Phạm Tín An Ninh Lời Vĩnh Biệt Muộn Màng

  • Phạm Tín An Ninh
  • Lời Vĩnh Biệt Muộn Màng

Dành Cho Người Bạn Nhảy Dù.

Sáng sớm thứ Bảy, ngày 26.10. 2019, tại Công viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ Westminster – California, một buổi lễ vinh danh và truy điệu thật trang trọng, theo đúng lễ nghi quân cách Mỹ – Việt, do Lost Soldiers Foundation phối hợp với Tổng Hội Gia Đình Mũ Đỏ VNCH tổ chức, nhân dịp an táng hài cốt 81 tử sĩ Nhảy Dù VNCH. Điều đặc biệt là những chiến binh Nhảy Dù này đã hy sinh cách nay gần 54 năm (ngày 11.12. 1965) tại Phú Yên, Việt Nam, và hôm nay xương cốt của họ lại được an táng trên đất nước Mỹ, một đồng minh từng có nhiều ân, oán với những người lính VNCH, sau ngày buông súng oan khiên 30.4.1975.  Người Mỹ gọi 81 thiên thần mũ đỏ này là ‘những chiến sĩ không còn quốc gia’, nên việc an tang của họ khá phức tạp và gặp nhiều khó khănCó được kết quả như hôm nay là nhờ vào tấm lòng và công lao của Cựu TNS Jim Webb, cũng là cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Ông đã nói với chính quyền và nhân dân Hoa Kỳ:

  ‘Chúng ta không chỉ chăm sóc cho những người chết của chúng ta mà còn phải chăm sóc cho từng chiến sĩ VNCH đã từng chiến đấu với chúng ta. Những người lính vô danh này xứng đáng được tưởng nhớ vì danh dự và nhân phẩm của họ.’

Từ Bắc Âu sang tham dự, không những để tiễn đưa và truy niệm những chiến sĩ của một binh chủng thiện chiến, anh hùng, mà tôi còn chào vĩnh biệt hai người bạn cùng chung số phận, một người là đồng môn dưới mái trường trung học Võ Tánh, Nha Trang: cố Đại úy Phan Ngọc Bích; và một người đặc biệt khác, là bạn thân cùng Khóa 18 Thủ Đức, cùng một trung đội 14/4 Sinh Viên Sĩ Quan, và nằm cạnh bên nhau trong suốt thời gian ở quân trường: Cố Thiếu úy Dương Văn Chánh.Dương Văn Chánh sinh ngày 08.01.1940 tại Thanh Hóa, là em út trong gia đình gồm năm anh chị em vốn có liên hệ mật thiết với Binh chủng Nhảy Dù. Người chị cả, Dương Thị Kim Thanh, từng là một trong bảy nữ quân nhân Nhảy Dù đầu tiên. Bà cũng là phu nhân của cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, là Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn (tiền thân của Sư Đoàn) Nhảy Dù (1962), Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù (1964), trước khi trở thành Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh (1967), đơn vị mà tôi đã phục vụ suốt 10 năm binh nghiệp. Hai ông bà đều hy sinh tại Quảng Đức vào ngày 08.9.1968, khi phi cơ trực thăng chở ông bà bị bốc cháy, khoảng 10 phút sau khi rời tiền đồn Đức Lập, nơi ông bà vừa đến thăm viếng, ủy lạo binh sĩ.

Thời đi học, Dương Văn Chánh học ở trường Chasseloup-Laubat, rồi Tabert Saigon và cũng là một tráng sinh Hướng Đạo Việt Nam. Đang học năm thứ hai Luật Khoa, xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, vào khóa 18 Thủ Đức, ở cùng Trung đội 14/ Đại dội 4 SVSQ với tôi và nằm gần nhau. Chánh có vóc người trung bình, nhưng rắn rỏi da ngăm đen, giọng khàn khàn, nhìn có vẽ nghiêm nghị, nhưng lại rất vui tính, nghịch ngầm và luôn tận tình giúp đỡ anh em. Ra trường ngày 18. 3, 1965 được chọn về Binh chủng Nhảy Dù. Sau khi tốt nghiệp Khóa Căn Bản Nhảy Dù,  Chánh được bổ nhậm về làm trung đội trưởng của TĐ7ND, đơn vị trực thuộc Chiến Đoàn 2 ND, mà Trung Tá Trương Quang Ân đang làm Chiến Đoàn Trưởng. Chánh  bị thương khá nặng ngay trong trận đánh đầu đời, trận Đồng Xoài vào giữa tháng 6, 1965. Lần đầu tiên Cộng quân đã sử dụng một lực lượng tương đương cấp sư đoàn. Với quân số và trang bị quá chênh lệch, Tiểu Đoàn 7 ND bị tổn thất nặng nề.  Khi Chánh vừa bò ra khỏi hầm thì một trái pháo địch rơi ngay vào hầm giết chết 2 bình sĩ còn lại trong đó, mọi đồng đội đều tưởng cả ba người đã tan xác nên báo cáo Chánh tử trận. Chánh và một số chiến sĩ Nhảy Dù phải lẩn trốn trong rừng, ba ngày sau mới tìm về trình diện đơn vị. Trong thời gian dưỡng thương, anh được về ở với gia đình cha mẹ, gần Bệnh Viện Chợ Rẫy. Không ngờ đó cũng là những ngày cuối cùng gia đình nhìn thấy Chánh trước khi anh lên đường tham chiến tại Cao Nguyên, để rồi không bao giờ trở lại.

Vào ngày 11.12.1965, chiếc vận tải cơ C-123 của Không Lực Hoa Kỳ có số đuôi 64376 do Thiếu Tá Robert M. Horsky lái. Chiếc máy bay có phi hành đoàn gồm bốn quân nhân Hoa Kỳ, chở theo 81 chiến binh thuộc Đại Đội 72ND với đầy đủ vũ khí, đạn dược, trên đường từ phi trường Pleiku bay về Tuy Hòa, nhằm mở cuộc hành quân tiếp ứng, giải vây cho một lực lượng của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn bị Cộng quân vây hãm. Khoảng cách chỉ khoảng một giờ bay, nhưng chuyến bay đã không bao giờ đến đích.

Phi cơ cất cánh lúc 10 giờ 18 phút sáng, nhưng sau đó mọi điện đàm bị mất và trên màn hình radar không lưu cũng không còn dấu vết chiếc vận tải cơ C 123 này. Ngay sau đó, Hoa Kỳ đã cho máy bay trinh sát đi tìm dấu vết phi cơ lâm nạn. Sau ba ngày liên tiếp tìm kiếm nhưng không kết quả vì sương mù dầy đặc nên phải tạm ngưng. Bảy ngày sau, từ trên phi cơ trinh sát, toán tìm kiếm đã phát hiện chiếc phi cơ lâm nạn bị gẫy nát nằm trên một triền (đỉnh) núi ở phía Tây Nam và cách Tuy Hòa khoảng 20 dặm. Nhưng vì địa thế hiểm trở, sương mù vây phủ, lại nằm trong vùng địch nên không thể lấy xác được.

Chánh cùng 80 đồng đội được báo cáo mất tích. Gia đình nhận dược “Tờ Trình Ủy Khúc” và vẫn nuôi hy vọng là có thể Chánh bị bắt để sẽ được trao đổi tù binh. Bạn bè cùng khóa vẫn tưởng là Chánh đã hy sinh từ tháng 6.1965 trong trận Đồng Xoài, và là người tử trận đầu tiên trong số 40 SVSQ thuộc Trung Đội 14/4 của Khóa 18 chúng tôi.

Sau này, khi phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB mà Chuẩn Tướng Trương Quang Ân là tư lệnh, tôi có nhiều dịp được gặp ông, và một vài lần được nói chuyện với bà Dương Thị Kim Thanh, phu nhân của ông, trong các dịp ông bà đến ủy lạo đơn vị hay thăm viếng trại gia binh, một đôi lần định hỏi thăm về Chánh, nhưng tôi ngại không dám.

Khi ra hải ngoại, tôi bắt đầu tập tành viết lách, kể về những kỷ niệm quân trường, bè bạn, trong đó có nhắc tới Dương Văn Chánh, viết về đơn vị, về vị tư lệnh đặc biệt tạo nên nhiều giai thoại, về những cuộc hành quân và cái chết của ông bà Tư lệnh Trương Quang Ân. Không ngờ các anh chị của Chánh lại là độc giả. Anh Dương Văn Hóa, là anh cả của Chánh, em kế của bà Dương Thị Kim Thanh, định cư ở Canada, liên lạc với tôi nhiều lần, và có lần sang thăm Vương quốc Na Uy, nơi gia đình tôi sinh sống, nhưng tiếc là đúng vào lúc tôi đang nghỉ hè ở Tây Ban Nha, nên không được gặp. Biết tôi là bạn thân của Chánh, người em út bất hạnh của gia đình, anh chị càng quí mến tôi hơn.

Đầu tháng 10. 2019, nhận được điện thư của anh Dương Văn Hóa, báo cho biết là anh chị và gia đình sẽ sang Cali để tham dự lễ an táng hài cốt của 81 tử sĩ Nhảy Dù, trong đó có Dương Văn Chánh. Khi ấy tôi mới biết là Chánh chỉ bị trọng thương ở trận Đồng Xoài, chứ không phải tử trận như tin tức nhầm lẫn trước đây. Anh nhờ nhà văn Phan Nhật Nam và tôi theo dõi để cho anh biết chính thức các chương trình truy điệu và an táng. Anh Phan Nhật Nam là bạn đồng đội, trước đây cùng ở Đại đội 72 ND với Chánh, và họ là hai sĩ quan của Tiểu Đoàn 7 ND còn sống sót trong trận Đồng Xoài, nhưng sau đó anh Phan Nhật Nam đã chuyển đi tiểu đoàn khác, nên không tham dự cuộc hành quân tại Cao Nguyên cùng với 81 đồng đội tử nạn.

