng Anh bằng một cách hơi màu mè. Thế nhưng lại cũng như tôi, hầu hết chẳng ai có thể tham gia tán chuyện với người Mỹ những chuyện như xếp hạng bóng chày, cái cáu cạnh của Jane Fonda 6, hay Rolling Stones so với The

4 Thánh Moses (1393-1273 trước Công nguyên). Theo Kinh Thánh Hebrew, ông là một cựu hoàng Ai Cập, về sau trở thành một lãnh tụ tôn giáo và được truyền tụng là có tài tiên tri.

5 Charlton Heston (1923 – 2008): tài tử điện ảnh người Mỹ, nổi tiếng với các film như The Ten Commandments (1956), Ben-Hur (1959)

6 Cô đào diện ảnh Mỹ, nổi tiếng với nhiều cảnh và ảnh thoát y thời 1970’s

Beatles 7 thì nhóm nào tài nghệ hơn … Nếu một người Mỹ nói chuyện với tôi mà đừng nhìn tôi có khi anh ta sẽ cho rằng tôi là đồng hương. Thật vậy, trên điện thoại, nhiều người đã nhầm tôi là người Mỹ. Những lần họp riêng nhiều người không dấu vẻ ngạc nhiên trước sự xuất hiện của tôi và  hầu như lúc nào cũng tò mò muốn biết sao mà tôi đã có được khả năng tiếng Anh tốt thế.

Ở cái xứ cộng hòa giả tạm này, nơi chẳng qua chỉ để phục dịch cho quyền lợi của Mỹ, nhưng người Mỹ lại cứ đòi tôi lẫn bao người khác đừng nói tiếng Anh, hoặc đừng nói tiếng Mỹ giọng Anh. Tôi bực cái đòi hỏi đó cho nên tôi luôn háo hức tìm dịp để chứng tỏ cho họ thấy tôi thông thạo tiếng họ trong cả cách nói  và viết. Vốn từ ngữ của tôi cũng nhiều hơn, văn phạm của tôi cũng chỉnh hơn so với một người Mỹ có học vấn trung bình. Tôi còn có cơ hội kinh qua nhiều công văn ngoại giao từ thấp đến cao, nhờ đó mà tôi chẳng khó gì để hiểu rõ ngài Claude, đặc  phái viên của Đại Sứ, chẳng qua chỉ là một loại “NGỐC”, một “tên phải gió” “ngớ ngẩn chả biết gì hết”, kẻ không chịu nhận thành phố đang lâm nguy.

Claude nói, chính thức thì không có di tản đi đâu hết, bởi chúng tôi còn chưa rút đi đâu vội.

Ông Tướng im lìm nãy giờ nghe vậy mới cất tiếng. Hừ, còn không chính thức gì nữa, các ông đang bỏ chúng tôi! Ông la lên. Biết bao nhiêu chuyến bay đang ngày đêm cất cánh hạ cánh ở phi trường. Những ai từng làm việc với người Mỹ cũng cố kiếm cho được một thị thực xuất cảnh. Họ kéo đến Tòa Đại Sứ của ông để làm thị thực chớ đâu. Đàn bà con gái của mấy ông thì mấy ông đã cho rút về trước, rồi dời đi cả trẻ sơ sinh và trẻ mồ côi nữa. Mấy ông tưởng chỉ có đông đảo dân chúng mới không biết những người đã được mấy ông đưa đi chỉ toàn là người Mỹ không thôi ấy hả?

