PHƯƠNG CÁCH BIỂU TÌNH MỚI CỦA ANTIFA

*PHƯƠNG CÁCH BIỂU TÌNH MỚI CỦA ANTIFA 

*BẢN TIN THỜI SỰ NỔI BẬT HÔM NAY:p

1-BIẾM-MINH HỌA ĐẶC BIỆT

2-CLIPS QUAN TRỌNG:
*PHƯƠNG CÁCH BIỂU TÌNH MỚI CỦA ANTIFA : PROTEST POLICE – Portland Oregon
INSANE ANTIFA STRIPS NAKED TO PROTEST POLICE! (ALSO FOOTAGE OF ANTIFA THROWING EXPLOSIVES!)
* DTV Thuyết Minh: Diễn văn khiến cả nước Mỹ bừng tỉnh trước Trung Cộng của Tổng chưởng lý Barr
* Lý do Thống đốc Gavin Newsom ở Califronia bị dân yêu cầu bãi nhiệm.
*Lãnh đạo Portland BLM công khai thừa nhận họ đang cố gắng lật đổ nước Mỹ
* Bò đỏ Mỹ quấn khăn búa liềm đi biểu tình chống Trump
* New York : Một vụ án mạng qua’ rùng rợn !!!
* Video clip do Ái Hiền và Du Lê, VietV, Houston thực hiện…Toà Lãnh Sự Trung Cộng ở Houston, Texas đang lên xe về nước

3-FACEBOOK:

* TỔNG THỐNG ĐÀI LOAN THÁI ANH VĂN CUỐI ĐẦU CHÀO 2 VIÊN PHI CÔNG VỪA HOÀN TẤT DIỄN TẬP !

Khác với tên CẦY râu kẽm lúc còn chức quyền thì em út điếu đóm hầu hạ, khi bại trận thì đi liếm háng giặc vì TIỀN !
==>> NHỤC HƠN CON CHÓ GHẺ !

==>> ĐÓ LÀ NHÂN CÁCH LÃNH ĐẠO !

Nguyên thủ nước người ta…Hình ảnh bà Thái Anh Văn nhường chỗ đứng trên thảm và cúi đầu chào 2 phi công vừa hoàn…

Posted by Amy Truc Tran on Monday, 20 July 2020

4- BẢN TIN NÓNG QUANG TRỌNG:

**TS KIM LONG: HỘI TAM ĐIỂM SIÊU QUYỀN LỰC CỦA MỸ ĐÁNG SỢ
* Ý kiến của Học giả Huỳnh Văn Lang về Tổng Thống Donald John Trump với Nhiệm kỳ thứ 2. & Ông Trump đang thực hiện đúng lời dặn của Vị Cha lập quốc?
* Dự Luật mới của Tổng thống trong việc cải cách Quốc Hội
*BLM: Xin mời theo dõi toàn văn bản tin ở dưới để tường…
* Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe
*Hà Nội: Cô dâu tuyên bố ly hôn trong ngày cưới vì cỗ của nhà trai toàn thịt chó

*CHUYỆN HAY CHỌN LỌC:

*VĨNH KHANH: CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT TRONG GIA ĐÌNH TÔI
* Ký giả Từ Thức Viết Về Nhà Văn “TIỂU TỬ”
*TRUYỆN NGẮN: TÚY HỒNG
*NGUYỄN NGỌC HOA: ĐI ĐÂU MÀ VỘI MÀ VÀNG
***
*KÍNH MỜI GHÉ THĂM WEB MỚI
https://hangoc2020.blogspot.com/

6-SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ

*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

*PHẠM THIÊN THƯ *TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN *
* ĐẶNG QUANG CHÍNH * KIỀU PHONG * HUY VĂN *
*LÊ TẤN DƯƠNG * TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO *
* PHẠM T MINH HƯNG * SA CHI LỆ *
* THA HƯƠNG: BIẾM THI
*BIẾM-MINH HỌA: ***
*2-CLIPS QUAN TRỌNG:
PHƯƠNG CÁCH BIỂU TÌNH MỚI CỦA BỌN ANTIFA : PROTEST POLICE – Portland Oregon
INSANE ANTIFA STRIPS NAKED TO PROTEST POLICE! (ALSO FOOTAGE OF ANTIFA THROWING EXPLOSIVES!)


* DTV Thuyết Minh: Diễn văn khiến cả nước Mỹ bừng tỉnh trước Trung Cộng của Tổng chưởng lý Barr

* Lý do Thống đốc Gavin Newsom ở Califronia bị dân yêu cầu bãi nhiệm.

*Lãnh đạo Portland BLM công khai thừa nhận họ đang cố gắng lật đổ nước Mỹ

* Bò đỏ Mỹ quấn khăn búa liềm đi biểu tình chống Trump

* New York : Một vụ án mạng qua’ rùng rợn !!!
Sợ người xa lạ , người cận kề còn đáng sợ hơn !
Mấy ngày hôm nay có theo dõi một vụ án mạng tại New York quá là kinh hoàng :
Có một ông người Bangladeshi (Bangladesh) ngụ tại khu Manhattan,trong một căn phòng trị giá $ 2 triệu USA của một cao ốc. Ông ta Fahim Saleh đã bị giết và thi thể bị cắt ra từng phần !!!

Thủ phạm 21 tuổi !! là Tech CEO cho Ông Fahim Saleh . Tên nầy sử dụng luôn cả thẻ Credit của của ông ấy…

Ex-personal assistant arrested in tech CEO Fahim Saleh’s grisly murder
https://www.youtube.com/watch?v=NZgOUR8NI3w
https://www.youtube.com/watch?v=lfEKceP6jpU
https://www.youtube.com/watch?v=tCD9AXnEPvI

* Video clip do Ái Hiền và Du Lê, VietV, Houston thực hiện..Toà Lãnh Sự Trung Cộng ở Houston, Texas đang lên xe về nước


***
*FACEBOOK:
ĐOẠN PHIM QUÝ HIẾM NÀY , CHO CHÚNG TA THẤY RẰNG.  Cuộc trao trả tù binh :
Tuy nhiên, tù binh Việt Cộng đòi tự tử tập thể , vì không muốn về bên trên vĩ tuyến 17 .

https://www.facebook.com/109630030675394/videos/919961531776455

FB: XUYEN MỘC BÌNH
***
CHÊ TRAI VIỆT KHÔNG ĐỦ CHO EM ! 1 NGÀY 3-6 LẦN. AI CHỊU NỔI NHÀO VÔ! XIN MỜI.
Fri., Jul. 24 at 11:18 a.m.
https://www.facebook.com/dao.nguyentho.75/videos/1163442324034671/
***
4- BẢN TIN NÓNG QUANG TRỌNG:

*Quan chức Mỹ tiếp quản Lãnh sự quán Trung Quốc tại Houston
*Đặc vụ FBI đột kích vào ổ gián điệp TC ở Houston
https://www.youtube.com/watch?v=elikoRdSCbw

*TT Trump “dọa” đóng cửa nhiều lãnh sự quán TC
https://www.youtube.com/watch?v=WQuSTfy7yO4

*TC đóng cửa lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành Đô
https://www.youtube.com/watch?v=uImYFpQIJpU

*Các quan chức Mỹ đã tiếp quản lãnh sự quán Trung Quốc tại Houston vào chiều thứ Sáu (24/7) trong vòng chưa đầy 1 tiếng đồng hồ sau thời hạn trục xuất được chính quyền Tổng thống Trump đưa ra vào đầu tuần này với cáo buộc đây là một “ổ gián điệp,” theo tờ Houston Chronicle.
*đồ đạc ra xe tải trước khi LSQ bị buộc đóng cửa (Ảnh: Houston Chronicle)
Theo tường thuật của tờ báo địa phương, vào khoảng 4h40’ chiều giờ địa phương, một nhóm quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ đã vào Lãnh sự quán (LSQ) Trung Quốc ở Houston sau khi phá khóa cửa sau. Trước đó, họ đã thử vào bên trong bằng 3 lối vào khác nhưng không thành công. Sở cứu hoả cũng có mặt. .
Vài phút trước thời hạn đóng cửa, cảnh sát Houston đã dựng rào chắn xung quanh, đồng thời phong toả các con phố gần tòa nhà mà chính phủ Trung Quốc đã chiếm giữ trong bốn thập kỷ qua. Ba chiếc xe tải màu trắng chở đồ của LSQ đã rời khỏi địa điểm này ngay trước thời hạn.
*Quốc huy của Trung Quốc đã bị gỡ (Ảnh: Houston Chronicle)
Xuân Lan (theo Houston Chronicle)
https://m.trithucvn.net/the-gioi/quan-chuc-my-tiep-quan-lanh-su-quan-trung-quoc-tai-houston.html
***
*TS KIM LONG: HỘI TAM ĐIỂM SIÊU QUYỀN LỰC Ở MỸ. THẬT ĐÁNG SỢ!
Hội Tam Điểm Free Mason Hoaky bắt đầu lộ diện. Ám sát gia đình Tòa Liên Bang New York…vụ án Jeffrey Epsein và Bill Clinton , Bill Gates…

English

Translate message
Turn off for: Vietnamese
Ngày 20 / 7 / 2020 tên sát thủ ” Den Hollander ” vừa bị sát thủ ẩn danh khác giết chết , chặt đứt hoàn toàn sự điều tra của FBI tại New Jersey.
Ngày 19 / 7 / 2020 thì tên sát thủ ” Den Hollander ” giả dạng nhân viên giao hàng FedEx đến tận nhà riêng của Bà Tòa Liên Bang- Esther Salas để sát hại toàn gia đình của Bà Tòa nầy tại New Jersey.
Hắn bắn chết đứa con trai độc nhất và chồng bị thương trầm trọng, may mắn cho Bà Tòa là lúc đó Bà đang làm việc dưới hầm nhà , nên thoát chết.
Bà Tòa Esther Salas đang thụ lý hồ sơ rửa tiền của ngân hàng Deutche Bank có liên quan đến những nhân vật vô cùng cao cấp của chính phủ Hoaky , như cựu TT. Bush , cựu TT. Bill Clinton và Jeffrey Epsein ( tỉ phú bị ám sát chết tại nhà tù New York khi bị điều tra , lừng danh về vụ Sex Traficking = Dẩn gái trẻ cho đám Bill Clinton và hoàng tử Anh quốc Andrew …)
Tên dẩn gái Jeffrey Epsein bị điều tra từ nhiều tháng qua , nhưng đám FBI New York không khởi tố Bill Clinton….
Trờ lại vụ án Sex Traficking Jeffrey Epsein bị 2 cô gái trẻ khởi tố mình ra Tòa ( 19 / 11/ 2019 ) về vụ bị hiếp dâm trước đó 4 năm…tại biệt thự riêng ở New Mexico và biệt thư ở Virgin Island ( báo chí gọi là Orgy Island = Ổ quỷ dâm dục ).
Hai cô gái nầy nói ra tên Bill Clinton và hoàng tử Andrew trong vụ dâm dục tập thể nầy tại Orgy Island.
Thế là FBI nhảy vào , đến tận những cơ sở và dinh thự của tên nầy mà thu thập tài liệu ( dĩ nhiên là để xóa những chứng tích có liên quan đến đám Bill Clinton nầy. ).
Nhưng vụ án thưa kiện của các cô gái trẻ ấy về vụ Sex Trafficking ” Jeffrey Epstein ” đã được mật lệnh của ” Deep State ” ra lệnh cho các Tòa án là phải Stop lại , cho chìm xuồng…
Rồi đến vụ Covid-19 bùng nổ tại Hoaky, chết hàng nghìn người , bệnh nặng hàng trăm nghìn người…thì tất cả mọi người đều quên mất vụ án Sex Trafficking nầy.
Nhưng đùng một cái vào ngày 7/ 7 / 2020 , Ngân hàng Đức ” Deutsche Bank ” đồng ý nộp phạt cho cơ quan New York Department of Financial Services $ 150 triệu USD về tội che dấu không báo cáo các vụ chuyển ngân từ tì phú Jeffrey Epstein cho các cô gái trẻ trong dường dây Dâm dục tập thể có liên quan đến Bill Clinton và nhiều tên siêu đại gia thế giới. ( Mặc dầu Ngân Hàng Đức Deutsche Bank ở Frankfurt , nhưng Jeffrey Epstein có tài khoản nầy ở Đức…cho nên ngân hàng ngoại quốc nào có thân chủ là công dân Hoaky hay cư ngụ tại Hoaky , đều phải báo cáo hàng tháng cho chính phủ Hoaky về check ký nhập hay xuất của công dân Hoaky ấy ).
Tỉ phú Jeffrey Epstein dĩ nhiên có nhiều nơi gởi tiền để thanh toán các dịch vụ tài chánh của tập đoàn của mình , có nơi ẩn danh hay chỉ có mật mã bí số, ít người biết…nhưng nếu bị chính phủ Hoaky phát giác ra thì sẽ bị tội rữa tiền lập tức.
Khi ngân hàng Deutsche Bank đồng ý nộp phạt thì cơ quan FBI coi vụ rửa tiền quốc tế của công dân Hoaky hay người ở Hoaky được bật đèn xanh , truy tầm vụ nầy tại sao Ngân hàng Đức lại phạm tội nhỏ nầy.
Nhưng lúc đó FBI lại chụp được một bà môi giới trong dịch vụ Sex Trafficking của Jeffrey Epstein…đó là tú bà ” Ghislane Maxwell”.
FBI truy nả tú bà nầy suốt gần 6 tháng nay.
Tỉ phú Jeffrey Epstein bị bắt giam vào ngày 23/ 7 / 2019 với sự canh phòng nghiêm nhặt nhất trong tù New York ( Metropolitan Correction Center ), vào ngày 25 / 7 / 2019 thì người ta thấy Jeffrey Epstein tự treo cổ nhưng không chết , thế thì ban quản trị tù New York được cảnh báo phài coi chừng tội phạm tự vận lần thứ nhì.
Đến 10 / August / 2019…thì người ta thấy Jeffrey Epstein bị treo cổ chết một cách lạ lùng.
Khi cơ quan FBI điều tra sự kiện nầy….thì các nhân viên coi tù đều khai là không để ý đến vị bận nhiều chuyện khác.
FBI không truy tố các nhân viên coi tù vì tội cẩu thả nầy ( nghĩa là FBI xử cho chìm xuồng sự kiện Jeffrey Epstein tự vận nầy )
Hồ sơ phạm tội về ngân hàng Deutsche Bank được giao cho Bà Tòa Liên Bang – Judge Esther Salas xử án…
Bà Tòa Judge Esther Salas nghĩ rằng mình là người của đám Obama và Clinrton ( Bà được TT. Obama bổ nhiệm vời sự tiến cử của Bà Hillary Clinton , trước đó Bà là cố vấn luật pháp trong ban tái ứng cử của Obama – Bà là người da mầu ” Afraican American ).
Cho nên Bà Tòa suy nghĩ là mình ở vào phe Bill Clinton + Obama thì không ai dám đụng đến mình.
Thật sự khi Bà Tòa nhận nhiệm vụ điều tra ngân hàng Đức quốc là Bà nghĩ đến xem coi có TT. Donald Trump có dính líu đến tiền bạc trong ngân hàng Đức nầy hay không …vì báo chí lưu manh ( CNN , Wall Street Journal , NBC…) đều nhỏ to là chắc chắn TT. Trump sẽ dính chấu với ngân hàng Deustche Bank nầy.
Nhưng Bà Tòa Judge Esther Salas đụng đến Vương triều Quỷ Dử ” Dark Empire ” nầy…
Dĩ nhiên Dark Empire nầy không cảnh báo một tí gì để cho Bà Tòa đề phòng hay giao hồ sơ cho người khác …
Dark Empire giao sát thủ quốc tế ” Den Hollander ” đến tận nhà của Bà vào ngày chủ nhật , mọi người đều ở nhà đầy đũ. ( Chỉ cần nghe tên Hollander là chúng ta biết tên nầy là người Hòa Lan = Hollande quốc tế rồi ).
Quả thật Bà nhận nhiệm vụ điều tra vụ rửa tiền quốc tế của Ngân hàng lớn nhất nhì Âu Châu – Deutsche Bank , mà Bà nghi rằng sẽ có hơi hám mà tập đoàn Dark Empire thù oán nhất…Bà nghĩ rằng sẽ có dính líu đến TT. Donal Trump.
Bà Tòa Judge Esther Salas đâu có biết đến lịch sử 2 người nầy.
1.- Nữ tội nhân – Tú Bà Ghislane Maxwell là con gái độc nhất của tên trùm xã hội đen Robert Maxwell ( tên nầy gốc người Czechoslovakia , quen thân với tỉ phú Geoger Soros . George Soros đã bỏ gần 800 triệu USD để hạ bệ TT. Donald Trump cho bằng được…vì nếu để yên Donald Trump thì trước sau gì tên George Soros cũng sẽ bị vào tủ Liên bang Hoaky vì nhiều tội tày trời ).
Robert Maxwell từng là nghị viên quốc hội Anh. Giàu có gần đến tỉ phú , tên nầy làm chủ 4 hệ thống truyền thông lớn nhất nhì Anh quốc ( MacMillan Publisher , British Printing Corporation , Mirror Group Newspaper , VHS Maxwell tape …)
Robert Maxwell từng làm việc cho cơ quan M16 United Kingdom chuyên về khối Varsovie ( Ba Lan )…
Khi Ba Lan được thoát khỏi tay Nga Sô Cộng Sàn…thì hầu như tất cả vàng khối dự trử của Ngân hàng Polan lớn nhất nước ( PKO Bank Polski ) đều biến mất.

