Năm mươi năm, đọc bài thơ “Nỗi lòng”

  • Năm mươi năm, đọc bài thơ “Nỗi lòng” của một Chí sĩ

    *Trần Việt Yên

 Tình cờ tôi gặp nhà thơ Lệ Khanh, trong câu chuyện hàn huyên, anh hỏi tôi:

    – “Có biết cụ Diệm làm thơ không?”

    – “Tôi chưa nghe nói”? tôi thành thực trả lời.

Anh kể: 

    – “Cụ Diệm có một bài thơ làm từ năm 1953, Việt Yên muốn nghe tôi đọc cho nghe.

    – “Vâng xin anh đọc đi”? tôi vừa trả lời vừa sửa soạn giấy bút để ghi chép lại.

Anh đọc bài thơ cho tôi chép:

Nỗi lòng

Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông

Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!

Xe muối nặng nề thân vó Ký

Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng

Vá trời lấp biển người đâu tá?

Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!

Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế

Cắm sào đợi khách, thuở nào trong?

(Chí sĩ) Ngô Đình Diệm 1953

Mới thoạt nghe bài thơ Lệ Khanh đọc, tự nhiên tôi rùng mình, cảm xúc bài thơ đi thẳng vào tim óc, tôi nhẩm đi nhẩm lại bài thơ, gần như thuộc lòng, Lệ khanh cười:
– còn đây là bài  họa của tôi:

Gan vàng đem trải khắp non sông

Quyền rộng chẳng màng, lợi cũng không 

Chí quyết dẹp xong bọn cướp nước 

Lòng mong quét sạch đám cờ hồng 

Tâm hư chói rạng vùng trời Bắc,

Tiết trực sáng ngời chốn biển Đông 

Một lũ phản thần mưu giết chúa 

Tham tiền nào biết đục hay trong.

Lệ Khanh 2003

Lệ Khanh nói tiếp:- “anh Từ Phong cũng có một bài họa, rất tiếc  tôi không nhó hết, Việt Yên thử hỏi anh Từ Phong xem. 

 Từ giả Lệ Khanh, tâm trí tôi luôn ám ảnh bài thơ của cụ Diệm,  về đến nhà tôi gọi điện thoại cho anh Từ Phong và xin anh đọc bài họa, anh  vui vẻ đọc cho tôi chép qua phone:

 Ghé vai gánh vác nửa non sông 

Lèo lái Thuyền Nam sóng gió không 

Đả thực, giữ gìn bờ cõi Việt, 

Bài phong,  tô điểm nước non Hồng

Đêm lo ngăn cản thù phương Bắc

Ngày tính canh chừng giặc bể Đông 

Tế thế kinh bang tài xuất chúng 

Tiếc thay mầm vạ nẩy từ trong!!

Từ Phong 7- 7-2003

Và anh nhấn mạnh: Tôi làm bài này đúng ngày 7 tháng 7 năm 2003 cũng là để kỷ niệm ngày cụ Diệm về nước chấp chánh (mồng 7- tháng 7 ngày Song Thất)

 Đêm đó tôi không ngủ và cố dò theo tư tưởng của Cụ Diệm để làm một bài họa.  Gần đến nửa đêm thì tôi chợt nảy ra cái ý: tinh thần  độc lập của cụ Diệm, nhất định không muốn người Mỹ nhúng tay trực tiếp vào cuộc chiến Việt Nam, thế là  tôi hăm hở ngồi ghi chép:

Nỗi lòng trang trải với non sông

Hậu thế ai người có biết không?

Độc lập nước nhà nêu ý hướng

Tự do dân tộc điểm tâm hồng.

Chí ngăn lũ giặc cuồng phương Bắc 

Tài giữ đồng minh vai chủ Đông 

Tiết trực tâm hư gương ái quốc

Mai nầy đời gạn đục khơi trong 

Trần Việt Yên 2003

Làm xong bài thơ – thực ra chưa được hoàn chỉnh lắm? và vội vã gởi cho các thi hữu  gần xa để xin nhã hứng họa lại, Cụ Trường Giang là người gởi bài thơ họa đến cho tôi xem  sớm nhất:

Thù nhà, nợi nước, gánh non sông 

Chưa vững quyền uy bậc cũng không 

Quyết chí đánh tan quân mặt trắng 

Tận tâm xé nát ngọn cờ hồng 

Thanh liêm chỉ một vang Miền Bắc

Chính trực không hai, dội cõi Đông 

Khí tiết lăng sương thù khiếp vía 

Hiềm vì phản loạn núp bên trong.