Bấy giờ Claude mới gượng gạo bối rối giải thích nếu quần chúng biết có các cuộc di tản như thế thì thành phố sẽ dấy loạn và khó tránh khỏi hệ quả là nổ ra phản ứng chống lại người Mỹ. Hẳn chúng ta chưa quên điều lo sợ đó đã xảy ra ở Đà Nẵng và

7 The Rolling Stones, ban nhạc Rock lừng danh của Anh khởi từ khoảng 1962 The Beatles, ban nhạc Pop & Rock huyền thoại của Anh khởi từ khoảng 1960

Nha Trang khi người Mỹ đã tìm phương tẩu thoát trước, bỏ mặc cư dân địa phương tự tìm lối thoát thân. Dù việc rành rành mới ngay đó, thế nhưng Sài Gòn vẫn đang một bầu khí yên tĩnh lạ lùng, hết thảy cư dân đô thành Sài Gòn vẫn bám lấy nhau sống chẳng khác nào trong một hôn nhân dẫu đã vỡ rồi nhưng thà  chết chùm chứ không bên nào chịu thừa nhận sự thật là mình đã ngoại tình. Thật ra, hiện tại đã có ít nhất một triệu người đang làm việc hoặc đã từng làm việc cho người Mỹ với nhiều cương vị khác nhau, từ hàng thấp như đánh giày cho đến tầng cao như đang nắm cương vị chỉ huy quân đội do người Mỹ hậu thuẫn … mỗi người đều tìm cách của riêng mình để ra đi bằng bất cứ giá nào. Rất đông trong số họ tin chắc rằng nếu người cộng sản thắng cuộc – điều mà với họ là không thể – thì cái chờ đón họ là chốn lao tù hoặc một giá treo cổ, chẳng khác nào các thiếu nữ thanh tân mà bị ép gả cho giống người man rợ. Họ tin chắc thế. Đó cũng là những lời đồn mà CIA đã tuyên truyền 8.

Khi ông Tướng nói thì chỉ có Claude mới dám ngắt lời. Thưa ông, chuyến bay đã có rồi và cứ coi như ta vẫn còn may. Ông Tướng không nói thêm lời nào nữa. Ông nốc cạn ly whisky và Claude cũng cạn, rồi ông bắt tay Claude và chào tạm biệt, mắt ông vẫn không rời mắt Claude. Người Mỹ thích nhìn thẳng vào mắt người đối diện, có một lần vị Tướng đã nói với tôi như vậy, nhất là khi họ muốn thử xem người kia còn có ẩn ý gì khác không. Thỏa thuận đó không phải là cách mà Claude thừa nhận trong tình thế này. Các Tướng khác chỉ kiếm được vừa đủ chỗ cho thân nhân thôi, Claude nói với chúng tôi lúc chia tay. Ngay cả Thiên Chúa và ngài Noah9 đi nữa cũng không thể cứu thoát hết tất cả mọi người lúc này. Bằng cách nào cũng chẳng thể được như vậy.

Không được ư? Rồi Cha tôi sẽ nói gì? Ông là một linh mục Công Giáo, vậy mà tôi chẳng nhớ mấy những gì vị tu sĩ khiêm tốn ấy đã rao giảng về Noah, phần cũng do tôi hay lơ đễnh khi

8 Có thể vì tuổi còn quá nhỏ (xấp xỉ lên 4) lúc rời miền Nam tỵ nạn cộng sản vào tháng Tư/1975 và khi lớn lên đã tìm đọc nhiều sách vở tài liệu về chiến cuộc Việt Nam hơn là trải nghiệm thực cho nên tác giả Viet Thanh Nguyen đã không biết một thực tế là hầu hết toàn dân chúng ở miền Nam quốc gia đều biết hậu quả tàn khốc (nếu phe cộng sản thắng như ở đoạn văn này nói) chứ không cần và không phải do một CIA nào tuyên truyền cả. Và những gì đã diễn ra trên thực tế ở Vietnam sau tháng Tư 1975 đã xác thực điều đó.

9 Noah hay còn gọi là Noé, từ một sự tích trong Kinh Thánh, là người đã đóng con tàu cứu nạn cứu nhiều người thoát nạn trong trận đại hồng thuỷ do Thượng đế gây ra để trừng phạt loài người

đi lễ. Nhưng nay Thiên Chúa hay Noah cũng chẳng cần nữa, vì tôi biết chắc rằng trong tất cả thuộc cấp của ông Tướng, nếu có cơ hội, họ sẽ nhân đó mà giải cứu cho hàng trăm thân bằng quyến thuộc của họ cũng như bất kỳ ai khác có yêu cầu ra đi nếu chịu thỏa thuận một khoản chi trả.