Queen Elizabeth , Robert Maxwell và con gái Ghislane Maxwell .

Khi Lech Wasela trở thành Tổng thống đầu tiên của Ba Lan , thì Lech Wasela có nghi vấn đến Robert Maxwell và cơ quan tình báo Anh quốc M16 về số vàng khối khổng lồ nầy biến mất bí mật…

Lech Wasela trước dân chúng Ba Lan ủng hộ mình, lật đỗ chính quyền Ba Lan Cộng sản.

*** Dĩ nhiên lá bài chánh phải bị triệt tiêu.
Trên du thuyền riêng của mình…gồm toàn cận vệ riêng…
Gần đảo Canary Island…thủy thủ trên du thuyền riêng, báo cáo với chính quyền sở tại Spain là ông chủ mình biến mất trên du thuyền vào đêm mua gió khi thuyền gần đến đảo Canary island.
Ian Robert Maxwell chết nổi trôi vào ngày 5 / Nov / 1991. Gia tài di chúc cho con gái độc nhất là ” Ghislane Maxwell.
Vì từng quen biết với hoàng gia Anh quốc..cho nên khi Tú Bà Ghsilane Maxwell trong đường dây International Sex Trafficking có liên quan đến hoàng tử chịu chơi là Andrew thì không phài là chuyện lạ gì.

Prince Andrew , teen girl and Ghislane Maxwell.

2.- Tên sát thủ ” Den Hollnader ” từng làm việc cho cơ quan tư vấn luật pháp của Bush Family , sau nầy của Thống đốc Arkansas Bill Clinton.
Tên sát thủ Den Hollander làm trong cơ quan tư vấn luật pháp ” Kroll Associates ” ( Kroll Associates là nhánh phụ của cơ quan hổn hợp tình báo CIA + Mossad Israel + M16 Britain + Interpol Belgium. )
Đại gia tộc Bush Family nầy có chân trong Ban Quản Trị ” Kroll Associates ” liên quan đến Iraq War sau nầy . Sau khi TT. Bush chiếm xứ Iraq xong…thì Bush Family rồi tập đoàn tư vấn ” Kroll Associaates ” , chuyển dịch vụ sang cho Thống đốc Arkansas Bill Clinton…
Rồi từ ghế Thống đốc Arkansas – William Jefferson Clinton bước vào Tòa Nhà Trắng ( White House ) một cách ngang nhiên.
Tập đoàn tư vấn mọi chuyện ” Kroll Associates ” bắt tay với tỉ phú Jeffrey Epstein , chuyên lo dịch vụ chuyển ngân của Jeffrey Epstein với Big Bank ” Deutsche Bank ” sau nầy.
Nên nhớ tập đoàn Tư Vấn Mọi Chuyện ” Kroll Associates ” hiểu biết mọi chuyện về tài sản riêng của nhà độc tài Saddam Hussein biến mất dưới tay Tổng thống George W. Bush trong chiến tranh Iraq War do đám Bush Family chủ động đánh chiếm xứ Iraq bằng mọi lý do , mọi phương tiện.

President Saddam Hussein of Iraq.
***
Theo tin riêng của nhật báo The Guardian Anh quốc , thì tài sản riêng của nhà độc tài Saddam Hussein hơn tài sản của Vua Ả Rập Saudi gấp 2 lần.
Vua Ả rập Saudi bán dầu hỏa từ lòng đất của mình, thì tiền bán dầu phài chia gần 57 % cho các tập đoàn dầu khí quốc tế như : Shell Inc , Mobil Exxon Inc , Arap Oil Inc…vì máy móc , nhân viên gia công đào giếng dầu nầy…
Còn Tổng thống Saddam Hussein thì tiền dầu bán được vào túi mình hết 70 % .
Cho nên nhật báo The Guardian Newspaper cho biết số vàng ròng của TT. Saddam Hussein lớn gấp 2 làn số vàng tài sản của Vua Arap Saudi.
Kẻ chỉ dẩn đi tịch thu kho vàng của Saddam Hussein không ai khác hơn là Phó Tổng thống Dick Cheney .
Trước khi làm Phó Tổng thống cho George W. Bush , thì tên nầy làm CEO cho tập đoàn dịch vụ dầu khí lớn nhất nhì thế giới , đó là tập đoàn ” Halliburton Company , bàn tay lông lá của tập đoàn dịch vụ dầu khí Halliburton Company có mặt trên 20 quốc gia có dầu khí sản xuất.

Halliburton trúng mánh lớn nhất trong dịch vụ dầu khí tại Iraq.

Dick Cheney chủ mưu vụ tấn công Tổng thống Iraq – Saddam Hussein – tài sản riêng của nhà độc tài nầy trên $ 250 tỉ USD có được từ hàng chục năm là của nhà độc tài xứ Iraq…
Sau khi TT Geroge W.Bush chỉ huy tấn công , sinh mạng dân Iraq và lính chiến Hoaky …chết chết…hàng chục chục nghìn nhân mạng…để chiếm cho được xứ Iraq để treo cổ nhà độc tài Saddam Hussein….thì số tài sản ước tính trên $ 250 tỉ USD biến mất trong bàn tay phù thủy của cựu CEO Halliburton Company và TT. George W. Bush.

Kết Luận :
Cho nên một chuyện nhỏ là vài cô gái vị thành niên khai trước tòa là tỉ phú Jeffrey Epsein dùng tiền mua chuộc thân xác mình cho các đại siêu gia đình mua vui…thì lòi ra nhiều chuyện quan trọng…là tập đoàn Bush Family đã cướp trên dưới chục tỉ USD của TT. Saddam Hussein làm của riêng cho Bush Family và Dark Empire…
Cho nên khi TT. George W. Bush mãn nhiệm kỳ 2 lần làm Tổng thống Hoaky…thì Bush con được một hội đoàn nào đó tặng tiền trên $ 300 triệu USD…để Bush con xây Bảo Tàng Viện ” Bush Library and Bush Museum ” tại Dalas Texas…
Bởi vậy chúng ta không ngạc nhiên khi Bush Family và Dick Cheney Family ra mặt chống TT. Donald Trump từ ngày đầu tranh cử Tổng thống.
Đám các quỷ Dark Empire nầy sợ Tt. Donald Trump khui hụi vụ ăn cướp tài sản của TT. Saddam Hussein lên đến trên dưới $ 250 tỉ USD…
Một chia cho ” Dark Empire ” , một chia cho gia tộc ăn cướp Geoge Bush Family Clan…

Bush Library and Bush Family include 8 buildings around area. Dalas Texas.
Kỳ tới chúng tôi sẽ nói đến chủ sự đảng Iluminati hay Free Manson Organization bí mật…hay gọi là nhóm Tam Điểm…
Bạn nên tìm đọc sách của nữ Tiến sỉ Pháp ” Trần Thị Thu Dung “…” Sự Hiện Diện Của Thành Viên Tam Điểm Tại Việt Nam “.

Bà tiến sỉ văn chương Paris nầy có lẽ là tín đồ của Hội Tam Điểm Pháp.
Bà cho biết đạo Cao Đài Tây Ninh là 99 % do Hội Tam Điểm xây dựng nên…
Và Bà ám chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh từng là hội viên Hội Tam Điểm Pháp, trước khi gia nhập đàng Cộng Sản Nga…
Cho nên khi Hồ Chí Minh bị Pháp bắt tại Hongkong…thì Hội Tam Điểm cho một người Tàu Hongkong , giống y tướng tá Hồ Chí Minh…để giải thoát cho Hồ Chí Minh về lại Bắc Việt.
Người Tàu nầy có tên Vương Súng Chính..Vương Thoong Minh… gì gì đó..làm cho tụi Cần Lao Ngô Đình Diệm ra sách sử… cho rằng Hồ Chí Minh chính là người Tàu 100 %…còn Hồ Chí Minh thật thì chết từ lâu tại Nga Sô…ngu gì ngu quá ngu vậy ta ?
Còn tên tỉ phú Sex Trafficking Jeffrey Epstein là đạo trưởng Hội Free Mason Associates tại Hoaky…các thành viên Hội Tam Điểm Free Mason Associates là tụi Bill Clinton và Hoàng tử Andrew , cựu Thủ tướng Anh Tony Blair, Bill Gates…
Hội nầy nằm trong ” Dark Empire ” ( Vương Triều Ác Quỷ )

Bill Clinton đang chuẩn bị làm Lễ Hiến Trinh Tập Thể tại Orgy Island ( Virgin Island gần Bahamas Islands ) của đạo trường Free Mason – Jeffrey Epstein,,,

*TS KIM LONG
***
** Ý kiến của Học giả Huỳnh Văn Lang về Tổng Thống Donald John Trump với Nhiệm kỳ thứ 2. & Ông Trump đang thực hiện đúng lời dặn của Vị Cha lập quốc?E-mail của Học Giả Huỳnh Văn Lang gởi Bác Sĩ Nguyễn Thượng Vũ,
ý kiến của Học giả về Tổng Thống Donald John Trump với Nhiệm kỳ thứ 2.

2.- Bài viết, không biết tên tác giả: Ông Trump đang thực hiện đúng lời dặn của Vị Cha lập quốc?

email của Học Giả Huỳnh Văn Lang, TT Trump với nhiệm kỳ 2.

Thưa các anh chị

Cách đây 2 ngày, anh học giả Huỳnh Văn Lang có điện thoại cho tôi. Hai anh em nói đủ các thứ chuyện với nhau. Mỗi lần anh học giả Huỳnh Văn Lang kêu tôi thì tôi rất vui mừng, vì anh Lang có khỏe thì mới điện thoại được,

Anh Huỳnh Văn Lang cùng tuổi với chị cả của tôi, anh năm nay 97 tuổi, còn chị cả của tôi qua đời được 2 năm nay rồi.
Anh Học Giả Huỳnh Văn Lang có bàn về TT Trump mà anh vô cùng kính phục.
Tôi có yêu cầu anh Lang viết cho tôi cảm tưởng của anh về TT Trump và ngày hôm nay, tôi nhận được email này và xin chuyển lại các anh chị để kính tường.
Tôi xưa nay hay gọi anh học giả Huỳnh Văn Lang là le Grand Manitou vì có 1 thời anh nắm rất nhiều quyền hành trong đệ nhất Cộng Hòa Miền Nam.
Merci anh Lang. Je t’embrasse bien fort

Nguyen Thuong Vu

Tổng Thống Donald Trump với nhiệm kỳ 2.

a) Hầu hết trong các cuộc chạy đua vào nhà trắng, chính thành phần Đa số Thầm lặng (30-40%dân số) nầy định đoạt ai thắng ai thua, như kỳ 2016 và kỳ 2020 nầy càng quan trọng hơn.