Để có thể theo dõi chính xác việc an táng và truy điệu, khi các chương trình thay đổi liên tục, tôi giới thiệu một anh bạn có sinh hoạt thường xuyên với Gia Đình Mũ Đỏ cũng như Chi Hội Nam Cali, anh cũng là một Y sĩ và nhà văn của Nhảy Dù, Bác sĩ Vĩnh Chánh. Không ngờ vợ chồng Bác sĩ Chánh cũng có mối quan hệ thân tình với anh chị Hóa, vì chị Hóa từng là học sinh của mẹ Chánh thời còn trung học và cũng là bạn cùng lớp với một người chị của Bs Vĩnh Chánh. Bs Chánh đã nhiệt tình trong việc cung cấp các tin tức cần thiết về chương trình truy điệu và an táng 81 tử sĩ Nhảy Dù vào ngày 26.10.2019, cũng như cho Ban Tổ Chức biết có sự tham dự của gia đình, gồm anh chị và các cháu của cố Thiếu úy Dương Văn Chánh, để tiếp đón và sắp xếp các nghi thức cần thiết.

Theo lời hẹn, Bs Vĩnh Chánh và tôi đón anh chị Dương Văn Hóa và vợ chồng chị Dương Thị Kim Sơn, em gái kế anh Hóa, trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Dù anh Hóa đã trên tuổi 85 và trước đây chưa hề gặp nhau, nhưng tôi dễ dàng nhận ra anh, bởi khuôn mặt và dáng dấp khá giống bạn tôi, Dương Văn Chánh. Trong dịp này tôi cũng được gặp cháu Trương Thị Thùy Anh, ái nữ của Ông Bà cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân,  đến tiễn biệt ông cậu út của mình. Thùy Anh còn có người chị, Trương Thị Trâm Anh và cậu em Trương Quang Thế Anh. Sau ngày bố mẹ mất, các cháu còn rất nhỏ, được ngoại và sau đó là Cậu mợ Hóa nuôi dưỡng.

 

Khi chiếc quan tài chứa hài cốt của 81 tử sĩ Nhảy Dù, phủ lá quốc kỳ VNCH, được các đồng đội Mũ Đỏ đưa vào vị trí lễ đài, giữa hai hàng chiến binh Nhảy Dù và các binh chủng bạn đứng nghiêm chào, trong tiếng nhạc tưởng niệm trầm buồn, tôi thấy anh Hóa ngậm ngùi, những dòng lệ ứa ra dưới mắt kiếng đen.

Đi theo sau chiếc quan tài, mà anh Hóa tin tưởng là có một phần xương cốt của em mình trong đó, đến nghĩa trang Westminster Memorial Park. Một buổi lễ hạ huyệt theo đúng lễ nghi quân cách. Bảy quân nhân Hải Quân Hoa Kỳ bắn 21 phát súng tiễn biệt. Lá quốc kỳ phủ trên quan tài được trịnh trọng lấy xuống, xếp lại và trao cho anh Chi Hội Trưởng Mũ Đỏ Nam Cali, thay vì trao cho anh Dương Văn Hóa, đại diện thân nhân tử sĩ, như đã dự trù. Ban Tổ Chức cho biết, có nhiều thân nhân, nên không thể chỉ trao cho một người. Một quyết định hữu lý. Duy có một điều lạ, tôi đã thưa với cựu Trung Tá Bác sĩ Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ Tịch Gia Đình Mũ Đỏ Trung Ương, không hiểu tại sao trong suốt hai buổi lễ, truy điệu và an táng, không thấy Ban Tổ Chức nhắc nhở hay dành cho thân nhân của các tử sĩ hiện diện một hình thức nào, ngay cả được rãi nắm đất hay cành hoa xuống huyệt mộ, trên chiếc quan tài, trước khi lấp đất. Bác sĩ Hiệp cho biết ban đầu các chi tiết này có trong chương trình, nhưng giờ chót không hiểu vì sao Ban Tổ Chức (LSF) đã hủy bỏ, vì vậy Gia Đình Mũ Đỏ sẽ tổ chức riêng buổi thắp nến cầu nguyện ngay buổi tối hôm ấy, đặc biệt dành cho thân nhân của những tử sĩ Nhảy Dù. Một việc làm đầy nghĩa tình của Gia Đình Mũ Đỏ, rất đáng được ngợi ca.

Buổi tối, lễ thắp nến và cầu nguyện đã diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm và cảm động. Tất cả đèn điện đều tắt, hơn 500 ngọn nến trên tay của những người tham dự, tạo nên một khung cảnh huyền nhiệm. Thân nhân tử sĩ được mời lên trước lễ đài niệm hương trong khi ban tế lễ đọc bài văn tế trong tiếng chiên trống chiêu hồn tử sĩ. Anh Dương Văn Hóa đã đại diện những thân nhân, nói lên cảm tưởng của mình:

Xin thay mặt gia đình cố Thiếu Úy Dương Văn Chánh, chúng tôi xin vô vàn cảm ơn quý vị Gia Đình Mũ Đỏ đã bỏ nhiều công sức để tổ chức lễ truy điệu, an táng và đêm thắp nến tưởng niệm cho 81 chiến sĩ Nhảy Dù đã lâm nạn vào Tháng Mười Hai, 1965, trong đó có em trai út của chúng tôi là Dương Văn Chánh.(Lễ truy điệu và đọc văn tế)

Chánh tốt nghiệp khóa 18 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, chọn phục vụ trong Binh Chủng Nhảy Dù theo vết chân của chị chúng tôi là cố Chuẩn Úy Nhảy Dù Dương Thị Kim Thanh, một trong bảy nữ quân nhân Nhảy Dù đầu tiên của Quân Lực VNCH, và anh rể là cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, cựu chiến đoàn trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù, và là cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Cả hai anh chị chúng tôi đã tử nạn trong chuyến bay trực thăng thị sát mặt trận Đức Lập vào Tháng Tám, 1968.

 Trong đau buồn, gia đình chúng tôi vẫn rất mừng là cuối cùng sau 54 năm, cái chết trên đường thi hành nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc của em trai chúng tôi và 80 đồng đội Nhảy Dù đã được mọi người quan tâm, nhất là cựu Thượng Nghị Sĩ James Webb, tổ chức Lost Soldier Foundation và Đại Gia Đình Mũ Đỏ VNCH Hải Ngoại đã tận tâm tổ chức cho những tử sĩ này một buổi lễ truy điệu trang trọng, một nơi an nghỉ ấm áp trong lòng đất của thủ đô tị nạn Little Saigon.’


Trong mấy ngày lưu lại Nam Cali, anh chị Hóa thường gặp gỡ, tâm tình cùng tôi và Bs Vĩnh Chánh. Anh chị xem chúng tôi như em, dành cho chúng tôi tình cảm thương quí mà anh đã từng dành cho Dương Văn Chánh, đứa em út của anh chị đã bỏ lại gia đình khi tuổi còn rất trẻ, cũng là người bạn thân của tôi trong suốt thời gian ở quân trường, trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức cùng với bao điều mất mát tang thương khác.Trước khi anh chị Hóa rời Cali, tôi và Bs Vĩnh Chánh cùng đưa anh chị Hóa đến nghĩa trang WMP thắp hương trước mộ Chánh cùng 80 tử sĩ đồng đội của anh, giờ đã thực sự yên nghỉ trên một đất nước tự do và trong vòng tay yêu thương của tất cả đồng đội, đồng bào.

Khi nói lời tạm biệt, anh Hóa cầm tay tôi thật lâu, cả hai anh em đều xúc động. Nhìn khuôn mặt và dáng dấp của anh, tôi có cảm giác như đang bắt tay với Dương Văn Chánh trong ngày chia tay rời khỏi quân trường, mỗi thằng sẽ đi mỗi ngã, về những vùng lửa đạn, để rồi sau 54 năm mới gặp lại trong một hoàn cảnh âm dương cách trở như hôm nay.  Bước tới trước mộ bia, đứng nghiêm đưa tay chào, tôi thì thầm:

–“Vĩnh biệt các anh – Vĩnh biệt Dương Văn Chánh!”

Bất chợt, một cơn gió lốc bỗng từ đâu ào đến, cuốn theo mấy cánh hoa trên mộ bay vút lên nền trời xanh

Phạm Tín An Ninh
(29.10.2019)

Nguồn: http://phamtinanninh.com/?p=4320

***

*Thi hào Rabindranath Tagore viếng Saigon 1929

Năm 1929, một sự kiện có ý nghĩa trong đời sống văn hóa chính trị Saigon lúc bấy giờ là nhà thơ, thi hào lớn của Ấn Độ Rabindranath Tagore viếng Saigon trong 3 ngày. Sự kiện này rơi vào quên lãng và ít có ai biết đến cho đến gần đây. Năm 2011, Hội thảo quốc tế ở Hà Nội về Tagore lần đầu tiên đã có nhắc lại chuyến viếng thăm của Tagore ở Saigon.

Báo chí thời bấy giờ viết nhiều về chuyến viếng thăm của Tagore. Các truyện, thơ của Tagore cũng đã được dịch và đăng trong cuối thập niên 1920 và thập niên 1930. Năm 1943, một sách về Tagore được xuất bản “Thi hào Tagore: Nhà đại biểu văn hóa Á đông” của tác giả Nguyễn Văn Hải. Năm 1961, Cao Huy Đỉnh và La Côn viết về Tagore trong quyển “Tagorơ, thơ truyện ngắn, kịch” do Nhà xuất bản Văn học in. Sau đó có rất nhiều thơ, truyện ngắn của Tagore được dịch và in. Gần đây nhất, năm 2004 là tuyển tập “R. Tagore, tuyển tập tác phẩm” do Lưu Đức Trung tuyển chọn và giới thiệu, do NXB Lao Động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây.

Đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự ưu việt của kỷ thuất văn minh vật chất châu Âu đánh chiếm nhiều nước và thiết lập thuộc địa ở Á châu. Nhiều người Á châu cảm thấy thua kém và cho rằng văn hóa văn minh Á châu của mình không xứng đáng so với văn minh Âu châu. Thi hào Rabindranath Tagore, giải Nobel văn chương năm 1913, được coi như nhà triết học thâm thúy với đời sống tinh thần và tôn giáo sâu sa tượng trưng cho văn minh Á châu cổ đại của nhân loại.