Mối tương quan gia đình của người Việt Nam thường phức tạp và có nhiều chuyện tế nhị, và cho dù tôi cũng có lúc nghĩ tới trường hợp mình, vốn là con trai duy nhất của một người Mẹ bị khước từ, nhưng bây giờ không phải là lúc nghĩ tới điều ấy.

Qua hôm sau, Tổng Thống từ chức. Tôi đã nghĩ rằng lẽ ra ông ta nên từ bỏ quyền hành mấy tuần trước kia là cũng vừa đủ cho cái tham quyền cố vị rồi, và với tôi trường hợp ông ta bây giờ chẳng qua cũng như những người đang lên danh sách ra đi tỵ nạn thế thôi.

Vị Tướng vốn khó tính, khả năng xoay xở chậm, nay tập cho quen dần với các yêu cầu nhanh lẹ, quyết đoán các quyết định nan giải, mà tác vụ này thì ông phải tùy thuộc vào tôi. Ông bị những công vụ văn phòng choán hết thì giờ: đọc các báo cáo thẩm vấn buổi sáng, dự các cuộc họp hỗn hợp ở Tổng Tham Mưu, gọi điện thoại cho những đồng nghiệp thân thiết thảo luận cách vừa giữ vừa bỏ thành phố, một lối điều phối thật khéo như thể một nhạc trưởng điều hợp các cung bậc một khúc nhạc yêu thích nhất.

Âm nhạc là một cái gì không thể thiếu trong tôi, nhất là khi phải bận bịu lên cái danh sách trong đêm yên tĩnh, tôi thường nghe nhạc trên đài Mỹ -American Radio Service- bằng cái  Radio Sony trong biệt phòng của tôi ở dinh thự ông Tướng. Các ca khúc của nhóm Temptations, của Janis Joplin và của Marvin Gaye 10 dễ giúp ta vượt qua những bực dọc, khó chịu và khiến những gì hay, đẹp càng thêm tuyệt vời, nhưng bây giờ không còn được như vậy nữa. Cứ mỗi lần viết duyệt qua một cái tên nó nặng nề chẳng khác nào như xuống một bản án tử. Toàn thể các tên tuổi chúng tôi, từ các sĩ quan cấp thấp nhất cho đến vị

10 – Temptations: nhóm nhạc người Mỹ da màu, gồm 5 thành viên nam, chuyên thể loại R&B, soul, rock & roll, khởi đi từ 1960.

  • Janis Joplin [1943-1970]: nữ danh ca người Mỹ và là nhà soạn ca khúc thể loại Blues
  • Marvin Gaye [1939-1984]: Nam danh ca người Mỹ da màu và là nhà soạn ca khúc thể loại R&B, Jazz, Pop. Qua đời vì bị mưu sát bằng súng.