Dân Chủ sai lầm hoàn toàn khi miệt thị phe Trump toàn là thất học, nghèo đói…

Sự thật lại khác, họ có rất nhiều người trí thức rất sáng suốt, cũng là những người biết yêu nước Mỹ với những giá trị văn hóa Kitô giáo của nó và nhận thức được cái thảm họa đang đe dọa cho sự sống còn cho nền văn minh nhân bản của Mỹ, đó là đảng CSTC.

Từ hơn 50 năm nay Đảng CS Trung hoa Hán tộc đã mưu đồ chinh phục nhân loại về một mối, mà nước Mỹ nầy là trở ngại chánh cần phải tiêu diệt trước bằng mọi cách mọi thủ đoạn..

b) Ngày 15 tháng 4, 2009, tham mưu của TCB là tướng Trì hạo Điền trong 1 hội thảo về chiến lược chiến tranh có hớ như sau: Đánh Mỹ với giặc qui ước thi thua thôi, giặc nguyên tử thi chết cả đám, chỉ giặc hóa học (vi trùng, vi khuẩn) là thắng được.

Giết được 1/2 dân Mỹ rồi thi di dân qua choán chỗ. Và lần lần choán hết, thanh lập 1 TQ thứ 2…và từ đó sẽ xăm chiếm cả thế giới một cách dễ dàng hơn!

Cho nên chúng ta có thể qủa quyết: dich virus Corana 19 nầy là một khí giới của đảng CSTC sản xuất ra và dùng để đánh Mỹ trong đợt đầu…chỉ có vậy thôi và TC đã nắm được yếu tố “bất thần”, nhưng may mà không hoàn toàn.

c) Chúng tôi ủng hộ TT Trump vì nhận thấy ông là một nhà Đại Ái quốc, ý thức rõ ràng TC là hiểm họa tày trời cho nước và dân của ông và ông quyết tâm chận đứng và tiêu diệt mối hiểm họa nầy cho kỳ được.
Ông có đủ bản lãnh và uy lực để lãnh đao liên minh chống TC.

Đang khi đó thi Dân Chủ từ Clinton đến Obama đều ngu ngơ chẳng những không ý thức đâu là hiểm họa, mà còn ăn nằm với kẻ thù là khác, cứ hỏi họ đi (Clinton, Bush, Obama, Pelosi, Biden…).

Chúng tôi tin TT Trump là người có đủ tài đức để lãnh đạo trận chiến nầy.

Tài thì xem những thành quả 4 năm của ông thì rõ, không thể phủ nhận được, trừ phi không có cái đầu, mà cũng không có trái tim.

Còn đức thi theo chúng tôi TT Trump có thừa.
Vốn trong chánh trường, cái nghiệp cai trị dân..theo chúng tôi cái đức cao qui nhứt, cần thiết nhứt…. không cần phải (còn trinh, láo) như HCM, hay độc thân như Hitler, Có bằng TS như TT Wilson kỹ sư như TT Carter… mà là Yêu Nước!

Chinh cái đức Yêu Nước vĩ đại nầy đã giúp chúng tôi tha thứ tất cả những thiếu sót của ông, và cũng chinh vì quan niệm cái đức nầy mà chúng tôi triệt để không chấp nhận đảng DC khi nó chuyển về Tam Vô (vô gia đình, vô tín ngưỡng, vô tổ quốc) của Karl Marx, một cái đảng không yêu nước đi đến chỗ bán nước.

Ngoài ra đảng DC còn cập kè, nếu không nói là ăn nằm với BLM… để tàn phá các giá trị văn hóa truyền thống của tổ tiên ông bà để lại, trong đó có cả tin ngưỡng Kito giáo của chúng ta.

Thân thương !
HVL
***
*TIN NÓNG HỔI VỀ TCB

Từ nay về sau giới chức Hoa Kỳ sẽ không gọi Tập Cận Bình là Chủ tịch / Tổng thống..mà chỉ gọi và xem Tập Cân Bình như là một tên Tổng Thư Ký của đảng cộng sản tầu….

US officials now call Xi Jinping ‘general secretary’ instead of China’s ‘president’ – but why?
• The deliberate change could be an effort to delegitimise Xi’s rule, drive a wedge between party and populace and evoke a Cold War-era feel
• Secretary of State Mike Pompeo takes the lead in adopting the new description, and FBI Director Christopher Wray and Attorney General William Barr follow suit
The State Department did not respond to a request to explain the recent change in US officials’ descriptions of Xi, saying only in a statement that “the
People’s Republic of China is an authoritarian regime run by the Chinese Communist Party and Xi Jinping is the General Secretary of the Party”.

Owen Churchill in Washington, DC
Published: 4:18am, 25 Jul, 2020

Bây giờ các viên chức Hoa Kỳ gọi ông Tập Cận Bình là tổng thư ký thay vì Chủ tịch / Tổng thống Trung cộng – nhưng tại sao?
Sự thay đổi có thể là chủ ý để giảm thiểu quyền lực cai trị của Tập Cân Bình, tạo nên sự khác biệt giữa chính quyền và nhân dân, và dấy lên cảm nhận thời Chiến tranh Lạnh
• Ngoại trưởng Mike Pompeo dẫn đầu trong việc dùng danh xứng mới với Tập Cận Bình, và tiếp theo là Giám đốc FBI Christopher Wray, và sau đó là Bọ trưởng Tư Pháp William Barr.

** Bộ ngoại giao Hoa Kỳ không cho biết lý do tại sao thay đổi cách gọi Tập Cận Bình…
Chỉ nói rằng Trung cộng bị cai trị bởi đảng cộng sản và Tập Cân Bình là Tổng thư ký của đảng cộng sản tầu…
.

https://www.scmp.com/news/world/united-states-canada/article/3094669/us-officials-switch-calling-chinas-xi-jinping

China accuses US of ‘petty tricks’ and ‘Cold War mindset’ after Pompeo’s speech

Pompeo says the country’s new strategy with China is ‘distrust and verify’

Trung cộng lên án Hoa Kỳ dùng ‘những thủ đoạn không đáng’ và ‘tư tưởng chiến tranh lạnh’ sau bài phát biểu ( nẩy lửa ) của Ngoại trưởng Mike Pompeo
Ông Pompeo nói rằng chiến lược mới của đất nước với Trung cộng là “ mất lòng tin và xác nhận “
By Caitlin McFall | Fox News

https://www.foxnews.com/us/china-us-petty-tricks-cold-war-pompeos-speech
***

** Dự Luật mới của Tổng thống trong việc cải cách Quốc Hội
Mời quý vị đọc và phổ biến để mọi người thấy vì sao họ quyết tâm loại bỏ ông Trump, vì sao mà họ quyết tâm dành cho được các chức vụ béo bở này. Trong khi đó thử hỏi trong 3 năm qua họ đã làm gì cho đất nước này, ngoại trừ đấu đá nhau vì phe nhóm.

P. Hạnh

Dự Luật mới của Tổng thống trong việc cải cách Quốc Hội

Tổng thống dự trù chấm dứt các đặc quyền kinh khủng của các nghị sĩ và dân biểu quốc hội.

Một năm có 365 ngày, nhưng các thành viên quốc hội chỉ làm việc có 111- 145 ngày; có nghĩa là họ được hưởng hơn 220 ngày nghỉ hè hàng năm!

Hầu hết các chuyến bay từ tiểu bang của họ đến thủ đô D.C. đều được tiền thuế của dân chi trả.

Trong năm 2016, phí tổn tiền vé máy bay cho các thành viên quốc hội ngốn hết 14.7 triệu đô la tiền dân đóng thuế!

Rất nhiều thành viên quộc hội sắp về hưu với hy vọng nắm chắc trong tay khoản tiền hưu trí cho tương lai. Hiện nay, những tấm chi phiếu lương hưu của họ bằng với mức lương làm việc mỗi tháng.

Họ muốn giữ y nguyên quyền lợi hưu bổng của họ như hiện tại đang có.

Tổng thống Trump yêu cầu mỗi người chúng ta chuyển tiếp email này cho ít nhất là 20 người và yêu cầu các bạn đó tiếp tục chuyển đi cho những người khác.

Điều hợp lý mà chúng ta đang làm rất cần được chia sẻ rộng rãi.

Trong vòng 3 ngày, nếu ai cũng làm vậy thì cả nước Mỹ sẽ biết được thông điệp này. Bởi thế nên chúng ta cần làm ngay, bất kể bạn thuộc đảng phái nào.
Dự Luật mới của Tổng thống trong việc cải cách Quốc Hội:

Điều 1: Không nhiệm kỳ- Không lương hưu!

Các thành viên quốc hội, dù nam hay nữ, chỉ được lãnh lương khi đang làm việc, và chấm dứt lãnh tiền khi rời chức vụ; không kèm thêm đặc quyền nào khác! (Mức lương của hầu hết các thành viên quốc hội hiện nay là $174,000/năm.. Chủ tịch Hạ viện là $223,500).

Điều 2: Các thành viên quốc hội (trong quá khứ, hiện nay, hoặc trong tương lai) phải tham gia đóng góp vào quỹ An Sinh Xã Hội.

Tất cả các quỹ về hưu của các thành viên quốc hội phải lập tức chuyển ngay vào quỹ An Sinh Xã Hội.

Các quỹ trong tương lai cũng sẽ được chuyển vào quỹ An Sinh Xã Hội, và các thành viên quốc Hội cũng phải tham gia y như những Người Dân Hoa Kỳ; không thể dùng quỹ này cho các mục đích nào khác!

Điều 3: Quốc Hội cũng phải tự mua chương trình hưu trí của họ y hệt như mọi người dân Hoa Kỳ.

Điều 4: Quốc Hội không được quyền tự mình bầu cho mình được tăng lương. Lương bổng của quốc hội sẽ chỉ tăng theo mức thấp của Chỉ số tiêu thụ hoặc 3%.

Điều 5: Chương trình bảo hiểm sức khỏe hiện nay của quốc hội phải chấm dứt, và họ phải tham gia chương trình y tế giống như toàn dân. (Chương trình bảo hiểm y tế của họ hiện nay là tuyệt vời nhất; chẳng hạn như họ được miễn phí các phòng tập gyms có phòng tắm hơi, hồ bơi có sưởi ấm, màn ảnh rộng, sân chơi bóng rổ.. Họ có thể để dành cả ngàn đồng mỗi năm, tất cả đều do tiền đóng thuế của dân chi trả)!

Điều 6: Quốc Hội phải tuân thủ đúng các luật như họ đã đặt ra cho toàn dân tuân theo.
Điểu 7: Tất cả những hợp đồng trong quá khứ cũng như hiện nay của các thành viên quốc hội sẽ được xoá bỏ.
Toàn dân Hoa Kỳ không hề ký những thoả thuận này với các thành viên quốc hội. Chính các thành viên Quốc Hội tự thành lập các bản thoả thuận này cho chính họ.

Phục vụ trong quốc Hội là một vinh dự, không phải là một sự nghiệp. Cha Ông ta đã hình dung ra các công dân làm ra luật pháp chỉ đơn thuần phục vũ trong các nhiệm kỳ của họ, sau đó trở về nhà và đi làm lại như bình thường, không phải để nhận đủ thứ các khoản miễn phí!

Các khoản này bao gồm miễn phí tiền học.

Hèn chi mà họ đổ hết xương máu để dành giật cho bằng được!
***
*BLM: Xin mời theo dõi toàn văn bản tin ở dưới để tường…
*Xin mời theo dõi toàn văn bản tin ở dưới để tường…và tùy nghi thẩm định…Ohio man, 20, is arrested for ‘kneeling on a crying child’s neck’ in social media photo with the caption ‘BLM’ in scenes reminiscent of George Floyd’s killing
• Isaiah Jackson, 20, of Clark County, Ohio, was pictured pressing his knee against a crying child’s neck in a social media post that evokes George Floyd’s killing
• The picture which circulated online had the caption ‘BLM now MF’, in a reference to the Black Lives Matter Movement
• Jackson was located by cops Tuesday and held on a parole violation while facing possible felony charges for the image, prosecutors said
• The unidentified child, who has their arms held by a second person, was taken to a hospital and found not injured
By Ralph R. Ortega For Dailymail.com
Published: 11:46 EDT, 23 July 2020 | Updated: 12:21 EDT, 23 July 2020

https://www.dailymail.co.uk/news/article-8553121/Man-20-presses-knee-against-young-childs-neck-photo-posted-online-evoking-George-Floyd-slaying.html