Ông cổ võ những giá trị tinh thần cao quý, nhân bản của phương Đông và kêu gọi người Á châu bình tâm, tự tin và cố gắng gìn giữ không để đánh mất giá trị truyền thống văn hóa trước lòng người phân hóa vì đây chính là sức mạnh tinh thần của mình so với sự khiếm khuyết về đời sống tinh thần của văn minh phương Tây mà các nhà trí thức ở phương Tây đã chỉ ra và cho thấy sự phong phú của văn hóa Á đông. Đạo Phật ở Việt Nam và các chùa vẫn còn giữ được truyền thống văn hóa tâm linh vì thế cần được chấn hung và bảo vệ. Trong các thập niên 1920 và 1930, ở Việt Nam từ bắc đến nam cũng là lúc đạo Phật được nghiên cứu và phát triển mạnh như một sự hồi sinh trở lại.

Tagore cho rằng sự kết giữa nên văn minh vật chất kỷ thuật đang vươn của Tây phương và nền văn minh tinh thần cổ truyền có giá trị hoàn vũ của Á Đông là sự hổ tương cần thiết cho nhân loại. Khi viếng Nhật Bản năm 1929 trước khi đến Saigon, Tagore đã bày tỏ sự ngạc nhiên và thán phục khi thấy Nhật, một nước Á Đông, đã canh tân nhanh chóng qua kỷ thuật công nghệ Tây phương, bắt kịp các nước Âu châu và vẫn giữ được văn hóa truyền thống, tâm linh của nước mình.

Tư tưởng này của Tagore đã có ảnh hưởng và được nhiều người chấp nhận trong giới trí thức từ Trung Hoa, Nhật bản cho đến Việt Nam qua tầm vóc tiếng tăm của Tagore sau khi là người Á châu đầu tiên được giải văn chương Nobel.

Rabindranath Tagore và Mahatma Ghandi

Tháng 10 năm 1923, ngày 15, Nguyễn An Ninh trong bài diễn văn “L’idéal de la jeunesse Annamite” (Lý tưởng thanh niên An Nam) tại trụ sở Société d’Enseignement Mutuel de la Cochinchine (Hội khuyến học Nam kỳ) gợi cho thanh niên Việt Nam phải có hoài bảo, ước mơ tự hào về lịch sử, văn hóa dân tộc, đánh thức lòng yêu nước và văn hóa là tâm hồn của dân tộc có nhắc đến Tagore như một thí dụ điển hình.

Trong các số báo La Cloche fêlée (Chuông rè) đầu năm 1924, Nguyễn An Ninh đã viết về những hoạt động yêu nước của Tagore ở Ấn Độ và trích dẫn những lời của ông đánh động đến lương tâm của những kẻ đi cai trị và thực dân. Ông viết về chuyến đi thăm Trung Hoa của Tagore nói chuyện với sinh viên, trí thức cải cách, canh tân đất nước người Hoa và sự kiện Tagore từ chối chấp nhận phong danh “Sir” của người Anh (6). Báo Chuông rè cũng có dịch ra tiếng Pháp bài tham luận “My School” của Tagore và nói về những trí thức Pháp như André Gide, Roman Rolland những người ủng hộ tinh thần yêu nước của dân Ấn độ và là bạn của Tagore.

Cộng đồng người Ấn ở Saigon cũng rất mong một ngày gần sẽ đón tiến thi hào Tagore thăm viếng Nam Kỳ. Tháng 4 năm 1924, có tin là thi hào Tagore có thể viếng thăm Saigon trên đường thăm Trung Hoa trở về, cộng đồng người Ấn Độ ở Saigon đã loan tin hăng hái sửa soạn tổ chức cho chuyến viếng thăm này. Các báo như La Cloche fêlée, Écho Annamite đã đăng tin về Tagore viếng Saigon trong đó tờ Écho Annamite (2/7/1924) đặt câu hỏi là người Việt sẽ làm gì khi được biết là Ủy ban tiếp đón Tagore của người Ấn do ông Savary thư ký và thủ quỷ đã viết cho chủ tịch Liên minh báo chí Nam Kỳ (Syndicat de la Presse Cochinchinoise) báo tin là Tagore đang ở Kobe và sẽ đến Saigon trong những ngày đầu của tháng 7/1924. Theo ông Savary thì cộng đồng người Ấn gồm nhiều giáo phái đã đóng góp vào quỷ tiếp đón gồm có người Ấn độ theo khổ hạnh (Hindous renonçants) 1.308$00, Ấn độ Chettys (từ Tamil Nadu). 1.500$ , Ấn Hồi giáo 1.000$, Ấn độ không khổ hạnh ơ Saigon (Hindous non renonçants). 361 00 và Chợ Lớn 250$. Ấn thương gia Bombay (Commerçants Bombay) 300$

Họ dự định sẽ tiếp đón Tagore từ bến tàu đến nơi tạm trú ở đường Catinat, với nhạc công đi đầu, 2 con voi được trang trí và cờ xí. Một chuyến đi viếng thăm Angkor cũng được dự định, nơi mà thi hào Tagore muốn xem di tích mà nền văn minh xưa Ấn độ đã ảnh hưởng. Tuy vậy chương trình dự định như trên đều phải có tham khảo trước với chính Tagore để được chấp thuận.

Nhưng sau đó chuyến viếng thăm bị hoãn vì sức khỏe của Tagore sau khi diễn thuyết ở Hồng Kông.

Nói về cộng đồng ngừời Ấn ở Saigon, thì họ đã có mặt ở Saigon sau khi Pháp đặt chân đến không lâu. Theo thống kê dân số Saigon-Chợ Lớn năm 1870 (1) thì địa phận Saigon gồm có 3 huyện (Bình Dương, Bình Long, Ngai An), 14 tổng (canton) và 196 làng với dân số 604 người Âu, 6743 người Hoa, 796 người Ấn và 104534 người Việt bản sứ. Như vậy tỉ lệ người Ấn ở Saigon khá cao trong dân số bằng khoảng 10% người Hoa. Ở Saigon, người Ấn có thế lực lúc này là ông Mohamed-Ben-Abou-Bakar làm nghề nhà bank (banquier) cho vay mượn ở đường số 5 Rue no. 5 (Ngô Thời Nhiệm ngày nay) và có chi nhánh ở Châu Đốc. Ở Chợ Lớn có 5 tổng và 83 làng với dân số 8 người Âu, 20000 người Hoa, 102 người Ấn và 50412 người Việt bản sứ.

Hai người Ấn làm nghề cho vay mượn (banquier) mà người Pháp và Việt hay gọi là chệt ti

Đến năm 1897 thì số người Ấn làm ăn phát đạt ở Saigon tăng vọt, có đến 19 tiệm buôn bán đổi tiền ở các đường Catinat, rue Vannier (Ngô Đức Kế) và chợ Cũ trong trung tâm Saigon và 29 làm dịch vụ nhà bank (escompteur, banquier) (2) ở đường rue d’Adran (Hồ Tùng Mậu). Và một nghề thông dụng của người Ấn là cung cấp sửa bò, dê (laitier). Họ chiếm đa số nghề này có đến 9 nhà cung cấp sửa ở Saigon, Khánh Hội và 6 người ở vùng Chợ rẫy, Chợ lớn ở gần các chợ. Ngoài ra có rất nhiều người người Ấn cho mướn và là tài xế nài đánh xe ngựa (charrettes & voitures).

Người Ấn thường được người Pháp gọi là Malabar hay Chettys (người Việt gọi là chà và hay chệt ty hay chệt). Vì đa số đến từ Pondichery, miền nam Ấn nên có nước da ngâm đen. Người Việt nhiều khi không phân biệt rõ nên các người có nước da ngâm đen, như người chàm, mã lai cũng được kêu chung là chà và.

Đầu thế kỷ 20, người Ấn đã trở thành một cộng đồng có thế lực về kinh tế chính trị không thua kém nhiều so với người Hoa ở Saigon. Đa số có quốc tịch Pháp vì đến từ thuộc địa Pondichery, một nhượng địa Pháp ở Ấn Độ, nên lá phiếu của họ trong bầu cử vào Hội đồng thành phố rất quan trọng. Các chính trị gia người Pháp, như ông thị trưởng Paul Blanchy, đều muốn sự ủng hộ của họ.

Mặc dù chuyến viếng thăm Saigon bị hoãn lại nhưng sự chú ý về Tagore vẫn còn nóng. Ông Eugène DeJean de la Batie, một người Pháp lai Việt, chủ bút có viết trên Écho Annamite (23/7/1924) ngày 22/7/1924, buổi nói chuyện của giáo sư Kalidas Nag tại Société Philharmonique ở Saigon về thơ của Tagore và ý tưởng mục đích thành lập đại học quốc tế ở quê hương Tagore. Rất đông người Pháp, Việt và Ấn độ đến nghe.

Nhưng có lẽ đặc biệt nhất là bài đăng trên Écho Annamite ngày 2/8/1927 tựa đề “L’Interview de Rabindranath Tagore, à bord de “l’Amboise” par M. Hoang Tich Chu” của ký giả Hoàng Tích Chu nói về sự hội kiến và phỏng vấn thi hào Tagore trên tàu “Amboise” trên đường ông Hoàng Tích Chu trở về quê hương sau khi đi Pháp dự các buổi nói chuyện và học hỏi từ giới trí thức Pháp ở khu Latin, Paris. Tình cờ khi tàu ghé Colombo, cũng đón Tagore và 5 người tùy tùng đi Java viếng thăm các di tích cổ xưa theo lời mời của chính phủ Hòa Lan, nên Hoàng Tích Chu đã có dịp đến hội kiến và phỏng vấn Tagore. Hoàng Tích Chu sau này là một nhà báo có tiếng ở Bắc Kỳ và là chủ bút tờ Hà thành ngọ báo (1929) và tờ báo tiến bộ Đông Tây tuần báo (1929-1932). Sau khi đến buồng cabin của Tagore và đưa carte visite, ông Hoàng Tích Chu được mời vào nói chuyện với Tagore.

Vì không biết tiếng Anh, nhưng may mắn có một người đi theo Tagore là giáo sư Sutini Kumar Chatterji ở Đại học Calcutta làm thông dịch. Sau khi ông Chu nói với Tagore là những đồng hương tầng lớp trí thức ưu tú của ông ở Việt Nam rất kính trọng Tagore và các tác phẩm của ông được đánh giá cao và chính bản thân Hoàng Tích Chu cũng định dịch quyển sách “Chủ nghĩa dân tộc” (Naltionalism) của Tagore, Hoàng Tích Chu đi thẳng ngay vào vấn đề về chủ nghĩa thực dân, một hiện thân của chủ nghĩa đế quốc, hoàn toàn trái nghịch với lý tưởng của cách mạng Pháp 1789, quang vinh của nền cộng hòa Pháp. Ông nói với Tagore là người Việt Nam không có tự do nào trong đất nước họ.