Tướng, đã được tìm thấy nguyên một danh sách lúc ấy được  nhét vội vào miệng chính người thủ giữ nó khi chúng tôi phá  cửa xông vào nhà cô ta ba năm trước. Báo động mà tôi đã chuyển cho Man thì cô không nhận kịp. Khi viên cảnh sát vật cô ngã xuống đất, không còn cách nào khác, tôi cố đưa tay vào miệng người đặc công cộng sản này và lôi ra một tờ danh sách đẫm nước bọt. Những gì còn lại trên tờ giấy nát nhầu cho thấy đó là danh sách nhân viên của Cục Cảnh sát Đặc biệt 11, vốn chẳng xa lạ gì, giờ được chính chúng tôi nhìn thấy lại. Có khi có được một thoáng riêng chỉ có mình tôi và cô, nhưng tôi không dám mạo hiểm hy sinh cái vỏ hiện tại của mình để nói cho cô biết rằng tôi cùng phe với cô. Tôi biết những tồi tệ gì đang chờ cô. Trong phòng biệt giam thẩm vấn, lấy cung của Cục  Cảnh  sát Đặc biệt, không ai chịu nổi để cắn răng không cung khai, cho nên biết đâu cô sẽ khai ra bí mật của tôi. Cô nhỏ tuổi hơn tôi, nhưng đủ tinh khôn để biết những gì đang chờ mình. Có một giây tôi thoáng nhìn thấy trong mắt cô ánh nhìn chân thực, ánh nhìn đó căm ghét tôi vì cô nghĩ tôi là đặc vụ của một chế độ áp bức. Nhưng rồi, cũng như tôi, như chợt nhớ lại vai đang diễn, cô bật khóc: Ông ơi hãy làm ơn mà! Tôi vô tội! Tôi thề!

Ba năm sau, người nữ đặc công cộng sản này vẫn còn nằm trong biệt giam. Tôi giữ hồ sơ của cô lại nơi bàn làm việc như tự nhắc nhở mình về một phen giải cứu cô thất bại. Nó cũng là lỗi của  tôi nữa, Man nói. Ngày giải phóng đến, chính tôi sẽ là người mở khóa cửa phòng giam cho cô. Khi bị bắt cô mới hai mươi hai, trong hồ sơ cô có một tấm ảnh chụp lúc bị bắt, và một tấm khác mới chụp cách đây vài tháng, tấm này cô trông héo hắt với một mái tóc hao gầy. Phòng biệt giam quả là một cỗ máy thời gian, nó làm tù nhân già nhanh hơn nhiều so với bình thường. Nhìn khuôn mặt cô hồi đó và bây giờ, phần nào giúp tôi trong tác vụ lọc lựa chỉ một thiểu số người được ra đi và một số nhiều hơn bị bỏ lại dù trong đó có người tôi ưa. Trong những ngày tôi lọc đi lọc lại bảng danh sách thì cũng là những ngày đánh dấu thời điểm Xuân Lộc thất thủ, và ở nước láng giềng bên kia, thủ đô

11 Cảnh sát Đặc biệt: một đơn vị riêng của ngành Cảnh sát Quốc gia ở miền Nam trước 1975, đặc trách lùng tìm, điều tra và khai thác các đặc công cộng sản nằm vùng và hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa

Nam Vang của Cam Bốt cũng đã rơi vào tay Khmer Đỏ. Mấy đêm sau, cựu Tổng Thống của chúng tôi âm thầm bỏ đi Đài Loan. Claude lái xe đưa ông ra phi trường, có chú ý thấy những hành lý có vẻ nặng quá khổ của Tổng Thống như có tiếng gì đó va chạm như thể kim loại, chẳng biết có phải trong đó có một số lớn vàng của quốc gia hay không. Sáng hôm sau ông kể lại tôi nghe điều này khi gọi điện đàm để thông báo chuyến bay của chúng tôi sẽ cất cánh trong hai ngày nữa. Vào đầu hôm, tôi đã hoàn thành bảng danh sách và gọi cho vị Tướng nói cho ông hay rằng quyết định của tôi dựa trên nguyên tắc dân chủ và tiêu biểu, chọn các sĩ quan cao cấp nhất mà ai cũng thấy là trung thực  nhất, những người có tinh thần đồng đội là điều mà tôi đánh giá cao nhất, và đại loại như vậy. Ông đồng ý lý giải của tôi và việc quyết định như thế ắt phải không tránh khỏi bỏ lại một số không nhỏ sĩ quan cao cấp vừa lỗi lạc vừa có mắc lỗi lầm. Tôi thấy trong lòng dậy lên mối cảm thương đến một vị Đại tá, một Thiếu tá, một Đại úy, và hai Trung úy. Về phần mình, tôi dành riêng cho tôi một chỗ và ba chỗ nữa dành cho Bon, vợ anh, và con anh cũng là con đỡ đầu của tôi.