A 20-year-old Ohio man has been arrested after he was pictured pressing his knee against a crying child’s neck in a scene that evokes the slaying of George Floyd in Minneapolis.
Isaiah Jackson was taken into custody by the Clark County Sheriff’s Office on a parole violation this week and is facing possible felony charges for the image which circulated on social media with a caption ‘BLM now MF’, in a reference to the Black Lives Matter Movement.
Investigators located Jackson Tuesday after they said they were notified about the image circulating online.
***
* Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe
*Chân dung Danh y Hoa Đà
Danh y Hoa Đà là 1 trong 4 nhân vật nổi tiếng nhất trong ngành Đông y TQ. 38 bí quyết này từng được xem là “phương châm sống thọ” của rất nhiều người. Bạn có thể tham khảo áp dụng.
· Muốn sống khỏe mạnh thì phải dựa vào dưỡng sinh
Danh y Hoa Đà (145 – 208) là một thầy thuốc nổi tiếng thời cuối Đông Hán và đầu thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Ông được xưng tụng như một Thần y nổi tiếng không chỉ ở nội bộ đất nước Trung Quốc mà còn được biết đến rất nhiều trong các nước đồng văn hóa như Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, được xem là một trong những ông tổ của Đông Y.
Ông cùng Đổng Phụng và Trương Trọng Cảnh được xưng tụng làm Kiến An tam Thần y, đồng thời cùng với Biển Thước, Trương Trọng Cảnh và Lý Thời Trân được xem là 4 vị đại danh y nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc nói riêng và các nước có nền Đông y phát triển nói chung.
Sau đây là 38 lời dạy của Hoa Đà về sức khỏe và dưỡng sinh, được người xưa coi là “bí quyết vàng”. Nếu làm được, bạn sẽ hạn chế được bệnh tật phát sinh, cơ thể khỏe mạnh và tuổi thọ được kéo dài.
1, Tỏi là một kho báu quý giá, ăn chúng thường xuyên sẽ rất tốt sức khỏe.
2, Mỗi ngày ăn 2 quả táo, bệnh tật trong cơ thể sẽ không tìm đến bạn.
3, Mỗi ngày ăn một quả táo tàu, trường sinh bất lão không phải là chuyện xa vời.
4, Quả óc chó giống như một kho báu của núi rừng, ăn vào vừa bổ thận, vừa tốt cho não
5, Sắt không nấu chảy không thành thép, người không chăm sóc sức khỏe thì không thể khỏe mạnh
6, Cà rốt chính là “tiểu nhân sâm”, ăn thường xuyên sẽ có tinh thần và thể lực tốt.
7, Cà chua là trái cây có dinh dưỡng tốt, ăn vào sẽ trẻ đẹp và ít bệnh.
8, Dưa chuột nhỏ là một kho báu cho sức khỏe, ăn hàng ngày có thể giúp giảm cân và dưỡng nhan rất tốt.
9, Ăn cần tây nhiều hơn mà không cần hỏi lý do, vì đây là thực phẩm hạ huyết áp rất hữu ích.
10, Hành lá chấm nước sốt, càng ăn càng béo.
11, Ăn một bát cháo đậu xanh vào mùa hè, là một bài “thuốc tiên” trong việc giải độc, thanh nhiệt, giảm nóng.
12, Buổi sáng ăn 3 lát gừng, tốt như việc uống canh nhân sâm.
13, Phụ nữ nên ăn ngó sen 3 ngày liên tiếp, nam giới nên ăn gừng 3 ngày liên tiếp.
14, Ba ngày không ăn thực phẩm màu xanh lá cây, hai mắt sẽ vàng đi.
15, Thà ăn cơm không có thịt, nhất định không được ăn cơm mà không có canh.
16, Ăn canh trước bữa ăn, tốt hơn so với uống thuốc.

17, Ăn mì/miến nên ăn nhiều nước, để tránh việc (bác sĩ) phải khai đơn thuốc.
18, Buổi sáng ăn muối thì tốt, buổi tối ăn muối thì độc.
19, Thà thừa đồ ăn trong nồi, còn hơn tích đầy thức ăn trong dạ dày.
20, Mỗi bữa ăn nhịn đi một miếng (ý nói ăn ít) thì có thể sống đến 99 tuổi (ý nói sống thọ).
21, Thường xuyên ăn thực phẩm chay, giống như thường xuyên chăm sóc cái bụng của bạn (tốt cho đường tiêu hóa).
22, Thà không có thịt để ăn, chứ không thể thiếu đậu để ăn (ăn đậu tốt hơn ăn thịt).
23, Ăn cơm cho chút đường, vừa giàu dinh dưỡng vừa tốt cho sức khỏe.
24, Phải ăn sáng cho tốt, ăn trưa cho no, ăn tối cho khéo.
25, Ăn quá nhiều sẽ bị bệnh, ăn uống đúng mức, đúng giờ, đúng tiêu chuẩn thì sẽ an toàn sức khỏe.
26, Ăn uống vội vàng, nuốt thức ăn thô (không nhai kỹ) thì sẽ làm tổn thương dạ dày, gây hại đường ruột.
27, Nếu bạn muốn khỏe mạnh, thức ăn nên được nhai thành bột giấy (ăn chậm nhai kỹ trước khi nuốt).
28, Nếu bạn muốn bách bệnh tiêu tan, nên ăn uống để đói 3 phần (ý khuyên ăn no 70% nhu cầu).
29, Cứ để nước mắt chảy, bệnh tự nhiên sẽ giảm nhẹ (ý nói về tác dụng của khóc, không nên kìm nén cảm xúc).
30, Bậc trượng phu cũng có lúc phải rơi nước mắt, anh hùng bị chảy máu cũng phải rơi lệ (ý nói không nên kìm nén đau đớn, ngăn chặn cảm xúc tự nhiên).
31, Trong giấc ngủ, nên để cho trái tim ngủ trước, đôi mắt ngủ sau (thư giãn tinh thần trước khi ngủ).
32, Dùng thuốc bổ hay thực phẩm bổ, cũng không bằng việc làm cho trái tim khỏe.
33, Cơm chăm sóc cơ thể, âm nhạc lời ca chăm sóc trái tim và tâm hồn.
34, Mang trong mình một trái tim trẻ trung, cả đời bạn sẽ không biết đến sự già nua. Tâm hồn vui vẻ thì nhan sắc thanh xuân.
35, Một nụ cười có thể trẻ ra 10 tuổi.
36, Mỗi ngày cười 3 lần, khó khăn nào cũng qua, tuổi già sẽ chậm đến.
37, Thường xuyên mở miệng cười tươi, thanh xuân luôn tồn tại trên khuôn mặt bạn.
38, Một tiếng kêu khóc sẽ giúp bạn loại bỏ u sầu.
Trên đây là những lời khuyên của Danh y Hoa Đà dành cho người dân cách đây đã hơn 18 thế kỷ, tuy nhiên cho đến nay, hầu như chúng vẫn còn giá trị khoa học và ứng dụng rất cao. Nếu cảm thấy bổ ích, hãy chia sẻ cho bạn bè của bạn cùng tham khảo.
***
*Hà Nội: Cô dâu tuyên bố ly hôn trong ngày cưới vì cỗ của nhà trai toàn thịt chó
Hà Nội LY HON NGAY CUOI Cặp đôi quen nhau, yêu nhau và quyết định làm đám cưới chỉ sau vài tháng quen biết. Đến ngày cưới, nhà trai chuẩn bị tiệc cưới toàn bằng thịt chó. Chứng kiến sự việc, cô dâu đã rất sốc và tuyên bố ly hôn trong ngày cưới.
***
***
**CHUYỆN HAY CHỌN LỌC:

*VĨNH KHANH: CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT TRONG GIA ĐÌNH TÔI
– Vĩnh Khanh

Má tôi phải nói là một người rất ghét chuyện đồng bóng, ma quỷ, bói toán… như vậy mà chuyện lại xảy ra ngay vào Má tôi. Tôi có một đứa em ruột, nếu nói theo kiểu người miền Nam, là cô em thứ Tư trong gia đình, chết đúng vào năm 12 tuổi. Lạ một điều là ngày chết của cô ấy so sánh với ngày, giờ năm sinh là vừa tròn một con Giáp, không thừa thiếu chút nào. Sau khi cô ấy chết được mấy năm, bỗng tự nhiên trở về nhập qua xác của Má tôi làm cho mọi người trong nhà hết hồn, nhưng sau nhiều lần như vậy dần dần gia đình cũng quen đi và không còn sợ nữa. Khi về cô cho biết là một nhân vật ở cõi trên (có chức sắc và danh hiệuả đàng hoàng, nhưng tôi không muốn nêu lên đây). Cô ta cho biết vì có nhân duyên nên đã đầu thái vào trong gia đình chúng tôi… sau khi ở đúng một con Giáp (12 năm) thì hết nhân duyên nên về lại cõi trên… Nay vì muốn tạo phước cho bá tánh nên về lại trần gian, mượn thân xác của Má tôi để cứu người đời…Tôi còn nhớ, mỗi lần về như vậy, cô bảo đốt cho cô nguyên một bó nhang lửa cháy đỏ hừng hực, rồi cầm bó nhang đang cháy vuốt qua lại trên tay, trên mặt (dĩ nhiên qua thân xác của Má tôi lúc đó, vậy mà sau khi cô ta xuất đi, Má tôi không bị một chút phỏng, hoặc thương tích gì hết)…. Ban đầu cô chỉ giúp người nhà chữa bệnh, mà điển hình đầu tiên là chữa bệnh tim cho Má tôi. Má tôi có bệnh tim rất nặng, đi bác sĩ nào cũng đều bó tay. Bệnh tim của Má tôi nặng đến nổi chỉ cần có một người nào đó nói hơi lớn tiếng một chút, hoặc giả ai làm rớt bể một vật gì ngay bên cạnh, là đủ để bà ta xỉu rồi. Các bác sỉ chẩn bệnh cho Má tôi bảo rằng bà không thể sống quá một năm, nếu không được thay tim. Năm đó là năm 1969, gia đình tôi đang ở Nha Trang… vậy mà từ đó đến nay đã hơn 35 năm, sau khi cô em tôi về chữa cho Má tôi, bà vẫn còn sống…

Cô em tôi về chỉ dùng nhang khoáng vào ly nước lạnh và dặn sau khi cô ta xuất đi khỏi xác của Má tôi thì cho Má tôi uống liền… làm như vậy vài lần, đồng thời cô ta dặn người nhà đi ra đồng, kiếm giây chùm bao, nhổ cả thân, rể, lá mang về xắt nhỏ ra rồi đem phơi khô, sau đó nấu nước uống thay cho nước trà mỗi ngày… Ở nhà làm đúng như cô dặn, sau một thời gian bệnh tim của Má tôi không hiểu tại sao gần như không còn hoành hành Má tôi nữa, các bác sĩ khám lại cho bà cũng rất là ngạc nhiên, vì chính các vị này trước đây đã từng chẩn đoán cho Má tôi và kết luận rằng Má tôi sẽ không thể nào qua khỏi nếu không được thay tim… dần dần hàng xóm láng giềng biết được, kéo sang nhà van vái cầu xin cô em tôi về để chữa bệnh.

Cả gia đình lúc bấy giờ thật là rầu, cứ chiều chiều sau khi cơm nước xong thì hàng xóm và ngay cả những người ở thật xa nghe đồn, đã đến chật hết cả nhà… Ba Má tôi và anh em chúng tôi không muốn bị quấy rầy không khí gia đình sau một ngày làm việc vất vả… vì bà con cứ đến hàng ngày như vậy chịu sao nổi, một khi cô em tôi nhập về thì cũng phải hết mấy tiếng đồng hồ, bữa nào cũng khuya trờ khuya trật mới đi ngủ được… nhưng nghe bà con than van, cầu khẩn quá, Má tôi không còn biết làm sao hơn, đành phải cho họ vô nhà. Đôi khi chịu hết nổi, Ba Má tôi phải thắp hương cầu xin cô em tôi đừng về nữa, nhưng cô ấy vẫn cứ nhập về hoài và chữa bệnh cho không biết bao nhiêu là bệnh nhân, chỉ bằng vào phương pháp đơn giản dùng nhang khoáng vào ly nước lạnh hoặc vào các cây cỏ tầm thường… vậy mà hầu hết các bệnh nhân đều khỏi cả mới là lạ và tuyệt đối không lấy của ai một đồng bạc nào… cũng có nhiều người để tiền lại, nhưng cô em tôi la hét dữ lắm và bắt cầm tiền lại hết. Khoảng năm 1969, 1970 gia đình tôi ở đường Hùng Vương, Nha Trang rất nổi tiếng về chuyện này.

Sau đó gia đình tôi đổi về Saigon. Ba tôi mua một căn nhà ở cư xá Tô Hiến Thành, gần trường đua Phú Thọ, của một ông Đại Úy trong QLVNCH. Nhà ông này rất dài, ông ta cắt ngang phân nửa bán cho gia đình tôi. Hai bên vẫn qua lại với nhau hàng ngày rất thân tình. Trong thời gian này, thỉnh thoảng cô em tôi cũng có nhập về… Năm 1973, trong một chuyến công tác bằng trực thăng bị địch quân bắn rớt, ông Đại Úy này đã tử trận, không để lại một lời trăn trối nào cho vợ con… Ông ta chết được khoảng vài tháng thì một đêm cô em của tôi lại nhập về qua xác Má tôi nữa, chuyện vãn một hồi cô em tôi bảo đi gọi bà vợ ông Đại Úy đến để cô có chuyện giúp cho… Sau khi bà vợ ông Đại Úy sang, cô hỏi bà ta có muốn chồng bà về thăm hay không ??… bà này sợ quá, chưa biết trả lời ra sao. Chúng tôi vì đã chứng kiến chuyện lạ nhiều lần rồi nên không có gì ngạc nhiên hết, vì thế cả nhà thúc dục bà ta xin cô em tôi cho chồng bà về thăm đi. Trong bụng bán tín bán nghi, bà ta đã xin thử cô em tôi. Cô ta nói được rồi, hãy chờ đó đi cô ta sẽ dẫn cho về gặp mặt… nói xong cô xuất đi. Một lúc lâu sau, ông Đại Úy nhập về qua xác của Má tôi. Lúc đầu mọi người không ai biết đó là ông ta, nhưng sau khi thấy bà vợ và mấy đứa con nhỏ ngồi trước mặt, ông ta khóc òa và sau đó là những lời kể lể, thì cả nhà mới biết đó là ông.