Tagore có hỏi Hoàng Tích Chu là bản thân ông Chu có tự do được đi lại không và ông Chu trả lời là ở Marseiile, trên đường đi về Việt Nam, ông chủ tàu cấm ông không được nói chuyê,n với các bạn ông đến đưa ông nói là có lệnh trên và trên tàu cấm ông đến các nơi những người bồi người An Nam cư ngụ trên tàu, chắc là sợ ông kêu gọi đình công mặc dầu ông không hề có ý nghĩ đó.

Hoàng Tích Chu viết tiếp:

“Khi tôi về đến Saigon, chắc chắn là tôi sẽ bị theo dõi cận kẽ (1)…

Ba tôi, một công chức đã bị cho về hưu không viện dẫn lý do gì; vì tôi đã đi qua Pháp trái với ý muốn của chính phủ…

Khi thốt ra những lời này, tôi ứa nước mắt và qua giọt nước mắt tôi nhận thấy ông Tagore hơi co người lại và hai mặt ông mở to hơn như thường lệ.

“Tôi là một thi sĩ”, Tagore nghẹ lời nói với tôi giản dị vậy thôi, mà tôi cảm thấy là ông cố gắng tự trấn tỉnh lại

Ông Tagore nói tiếp nhanh để rõ ý của ông

“Về chính trị, hay anh quen gọi là chính trị không có lạ gì trong thơ của tôi, nhưng tôi muốn nói là hoạt động chính hiện nay của tôi không phải là chính trị.

Về phương diện quyền tự do, như ở các dân tộc yếu kém, tôi đồng cảm qua tình yêu anh em và nhân bản. Tình yêu này càng sôi nổi hơn với các nước đang bị trị, đau khổ cần giúp đỡ, như là đất nước của anh”

Tagore sau đó bày tỏ mong muốn sẽ viếng thăm Đông Dương nơi có lịch sử ngàn năm và vết tích văn minh cổ xưa. Cuộc nói chuyện kéo dài một tiếng đồng hồ.

Ta có thể thấy Tagore cũng như Einstein, khác với Ghandi, chỉ là một nhà hiền triết trong lãnh vực văn học hay khoa học. Ông không phải là một nhà hoạt động chính trị nhưng ông đồng cảm và hiểu được sự đau khổ của một nước bị trị.

Rabindranath Tagore (Nobel văn học) và Albert Einstein (Nobel vật lý) ở Berlin

Hoàng Tích Chu sau cuộc hội kiến với Tagore đã trao đổi với giáo sư Suniti. Ông Suniti có kể là ông đã có ở Paris trong một thời gian nhưng không có cơ hội để quen biết với những sinh viên người Việt Nam. Ông có đọc bản dịch truyện thơ Kim Vân Kiều và theo khả năng của ông đã thưởng thức được cái đẹp và hay trong văn chương truyện Kiều. Khi ông Suniti được biết là trên tàu có 300 lính người Việt trở về Saigon từ Maroc, ông đề nghị với Hoàng Tích Chu là cùng đến gặp họ trên bong tàu.

“Tôi chấp thuận. Và đó cũng là lúc tôi trở thành thông dịch viên với những người lính cho ông Suniti, cũng như ông ta vừa rồi là thông dịch viên cho tôi với ông Tagore.

Tất cả mọi người trao đổi rất vui vẽ.

Chúng tôi gần như đã là bạn hữu với nhau

Hoàng Tích Chu

(dưới bài báo có chú thích (1) là đúng là lời tiên tri vì khi đến Saigon, cảnh sát đã khám và tịch thu cuốn sổ viết trên tàu của ông).

Cuối cùng đầu tháng 6 năm 1929, khi nghe tin chính thức là Tagore trên đường từ Nhật trở về nước sẽ viếng thăm Saigon, các báo chí Pháp, Việt ở Saigon đều đăng tin và bàn luận sôi nổi về cuộc viếng thăm của Tagore. Các báo như Saigon Dimanche, Courrier Saigonnais, Écho Annamite, Tribune Indochinois, Phụ Nữ Tân Văn, La Cloche fêlée, Saigon Republican, Impartial, Thần Chung, Công giáo đồng thịnh, Đuốc Nhà Nam, Merle mandarin, Ère Nouvelle, La voix libre… đều đăng tin về Tagore.

Tagore viếng Saigon từ ngày 21/6/1929 khi tàu Angers của hảng tàu Compagnie des Messageries Maritimes đến từ Nhật Bản cặp bến cho đến hết ngày 23/6/1929. Thị trưởng Saigon, ông Béziat và chủ tịch nội các thống đốc lên tàu chào đón Tagore.

Vài ngày trước khi Tagore đến Saigon, báo Écho Annamite (15/6/1929) có đăng tin những người Việt Nam trong ủy ban đón tiếp Tagore đã họp lại để bầu ra một ủy ban bản sứ để thảo ra chương trình như sau

“Để đón tiếp Tagore

Qua ý kiến của một trong các đồng nghiệp của chúng tôi, ông Lê Trung Nghĩa báo Diễn đàn Đông Dương, những nhân sĩ người An Nam, bao gồm các thành viên của báo chí địa phương, đã họp chiều tối hôm qua lúc 18 giờ tại đường La Grandière (Lý Tự Trọng ngày nay) để bầu ra một ủy ban người bản sứ tiếp đón thi sĩ Ấn Độ Tagore, đang trên đường đến Saigon, ngày 20 tháng này, từ Nhật, trên tàu André Lebon, để hoàn tất chương trình lễ hội, chào mừng người khách danh dự nổi tiếng của chúng ta.

Chương trình này, bao gồm đặc biệt, tiệc chiêu đãi và du ngoạn. Ủy ban cũng chịu trách nhiệm cho việc tìm kiếm một ngôi nhà xứng đáng để Rabindranath Tagore cư ngụ trong suốt thời gian thăm viếng ngắn của ông ở Nam Kỳ .

Chúng tôi nồng nhiệt chúc mừng ông Nghĩa có ý kiến tuyệt vời này, nó sẽ làm được rất nhiều cho sự tiếp cận giữa các chủng tộc, mà đấy luôn là lý tưởng vĩ đại của thì hào Tagore”

(chú thích: tác giả dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Ủy ban họp tại đường La Grandière tức Lý Tự Trọng ngày nay, ở số 72 trụ sở của báo “Tribune Indochinoise”)

Sau cùng chương trình được thống nhất với các hội đoàn người Ấn và Pháp và ban tổ chức tiếp đón và chương trình cho thi hào Tagore viếng Saigon được ghi lại trên số báo Écho Annamite ngày 20/6/1929 như sau

“..

Chủ tịch danh dự, ông Béziat.

Chủ tịch: ông Bùi Quang Chiêu,

Phó chủ tịch (Pháp): M. Monribot,

Phó chủ tịch (người Ấn): M. Xavier.

Thủ quĩ: ông Nguyễn Văn Của.

Thư ký: ông Lê Trung Nghĩa.

Phái đoàn tiếp đón (Délégation de réception) ; 6 hội viên kể trên và các ông Nguyễn Phan Long, Lê quang Liêm tự là Bảy, bác sĩ Trần văn Đôn và Nguyễn Văn Thinh, Trương văn Bền, Nguyễn Tấn Dược, Nguyễn Văn Huê, Trần Văn Kha, Nguyễn Văn Sâm, Diệp văn Giáp, Huỳnh Ngọc Bình, kỷ sư Lưu Văn Lang, và bà Palard.

Các nghị viên hội đồng thành phố Saigon và Chợ Lớn (conseillers municipaux de Saigon et de Cholon), các hội viên bản sứ của Phòng thường mại (Chambre de commerce) và phòng Canh nông (Chambre d’agriculture).

Hai đại diện báo chí Pháp ông Haag và ông Darrigade, và tất cả những giám đốc hay đại diện các tờ báo: các ông Blanché, Dépêche. E. Marquis, Réveil – Saigonnais, Mésoniat Impartial, A. Paul l’Homme déchainé, Bathélemi Œuvre indochinoise, Monribot, Presse indochinoise, Danguy Courrier Saigonnais, Dejean de la Bâtie Écho annamite, Jules Dubois Saigon Dimanche, H. Ardin Saigon Républicain, Ganofsky La Voix libre, Madame Biéiri Công giáo đồng Thịnh, Nguyễn khăc Nông Đuốc Nhà Nam, Hồ văn Nguôn Điền xã tạp chí, Nguyễn văn Ba và Diệp văn Kỳ Thần chung, Lê thanh Lư et Huỳnh phục Yên Thanh niên tân tiến, Cao hải Đề Ère nouvelle, Trần văn Trí Tribune indochinoise, Bernadoni Merle mandarin, Paul Marchet Phare Indochinois, Lê chân Tâm Kịch Trường etc, etc.

Các hội viên người Ấn: các ông Madet, Xavier, Thiagou, Samou, Tamby.

Ủy ban tổ chức hội thảo: các ông Nuong, Barthélemi, Tamby, Haag, Lê trung Nghĩa và Huỳnh phúc Yên.

Phái đoàn Nhà Bè (Délégation à Nhà-Bè): các ông Barthélemi, Dương Văn Giáo, Thiagou và Jacques Lê văn Đắc.

Nói tóm lại, ủy ban tiếp đón gồm tất cả những nghị viên dân cử, tất cả ký giả và trí thức Pháp, Việt, Ấn độ

Chương trình tiếp đón

Tàu hơi nước Angers đến Saigon, thứ sáu, vào khoảng trưa.

Chiều thứ sáu, lúc 16 giờ, ăn trưa ở tòa thị sảnh thành phố Saigon. Vào cửa lệ phí 1.50 piastres.

Tối thứ sáu, lúc 21 giờ, tiếp đón trọng thể ở nhà hát thành phố, ông Bùi quang Chiêu sẽ giới thiệu nhà thơ nổi tiếng. Ông Tagore sẽ cho một bài diễn văn. Nhiều bài nói chuyện sẽ được công bố. Giá vào nhà hát là 1 piastre cho tất cả các loại chổ ngồi và 0,5 piastre vào hành lang.