Đêm đó khi vị Tướng đem nửa chai whisky tới gặp tôi như để tỏ nỗi lòng, tôi đã tỏ ý với ông là cần ưu tiên đem Bon theo cùng. Dù Bon không phải anh em ruột của tôi, nhưng anh là một trong hai người huynh đệ chí cốt của tôi từ thời học sinh. Man lại là một trường hợp khác, và cả ba chúng tôi đã cắt máu ăn thề. Trong ví tôi có một bức ảnh trắng đen chụp Bon với vợ con.  Bon có dáng vóc của một người đàn ông đẹp nét phong trần, lại thêm được khuôn mặt điển trai trời cho. Anh chỉ vận mỗi bộ quân phục lính dù rằn ri oai vệ được ủi hồ thẳng nếp, thiếu chiếc mũ Beret nhảy dù vốn vẫn thường đội trên đầu nữa là đủ bộ, chiếc cằm anh như muốn che hết cổ, và mũi cao cương nghị như chính kiến của anh vậy. Còn vợ anh, Linh, thì đã có một nhà thơ từng ví dung nhan cô đẹp như trăng tròn, không chỉ tròn đầy mà còn ngầm tả như một tuyệt cảnh với bao đường nét, núi đồi thanh nhã trên cung Hằng. Thật là một hòa hợp diệu kỳ để cho  ra đời một cu Duc dễ thương, phải chăng đó là sự nhiệm mầu của lưỡng cực Âm Dương kết hợp lại mà thành. Vị Tướng trả lại tôi bức ảnh và nói: Ít nhất ta phải nên ưu tiên cho Bon. Anh ấy

Cánh Dù đầu đàn. Nếu quân ta gồm toàn những cánh chim đầu đàn như thế thì ta đã giành chiến thắng trong cuộc chiến này rồi. Nếu . . . nhưng không có nếu gì nữa mà giờ chỉ có một thực tế không thể chối cãi đó là vị Tướng đang thẫn thờ ngồi trên ghế còn tôi đang tựa cửa nhấm nháp từng ngụm whisky. Dưới sân, theo lệnh vị Tướng, mấy mật vụ đang thảy từng nắm tài liệu, giấy tờ mật vào ngọn lửa đang cháy bùng trong một thùng phuy (cỡ 200 lit), làm đêm đã nóng càng nóng thêm. Ông Tướng  đứng dậy rảo bước vô buồng tôi, ly rượu vẫn trong tay, trên người chỉ khoác giản dị một chiếc áo maillot, quần short của dân đánh bốc, râu trên cằm tua tủa, vò võ một bóng trong đêm thâu. Chỉ có người quản gia, thân nhân ông, và tôi mới có thể thấy  ông trong bộ dạng như vầy. Còn bất cứ lúc nào khác trong ngày, những khi khách khứa đến nhà, lúc nào ông cũng chỉnh tề với mái tóc bóng dầu thơm, vận bộ kaki nhà binh hồ cứng thẳng  nếp, ngực đeo đầy huy chương chiến công nom còn rực hơn một bà Hoàng. Nhưng đêm nay, trong cái im lìm bao trùm dinh thự, thỉnh thoảng cái tịch mịch đó như được nổi rõ hơn mỗi khi có tiếng đạn pháo vọng về, và ông như tự buông thả nỗi lòng khi oán thán người Mỹ, kẻ đã hứa không để đất nước rơi vào họa cộng sản nếu chúng ta quyết tâm giữ lời nói sao làm vậy. Họ đã khởi nên cuộc chiến này, rồi giờ đây thấm mệt và bán đứng chúng ta, vừa nói ông vừa rót cho tôi ly nữa. Nhưng bây giờ còn biết đổ lỗi cho ai ngoài chính chúng ta? Vì ta đã cả tin rằng người Mỹ họ sẽ giữ lời. Giờ biết bỏ xứ mà đi tới đâu ngoài nước Mỹ? Có nơi còn tồi tệ hơn, tôi nói. Chắc thế, ông đáp. Ít nhất ta phải sống để chiến đấu tiếp. Cho đến giờ này, chúng ta vẫn có chính nghĩa dù đang thực sự lâm nguy. Còn chính nghĩa nào cao cả hơn?