Chuyện làm cho mọi người giật mình là, có những chuyện chỉ có vợ chồng ông ta biết thôi chứ người ngoài không thể biết, đã được ông nói ra qua xác của Má tôi lúc bấy giờ… Đồng thời có một chuyện như sau xảy ra ngay lúc đó mà tôi còn nhớ rất rõ: Đó là ông Đại Úy có cho bà vợ biết là ông có dấu một số tiền ở sau vách tủ đựng quần áo mà bà này trước đây không biết. Ông ta bảo bà chạy về xem coi còn tiền ở đó hay không ? Đồng thời nếu nhà còn rượu thì mang cho ông uống với vì ông thèm rượu quá. (Khi sinh tiền ông này uống rượu như hũ chìm). Bà vợ sợ quá tay chân run lẩy bẩy, không dám về nhà một mình, phải rủ chị giúp việc cho nhà tôi đi cùng…

Một lúc sau thì bà ta trở lại với một gói tiền, được gói cẩn thận trong tờ giấy báo và một chai rượu Johnny Walker. Bà ta sợ đến nỗi mặt mày tái mét, chân đi không muốn nổi, chị giúp việc cho gia đình tôi phải dìu bà ta đi. Sau đó bà rót rượu vào một ly cối, ông chồng bảo rót nhiều nhiều cho ông uống vì ông thèm quá và sẽ không có cơ hội uống nữa… cho nên bà vợ vừa khóc vừa run rẩy rót gần đầy cái ly cối đó, đến nổi chúng tôi phải cản lại. Ông Đại Úy qua thân xác của Má tôi, cầm ly rượu uống liền một hơi như người ta uống nước lạnh… Lúc đó tôi chứng kiến cảnh đó cũng hoảng hồn vì Má tôi không biết uống một giọt rượu nào cả. Ngay sau khi vừa uống xong ly cối rượu, bỗng ông ta trông có vẻ khúm núm sợ hãi lắm… lắp bắp nói với vợ rằng ông ta vừa bị quở trách là tại sao lại uống rượu, ông đã uống rượu là phạm luật và không thể ở lâu được, ông nói xong òa lên khóc và ôm hôn vợ con rồi bỗng dưng xuất đi.

Lập tức ngay sau đó cô em của tôi nhập về với một vẻ giận dữ chưa từng thấy và la mắng bà vợ của ông Đại Úy quá trời, cô ta bảo rằng trong thời gian này ông ta không thể hưởng dụng bất cứ thứ gì của dương thế, cho ông ta uống rượu chỉ là hại ông mà thôi… Cô ta còn nói trước khi xin cho về thăm vợ con, ông ta đã được dặn dò rất kỹ là không được hưởng dụng bất kỳ thứ gì cả, như vậy mà cũng làm sai… Bà vợ và các con của bà ta lạy như tế sao năn nỉ xin đừng phạt ông ta. Cả nhà tôi cũng năn nỉ xin cô em tôi cứu giúp dùm. Cô em tôi vẫn nổi giận đùng đùng, cho biết việc này ngoài khả năng của cô và chính cô cũng bị ảnh hưởng bởi chuyện này nữa. Sau đó với thái độ còn rất giận dữ, cô ta xuất đi.

Thật lâu sau khi cô ta xuất đi cả nhà vẫn còn bàng hoàng sợ hãi. Má tôi trở lại con người thật và lạ lùng là bà không bị ảnh hưởng của ly cối rượu Johnny Walker đó chút nào cả, ly rượu mà tôi nghĩ ngay cả tôi lúc đó còn thanh niên, nếu uống một hơi như thế cũng sẽ nốc ao tôi dễ dàng.

Một câu chuyện khác về cô em linh thiêng trong gia đình chúng tôi, nó kỳ lạ đến độ nếu như tôi không chứng kiến và không phải là người trong cuộc thì tôi cũng nghĩ là hoang đường. Chuyện lần này ảnh hưởng trực tiếp tới vợ chồng tôi. Lúc đó vào khoảng đầu tháng tư năm 1973, tôi vừa mới cưới vợ được mấy tháng. Một đêm cô em tôi nhập về, cả nhà tôi lúc đó đã quá quen với chuyện này rồi nên không ai thấy sợ nữa, ngoại trừ vợ tôi. Năm đó tôi đã đi lính rồi, đơn vị đóng tại Phan Rang lâu lâu mới về phép một lần, vợ tôi cùng theo ra ở ngoài Phan Rang với tôi. Nhân kỳ về phép nên tôi dẫn vợ về thăm Ba Má và các em bên gia đình tôi.

Mới lấy nhau mấy tháng, lại ít khi về bên chồng, vợ tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh như vậy hết cho nên rất là sợ hãi khi thấy cảnh cô em tôi về qua xác của Má tôi cầm bó nhang lửa đỏ rực vuốt lên tay, mặt… mà không bị phỏng… cảnh tượng kỳ quái như vậy bảo sao một cô gái mới lớn lên không hãi hùng cho được. Vợ tôi sợ quá kéo tôi ngồi xa xa chứ không dám ngồi gần. Sau khi chuyện vãn với mọi người chung quanh một hồi, bỗng cô em tôi chỉ tay về phía vợ chồng chúng tôi đang ngồi, ngoắc vợ tôi bảo tới gần, vợ tôi sợ điếng hồn không dám tới.

Tôi và mấy cô em gái tôi phải trấn an vợ tôi là :
– Không có gì đâu, hãy lại cho Kim Liên hỏi chuyện đi. (Cô em tôi lúc sinh tiền tên Thu, nhưng sau khi chết, nhập về cô ta cho biết ở cõi trên cô ta tên gọi Kim Liên, ngoài ra còn có chức sắc đàng hoàng).

Tôi phải kéo tay vợ cùng lên ngồi phía trước cho vợ tôi đỡ sợ. Cô em tôi ngắm nhìn vợ tôi hồi lâu, và hỏi vợ tôi rằng:
– Chị có biết Kim Liên là ai không?

Vợ tôi ấp úng trả lời:
– Không biết

Cô ta cười:
– Kim Liên là em của chị nè, chị không biết sao ? Chị ngước mặt nhìn Kim Liên đi, Kim Liên giúp cho chị, chứ không hại chị đâu, chị đừng sợ.

Vợ tôi rụt rè ngước mặt lên nhìn. Cô em tôi bỗng dùng bó nhang cháy hừng hực khoáng khoáng trên mặt vợ tôi và bấm đốt ngón tay tính toán gì đó một hồi rất lâu không nói câu nào. Cả nhà hồi hộp chờ đợi không biết chuyện gì. Một lúc lâu sau cô ta bảo vợ tôi rằng :

– Kim Liên giúp chị chuyện này, chị phải nhớ làm đúng theo lời của Kim Liên, không được sai. Ngày mai chị đi mua cho Kim Liên xin một cành huệ trắng, chỉ một cành mà thôi không cần mua nhiều, về nhà chị cắm vào trong một ly nước lạnh, đặt trên bàn và nhớ nói như vầy: “Kim Liên ơi Kim Liên, chị cho Kim Liên cành huệ nè”. Cứ kêu tên Kim Liên và nói y như vậy ba lần, xong đợi khi nào có một bông huệ rụng xuống thì lấy bông đó đốt cháy thành than, tán nhuyễn, trộn với nước lạnh rồi uống hết nó. Chị nhớ kỹ chưa?

Vợ tôi sợ quá, không biết chuyện gì xảy ra, chỉ biết ấp úng gật đầu.

Tôi cũng thấy kỳ, nên chen vào hỏi:
– Chuyện gì vậy, Kim Liên có thể cho biết được không?

Cô em tôi trả lời không được. Sau này sẽ cho biết còn bây giờ thì cứ làm đúng theo lời của cô ấy dặn. Sau đó cô quay qua nói chuyện với những người khác và không nói thêm lời nào với vợ tôi nữa.

Cả đêm đó vợ tôi sợ quá thức suốt đêm không ngủ được. Qua hôm sau, vợ tôi đi chợ mua ngay một cành huệ và làm đúng như lời cô em tôi đã dặn đêm qua. Cả ngày hôm đó vợ tôi cứ ngồi canh xem bông huệ có rụng không, chờ cả ngày mỏi mòn không thấy gì hết. Tôi thì bực dọc vì ngày về phép đâu có bao nhiêu, mà vợ tôi vì chuyện này không đi chơi được với tôi ngày hôm ấy để cuối cùng gần hết ngày rồi mà có thấy bông huệ rụng gì đâu.

Tôi còn nhớ lúc đó khoảng gần 5 giờ chiều, chị giúp việc cho nhà tôi đang nấu cơm sau bếp, bỗng chị ta gọi vợ tôi nhờ giúp dùm chuyện gì đó. Vợ tôi đi xuống bếp không bao lâu sau trở lên nhà trên liền, thì đã thấy một bông huệ rụng xuống bàn hồi nào không hay. Vợ tôi sợ quá mặt mày tái mét, la lớn lên kêu tôi. Lúc đó tôi đang nằm trên võng đu đưa ở trước nhà, nghe tiếng la cũng hoảng hồn chạy vào xem. Cành huệ có rất nhiều bông, nhưng chỉ có một bông rụng mà thôi. Vợ tôi chờ cả ngày không thấy bông nào rụng hết, vậy mà chỉ vắng mặt trong một khoảng thời gian rất ngắn, lại rụng ngay vào lúc không ai có mặt ở đó. Đúng là kỳ lạ thiệt !!!

Sau đó vợ tôi làm đúng lời dặn, đem bông huệ đó đốt thành than, giã nhuyễn ra và pha với nước lạnh uống hết. Bẵng đi một thời gian sau không thấy có chuyện gì xảy ra, ban đầu chúng tôi còn để ý trông ngóng nhưng dần dần rồi cũng quên đi chuyện này. Tôi vẫn tiếp tục đời lính của mình ở đơn vị, còn vợ tôi lúc này đã có thai bụng lớn lắm rồi, cho nên để ở lại Saigon với gia đình bên vợ để Má vợ tôi chăm sóc.

Cuối năm 1973, vợ tôi bất cẩn té từ thang lầu xuống, cái thai bị động mạnh phải đưa vào bệnh viện Hùng Vương cấp cứu, sau đó vợ tôi bị sanh non, thai nhi lúc đó chỉ khoảng 6 tháng rưỡi. Tôi được điện tín ở nhà cho hay nên tức tốc xin phép về ngay. Khi vào thăm vợ tôi ở bệnh viện Hùng Vương thì vợ tôi đã sanh rồi. Con đầu lòng của tôi là một bé gái sanh ra quá yếu nên phải nằm lồng dưỡng nhi trong một phòng khác để được chăm sóc đặc biệt, nhưng chưa tới 24 tiếng đồng hồ sau thì con tôi mất. Tôi và cả nhà biết được chuyện buồn này, nhưng dấu vợ tôi vì sức khoẻ của vợ tôi quá yếu. Để cho vợ tôi yên lòng, tôi chỉ nói là con vẫn mạnh khoẻ nhưng vì sanh thiếu tháng nên bác sĩ cần phải chăm sóc riêng đặc biệt mà thôi.

Qua hôm sau tôi lại vào thăm vợ tôi trong bệnh viện thì gặp bà bác sĩ đã đỡ đẻ cho vợ tôi trong ca cấp cứu vừa qua. Bà ta có cho tôi biết trong hơn hai chục năm kinh nghiệm trong nghề sản khoa, chưa bao giờ bà ta gặp một trường hợp lạ lùng như trường hợp của vợ tôi. Tôi hỏi trưòng hợp của vợ tôi như thế nào mà lạ lùng. Bà ta nói khi đỡ đẻ cho vợ tôi thì phát hiện vợ tôi có hai cái nhau. Một cái cho đứa bé gái đã được sanh ra, còn cái nhau kia teo tóp lại. Bà ta nói có 2 cái nhau tức là có song thai nhưng trong trường hợp này chỉ có một em bé mà thôi, trong khi cái nhau kia không phát triển được vậy mà tại sao lại không ảnh hưởng tới cái nhau thứ nhất và em bé gái vẫn phát triển bình thường… Tôi nghe thì nghe vậy thôi chứ không để ý lắm, vả lại lòng dạ rối bời qua tai nạn đứa con đầu lòng vừa mất, vợ bệnh còn nằm đó thì tâm trí đâu mà để ý đến chuyện bà Bác sĩ nói làm chi…

Sau khi vợ tôi qua cơn nguy hiểm, bác sĩ cho xuất viện. Mọi chuyện dần dần trở lại bình thường sau cơn đau buồn vừa qua. Chờ đến khi sức khoẻ của vợ tôi hồi phục tôi đưa vợ tôi trở ra đơn vị sống như trước, mọi người gần như quên bẵng đi câu chuyện cô em tôi nhập về và câu chuyện bông huệ mấy tháng trước…

Đầu năm 1974 tôi về phép, hai vợ chồng về thăm Ba Má tôi, đêm đó cô em của tôi nhập về nữa, lần này cô em tôi cũng ngoắc vợ tôi đến trước mặt vừa cười vừa nói rằng :
– Chị có biết là Kim Liên đã cứu chị hay không ?