Sáng thứ bảy, đi dạo trong thành phố Saigon; Vườn bách thảo, viện bảo tàng, trường nữ tiểu học cho người An Nam và Pháp, trung học Pétrus Ký, trường dạy nghề cơ khí (école des mécaniciens), một chùa người Hoa và một chùa người Việt ở Chợ Lớn.

Trưa thứ bảy: ngoại vi Saigon; viếng các trường nghệ thuật, mỹ thuật Biên Hòa và Thủ Dầu Một, mộ của Lê Văn Duyệt, nơi đây sẽ có bữa ăn trưa, do hội thờ Lê Văn Duyệt, trường của ông Huỳnh khương Ninh và công ty nhà in của ông Nguyễn văn Của, ở Saigon, đường rue Lucien Mossard (Nguyễn Du ngày nay) khoản đãi.

Tối thứ bảy lúc 21 giờ, buổi chiếu phim, ở rạp Eden, sẽ chiếu những phim quảng cáo du ngoạn thắng cảnh và tư liệu Đông Dương. Tất cả khách vào trả tiền cho chổ ngồi trừ ủy ban tiếp đón và đoàn của ông Tagore.

Ông Tagore sẽ ở nhà của hội viện Hội đồng quản hạt (conseiller colonial) Diệp văn Giáp, tọa lạc tại góc đường Legrand de la Liraye (Điện Biên Phủ ngày nay) và rue Barbet (Lê Quý Đôn).

Khi từ giã Saigon, ủy ban sẽ đi theo thi sĩ lên tàu. Ông chủ tịch nội các (chef de cabinet) của Thống đốc và thị trưởng thành phố sẽ đón thi hào lên tàu ở Nhà Bè.

Chương trình tiếp đón thi hào Tagore như vậy rất trọng thể với nhiều sự kiện thể hiện tầm quan trọng của chuyến viếng thăm thi hào Tagore ở Saigon đối với chính quyền, cộng đồng người Pháp, Việt Nam và Ấn Độ. Đặc biệt ông Diệp Văn Giáp đã để riêng biệt thự của ông ở số 33 rue Barbet cho thi hào Tagore khi ở Saigon. Trước khi đến Saigon, Tagore cũng được đến viếng Angkor Wat nhưng điều này không thể thực hiện được vì thời gian, tốn kém và an toàn.

Trên báo Écho annamite 22/6/1929 tựa đề “Rabiudranatb Tagore à Saigon” có viết về buổi nói chuyện ra mắt công chúng của Tagore ở Nhà hát lớn. Tagore cho bài nói chuyện sau khi ông Bùi Quang Chiêu, thị trưởng Béziat và ông Dương Văn Giáo đọc diễn văn giới thiệu.

Ông Bùi Quang chiêu nói:

“ Đó là một ngày trong tháng giêng; khi mà mùa đông phủ trên đồng bằng Bolpour một bầu không khí xám lạnh, tôi có may mắn, sau một đêm ở Đại học Santinikétan với một giáo sư trẻ tuổi, từ Khoa Luật Đại học Lyon, và một người bạn và người đồng hành chuyến đi của tôi, ông Dương Văn Giáo, đã tham dự ngày thứ Tư hôm đó, một buổi cầu nguyện, do chính nhà thơ chủ trì.

Mặc dù giờ sáng sớm và cái lạnh của mùa đông, chúng tôi thấy một ông già đẹp lão đi đến, chống dựa vào một cây gậy và trân trọng theo sau là hai người Ấn độ giúp việc, vào một tòa nhà nhỏ hình chữ nhật, được bao quanh bởi một lan can gạch, gần lối đi vào trường Đại học. Đó là ông Rabindranath Tagore, đến mỗi tháng một lần, chủ trì một buổi lễ thật đơn giản mà các học sinh, gồm thiếu nữ và thanh niên đọc theo các bài thơ thánh ca tụng mà nhà thơ hát và nhận xét các khổ thơ.

Trên tất cả người của nhà thơ toát ra cái tâm linh này, cái thanh thản không thể định nghĩa được của hương thơm tư tưởng Ấn Độ.

Hiền triết phương đông đã cho thế giới rất nhiều người sáng lập các tôn giáo, và người sứ giả của hiền triết phương đông ngày nay, ông Rabindranath Tagore mơ là lý tưởng châu Á một ngày sắp tới sẽ đến giải cứu châu Âu có nguy cơ bị sói mòn tan rã của chủ nghĩa vật chất. Nhà thơ này, mà các nhịp thơ đầy hình ảnh tạo ra cho người đọc những ước vọng tinh thần cao cả, đã nhận được một trong những phần thưởng lớn nhất: Giải thưởng văn chương Nobel năm 1913, đã tiết lộ cho chúng ta thấy “một Ấn Độ mà ánh sáng của nó chiếu sáng niềm vui lên mắt của những người con Ấn độ, mà các nguồn của nó làm họ trong sạch, và những trái kết tinh của nó giúp cho họ sống

Nhưng thi hào Rabindranath Tagore không phải cấy trồng một chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi: ông muốn đoàn kết Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo và Ki tô giáo trong sự hòa thuận của một sự hợp tác tích cực tiến đến một tình thương vị tha giữa con người và vạn vật, đến thờ phụng cái đẹp, cái tốt và sự thật chân lý.

Không chống đối ác cảm với văn minh phương tây, thi hào ở Santinikétan mong với tất cả linh hồn của ông: một sự phối hợp của hai nền văn minh phương đông và phương tây để hiến tặng cho nhân loại giá trị đầy sáng tạo của cái đẹp và tốt lành của chúng…

(dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Chú thích Santiniketan là một thành phố đại học do Tagore sáng lập, gần Bopur, tiểu bang Tây Bengal, hiện nay vẫn còn hoạt động)

Rabindranath Tagore trích giảng ở đại học Santiniketan

Thật ra chương trình cũng có những thay đổi do hoàn cảnh xảy ra lúc đó, như lúc viếng mộ Lê Văn Duyệt, sau khi được chào đón với nhạc Việt Nam và viếng mộ, ông không ở lâu vì sau khi viếng trường mỹ thuật Biên Hòa, đường xa và xấu làm ông mệt (6). Chiều thứ bảy hôm đó, ông đến nhà in của ông Nguyễn Văn Của dự buổi tiệc rượu champagne. Ông Nguyễn Văn Của, các nhân viên và ủy ban tiếp đón đứng xếp hàng chào ông vào, Tagore nói chuyện với hai người thợ người tỉnh Bengal ở Ấn Độ như ông. Thay vì uống champagne, Tagore xin được uống nước dừa và ông rất tò mò xem bộ sưu tập đồ cổ của ông Nguyễn Văn Của. Nhà nhiếp ảnh Khánh Ký có chụp hai bức ảnh của Tagore với ông Nguyễn Văn Của.

Trong số báo Phụ Nữ Tân Văn ngày 4 tháng 7 1929, bà Nguyễn Đức Nhuận có viết về buổi viếng thăm của thi hào Tagore đến tòa soạn báo sáng chủ nhật ngày 23 tháng sáu 1929. Trong bài có ảnh của Tagore được nhà nhiếp ảnh Khánh Ký chụp Tagore ở Saigon có chữ ký của Tagore. Ông có mua cái áo gấm bông bạc và được tòa soạn tặng một cây lảnh do hảng dệt Lê Phát Vĩnh ở Cầu Kho dệt. Chiều ông có gởi người đến mua hai cái khăn đóng và vì trước đó ông đã có đặt may áo dài An Nam ở tiệm may của một người Việt trên đường rue d’Espagne (Lê Thánh Tôn). Bà Nguyễn Đức Nhuận viết:

“Mới xem qua cái lối ăn mặc, thì ông Tagore mường tượng một bực lão thành đạo-mạo Annam. Trên đội cái mũ nhung đen ; dưới mặc cái áo trắng dài và rộng ; kiến kẹp mủi, râu trắng dài ; ảnh của ông chụp ngồi chung với các nhà thân-hào Annam thật là hợp-cách lắm !”

Phụ nữ Tân Văn (4/7/1929) – Nguồn Thư viện Quốc gia Việt Nam. Ảnh Tagore do Khánh Ký chụp ở Saigon.

Sau đó Tagore dự buổi tiếp tân của Phòng thương mại người Hoa ở chùa Bà người Quảng đông ở Chợ Lớn trên đường Cây Mai (nay là Nguyễn Trãi). Từ nơi đó cộng đồng người Ấn đã đến rước thi hào Tagore trên xe hơi đi đến đền thờ Ấn độ ở đường rue Ohier (Tôn Thất Thiệp Saigon) để dự lễ khai trương Viện tàng thơ Murugananda Vasagasala (Institute of Poetry Murugananda Vasagasala). Tại đây, các ông Tagore, Bùi Quang Chiêu và Lefèbre trong ủy ban tiếp đón đã được mời làm chủ lễ và một cô gái Ấn tên là Kathéappa Thévarnin đã hát một bài hát của thi sĩ Passecarne để tặng Tagore.

Ngày cuối trước khi lên đường, Tagore được mời dự buổi đàm đạo uống trà với thống đốc Pierre Pasquier cùng với tất cả ủy viên trong ủy ban Pháp, Việt và Ấn độ tiếp đón thi hào Tagore ở Saigon (Écho Annamite 24/6/1929). Tại đây, Tagore đã có nói chuyện với Pasquier về thi văn và cảnh thanh tịnh ở các chùa đạo Phật.

Sau đó ông trở lại nhà nghĩ ở đường Barbet (Lê Quý Đôn), các đại diện đảng Lao Động (Parti Travailliste) do ông Cao Hải Đề, chủ bút tờ Ère Nouvelle (Nhật Tân báo) lãnh đạo đến và chỉ trích ông đã không đến rạp hát Thành Xương nói chuyện với công nông dân người An Nam như đã hứa (6). Ông Tambor, đại diện cho Tagore có nói với đại biểu đảng Lao động là ông không muốn đến rạp Thành Xương lúc ấy nhưng sẵn sàng cho một buổi nói chuyện ở nhà ông nếu đảng Lao Động đến nghe. Ông ăn tối tại nhà nghĩ và rời Saigon lúc 9:30 tối.