Phải một lúc sau tôi mới cất tiếng. Tôi thấy cả một quyết tâm trong ông, tôi nói. Quá đúng.

Rồi tôi quên bẵng đi người đã nêu cao chính nghĩa đó, hoặc việc đó có ý nghĩa gì đối với mình ngoài việc nhờ nó mà tôi đã thu lượm được ít nhiều suốt những năm tháng ở Mỹ. Cũng thế, Ông Tướng đến Mỹ, chẳng qua mất vài tháng như một sĩ quan cấp thấp cùng qua khóa huấn luyện với một đơn vị đồng binh chủng

tại Fort Benning 12 hồi 1958, nơi cùng với binh đoàn Lực lượng Đặc biệt, ông đã thừa hưởng tính miễn nhiễm cộng sản vĩnh viễn. Trường hợp tôi thì tính miễn nhiễm đó lại không nhắm tới. Tôi đã có sẵn một vỏ bọc, một mặt là sinh viên du học học bổng quốc gia, một mặt đã qua khóa đào tạo gián điệp trẻ vị thành niên, lại là khuôn mặt đại diện duy nhất của quốc gia tại một trường cao đẳng tỉnh lẻ có tên gọi là Occidental, với phương châm Tây sát nách Đông. Nơi đây tôi đã trải qua sáu năm nơi một miền điền dã thơ mộng, vùng trời đầy ắng ấm của miền Nam California trong những năm sáu mươi. Tôi chẳng phải nghiên cứu về đường cao tốc, hệ thống nước thải, hay các đề tài hữu ích tương tự. Thay vào đó, nhiệm vụ được Man –người đồng chí cùng tổ chức– giao cho tôi là tìm hiểu cách thức suy nghĩ của người Mỹ. Cuộc chiến của tôi là chiến tranh tâm lý. Đến cuối khóa, tôi đã có chút vốn về sử Mỹ, văn học Mỹ, vững vàng văn phạm và am hiểu tiếng lóng Mỹ, đã thử khói cần sa và nếm mùi đàn bà. Tóm lại, tôi không chỉ kiếm chứng chỉ cử nhân mà còn đạt được trình độ Giáo sư, trở thành một chuyên gia trong tất cả các loại đề tài nghiên cứu của Mỹ. Cho đến giờ, tôi vẫn con nhớ rõ bãi cỏ phản chiếu những tia mặt trời long lanh dưới tàn cây Jacaranda, nơi tôi đọc lần đầu những dòng văn của triết gia vĩ đại nhất Mỹ quốc, Emerson 13. Tôi còn nhớ mình bị phân tâm giữa một bên là những cô nàng bạn học đồng khóa người ngoại quốc da nâu phong thanh với áo mỏng thắt dây và quần short hồn nhiên phơi mình dưới nắng ấm trên thảm  cỏ xanh rờn tháng Sáu, và một bên là những dòng chữ rành rành trên giấy trắng mực đen: “Tính kiên định chẳng qua chỉ là một ảo cảnh không thực của những cái tâm nhỏ nhoi”. Vẫn biết những gì Emerson đã viết chưa bao giờ thật hơn đối với nước Mỹ, nhưng đó không phải là lý do duy nhất để tôi cứ phải gạch đít lời nói đó của ông tới một, hai, ba lần. Cái gì đã hằn mạnh  lên tôi hồi đó cũng chính là cái đập lại vào tôi bây giờ, đó là những gì tương tự mà ta thường nghĩ về tổ quốc ta, nơi ta sẽ chẳng là gì hết nếu ta không gắn liền làm một.