Vợ tôi và cả nhà ngạc nhiên không biết cô em tôi nói gì ? Cô em tôi lúc đó mới nhắc lại chuyện trước đây và cho cả nhà hay rằng, lần đầu khi nói chuyện với vợ tôi năm trước, cô ta đã biết vợ tôi cấn thai rồi, mà lại là song thai, lúc đó cơ thể của vợ tôi ốm yếu lắm, cô đã biết là cái thai sẽ không “đậu”, chúng tôi sẽ mất cái thai này, nhưng với cơ thể yếu đuối của vợ tôi như vậy, sẽ chịu không nổi khi mất một lần song thai. Theo lời cô em tôi nói thì cô ta đã tính toán và biết được cái thai vừa cấn, chưa vào “sổ bộ sanh bộ tử”, cho nên cô ta tìm cách diệt cái thai mới vừa cấn đó để cứu mạng vợ tôi, nhưng cô ta không thể diệt được cả 2 cái, vì một cái đã bắt đầu tượng hình rồi, cái kia chỉ là một cục máu chưa có sự sống, nên cô ta diệt được. Do đó cô ta làm phép cho uống một bông huệ rụng là để diệt cục máu kia, chứ nếu không thì chắc là vợ tôi không thể qua được… Sau sự giải thích của cô em, tôi mới nhớ lại lời của bà bác sĩ ở bệnh viện Hùng Vương mà không khỏi rùng mình. Cả nhà của tôi ai nấy đều sợ hãi quá sức qua câu chuyện ly kỳ này. Bà xã tôi có xin cô em tôi che chở để cho vợ chồng chúng tôi có con, chứ cơ thể của vợ tôi sau tai nạn vừa qua, vẫn còn rất yếu kém, chính các bác sĩ khuyên chúng tôi không nên có con… Cô em tôi nhìn vợ chồng tôi chăm chăm và buồn phiền lắc đầu nói rằng:

– Nghiệp của anh chị nặng quá, còn phải trả nghiệp nhiều lắm. Kim Liên sẽ giúp cho nhưng nghiệp của ai thì người nấy phải trả, Kim Liên không thể làm gì hơn. Kim Liên sẽ giúp cho anh chị có cháu mà, đừng có lo.

Sau đó cô ta lấy nhang khoáng khoáng vào mặt vợ tôi và không nói gì thêm nữa…

Vợ tôi sau đó còn bị hư thai thêm một lần nữa, mặc dù chúng tôi và gia đình đã tẩm bổ, bồi dưỡng cho vợ tôi rất nhiều, các bác sĩ cũng tận tình chăm sóc, vậy mà vẫn bị hư thai và đứa con thứ hai của chúng tôi cũng không cứu vãn được!

Năm 1975, vợ tôi sanh đứa con thứ ba là đứa con trai bây giờ, mặc dù nó cũng bị sanh thiếu tháng, nhưng rất khoẻ mạnh, cơ thể của vợ tôi từ đó khá hơn trước rất nhiều, đứa con gái sanh năm 1980 cũng khoẻ mạnh cho tới bây giờ. Chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, vậy mà lúc ngồi viết lại câu chuyện này, tôi vẫn còn cảm thấy rợn cả người.

Sau 1975, gia đình tôi toàn là người của chế độ cũ, vì tránh đi kinh tế mới, nên có mua một miếng đất ở khoảng giữa đường đi Long Khánh thuộc ấp Hưng Bình, huyện Hưng Lộc, tỉnh Đồng Nai với vườn mít, chuối… rồi trồng trọt thêm các hoa màu khác sinh sống. Năm 1978 tôi đi tù cải tạo về, không còn tiền bạc gì cả, vợ chồng tôi và đứa con trai nhỏ cũng theo lên đây ở tá túc nhà Ba Má tôi, cùng nhau làm rẫy sống qua ngày.

Khoảng thời gian này, cô em của tôi cũng thường nhập về trị bệnh cho bà con… những người đã biết cô em tôi từ trước rủ rê những người khác, bảo nhau tìm đến gia đình chúng tôi để xin chữa bệnh rất đông. Có người ở tận các tỉnh thành xa, không hiểu nghe ai đồn, biết được cũng lần mò tìm đến. Nhiều lúc tôi bực mình thật sự. Nhà thì nghèo, Ba tôi thì còn kẹt tù chưa về. Má tôi cùng các anh em chúng tôi phải dậy từ sáng sớm, lo vác cuốc đi qua rẫy trồng trọt, tối mịt mới về, cơm nước xong, Má tôi chưa kịp nghỉ ngơi thì đã có người bệnh tới chờ cầu xin cho cô em tôi nhập về chữa bệnh rồi. Tuy Má tôi có đôi lúc mệt quá cũng tìm cách thoái thoát, nhưng vì lòng nhân từ và vì thấy bà con người ta ở xa xôi lần mò tìm tới xin chữa bệnh, không nỡ để họ thất vọng ra về, đa số bà con là người nghèo khổ không, cho nên cầm lòng không đậu, cuối cùng Má tôi cũng để cho bà con thắp nhang cầu xin cô em tôi về để chữa bệnh cho họ.

Một đêm tôi đi nhậu với ông cậu về ngà ngà say, thấy đông đúc bà con đầy nhà đang bao quanh Má tôi, lúc đó cô em tôi đã nhập về qua xác Má tôi, bực quá đang cơn say tôi chỉ vào cô em mà mắng rằng:

– Không có Kim Liên, thầy bà gì nữa hết… cả nhà cực khổ quá trời có thấy ai giúp đỡ cho đồng tiền bát gạo nào cho Má đỡ khổ đâu. Má đã cực khổ cả ngày, bây giờ còn hành xác của Má nữa…

Trong cơn say, đại khái tôi còn chưởi mắng nói nhiều điều nữa… làm mọi người trong nhà kể cả vợ tôi và mấy đứa em tôi đang ngồi thất sắc hết. Cô em tôi đang nhập qua xác Má tôi, ngước lên nhìn tôi rồi lớn tiếng nói rằng:

– Kim Liên là em của anh ở dương thế trước đây thôi, chứ giờ này Kim Liên đang ở cõi trên, đâu còn là em của anh nữa, anh không được hỗn với Kim Liên như vậy.

Đúng lúc đó, tự nhiên tôi cứng cả mình không nhút nhích gì được, dù chỉ là giơ cánh tay lên cũng không nổi, miệng thì không hả ra được. Nếu nói theo như truyện kiếm hiệp, thì tôi y như người bị điểm huyệt lúc bấy giờ, cứ đứng ỳ ra một chỗ, không cục cựa gì được nữa.

Cô em tôi giận dữ lắm nhưng cho hay cô không có phạt tôi, tuy nhiên những hộ pháp đi theo hộ giá cho cô đang đứng phía sau lưng cô, không chịu được sự hỗn láo của tôi nên đã trói tôi lại, và nếu cô em tôi không cản thì các hộ pháp đã cho tôi biết tay rồi.

Lúc đó hồn vía tôi không còn nữa ! Sợ quá, bao nhiêu men rượu say sưa trong người bỗng nhiên tan mất hết ! Vì không tin không được, người tôi cứ cứng đơ ra, đứng như trời trồng. Chưa bao giờ tôi gặp phải hiện tượng như vậy cả.

Cô em tôi chưa hết giận, nói với tôi như sau:

– Sao anh vô ơn vậy! Không có Kim Liên cứu anh 2 lần khi còn trong tù, liệu anh có còn đứng đó mà hỗn láo với Kim Liên nữa hay không ? Khi anh bị phù thủng, chân sưng to chảy nước vàng trong tù, lúc đó tại sao lại nhớ đến Kim Liên mà kêu cứu. Nếu Kim Liên không đến cứu anh thì anh có còn sống nổi không ?? Còn nữa, khi anh bị cây đè trong rừng, anh kêu cứu đến Kim Liên. Kim Liên đã đến đỡ cây cứu thoát cho anh, vậy mà sao anh không biết gì hết. Kim Liên về đây, mượn xác Má, tạo phước cho bá tánh, cũng là tạo phước cho Má và gia đình, tạo phước luôn cho anh chị sao anh lại trách Kim Liên…

Ôi thôi cô ta giận dữ la hét quá trời. Bà con và mọi người trong nhà lạy như tế sao xin tha cho tôi… Còn tôi thì sợ hãi không thể tả, người toát đầy mồ hôi lạnh ngắt. Qua lời của cô ta đã khiến tôi nhớ lại rất rõ những hình ảnh sự việc khi chúng tôi trình diện học tập cải tạo sau 30 tháng 4 năm 1975. Trước tiên bị đưa vào trại Trảng Lớn ở Tây Ninh. Thời gian này, Ủy Ban Quân Quản của MTGPMN còn kiểm soát chúng tôi, gạo cho chúng tôi ăn là gạo ẩm mốc lưu trữ trong hầm nhiều năm trước đây, cho nên hầu hết đã bị sâu mọt ăn hết, chất B1 trong gạo không còn nữa, do đó gần như các anh em chúng tôi ai nấy đều bị phù thủng nặng vì trong người thiếu chất B1.

Lúc đó chúng tôi chưa được thăm nuôi. Họ chỉ phát cho mỗi người một viên B1 nhỏ mỗi ngày khi bệnh phù thủng bắt đầu phát hiện, nhưng rồi thuốc không đủ cung cấp cho tất cả chúng tôi và bệnh phù thủng ngày càng nặng nề. Nhiều người trong đó có tôi, chân tay căng phù lên, da láng bóng trông thấy rất dễ sợ, lấy ngón tay ấn vào buông ra thì có một lỗ hủng sâu hoắm… trông kinh dị hết sức. Điều tệ hại hơn nữa là chúng tôi không nhấc chân lên đi được, cứ đứng lên là té xuống liền. Có mấy người bị đưa đi bệnh xá rồi chết trên đó. Tin tức truyền về từ những anh em khiêng bệnh nhân đi bệnh xá, thì nằm bệnh xá cũng chỉ chờ chết thôi chứ đâu có thuốc men gì trên đó đâu, cho nên thà là nằm ở trại còn hơn, có gì còn có anh em tù giúp đỡ. Bệnh phù thủng của tôi rất nặng, da căng mỏng dính, một vài chỗ bị rách da và chảy nước vàng… lúc đó tôi thật là thê thảm không đi đứng được mà cũng chẳng có thuốc men gì ngoại trừ mấy viên Xuyên Tâm Liên mỗi ngày, nhưng tôi nhất định thà nằm chết ở trại chứ không chịu xin đi bệnh xá. Tinh thần của tôi lúc đó thật tình mà nói đã xuống lắm, tôi cứ nghĩ mình sẽ chết, nên tối ngày cứ nằm cầu nguyện, không thiết ăn uống gì cả. Trong những lúc cầu nguyện như thế, tôi đã cầu nguyện tới cô em Kim Liên của tôi nhiều lần và từ từ thì tôi hồi phục hồi nào không hay và khỏi hẳn. Tôi cũng cho đó là một điều may mắn và cũng nghĩ là số mình có ơn trên độ mạng, rồi theo ngày tháng hầu như tôi cũng đã quên đi chuyện này.

Lần thứ hai, khi chúng tôi chuyển trại lên Đồng Bang, chung quanh là rừng bạt ngàn bao quanh cho tới tận biên giới Campuchia. Một hôm chúng tôi nhận lệnh phải đi chặt tre, chỉ tiêu đưa ra cho mỗi người là hai cây tre dài. Sau khi chuyển đến trại Đồng Bang này rồi, chúng tôi không bị kiểm soát gắt gao như trước nữa, mỗi ngày nhận chỉ tiêu công việc trong ngày và cứ thế mà làm, miễn sao xong chỉ tiêu được giao thì thôi… Từ trại chúng tôi ở, đi đến rừng tre xa vô cùng, có thể cả 10 cây số chứ không ít, bởi vì các khu rừng chung quanh gần đó đã bị đốn sạch để lấy đất làm rẫy khai thác trồng trọt hết rồi. Chúng tôi đi đến rừng tre thì trời đã gần trưa. Mọi người tranh thủ nghỉ ngơi, ăn chút khoai mì luộc mang theo, sau đó tản mác ra, đi kiếm tre tốt chặt để còn về tới trại trước khi trời tối chứ nếu không, trời sụp tối không thấy đường sẽ rất khó đi… Sau khi kiếm được bụi tre vừa ý, phát hết các gai góc chung quanh cho trống chỗ để lần vào bên trong và bắt đầu chặt ngang gốc những cây tre đã chọn… sau đó sẽ kéo tre xuống và róc mấy cành lá nhỏ rồi chặt ngọn… Công việc này, anh em tù cải tạo chúng tôi làm nhiều lần rồi cho nên rất kinh nghiệm, gần như bụi tre gai cỡ nào đi nữa cũng không làm khó anh em chúng tôi được. Hôm đó trời xui đất khiến như thế nào mà 2 cây tre tôi đã chặt đứt gốc rồi nhưng kéo hoài không xuống được vì ngọn của nó cứ bị vướng vào mấy dây leo từ mấy cây cao khác. Bỏ đi chặt lại cây tre khác thì tiếc công mình đã bỏ ra quá lâu, vả lại bắt đầu lại từ đầu thì sợ trễ giờ về không kịp trời tối, cho nên tôi liều đu theo dây leo, trèo lên cây cao gần đó với ý định chuyền ra cái cành to của nó rồi dùng rựa chặt mấy dây leo đã bám vào ngọn cây tre của tôi đã chặt, cho khỏi vướng nữa để tôi có thể kéo nó xuống… Ai ngờ cái cành đó lâu năm, bị mục một đầu tôi đâu có biết ! Đang ngồi vắt vẻo trên cành cây to tổ bố và chặt đứt mấy dây leo dính với cây tre của tôi ngon lành thì bỗng nghe “rắc” một tiếng lớn. Cành cây bị gãy !! Tôi té từ trên cao xuống với nguyên cành cây lớn và bao nhiêu là dây leo chằng chịt quanh người.