Dư âm về chuyến viếng thăm Saigon của Tagore

Sau khi Tagore rời Saigon không lâu báo Écho Annamite (2/7/1929) có bài xã luận dưới tựa diễn đàn tự do (Tribune libre) so sánh Tagore với Phan Bội Châu (Le poète et le martyer – Tagore et Phan Bôi Châu) cho là Phan Bội Châu là tử đạo cho lý tưởng của Tagore và ngầm chỉ trích chính quyền Pháp.

Báo Phụ Nữ Tân Văn (27/6/1929) có bài viết về thơ của Tagore và so sánh thơ ông với thơ của các thi hào lớn Việt Nam Nguyễn Du và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt có bài viết trên Phụ Nữ Tân Văn (30/10/1930) về thành phố đại học Santiniketan và phương pháp triết lý giáo dục khai phóng tự do không ràng buộc, nhồi sọ thường thấy ở Việt Nam. Các báo khác như Đuốc Nhà Nam cũng đăng các bài thơ của Tagore dịch ra chữ quốc ngữ trong các năm 1929 và 1930. Đông Dương tạp chí các số tháng 7 năm 1937 cũng có đăng các truyện ngắn của Tagore như “Cô láng giềng xinh đẹp của tôi” (“My fair lady”), “Su-ba” (Suba, a short story).

Chuyến đi thăm Saigon của Tagore sau này hầu như bị lãng quên cho đến gần đây mới được các học giả để ý và đề cập tại hội thảo quốc tế về Tagore năm 2011 ở Hà Nội. Một phần có thể là do thời đó thập niên 1930, 1940 Việt Nam đang tìm đường giải phóng dân tộc, Tagore chỉ là nhà hiền triết hòa bình và là nhà thơ nhân bản như ông nói với Hoàng Tích Chu và vì thế không thể đưa ra giải pháp mà Việt Nam đang cần thời đó. Khác với Gandhi vừa là một nhà hiền triết và là một nhà tranh đấu giải phóng dân tộc dùng phương pháp bất bạo động, bất hợp tác và tự chủ.

Nhưng ảnh hưởng lớn nhất của Tagore sau này là phong trào thơ mới. Pham P. Chi cho rằng những ý tưởng lãng mạng trong phong trào Thơ mới sau này một phần là do ảnh hưởng của triết lý nhân bản lý tưởng của Tagore (6).

Hình Tagore trong đền thờ Ấn giáo Sri Thendayutthapani (chùa Ông) trên đường Tôn Thất Thiệp, Quận 1. Nơi đây Tagore đã đến dự lễ khai mạt Viện tàng thơ Murugananda Vasagasala (Ảnh tác giả)

***

2019-11-30 Xã luận : Chỉ còn 1 tháng nữa là đến Ngày Mất Nước  :

Thử Kiểm Điểm : Quê Hương Còn Lại Chút Gì ?

Nếu không còn gì để mất ? Hãy vùng lên giữ dân tộc Việt.

Phan Văn Song

Thưa quý bà con,

Tháng 12 sắp đến năm nay 2019, là tháng cuối cùng trước khi Hiệp Ước Thành Đô được áp dụng. Năm tới, 2020, Việt Nam sẽ chánh thức do Nhà cầm quyền Tàu Cộng kiểm soát …… Con đường đấu tranh để Việt Nam thoát khỏi quỷ đạo Cộng Sản Tàu e rằng bế tắc!

Hai thái độ:   – Một là mackeno, không đoái hoài, tự nhiên như người Hà nội, … hoài mãi mãi người ngoài cuộc, sống ở ngoại quốc, con cái nay, vẻ ngoài vẫn Việt, nhưng tâm hồn tâm trạng ngoại quốc, da vàng ruột trắng như quả chuối; hoặc thản nhiên hưởng thụ, ở ngoài thoải mái làm ăn, ngày nghỉ, cần du lịch, du hý, vẫn đi về qua lại Việt Nam, có Tàu ? không Tàu ? cũng thế thôi. Ta là Việt Kiều… Ra vào No star Where …    Hưởng thụ là cái chánh……   – Hai từ nay, nhìn nhận rõ ràng bằng mọi giá, không còn những ưu tư, do dự, lo lắng trừu tượng nữa, năm 2020 sự thật là rõ ràng Việt Nam ta nay là Tàu Cộng, và cắt đứt liên lạc với Việt Nam, tầy chay  hàng hóa lương thực Tàu và Việt Nam! Làm sao nuôi dưỡng hận thù phục quốc, trong ngoài một lòng, một chí lấy lại Đất nước Đại Việt, tìm lại Hồn Việt, giữ vững nuôi dưỡng tinh thần Dân Tộc Việt

 Mong rằng: đây là một dịp may, vì là một cú SỐC – un choc :“ Từ nay, rõ ràng, chúng ta bị người Tàu đô hộ”… Một nhận định rõ ràng, cũng như những nhận định ngay những ngày sau ngày 30 tháng Tư, rõ ràng toàn bộ nhân dân Miền Nam chúng ta hoàn toàn mất nước, và nhận định rõ ràng mất Tự do và đang đi vào thời kỳ “đồ đá” khi thấy các “cán ngáo” tung tăng, tay cầm tay đi đạo phố, sổ sàng vào chiếm nhà, chiếm chổ ở, đòi ở nhà trên…đuổi gia đình mình xuống ở nhà ngang, nhà dưới… những “khăn rửa mặt vào chậu cầu tiêu, bỏ cá rộng vào cầu tiêu… sợ quạt máy trần “chém” đầu”… Rõ ràng tỉnh ngộ, khi bị đuổi nhà đi kinh tế mới, rõ ràng “thức tỉnh” khi nhìn những thùng sách báo bị đưa ra đốt ở ngoài đường… rõ ràng, quá rõ ràng  khi … và khi … và tiếc những ngày xưa ấy xúi con trốn lính, bỏ tiền chạy chồng đi lính kiểng ! Nghe lời xúi dại các Thầy, các Cha, các Sư phản chiến, chống Tham Nhũng …

– Mong rằng tất cả những “Sự thật phủ phàng” sẽ đến và đánh thức người dân VỚI hy vọng lúc ấy người dân sẽ có phản ứng… Hãy nhìn về Hong Kong, nhìn Nhà Cầm quyền Trung Cộng Lục Địa đang tìm mọi giá bóp nghẹt Hong Kong, rồi sẽ có  Thiết quân Luật, rồi sẽ có xe tăng, vì đã có bắt bớ giam cầm … rồi đổ máu phải đến thôi…! Chớ quên Thiên An Môn, Budapest, Praha… Tự Do phải Đổ Máu, phải Tù Tôi, phải Chết chóc Thương Tật mới Thành Công… Ba Lan Tự Do, Đông Âu Tự Do… bằng giá ấy!

– Và Việt Nam ngày mai cũng vậy…

Phản kháng đấu tranh Bất Bạo Động, Bất Tuân Dân Sự chỉ có hữu hiệu, có kết quả chỉ ở những môi trường các quốc gia có một nền Dân Chủ rõ ràng, có những Luật Lệ bảo vệ các quyền con Người hữu hiệu …

– Việt Nam cuối năm 2019 và ngày mai bắt đầu năm 2020 là chẳng những là một nước Cộng Sản … mà là một quốc gia đang bị xâm chiếm, với một ông chủ nhà là Trung Cộng… Cũng như xưa kia, Ba Lan của năm 1981 là một nước Cộng Sản chư hầu của Liên Sô vậy !

– Do đó xin phép bà con nhắc đến chuyện Ba Lan thời kỳ 1981, là để bàn chuyện tương lai Việt Nam. Ba Lan 1981 là Việt Nam 2020!

Bài Học Ngày 13/12/81 tại Ba Lan

 1/ Ba Lan 1981:

– Ngày 13/12/1981, đúng hơn vào đêm 13/12/1981 (đêm thứ Bảy qua Chủ nhật).tại Ba Lan, Tướng W. Jaruzielski (với hình ảnh quen thuộc với quần chúng thế giới và bà con chúng ta là viên tướng với cặp mắt kiếng đen), lãnh tụ Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Ba Lan, Chủ tịch Hội Đồng Quân Sự Cứu Nguy Dân Tộc Ba Lan, công bố Thiết quân Luật nghĩa là Quân Luật đặc biệt cho một quốc gia trong tình trạng chiến tranh.

– Thiết quân Luật, là từ nay Dân luật bị bãi bỏ, chỉ có Quân Luật, có nghĩa là từ nay truất mọi quyền công dân như tự do đi lại, tự do ngôn luận … vân vân … Thiết quân Luật, là ban đêm giới nghiêm, cấm đi lại, Thiết quân Luật là, tạo những khu vực cấm đi lại, cấm hôi họp, tụ họp ngoài đường, vì chế độ quân đội thay thế chế độ cảnh sát, được quyền nổ súng bất cứ lúc nào, bắn, bỏ tù, đưa đi đày không cần xét xử.

– Thiết quân Luật Ba lan lúc ấy huy động 70 ngàn binh sĩ quân đội, hàng chục ngàn lính dự bị, 30 ngàn viên chức cảnh sát công an nội vụ, 1.750 xe tăng và 1.400 xe bọc thép, 500 chiến xa, 9.000 xe hơi cơ giới, phi đội máy bay trực thăng và máy bay vận tải được sẳn sàng phục vụ các đợt đàn áp. Điện thoại vô hiệu hóa, giới nghiêm từ 19 giờ đến 6 giờ sáng, cấm công dân thay đổi nơi cư trú, ngưng phát hành báo chí (trừ báo của đảng và quân đội), phá sóng radio nước ngoài phát vào Ba Lan, đình chỉ công dân xuất cảnh, tạm thời đóng cửa các trường học…

– Thiết quân Luật Ba Lan lúc bấy giờ, tái lập lại hệ thống phân phối hàng hoá bằng tem phiếu – đã bỏ đi nhiều năm qua – các mặt hàng thiết yếu như thịt, bơ, chất béo, bột, gạo, sữa cho trẻ sơ sinh, v.v.. Kiểm soát lại nguồn cung cấp cho các cửa hàng và đe dọa an ninh quần chúng bằng kiểm soát phân phối năng lượng cho mùa đông sắp tới. Tóm lại, dùng vũ khí Thiết quân Luật, nhà cầm quyền cộng sản Ba Lan lúc bấy giờ, thực hiện cùng với vũ khí thứ hai là chế độ tem phiếu, đã kiểm soát toàn bộ dân chúng mình qua bao tử và sự sanh hoạt sống còn hằng ngày.(Cũng như tất cả nhà cầm quyền các quốc gia độc tài và cộng sản trên thế gìới vậy) !