Trường Giang  10-2003.

 Tiếp theo nhà thơ Hoàng Ngọc Văn cũng gởi bài họa của anh:

Bùi ngùi tấc dạ xót non sông,

Sóng lớn thuyền con, kẻ sĩ không 

Xin gửi tấm lòng cùng sử ký

Trao về xương cốt với tim hồng 

Quốc gia nghiêng ngửa, chèo phò tá?

Đất nước chênh vênh, tát biển Đông 

Nhắm mắt xuôi tay tùy cõi thế 

Nguyện cầu dân tộc, đục thành trong.

Hoàng Ngọc Văn, 2003

 Tôi chần chừ chưa muốn viết bài này vội vì còn chờ  bài họa của  nhiều nhà thơ khác, Trong đó có thi hữu  Thiên Tâm vì tôi biết anh rất thích họa thơ những bài Đường luật hay, quả nhiên anh gởi đến tôi không phải một mà tới 2 bài họa. Cái đặc biệt của Thiên Tâm là anh đã ký thác được tâm sự của anh và của cụ Diệm một cách sâu sắc. 

 MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG 

MỘT đời tận tụy gánh non sông 

NÉN bạc phản thùng, nghiệp hóa không 

HƯƠNG ngát nghìn thu, gương chính khí 

LÒNG son một thuở dáng linh hồng 

THẮP cao ngọn đuốc soi đêm tối

DÂNG tận đài mây gọi gió đông 

CHÍ lớn chưa thành, thân dẫu thác

SĨ dân thương tiếc biển, trời trong 

Thiên Tâm 18-10- 03

Và một bài thứ 2:

CHẠNH LÒNG.

Gió uất, mây hờn phủ núi sông 

“Tự do, Độc lập??” rứa, buồn không?!

Nhe nanh múa vuốt loài yêu quỷ 

Tím ruột bầm gan giống Lạc Hồng 

Tuấn kiệt lơ thơ sao buổi sớm 

Nhân tài lác đác lá mùa đông

Cứu tinh dân tộc nay đâu vắng 

Xao xác chợ đời luận đục trong 

Thiên Tâm

Nhà thơ Tố Nguyên cũng gởi đến cho chúng tôi thưởng lãm bài họa của anh:
 

NHỚ NGÔ CHÍ SĨ

 

Chí Sĩ quên mình với núi sông

Vì dân vì nước chẳng hề không

Cộng hòa khai lối giòng Dân Việt

Tiên tổ truyền lưu giống Lạc Hồng 

Diệt Cộng bài Phong nạn giặc Bắc

Đồng minh kết hữu tình Tây Đông*

Trời ơi! Oan nghiệt  ai mưu giết

Giữa buổi nhiễu nhương đục lẫn trong 

Tố Nguyên  19-10-2003

(*) Tây Phương và Đông Nam Á

 Trở lại với bài thơ NỖI LÒNG  của  chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM, tôi xin được nêu vài ý nghĩ thô thiển về bài thơ của cụ,

Thật ra, tôi không phải là người  quen bình thơ thiên hạ, gặp bài thơ hay tôi chỉ xin được gọi là họa lại đôi lời hưởng ứng hoặc gởi đến anh em thi văn hữu quen biết để  cùng thưởng lãm.Việc xướng họa trong vòng anh em chúng tôi thường hay diễn ra. Hôm nay tôi đánh bạo  viết đôi dòng để gọi là nối điêu ý tưởng bậc cao minh.

Theo  Lệ Khanh cho biết Cụ Diệm  làm bài thơ này từ năm 1953, nếu trí nhớ không đánh lừa tôi thì lúc đó cụ Diệm chưa về nước chấp chánh, cụ còn  đang lưu ngụ trong  một nhà dòng Thiên Chúa Giáo tại tiểu Bang Misouri (?) Hoa Kỳ. 