Tôi ngất đi không lâu lắm, vì khi tỉnh lại thì vẫn thấy ánh nắng xuyên qua các kẽ lá. Cố gắng trườn ra khỏi đống dây leo phủ trên mình, nhưng tôi hoàn toàn không nhúc nhích được thân người. Toàn thân ê ẩm và đau đớn vô cùng mỗi khi tôi ráng nhích người lên. Không biết tôi đã ngã như thế nào mà cành cây lớn lại đè ngay lên trên thân mình, dây leo chằng chịt bao quanh, còn cái rựa không biết rơi mất nơi đâu. Tôi kêu cứu thật to, nhưng ngoài tiếng vang của chính mình, không nghe tiếng ai trả lời gì cả !! Các anh em khác hoặc đang tản mác đâu đó thật xa để kiếm tre tốt chặt hoặc tranh thủ đi đào rể sâm chỉ, hoặc kiếm cải trời, lá bứa, lá giang… đem về cải thiện thêm cho bữa ăn hằng ngày vốn chẳng có gì nhiều của chúng tôi. Tôi kêu cứu đến khan cả cổ mà không nghe tiếng đáp lại thì tuyệt vọng vô cùng ! Cố rút chân ra khỏi đống dây leo, nhưng đau quá không làm được. Tôi bắt đầu dùng hai tay lôi những dây leo từng sợi một rồi dùng sức thảy mạnh nó qua một bên để tạo khoảng trống cho tôi có thể nhoài người ra được chút nào hay chút đó, khỏi cái mớ dây leo rối bung đang quấn xung quanh và cành cây to đang đè ngang trên mình. Không nhận thức được mình có bị thương hay gãy xương gì hay không, bản năng sinh tồn của tôi lúc đó cứ thôi thúc làm sao phải ra khỏi chỗ bị kẹt này trước khi trời tối… Nỗi sợ hãi làm cho tôi không còn biết đau đớn, mặc dù cảm nhận đôi tay trong khi bươi, cào, kéo… các dây leo chung quanh đã bắt đầu rướm máu. Trong những nổ lực tuyệt vọng như thế, miệng tôi không ngớt cầu nguyện, tôi đã gọi tên Kim Liên, cô em chết rất linh thiêng trong gia đình tôi nhiều lần, xin về cứu mạng… Thời gian như thế không biết qua bao lâu, trong một trạng thái mê sảng tôi mơ hồ cảm thấy thân hình mình có thể trườn ra khỏi được cành cây to đang đè trên người và từ đó tôi thoát ra được mớ dây nhợ lùng bùng chung quanh tôi.

Lúc này trời đã về chiều, tôi lượm một cành cây nhỏ, định chống đi theo con đường mòn ra khỏi rừng tre, nhưng chân phải tôi mỗi lần đặt xuống đất là cứ đau nhói lên. Tôi tưởng bị gãy xương chân, nhưng sau khi ngồi xuống rờ nắn cẩn thận thì không phải gãy xương, vậy mà sao cứ đau quá không thể nào đi được ! Tôi nghĩ chắc có thể đã bị mẻ một xương nào đó trên bàn chân phải của tôi thôi. Cuối cùng thì vừa lết vừa bò, tôi cũng ra khỏi được khu rừng tre rộng lớn đó… Tôi lết thêm một lúc lâu sau thì đến con đường mòn chính, chỗ các ngả tẽ qua các khu rừng khác để đi chặt tre, cắt tranh, hoặc đốn cây… mà các anh em chúng tôi hay gọi đùa là ngã tư quốc tế. Mệt muốn ngất, tôi không còn lết thêm chút nào được nữa. Trời lúc này khoảng 4 giờ chiều, thân thì bị thương mà tôi còn ở ngã tư quốc tế nơi còn cách trại chúng tôi cũng gần 8 cây số nữa chứ không ít !! Tôi nằm dài ra ngay trên con đường mòn mặc cho số phận đưa đẩy.

Nằm được một lúc, bỗng nghe có tiếng người, tôi nhỏm dậy nhìn thì thấy có 6 người đang gánh tranh đi tới, đó là các anh em tù cải tạo ở trại kế bên trại tôi đi cắt tranh về. Người nào cũng gánh một gánh tranh thật to. Thấy tôi bị thương nằm giữa đường, họ ngừng lại lấy nước cho tôi uống và sau một lúc bàn bạc hai người trong bọn bỏ tranh bên lề đường và kiếm dây rừng kết sơ sài thành một bệnh dây to để tôi ngồi lên đó, hai người võng tôi đi. Sáu anh em đó thay phiên nhau võng tôi, hì hục mãi cũng đến được trại tôi ở thì trời đã tối mịt lâu lắm rồi. Sau khi giao tôi cho mấy người vệ binh trong trại, một vệ binh khác hướng dẫn mấy anh em đó về trại của họ. Tôi tiếc một điều là từ đó đến nay, tôi không có dịp gặp lại 6 anh em đã cứu đưa tôi về trại an toàn để có dịp tạ ơn. Tôi cũng nghĩ là số mình may mắn, đi đâu cũng gặp ân nhân giúp đỡ, chứ không nghĩ xa hơn nữa. Năm đó là năm 1977.

Trở lại chuyện nói về cô em của tôi. Sau khi nghe cô em tôi la mắng như thế, tôi mới hoảng hồn vía, chuyện tôi bị phù thủng và bị nạn té trong rừng, cây đè… v…v… tôi chưa từng nói cho ai nghe, kể cả vợ tôi. Vậy mà cô em tôi nhắc lại chuyện đó và cho biết là đã cứu tôi thì thử hỏi tôi không khiếp vía sau được. Nhớ lại cái cảm giác trườn ra được cái cành cây to có vướng dây leo chằng chịt đè lên người năm xưa, tôi thấy đúng là kỳ lạ thật ! Vì trước đó tôi đã cố gắng biết bao nhiêu lần mà vẫn không nhúc nhích gì cả, bỗng dưng lại trườn ra được khỏi cái bẫy đó ? Đồng thời với độ cao mà tôi đã ngã xuống đất, lại bị cành cây to đè lên như thế mà không bị gãy xương, hoặc chết, thì quả là một điều lạ lùng thật… Sau một lúc giận dữ, cô em tôi cho tôi biết là lần này cô tha cho tôi, nếu lần sau mà còn nói hỗn với cô nữa thì cô sẽ mặc kệ và không lý gì tới tôi nữa. Tự nhiên ngay lúc đó chân tay tôi cử động lại được; viết tới đây tôi còn cảm giác thấy rờn rợn sau lưng; tôi ngồi bệt xuống nền nhà, mọi người xúm lại bảo tôi xin lỗi cô em tôi đi… lúc đó tôi đã hoảng vía quá rồi, nên ngỏ lời xin lỗi cô em tôi và cũng xác nhận với mọi người chung quanh về việc tôi bị nạn 2 lần trong tù trước đây, ngay cả việc thoát nạn một cách kỳ lạ mà tôi cho là do số mình may mắn thôi, chứ không biết là Kim Liên đã ra tay cứu tôi…

Sau khi mọi người yên ổn trở lại, cũng ngay trong bữa đó, tôi có nói với Kim Liên là tôi và gia đình lo ngại chính quyền địa phương sẽ làm khó dễ gia đình nếu cô cứ nhập về hoài, họ sẽ nghĩ là đồng bóng, dị đoan, làm tiền thiên hạ… và sẽ gán tội cho gia đình này nọ thì phiền lắm. Cô em tôi cho biết là không ai có thể làm khó dễ gia đình chúng tôi được, vì ngay cả những gia đình của chính quyền địa phương rồi sẽ đến nhờ cô cứu giúp… Cô nói với mọi người hãy chờ xem lời cô nói có đúng hay không ? Đừng có lo lắng gì cả.

Chuyện cô em tôi nhập về Má tôi để chữa bệnh, quả nhiên đã đến tai chính quyền địa phương thiệt. Một buổi sáng đang ở bên rẫy, có người chạy kiếm Má tôi và tôi ra ấp Hưng Bình có chuyện. Linh tính báo chúng tôi biết là có điều không hay xảy ra rồi. Thật vậy, ngay sau khi ra đến văn phòng ấp Hưng Bình, thằng cha trưởng ấp đã lên tiếng nạt nộ Má con tôi về chuyện buôn thần, bán thánh, mê tín dị đoan… và cấm Má tôi từ nay không được lên đồng lên cốt, mê tín dị đoan, nếu không ông ta sẽ trình lên xã để bắt chúng tôi. Chúng tôi ra về, trong bụng rầu thúi ruột. Tôi nói với Má tôi, phải cầu xin sao cho Kim Liên đừng về nữa chứ như vầy hoài có ngày cũng bị địa phương khó dễ bắt bớ… gia đình tôi không lấy của ai đồng xu cắc bạc nào về chuyện này, Má tôi cũng đã nhiều lần cầu xin để cho Má tôi yên, chứ nào phải Má tôi muốn như vậy đâu. Ba tôi còn kẹt trong tù, tôi thì mới từ tù cải tạo về không bao lâu… mấy thằng địa phương mà làm khó bắt chẹt một cái là chết liền, chứ phải chơi đâu.

Mấy ngày sau trôi qua thật nặng nề, gia đình vẫn còn nơm nớp lo sợ tai hoạ có thể tới hồi nào không hay, thì một buổi tối gia đình thằng cha trưởng ấp Hưng Bình bồng một đứa con nhỏ, hớt ha hớt hải đi vào nhà chúng tôi. Bà vợ thằng cha trưởng ấp bồng theo một đứa con nhỏ khoảng 3, 4 tuổi gì đó. Cả nhà không biết chuyện gì, thì bà này đã mếu máo nói rằng con của bà ta bị bệnh dời ăn, lở lói hết cả người và chảy nước vàng, đi thầy thuốc không biết là bao nhiêu người mà bệnh tình càng ngày càng thấy nặng hơn. Có người bày cho vợ chồng bà ta hãy bế con vào xin Má tôi cứu chữa. Má tôi trả lời thật tình không biết cách chữa bệnh này… Bà vợ tay trưởng ấp nói nghe đồn Má tôi có đứa con gái chết linh thiêng lắm và hay về để chữa bệnh cứu người đời, vậy xin hãy làm phước cứu dùm cho con bà.… Má tôi nói:

– Ông trưởng ấp đã nói với tôi mấy ngày trước là gia đình tôi mê tín dị đoan này nọ… và cấm chúng tôi chuyện này, nay sao bà lại đến bảo chúng tôi cầu con gái tôi về để chữa bệnh cho con bà. Chúng tôi không dám đâu… thật tình chúng tôi không biết chữa bệnh này, xin bà hãy về kiếm thầy chữa cho cháu đi…

Bà vợ thằng cha trưởng ấp và mấy người bà con đi cùng khóc lóc năn nỉ hoài không được nên đành bồng đứa nhỏ ra về. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, họ lại bồng đứa nhỏ đến, lần này có cả thằng cha trưởng ấp đi theo nữa. Hắn ta xuống nước năn nỉ Má tôi, nói rằng Má tôi đừng có giận, vì nhiệm vụ hắn phải làm như vậy thôi chứ không có ý gì hại gia đình tôi, hắn cũng có hỏi bà con thì được biết việc chữa bệnh của cô em tôi là hoàn toàn làm phước, không có gạt gẩm của ai và không lấy tiền bạc của ai cả… cho nên hắn ta không có báo cáo lên xã, nay chẳng may đứa con đầu lòng của hắn bị bệnh ngặt nghèo mà không ai chữa trị được, nên cầu xin Má tôi làm phước xin cho cô em tôi về để chữa trị dùm, nếu lỡ như không trị được cũng không sao, gia đình của hắn cũng biết ơn và hứa sẽ không bao giờ làm khó dễ gì gia đình chúng tôi cả… còn bà vợ của hắn thì cứ sụt sùi khóc, thấy cũng thảm thiết lắm. Má tôi là một người đàn bà nhân từ, hể thấy ai khóc lóc, năn nỉ điều gì là thế nào cũng mũi lòng và nếu giúp được gì thì sẽ giúp ngay, không giận ai lâu được. Tôi thấy Má tôi bắt đầu xiêu lòng, thì thật tình trong bụng tôi bực bội lắm nhưng không nói gì được. Tôi chỉ chen vô nói với thằng cha trưởng ấp:

– Đây là gia đình ông cầu xin chứ chúng tôi không muốn, sau này đừng có đổ thừa cho chúng tôi là mê tín dị đoan này nọ là không được…

Hắn ta và bà vợ luôn miệng nói:

– Không có đâu. Không có đâu… gia đình tôi giúp cho thì vợ chồng hắn mang ơn không hết có đâu lại hại gia đình tôi này nọ…

Sau đó Má tôi thắp mấy nén nhang, lâm râm cầu xin… Một lúc sau cô em tôi nhập về, cô ta dùng nhang khoáng lên người của đứa bé, sau đó dặn bà vợ của tay trưởng ấp, ngày mai đi ra ngoài đồng, hái 7 lá muồng trầu, vò nát rồi thoa lên lưng và thân thể thằng bé, làm như vậy mấy lần sẽ hết, chỉ đơn giản vậy thôi. Đâu đó xong xuôi, cô em tôi quay qua cầm bó nhang lửa cháy hừng hực, hỏi tay trưởng ấp có dám cầm ngay đầu bó nhang lửa đang cháy không… Tay này sợ quá nói:

– Không, không. Tôi không dám đâu.

Cô em tôi bảo:

– Cứ cầm đi, không có gì phải sợ, không có phỏng đâu.

Nói xong cô ta dúi ngay đầu bó nhang đầy lửa ngay vào tay của hắn. Hắn đang ngồi, hoảng hồn lết lui lại tránh, nhưng cô em tôi bảo cứ đưa tay ra. Hắn rụt rè đưa tay ra, cô em tôi dí sát ngay đầu lửa đỏ của nhang vào tay hắn, lạ thay hắn không bị phỏng gì cả. Cô em tôi sau đó có nói với hắn như sau:

– Gia đình này là gia đình đàng hoàng, chuyên làm phước thiện, chữa bệnh cho người đời, không lấy tiền lấy bạc của ai cả. Chứ không phải tà ma ngoại đạo, gạt gẩm lấy tiền của dân chúng đâu…

Sau đó cô ta còn răn đe hắn không được làm khó dễ gia đình tôi. Nếu hại tới gia đình chúng tôi thì sẽ thấy hậu quả liền…

Ôi thôi hai vợ chồng tay trưởng ấp và mấy người bà con của hắn lạy cô em của tôi lia lịa và hứa sẽ giúp đỡ cho gia đình tôi được dễ dàng trong việc cứu người sau này. Qua mấy ngày sau đó, hai vợ chồng hắn mang trái cây đến biếu gia đình tôi và cho biết là đứa con trai đã gần dứt bệnh, các chỗ lở lói do dời ăn đã lành miệng và cháu đã ăn ngủ được rồi… Dĩ nhiên sau đó gia đình tôi không còn bị làm khó dễ nữa.