Lý do chánh thức được nêu ra là do tình hình nước Ba Lan lúc bấy giờ thiếu an ninh do sự chống đối của Phong trào Đoàn Kết-Solidarnosc, và khủng hoảng kinh tế. Thế nhưng mặc dù có tăng thêm sự kềm kẹp, mặc dù có tăng thêm sự đàn áp cũng vẫn  không dấu nổi sự sợ hãi của nhà nước cộng sản Ba Lan lúc bấy giờ.

Phải, nhà cầm quyền cộng sản Ba Lan đang hoang mang và hoảng sợ, thấy rõ đối thủ chánh trị của họ là phong trào Công đoàn Đoàn Kết chính là nguyên nhân của tình trạng khó khăn từ chánh trị đến kinh tế lúc bấy giờ, do phản kháng, do đấu tranh toàn bộ của dân chúng Ba Lan. Mặc dù sử dụng gần như độc quyền các phương tiện truyền thông đại chúng (của) nhà nước (đài phát thanh, truyền hình, báo chí) và chú trọng tất cả vào tuyên truyền và phá hoại Công đoàn Đoàn kết, tìm mọi cách hạ bớt uy tín của Công đoàn trong ảnh hưởng xã hội. Thế nhưng, mặc dù với các phương tiện truyền thông đại chúng ấy, để chống lại phe đối lập với phương tiện nhỏ hơn nhiều, đối lập vẫn và đã tạo được một thế đứng vững chải, nhờ phổ biến những tư tưởng đã bị cấm đoán bởi chủ nghĩa Cộng sản, như Dân chủ, Nhơn quyền, Tự do ngôn luận …, và rộng rãi hơn nữa đã đề nghị một mô hình xã hội và chánh trị hấp dẫn, buộc nhà nước cộng sản phải đặt một “nền cai trị mới” từ nay biến thành một cuộc  ”chiến tranh chống  nhân dân”.  Do đó Thiết quân Luật là một bắt buộc thôi !

Thực sự mà nói, Thiết quân Luật là cái bắt buộc PHẢI đưa ra thôi ! Sau 16 tháng, sau hàng loạt cuộc đình công trong những năm 1980 đã dẫn đến việc thành lập Công đoàn Đoàn Kết và làm tan vỡ nền tảng cộng sản của nền chánh trị ở Ba Lan.

Kết quả hãi hùng :

Mười ngàn công an, an ninh, mật vụ tham gia chiến dịch “Cây thông” bắt giữ những người được cho là nguy hiểm đối với an ninh quốc gia, đưa họ tới các nhà tù và những trung tâm giam giữ đã được chuẩn bị trước.

Chỉ riêng trong tuần đầu tiên của Thiết quân Luật, trong các nhà tù và trại giam đã có khoảng 5 ngàn người. Trong giai đoạn Thiết quân Luật, có khoảng 10 ngàn người bị bắt giữ trong 49 trại giam trên cả nước, đa số gồm các nhà lãnh đạo của Công đoàn Đoàn Kết, trí thức liên kết với họ và nhà các hoạt động đối lập dân chủ. Bốn ngàn người trong số này đã bị buộc tội và có án tù, hàng ngàn công nhân bị sa thải,  gần 2.900 người tự tử trong năm 1981, hàng trăm ngàn người dưới 35 tuổi đã bỏ chạy khỏi Ba Lan sang các nước phương Tây.

Với hơn 44 năm dưới ách cai trị của chế độ cộng sản, ngày 13/12/1981 là một ngày được đánh dấu là một ngày đặc biệt trong lịch sử cận đại Ba Lan.

Lý do rằng bấy giờ nhà cầm quyền Ba Lan vẫn ngó về Mạc tư Khoa, vẫn chờ ý kiến quyết định của Thiên triều Sô Viết và …và …vẫn không quên hai biến cố : Budapest 1956, và gần hơn Praha 1968. Xin nhắc lại hai biến cố ấy để chúng ta người Việt Nam ngày nay cảnh giác và không quên (đối với chánh sách ngoại Việt-Hoa ngày nay) :

1956 : Cuộc nổi dậy tại Budapest, thủ đô Hungaria :

– Ngày 23/10/1956, nhơn dân thành phố Budapest xuống đường biểu tình chống nhà nước cộng sản Hung. Biểu tình biến thành nổi loạn. Nổi khao khát tự do, nổi khao khát cởi mở được ấp ủ từ ngày Staline qua đời.

Tám tháng trước, vào tháng 2 năm 1956, Nikita Khrouchtchev, Đệ nhứt Bí thư của Đảng Cộng sản Xô Viết, đả phá hạ bệ chỉ trích người tiền nhiệm mình là Staline trong một bản báo cáo mật tại Đại hội thứ XX của Đảng Cộng sản Sô Viết tại Mạc tư Khoa.

Ngày 28/06/1956, tại Poznan, Ba Lan, một cuộc đình công công nhơn được biến thành một cuộc nổi dậy đòi dân chủ. Mạc tư Khoa lo lắng và buộc Đảng cộng sản Ba Lan đặt nhà cải cách (vẫn còn là đảng viên Đảng Cộng sản Ba Lan) Wladyslaw Gomulka, một cựu tù nhơn bất đồng chánh kiến với Staline từ những năm trước, lên cầm quyền nhà nước Ba Lan.

Tại Hungaria, ngày 23/10, dân chúng Hung cũng đòi Imre Nagỵ (đọc Nog), một đảng viên ôn hòa của Đảng Cộng sản Hung đang bị thất sủng từ tháng Tư 1955, trở lại cầm quyền.

Đảng Cộng sản và Nhà nước Hung chấp nhận, mời Nagy trở lại nắm chánh phủ nhưng thiết lập ngay Thiết quân Luật và  kêu gọi quân đội Sô Viết đang đóng quân chung quanh thủ đô Budapest, đem quân đội vào nhập vào thủ đô mình, giúp mình xây dựng lại an ninh và trật tự. Thoạt đầu quân Sô Viết cũng vào làm trật tự, nhưng nhẹ nhàng không đụng chạm mạnh và rút đi ngày 27/10.

Thế nhưng, dân chúng Hung tưởng bở, nghĩ rằng thời cơ đã đến rồi, Hungaria nay đã giải phóng đã giành lại Độc lập rồi. Đất nước đang sống lại, sôi sục,  nổi bùng. Dân chúng xuống đường rầm rộ ngày 30/10 và tại Budapest chiếm trụ sở Đảng Cộng sản Hung, hành hung, giết hại nhơn viên kể cả những người không liên hệ gì với chế độ đáng ghét ấy.

Thủ tướng Imre Nagy cũng say cơn chiến thắng, Ông tuyên bố từ nay sẽ đi vào con đường Dân chủ và Đa nguyên. Ngay ngày 1 tháng 11, thành lập một chánh phủ liên hiệp, và tuyên bố từ nay Hungaria sẽ ra khỏi Khối Warszava.

Thật là quá quắc ! Liên Sô không chấp nhận ! Chúa Nhựt, 4 tháng 11, Hồng quân Liên Sô tràn ngập Budapest, 8 sư đoàn, hàng trăm chiến xa T 54,  thứ tối tân nhứt của Liên Sô thời bấy giờ (vẫn có mặt trên chiến trường Việt Nam 20 năm sau). Phe nổi dậy gồm, công nhơn, thợ thuyền sanh viên trí thức, gậy đá, súng trường súng lục anh hùng tử thù nhưng cuối cùng thua.  Kết quả cuộc đàn áp : 200 ngàn tử vong, 160 ngàn tỵ nạn chánh trị tại các quốc gia Tây Âu. Imre Nagy bị xử tử, bị treo cổ vài tháng sau.  

1968, Mùa Xuân Praha, thủ đô Tiệp Khắc :

Với Alexander Dubček, được bầu chọn đứng đầu Đảng Cộng sản  Tiệp Khắc vào tháng Giêng 1968, Tiệp Khác đang đi vào con đường cải tổ quan trọng với mục tiệu tạo một « con đường Xã hội Chủ Nghĩa Nhơn bản », sẽ xóa bỏ chế độ kiểm duyệt, sẽ phục hồi quyền lợi và chức vụ các viên chức đảng viên đã bị tù tội cách chức, cho về vườn qua những cuộc thanh trừng đầy màu sắc Staline của những năm 1950. Sẽ chuyển nền kinh tế do Nhà nước lãnh đạo và chỉ định thành một nền kinh tế tự do, phóng khoáng (thời gian ấy chưa có từ ngữ và quan niệm kinh tế thị trường, vì từ ngữ tư bản đối kỵ, nên chỉ dùng từ libéral-tự do thôi !), nền ngoại giao và chánh sách ngoại giao cũng sẽ được cải tổ, sẽ mở rộng ra khỏi khối Xã hội Chủ nghia anh em, sẽ có tự do tôn giáo …vân…vân …. Mặc dù chương trình cải tổ không đụng chạm đến nền tảng và vai trò của Đảng và chủ thuyết Cộng sản như Hungarie năm 1956, những tư tưởng và đề nghị cải tổ cũng đem đến một ảnh hưởng rất lớn cho xã hội Tiệp lúc bấy giờ. Trong một quốc gia mà cái thế địa lý rất chiến lược như Tiệp Khác lúc bấy giờ là một nguy hiểm đối với Liên Sô và khối Warszawa. Thật vậy Tiệp Khắc, là đầu tàu, là riềng mối. Tiệp Khắc là biên giới giữa hai khối của cuộc chiến tranh lạnh : Mỹ/Nga. NATO/Warsawa ! Tiệp khắc xé rào là một nguy hiểm cho Liên Sô và …Đông Âu và khối Warsawa ! (cũng như ngày nay, Ukraina đối với Liên Bang Nga vậy). Vì vậy phải tung đòn trừng phạt, để chận đứng mọi âm mưu. Lực lượng quân đội và xe tăng khối Warsawa (trừ Roumanie) tràn xâm chiếm Praha trong hai ngày 18 và 20 tháng 8 (Radio Hà Nội vổ tay chào mừng ngày Giải Phóng Praha). Mặc dù sự hổ trợ, ủng hộ của Đảng Cộng sản Tiệp khắc, họp Đại Hội bất thường ngày 22/8, mặc dù dư luận thế giới la ó, phản đối, … các nhà lãnh đạo của nhà nước Tiệp đều bị bắt giải đi Mặc tư Khoa để xét xử, một nhóm lãnh đạo khác được Liên Xô đặt lên thay thế…

Mùa Xuân Praha thất bại, thế nhưng Mùa Xuân Praha cũng để một dấu ấn vĩnh viễn trong trí nhớ của nhơn loại.