Thời điểm đó, chiến cuộc Đông Dương đang diễn ra ác liệt, một bên là Việt Minh Cộng Sản với sự trợ giúp cả người và vũ khí của Trung Cộng và Liên sô, bên kia là Quân Đội Liên Hiệp  Pháp  và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam rất non trẻ  mà phần thắng đang nghiêng  dần về khối Cộng. Hội nghị Genève  được hình thành nhằm tìm kiếm hòa bình cho  Đông Dương, các chính phủ Quốc gia được thành lập và tham dự hòa đàm Genève, nhưng tốc độ chiến tranh đẩy  phe Quốc gia vào thế bị động, các chính phủ lần lượt ra đời (dường như chính phủ Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu  trong Nam kỳ, roiࠣhính phủ của Hoàng Thân Bửu Lộc được Quốc Trưởng Bảo Đại  tấn phong) nhưng xem ra tình thế không có gì sáng sủa, 

Người Mỹ  với vai trò lãnh đạo khối thế giới Tự Do  nóng lòng và muốn can thiệp vào vũng lầy Đông Dương, đang tìm kiếm một khuôn mặt ít chịu ảnh hưởng  của người Pháp để ủng hộ, Do những quen biết  ông Ngô Đình Diệm có lẽ đã được thăm dò ý kiến về vai trò lãnh đạo, theo tôi chính đó là hoàn cảnh bài thơ NỖI LÒNG được ra đời.

 Đọc bài thơ NỖI LÒNG  người ta thấy được tinh thần dấn thân của một con người đang muốn xông pha vào thế cuộc, 

Đọc câu thơ thứ nhất “Gươm đàn nữa gánh, quảy sang sông” người ta thấy hình ảnh đầu tiên đập vào mắt người đọc NỖI LÒNG  là TỪ HẢI, một nhân vật cái thế anh hùng  trong truyền KIỀU  của THI HÀO NGUYỄN DU. 

 Thật vậy GƯƠM ĐÀN NỬA GÁNH, chứng tỏ cái chí của một  bậc anh hùng cái thế, “Gươm đàn nữa gánh, non sông một chèo” người muốn tự mình tạo riêng một cõi triều đình, chứ không chịu cúi luồn trong khuôn khổ.

 Chỉ 3 chữ?quẩy sang sông? đã  thể hiện được thái độ hăm hở xốc vác dám dấn bước sang một hoàn cảnh khác  của tác giả  dù  hoàn cảnh đó có như thế nào đi nữa cũng không thối chí  nhụt lòng.

 Câu thơ thứ 2

“Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không,”

 Mặc dù hăm hở  muốn sang sông, tác giả vấp phải hoàn cảnh thực tế phũ phàng:   Muốn sang sông thì phải có thuyền,  nhưng thuyền không có mà lái cũng không nốt!!

 Nhìn vào hoàn cảnh nước nhà lúc đó  con thuyền quốc gia đang bị sóng gió cộng sản vùi dập,  mà người đủ tài  lèo lái con thuyền cũng không co,?’y gì để sang sông. 

Riêng trong trường hợp tác giả lúc đó, dù nóng lòng hăm hở muốn sang sông gánh vác, nhưng thuyền là tổ chức,  mà người lãnh đạo cũng chưa có thì làm sao có thể sang sông cho được bây giờ?!

Hai câu thực 

“Xe muối nặng nề thương vó ký,

Đường mây rộng rãi, tiếc chim hồng”

Tác giả  mượn điển tích Chu Bá Nhạ  để  nhìn cơ đồ  tổ quốc đang như một chiếc xe ngựa thồ muối  ì ạch leo dốc  mà thương cho những người đang cố gắng vất vả như con ngựa Ký (tương truyền là một giống ngựa giỏi, có thể đi xa, thồ nặng được như không)

Nhìn hoàn cảnh nước nhà  như thế, mà tiếc cho cánh chim hồng trước không gian bao la của tương lai dân tộc lại không được bay bổng.

 Hai câu luận:

“Vá trời lấp biển người đâu tá?

Bán lợi mua danh chợ vẫn đông” 

Trước nghịch cảnh này thử hỏi những người  có  hoài bão lấp biển vá trời  nay đâu cả rồi sao không dấn bước sang sông?

  Dù hoàn cảnh nước nhà đang nghiêng ngửa  nhưng  nhìn lại triều đình, người ta vẫn ì xèo buôn danh bán tước, vẫn lắ?? bán người mua, mà trong những kẻ mua danh bán tước đó có mấy ai mang hoài bão lấp biển vá trời?  Mấy ai thực lòng vì dân vì nước? Hay chỉ là những kẻ vì danh chút danh tiếng hão huyền, vì chút lợi ích nhỏ nhen cho bản thân và phe nhóm?.

Hai câu phá, kết:

“Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế 

Cắm sào đợi khách thuở nào trong?”