12 Fort Benning: một căn cứ quân sự và cũng là trung tâm huấn luyện quân đội Mỹ thuộc bang Georgia kể từ 1943, nơi chuyên huấn luyện những binh đoàn Lực lượng Đặc biệt (Special Force) hay còn gọi là Biệt kích Ranger (green berets-mũ nồi xanh)

13 Ralph Waldo Emerson (1803-1882), triết gia, nhà biện thuyết và thi sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ

Vào buổi sáng cuối cùng, tôi lái xe chở ông Tướng đến phòng làm việc trong Tổng Nha Cảnh Sát. Phòng làm việc của tôi cũng trong Tổng Nha thì đã dời xuống đất ngay trước phòng ông Tướng. Tại đây tôi cho vời năm sĩ quan đã được tuyển lựa trước cho cuộc gặp riêng từng người một. Đêm nay chúng ta đi hả? Viên Đại Tá với hai mắt mở to hoang mang và bồn chồn hỏi. Vâng. Thế còn Cha Mẹ tôi? Cha Mẹ vợ tôi nữa thì sao? Người hỏi là một Thiếu Tá, một tay chuyên la cà khu trà đình tửu điếm người Hoa bên Chợ Lớn. Không. Thế còn anh, chị em tôi, các cháu tôi? Không. Người quản gia và người giúp việc? Không. Thế còn valis áo quần, giường tủ với bộ đồ Tàu cổ? Không.  Viên Đại úy dáng đi kém tự nhiên của người mắc bệnh hoa liễu, còn dọa là sẽ tự tử nếu không được xếp thêm chỗ. Tôi liền đưa khẩu súng lục của tôi ra thách thì ông ta lại lơ đi. Ngược lại,  viên Trung úy trẻ thì dễ thương hơn. Dẫu nhờ những mối quan hệ đắt giá mới kiếm được chỗ trong chuyến đi, thế nhưng ai cũng bất an căng thẳng.

Tiếp xong người chót, tôi đóng cửa phòng lại. Khi nghe có tiếng nổ từ xa lớn như bom làm rung chuyển cả nhà cửa, tôi nhìn lên và thấy lửa và khói bốc lên từ hướng đông. Địch quân đã pháo kích làm cháy kho đạn Long Bình.

Tự nhiên thấy trong lòng nổi lên cả hai cảm giác vừa tiếc nuối vừa mừng vui lẫn lộn tôi bèn quay sang tủ rượu nhỏ lấy chai Jim Beam14 thứ năm mà giờ còn lại có một ít. Nếu Mẹ hiền của tôi còn sống, bà sẽ bảo, đừng uống nhiều, con ạ, chẳng tốt lành gì cho con đâu. Dạ Mẹ, con tự liệu được mà? Bất cứ ai phải tự mình rơi vào tình thế khó xử như tôi hiện tại, là một gián điệp nhị trùng, vừa là thuộc cấp thân cận của ông Tướng, mới hiểu cái cảm giác không sao bỏ lỡ cơ hội nếu tự tìm được cho mình chút thư giãn thoải mái dù chỉ là một khoảnh khắc. Uống xong chỗ whisky còn lại, tôi lái xe chở ông Tướng về nhà băng qua một cơn mưa như trút, nước ngập tràn khắp các ngả đường  thành phố như thể báo biểu một sự chuyển mùa. Có người hy vọng mưa gió chuyển mùa sẽ làm chậm chậm lại đường tiến của Bắc quân, nhưng tôi không nghĩ vậy. Về nhà, tôi bỏ bữa ăn tối để đóng gói ba lô hành lý của tôi với ít tư trang cần thiết, một…(trang 20, còn tiếp)

14 loại Rượu Bourbon Whiskey của Mỹ

14 loại Rượu Bourbon Whiskey của Mỹ

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here