« Năm 1968 – Tổng Thống và anh hùng Tiệp Khắc Vaclav Havel nói trong bài diễn văn kỷ niệm 30 năm Mùa Xuân 68 – là năm của của quyền công dân được sống lại, là năm của nhơn phẩm được xây dựng trở lại và cũng là năm sự mà mọi con người lấy lại đức tin  là có thể thay đổi được xã hội – L’année ’68 fut avant tout celle du renouveau de la citoyenneté, de la reconstruction de la dignité humaine et de la croyance des citoyens dans la possibilité de changer la société ».

Phải cần 8 năm đấu tranh mới giải phóng được Ba Lan :

Quy mô đàn áp của nhà cầm quyền Ba Lan lớn và tàn bạo như vậy nhưng không dập tắt được phong trào đấu tranh. Ngay trong thời gian Thiết quân luật, các cuộc biểu tình vẫn nổ ra. Trong Ngày quốc tế Lao động 1/5/1982 hàng chục ngàn người đã xuống đường phản đối tình trạng Thiết quân Luật với biểu ngữ “Thiết quân Luật là bất hợp pháp”. Ngày 31/8/1982, người Ba Lan đồng loạt xuống đường biểu tình tại 34 tỉnh thành, kỷ niệm 2 năm này ngày ký “Thoả thuận Tháng Tám”, là thoả thuận mà trong đó nhà nước cộng sản cho phép Công đoàn Đoàn kết hoạt động hợp pháp. Hơn 5.000 người đã bị bắt giữ, 3.000 người bị tòa án buộc các tội khác nhau, một số tờ báo bị đóng cửa và 800 nhà báo bị sa thải.

Thế giới lên án mạnh mẽ và cô lập Ba Lan. Mỹ và nhiều nước phương Tây tuyên bố bao vây kinh tế Ba Lan, nhưng đồng thời viện trợ tiền bạc, vật chất cho Công đoàn Đoàn Kết.

 – Ngày 22/07/1983 nhà cầm quyền cộng sản buộc phải tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh, (nhưng vẫn không bãi bỏ Thiết quân Luật), và giải thể Hội Đồng Quân Sự Cứu Nguy Dân Tộc.

Cuộc tranh đấu với chế độ cộng sản vẫn tiếp diễn quyết liệt và tới tháng 6/1989, tức 6 năm sau khi tình trạng Thiết quân Luật được bãi bỏ, những người cộng sản mới chấp nhận ngồi vào bàn tròn đàm phán.

 – Ngày 4/09/1989 cuộc bầu cử tự do đầu tiên trong các nước cộng sản được tiến hành, khởi đầu cho sự sụp đổ toàn bộ hệ thống cộng sản tại châu Âu.

2/ Việt Nam 2019 :

Năm 2019 sắp tàn, nhơn ngày kỷ niệm ngày 13 tháng 12 của Ba Lan sắp đến, chúng ta thử đánh giá xem tình hình đấu tranh ngày nay ở Việt Nam như thế nào? Tình hình đấu tranh dân chủ trong nước nay đã chín mùi chưa?

Chưa bao giờ cái hoảng cái sợ đã thay đổi chủ như lúc nầy. Trong nước, người dân đã hết sợ nhà cầm quyền rồi, mặc dù Công An vẫn đàn áp, vẫn dùi cui, vẫn quấy nhiểu đời sống dân lành. .

Vì không còn sợ nữa nên ngày nay, càng ngày càng nhiều bloggers ra mặt, mặc tù tội, mặc bị đánh đập, hành hung, mặc bị bắt, mặc ở tù. 

Ngày nay, đã có những Phạm Chí Dũng, những Lê Hiếu Đằng những Lê Mã Lương … ra mặt kêu gọi. Nhưng ngày nay vẫn còn chưa rầm rộ được, chưa xôm tụ được như Ba Lan ngày xưa. Mặc dù ngày nay các bloggers trong nước các nhà đấu tranh dân chủ, đấu tranh cho Nhơn quyền đều được Cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại ủng hộ, được bạn bè quốc tế ủng hộ. 

Phong trào đấu tranh trong nước càng ngày càng cao, phong trào ủng hộ Hải ngoại càng ngày càng mạnh, phong trào bạn bè quốc tế càng ngày càng đông. Nhớ lại những năm ’80 khi Phong Trào Công Đoàn Đoàn Kết Solidarnosc dâng cao độ, chúng tôi lúc ấy ở Pháp, cùng tất cả công chúng, giới thợ thuyền, công nhơn, trí thức, những ai ủng hộ người Pháp hay ngoại quốc đều mang trên ngực áo huy hiệu Solidarnosc.

Việt Nam ngày nay chưa tới tầm ấy. Lúc xưa thế giới trừng phạt Ba Lan và giúp đở Solidarnosc. Việt Nam ngày nay chưa được như vậy !  Một nhà bình luận Việt Nam sống trong nước  không ngần ngại đánh giá

Ở Việt Nam, một cuộc biểu tình chỉ bao gồm mấy chục người, an ninh mật vụ với con số gấp hai ba lần, gom vào một chuyến xe buýt chở đi là chấm dứt, thật chẳng có nghĩa bao nhiêu. Thực chất đây chỉ là một cuộc tập họp nhỏ tự phát của những người yêu nước, thiếu hẳn sự  vận động quần chúng,hoặc quần chúng là một bầy đang sống trong sợ hãi, thờ ơ với thời cuộc, ngu lâu không thể thuyết phục được. Con đường vì dân chủ, tự do của Việt Nam, vì thế, còn rất dài” (hết trích)

Sự thật có thể như vậy nhưng nếu: Đừng sợ đàn áp, đừng sợ dùi cui. Tinh thần đấu tranh phải nở rộ trong mọi từng lớp, mọi giai cấp, mặc đàn áp, mặc dùi cui.

Bài viết nầy nhắc ngày 13 tháng 12 1981 tại Ba Lan là để nhắc đến sự đàn áp khủng khiếp của Đảng Cộng sản. Bất cứ Đảng Cộng sản nào. Đảng Cộng sản Tàu không ngần ngại cho xe tăng nghiến học sanh và sanh viên, nhuộm đỏ Quảng Trường Thiên An Môn. Ngày nay, tại Hông Kông Cảnh Sát không ngần ngại sẽ bắn đạn thật vào người phản kháng.

Trình trạng Thiết quân Luật  Ba Lan chứng minh cho chúng ta thấy rằng, chẳng có chế độ độc tài cộng sản nào ôn hoà cả. Để giữ chế độ, nhà cầm quyền cộng sản nào cũng sẵn sàng dùng bạo lực với quy mô lớn, quân đội cũng được bổ sung vào lực lượng đàn áp. Càng gần đến ngày sụp đổ, nhà cầm quyền càng hung hăng và tàn bạo hơn. ( Hãy nhìn vào Hông Kông, …)

Từ khi chế độ cộng sản sụp đổ (năm 1889) hàng năm người Ba Lan vẫn kỷ niệm ngày 13/12 như là một biến cố lịch sử không thể nào quên. Còn rất nhiều người đang sống là nhân chứng của biến cố này.

Vào năm 2006, tại quốc hội Ba Lan, A. Kwasniewski, một cựu bộ trưởng thời cộng sản, Tổng thống Ba Lan dân chủ, đã chính thức xin lỗi nhân dân và xem ngày này là một tội ác cộng sản. Trong năm 2006, theo Viện Tưởng nhớ Quốc gia Ba Lan, một cơ quan được thành lập sau khi chế độ cộng sản bị sụp đổ, chuyên điều tra tội ác chống lại Ba Lan, số người chết do bị bắn hoặc bị đánh đập trong giai đoạn 1981-1989 khoảng 1000 người.

Ngày 16/3/2011 Toà án Hiến pháp của Ba Lan dân chủ đã phán quyết việc ban hành tình trạng chiến tranh đã vi phạm các nguyên tắc về tính hợp pháp của chính hiến pháp của nhà nước cộng sản bấy giờ.

Tuy nhiên, bạo lực đã không làm lùi bước ý chí tranh đấu. Người Ba Lan đã chịu dấn thân, hy sinh, tù đày. Trong hơn một năm rưỡi, số người bị bắt giam và có án tù lên tới 10 ngàn người, đã nói lên rằng, cái giá của tự do rất đắt và cuộc tranh đấu vì dân chủ đòi hỏi một tinh thần bền bỉ, kiên cường.

Mong dân Việt Nam kiên cường như dân Ba Lan vậy, và mong ngày mai dân tộc Việt Nam ta sẽ thành công như dân tộc Ba Lan. Mong lắm !

Hồi Nhơn Sơn,  cuối  năm Kỷ Hợi.

Phan Văn Song

***

  • CHÚNG TA ĐANG Ở THỜI ĐẠI NÓI LÁO TOÀN TẬP!

Bài viết rất xuất sắc

  • CHÚNG TA ĐANG Ở THỜI ĐẠI NÓI LÁO TOÀN TẬP!
  • Toàn Láo Cả!
  •   BS Đỗ hong  Ngọc
  • Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?
  • Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.
  • Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.
  • Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.
  • Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh….. Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.
  • Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.
  • Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo.
  • Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả… Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.
  • Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh… Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.
  • Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu.
  • Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển…tất cả đều rặt láo.
  • Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm.
  • Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả.
  • Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.
  • Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn… Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.
  • Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ… Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.
  • Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..
  • Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.
  • Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồtổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…
  • Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..
  • Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám G. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.
  • Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.
  • Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.
  • Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.
  • Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!

Bs Đỗ H  Ngọc  tp/hcm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

© Lê Diễn Đức – RFA

 

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here