 Tác giả một lần nữa nói lên cái ý chí nhập cuộc của mình, không thể chần chừ trước cảnh dầu sôi lửa bỏng, trước cảnh bá tánh toàn dân đang trở thành  nạn nhân cho thứ chủ nghĩa Cộng sản bạo tàn, nếu dợi cho lúc bể lặng trời trong mới ra gánh vác thì đâu còn cái dũng của một kẻ sĩ: “kiến giả bất vi vô dũng giã” “Giữa đường thấy sự bất bằng mà tha?!” 

 Nếu cứ chần chừ chờ cơ hội thuận tiện thì bao giờ cơ hội mới đến, vì thế phải nhập cuộc, phải sang sông.

 Đọc cả bài thơ tôi thấy toát lên cái hào sảng của một kẻ sĩ, dù đang ẩn nhẫn, nhưng quyết chí phải xông pha vào con đường gió bụi phong trần  cái hăm hở của một con người nhập thế, dám chấp nhận thử thách khó khăn, 

 Có lẽ vì mang tinh thần  NHẬP CUỘC đó  mà chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM  sau đó ít lâu đã nhận lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại  về nước đảm nhận vai trò thủ tướng  khi người Pháp đang bị vây khốn Điện Biên Phũ,  Cụ về nước để gánh vác trách nhiệm xây dựng một Miền Nam thanh bình no ấm  trước một miền Bắc nghèo nàn xác sơ  vì chủ nghĩa Cộng sản bóc lột, 

 Có lẽ vì bản tính chính trực quang minh của cụ Diệm (Thể hiện qua  Quốc huy nền Đệ Nhất Cộng Hòa là Bụi Trúc “Tiết trực tâm hư”) là khắc tinh với Gian manh xảo quyệt của Hồ Chí Minh, và Hồ Chí Minh đã thấy được sự thất bại sẽ đến với hắn   nếu  cụ Diệm còn nắm chính cương ở Miền Nam, nên Hồ chí Minh đã tìm mọi cách loại trừ cụ, âm mưu  sát hại cụ để trừ hậu hoạn cho chế độ Cộng Sản Vô Thần. 

 Viết như thế, tôi không có ý ám chỉ  Hô褐Đồng Tướng Lãnh Cách Mạng năm 1963 đã làm một  việc không công cho Hồ  chí Minh, tôi chỉ giận và tiếc, giống như  tâm trạng các thi hữu đã họa lại bài của cụ

Như Lệ Khanh phê phán: 

Một bọn phản thần mưu giết chúa

Tham tiền nào biết đục hay trong?!

Vì đồng tiền tối mắt mà những kẻ võ biền đã làm một điều tệ hại khôn lường cho quốc gia đại sự, tiếc lắm  thay!!!

Hay như nhà thơ Từ Phong  than thở: 

Tế thế kinh bang tài xuất chúng 

Tiếc thay mầm vạ nẩy từ trong!!

Và nhà thơ Trường Giang ngưỡng mộ:

Khí tiết lăng sương thù khiếp vía, 

Hiềm vì phản loạn núp bên trong.

Nhưng trong những kẻ nhúng tay vào máu, chúng ta không thể không nói đến vai trò người MỸ.  Theo như các tài liệu được giải mật, người ta được biết một trong những nguyên nhân cái chết của cụ Diệm  là vì cụ đã mâu thuẫn  với chủ trương đem quân tham chiến truục tiếp  của người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Ở đây ta  mới thấy cái tài thao lược ước đoán như thần của cụ Diệm,  dường như có một tài liệu  cho rằng cụ Diệm phản đối người Mỹ đổ bộ ở Miền nam, vì dù  có phải nhờ tiền của viện trợ, cụ Diêﭠnhất định giữ lấy vai chính trong việc đối đầu với cả khối Cộng sản tại Việt Nam,  vì cụ e rằng người Mỹ trực tiếp tham chiến sẽ là cái cớ  để Hồ Chí Minh đánh bóng chính nghĩa giả tạo giải phóng Miền Nam. Cụ không muốn nhờ vả đến máu xương ngươì Mỹ vì:

Nợ gì còn có thể trả được 

Nợ Máu Xương lấy chi báo đáp cho cân??

Cái gương ái quốc và minh tuệ của cụ Ngô Đình Diệm đã làm tôi thao thức kính phục, Hy vọng  sự thật phải được sáng tỏ để phục hồi danh dự cho một người có công lớn với đất nước và dân tộc:

Tiết trực tâm hư gương ái quốc 

Mai nầy đời gạn đục khơi trong.

 

Tôi dùng chữ mai nầy e không được hoàn chỉnh cho lắm, cần gì phải đến  mai sau gương ái quốc của cụ Diệm mới trở nên trong sáng  vằng vặc như trăng rằm?  Bổn phận  chúng ta phải như  Thi sĩ  Thiên Tâm: 

CHÍ lớn chưa thành thân dẫu thác

SĨ dân thương tiếc biển trời trong  

Để tự hỏi và tự kêu gào:

Cứu tinh dân tộc nay đâu vắng? 

Xao xác chợ đời luận đục trong 

Ước vọng lớn nhất của người viết bây giờ là phục hồi uy tín của một bậc đại sĩ, một cứu tinh dân tộc,

Một người mà tâm nguyện đến lúc chết vẫn là “uy vũ bất năng khuất”:

Nhắm mắt xuôi tay tùy cõi thế 

Nguyện cầu dân tộc đục thành trong 

Hoàng Ngọc Văn 

Đọc bài thơ NỖI LÒNG của chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM  để chúng ta cảm thông và kính phục tinh thần nhập cuộc của cụ, niềm thao thức của cụ  và xót xa cho thân phận lãnh tụ một nước nhược tiểu : “Dường mây rộng rãi tiếc chim hồng”. 

Sau 50 năm, đọc bài thơ NỖI LÒNG của chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM, lòng tôi thấy bùi ngùi xúc cảm, phải chi cụ còn sống, hẳn  lịch sử nước nhà đã đổi khác,  80 triệu con dân nước Việt  ít ra cũng không phải sống trong cái chế độ XẮP HÀNG CHÓ NGỰA  như bây giờ, hàng triệu sinh linh chưa chắc đã phải vùi thây nơi rừng thiêng nước độc, hay biễn cả bão bùng. Và hàng triệu người khác phải lưu lạc nơi đất khách quê người để bùi ngùi nhìn về quê hương tăm tối.

Câu nói “một dân tộc không cần  nhiều  anh hùng, chỉ cần có một vị minh quân” sao chí lý lắm thay. 

Có người đặt nghi vấn đây không phải là bài thơ của cụ Diệm, mà có thể là bài thơ  của một nhà nho ái quốc nào khác viết hoặc giả có người nào đó viết thác tên của cụ; tôi không được rõ lắm,  nhưng tôi nghĩ cụ Diệm đã từng học Hán văn, lại theo Tân Học, một người như cụ chẳng lẽ cả đời không làm được bài thơ nào hay sao, có thể bài thơ do cụ sáng tác nhưng vì bản tính khiêm tốn, kín đáo cụ không muốn phổ biến lúc cụ còn sống, còn cầm vận mệnh dân tộc, còn lèo lái con thuyền quốc gia  (đó là điểm khác biệt giữa Trần Dân Tiên? Hồ Chí Minh và chí sĩ Ngô Đình Diệm) vả lại thời gian trước phương tiên truyền thông không phổ cập như hiện nay, nên có rất nhiều nhà nho, nhà trí thức làm thơ chỉ lưu truyền trong vòng thân hữu  nên sau này bị thất lạc là đa phần.

Tôi nêu bài thơ này để như tiếng chuông gióng lên để quý vị nào biết thì  lên tiếng để đánh tan những ghi vấn. 

Tôi nghĩ rằng sẽ còn nhiều thi hữu sẽ họa lại bài thơ này, nhưng sợ để lâu nhiều ý nghĩ bị mai một nên tôi xin được ghi chép ra đây  để  như thi sĩ THIÊN TÂM  gọi là: 

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG DÂNG CHÍ SĨ 

MUÔN ĐỜI TƯỞNG NHỚ BẬC HIỀN MINH 

  San Jose ngày 19 tháng 10 năm 2003

Trần Việt Yên *

 Kỷ niệm 40 năm ngày mất của vị khai sáng Việt Nam Cộng Hòa 

  * Tôi cũng vừa được cụ Mục Sư Hồ Xuân Phong (năm nay 81 tuổi) cho hay  cụ Diệm còn một bài thơ  nhan đề “TÓC BẠC”, nhưng rất tiếc  đã lâu cụ quên mất, cụ có hứa khi nào nhớ lại được bài thơ  sẽ đọc cho tôi chép lại, nếu bậc cao minh nào biết bài thơ ấy xin gởi cho chúng tôi  sớm càng hay   – Xin đa tạ

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here