Có một chuyện tôi muốn mở ngoặc ở đây, để nói về Ba tôi: Ba tôi trước 1975 là một Hạ Sĩ Quan binh chủng Không Quân, cấp bực Thượng sĩ nhất. Tuy cấp bực chỉ là Hạ Sĩ Quan, nhưng trình độ Anh Văn của Ba tôi rất giỏi, ông là một trong những giảng viên của trường Anh Ngữ Không Quân QLVNCH, quân nhân Không Quân các cấp, trước khi đi du học hoặc tu nghiệp ở Mỹ, đều phải qua một khóa huấn luyện về tiếng Anh ở trường Anh Ngữ này, phải đậu xong kỳ thi khảo hạch cuối khóa mới được đi du học… Do công vụ, Ba tôi đã được đi huấn nghiệp 3 lần tại Mỹ.

Vào những ngày cuối tháng Tư 1975, lẽ ra Ba Má và các em của tôi đã di tản theo trường Anh Ngữ Không Quân. Vào lúc bấy giờ tình hình rất phức tạp, nhiều vị sĩ quan cấp Đại Tá cũng không đưa gia đình đi được, chứ không phải hể có cấp bực lớn là muốn đưa gia đình đi lúc nào là đi, ngược lại có những người lính Quân Cảnh hoặc những nhân viên cấp bậc nhỏ, nhưng làm ở nơi quan trọng lại đi được dễ dàng. (Trong một số Hồi Ký của các cựu Đại Tá Không Quân đã viết lại rất rõ chuyện này). Ba tôi là một trong những trường hợp người có cấp bậc nhỏ nhưng lại có danh sách di tản với toàn bộ gia đình đàng hoàng. Ông có bạn bè thân làm ở cơ quan DAO (Defense Attaché Office) đã giúp đưa lọt được danh sách của gia đình vào trong list những người được di tản. Các giới chức Mỹ ở DAO đã lên danh sách những người trong gia đình Ba Má tôi và đã định ngày giờ đi rồi.

Khổ một nổi sau khi Ba tôi cho Má tôi hay, bà nhất định không chịu đi, có nhiều lý do Má tôi nại ra để không đi… nào là qua bên đó làm cái gì mà ăn, nào là cả nhà ngoại trừ Ba tôi ra, không ai biết tiếng Anh… nào là bà con dòng họ, mồ mả ông bà ở đây làm sao bỏ đi cho được… ôi thôi đủ lý do hết ! Ngày nào Ba Má tôi cũng cãi vả về vấn đề này và cuối cùng thì Ba tôi đành chịu thua và bỏ cuộc không đi. Sau này tôi mới biết lý do chính mà Má tôi cương quyết không đi là vì vợ chồng và đứa con sắp ra đời của chúng tôi. Vào những ngày đó, chung quanh súng nổ ì xèo, mọi người nhốn nháo, lo sợ đủ thứ… trong khi đó vợ tôi thì lại sắp sửa sanh ! (Hai lần trước vợ tôi đã bị hư thai như tôi đã nói, lần này là lần thứ ba). Tôi thì lúc đó còn kẹt lại ngoài Phan Rang sau ngày đơn vị tan hàng, không biết sống chết ra sao, cho nên Má tôi không đành bỏ đi… Ba tôi không dẫn gia đình di tản được, thì rầu rỉ lắm. Ông biết ở lại sẽ khổ lắm vì những thành phần như ông mặc dù là Hạ Sĩ Quan, không phải trình diện đi tù cải tạo, nhưng cũng đâu biết làm gì sống với cái lý lịch 3 lần đi Mỹ trước đây.

Quả nhiên sau 1975, lúc đó tôi đã đi trình diện học tập cải tạo rồi, Ba tôi không thể kiếm được một việc gì làm cả, tối ngày phường khóm cứ thúc dục Ba Má tôi đi kinh tế mới hoài, càng làm cho Ba Má tôi khủng hoảng thêm. Do đó sau khi gom góp vốn liếng và với sự giúp đỡ của bà dì; chị của Má tôi; Ba Má tôi mua miếng đất ở ấp Hưng Bình, Xã Hưng Lộc như đã nói ở phần trên, sau đó Ba tôi để cho Má và mấy em tôi lo việc canh tác, còn ông thì cứ đi khắp nơi tìm cách vượt biên. Khoảng thời gian này, phong trào vượt biên đã bắt đầu, tuy chưa rầm rộ lắm. Thế rồi trong một kế hoạch hùn hạp đóng ghe để cho toàn bộ gia đình tôi vượt thoát bị đổ bể, Ba tôi bị bắt giam và đưa đi lao động tại Mộc Hoá. Tiền bạc tiêu tán hết ! Chồng thì bị bắt, tôi là con trai lớn trong nhà cũng còn kẹt trong tù chưa biết ra sao ? Má tôi phải quán xuyến cả đàn con dại 8 đứa còn lại cộng thêm con dâu và đứa cháu nội mới vừa biết chạy lẫm đẫm. Ở nhà hồi nào đến giờ có ai biết cầm cuốc, trồng trọt gì đâu nhưng rồi cũng phải bương chải thôi. Má tôi đã có lúc muốn tự tử chết đi cho rồi, nhưng vì thương con cháu, nên phải cố gắng sống. Nhờ trời thương, các bệnh nhân ở địa phương mà cô em tôi chữa bệnh cho trước đây, thấy Má và các em tôi cực khổ quá, nên họ cũng đến giúp, vào những lúc mùa màng bận rộn, hoặc những lúc thu hoạch, họ bảo nhau đến giúp cho gia đình tôi, nhờ vậy mọi chuyện rồi cũng xong.

Đến năm 1978 thì tôi từ trại cải tạo được thả về cùng với gia đình tiếp tục sống như thế. Gia đình chúng tôi vẫn sống nhờ vào một rẫy mít, chuối và canh tác trồng trọt thêm bắp, đậu, khoai mì… dù quần quật cả ngày, nhưng vẩn không đủ đâu vào đâu cả, cuộc sống của chúng tôi lúc đó rất là khó khăn.

Khoảng giữa năm 1979 hung tin đưa tới. Ba tôi vì bị đày ải, lại thêm buồn rầu nên sanh bệnh và chết trong trại tù cải tạo tại Mộc Hóa, xác được anh em tù chôn ngay trong trại Môc Hóa. Gia đình tôi chịu cái tang lớn này thật không còn tai họa nào có thể sánh bằng… Chúng tôi làm đơn xin mang xác Ba tôi về, nhưng vì khi tin đưa tới Ba tôi đã chôn được gần 1 tháng rồi, đồng thời Mộc Hoá lúc đó bị lụt ngập nước hết, không làm sao vào được. Chính quyền địa phương nói lúc này không thể nào đào mộ lên được nữa. Cả nhà bàn thôi thì đợi 3 hoặc 5 năm sau hãy xin hốt cốt lên, hoả thiêu rồi mang tro về chùa thờ, chứ biết làm sao hơn !!

Đúng thất tuần 49 ngày, gia đình tôi làm một lễ cầu siêu cho Ba tôi, có một ni cô quen với gia đình đến giúp tụng kinh dùm cho Ba tôi. Sau khi làm lễ xong, mọi người đang ngồi quây quần nói chuyện thì cô em tôi nhập về qua xác Má tôi. Bẵng đi một thời gian, cô em tôi không về thường như trước nữa, chúng tôi đôi lúc cũng thắc mắc, không hiểu tại sao. Mấy đứa em và vợ tôi thấy cô em tôi về đều khóc oà lên, mếu máo nói:

– Ba chết rồi Kim Liên biết không??

Cô em tôi qua xác của Má tôi cũng khóc, nhưng không nói gì cả.

Trong cơn đau buồn, tôi đã giận dữ lớn tiếng trách cô em tôi:

– Nếu Kim Liên có linh thiêng, tại sao không cứu giúp Ba ?? Tại sao không cản Ba khi Ba có ý định đóng ghe, hoặc có linh thiêng tại sao không giúp để cho Ba không phải bị bắt để rồi chết bỏ xác trong tù…

Cô em tôi ngồi khóc một hồi rồi nói với mọi người rằng:

– Chuyện của Ba, Kim Liên đã thấy, đã biết được từ lâu… cũng như mọi người đang ngồi trong nhà đây, Kim Liên cũng thấy và biết được nghiệp của mỗi người hết chứ không phải là không. Nhưng Kim Liên không thể làm gì được, ai tạo nghiệp cũng đều phải trả cả, không ai có thể cứu được chuyện này. Ngài Mục Kiền Liên đã tu thành Đại Bồ Tát mà còn không cứu được Mẹ của mình, phải nhìn Mẹ mình đọa địa ngục… cho nên xin đừng trách Kim Liên. Kim Liên cũng đau lòng lắm. Cũng như Kim Liên biết Má và gia đình cực khổ, nhiều lúc không đủ ăn, Kim Liên không thể giúp ngân tiền cho Má và gia đình được… Kim Liên chỉ có thể giúp tạo phước cho Má và gia đình sau này thôi, coi như để trả cái ơn Má đã cưu mang, dưỡng dục Kim Liên trên dương thế trước đây. Kim Liên muốn giúp Má và gia đình lắm, nhưng chỉ giúp được những gì Kim Liên có thể giúp thôi và từ từ thì gia đình sẽ thấy ứng nghiệm của sự tạo phước mà Kim Liên đã làm cho gia đình. Bây giờ Kim Liên không nói trước được đâu.

Đang giảng cho cả nhà một thôi một hồi như thế, bỗng nhiên cô ta quay lại chỉ bà ni cô đã đến tụng kinh cầu siêu dùm cho Ba tôi, vừa cười vừa nói rằng:

– Này vị ni kia, nãy giờ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát tính xua đuổi Kim Liên đi đó phải không ?? Kim Liên đâu phải là ma quỷ gì đâu mà xua đuổi. Quán Thế Âm Bồ Tát với Kim Liên tuy không cùng Đạo, nhưng cùng đường. Kim Liên tu theo đường Tiên của Kim Liên, còn Bồ Tát và ni tu theo đường Phật. Ni có đọc chú xua đuổi tà ma thì được còn Kim Liên đâu phải tà ma đâu mà sợ câu chú của ni.
Nói xong cô ta vẫn còn cười bà ni cô hoài. Bà ni cô hoảng hồn và thú nhận rằng bà ta không tin cho nên niệm thầm mấy câu chú của Quán Thế Âm Bồ Tát để nếu có phải là tà ma thì sẽ sợ mà xuất đi liền, không ngờ cô em tôi biết được nên nói toạt ra cho mọi người nghe.

Sau đó, câu chuyện trở lại đề tài cái chết của Ba tôi, tôi hỏi cô em tôi có thể xin cho Ba tôi về để gia đình thăm được không ? Cô ta ngồi lấy mấy đầu nhang cháy đỏ tính toán gì đó trên mấy đốt ngón tay, một lúc sau nói với mọi người rằng, được rồi cô ta sẽ dẫn Ba chúng tôi về cho chúng tôi thăm và cô ta dặn, khi Ba tôi về, không được cho Ba tôi ăn uống gì cả, dù Ba tôi có hỏi cũng không được đưa cho. Chúng tôi hứa y như vậy. Cô ta xuất đi một lúc thật lâu, cũng khoảng hơn nửa tiếng, thì Ba tôi nhập về. Chúng tôi mới đầu tưởng là Kim Liên cô em của tôi, nhưng sau khi Ba tôi khóc và lên tiếng kêu tên từng đứa con lại gần vuốt ve, thì chúng tôi biết đúng là Ba tôi rồi. Ông về kể rằng ông bị bệnh tim mạch và đứt mạch máu não mà chết, chỗ anh em tù chôn Ba tôi bây giờ nước lênh láng, Ba tôi nằm lạnh lắm…

Cả gia đình khóc quá trời qua lời kể thương tâm đó của Ba tôi. Ông kéo đứa em út của tôi và con trai tôi vào lòng và khóc như mưa… Tôi hỏi Ba tôi chết như vậy là chết oan hay là chết đúng số. Ba tôi cho biết ông chết đúng số chứ không có oan, nhưng vì không gặp mặt được vợ con, gia đình nên còn ấm ức lắm… Sau một lúc khóc lóc kể lể, Ba tôi và cả nhà đã bớt bi thương, tôi hỏi Ba tôi có gặp Kim Liên không. Ba tôi trả lời có và ra vẻ sợ sệt lắm. Ba tôi nói Kim Liên bây giờ có chức sắc lớn lắm, ai thấy cũng sợ cả. Ba tôi cho biết lúc còn ở dương thế Kim Liên là con của ông, nhưng bây giờ ông cũng không dám nhìn thẳng vào Kim Liên nữa. Tôi mới hỏi Kim Liên có giúp gì cho Ba không. Ba tôi nói có chứ, Kim Liên giúp giảng đạo cho ông và khuyên ông ráng tu để mau dứt nghiệp… Ngay lúc đó, mặc dù rất là tin tưởng, nhưng trong lòng tôi vẫn muốn thử xem như thế nào. Tôi làm bộ hỏi Ba tôi một số chữ và thành ngữ tiếng Anh mà tôi không biết nghĩa, mặc dù tôi có biết mấy chữ đó. Ba tôi giảng cho tôi nghe răm rắp từng chữ, từng câu thành ngữ một… Đến đây thì tôi hoảng hồn đến nổi lạnh cả người. Như vầy thì không thể nào giả được cả, vì Má tôi có biết một chữ tiếng Anh nào đâu…
Ba tôi về được khá lâu, đang còn tiếp tục nói chuyện với gia đình, bỗng dưng Ba tôi nói ông phải đi rồi, nói xong khóc oà và kêu từng người tới ôm hôn… Sau đó thì xuất đi, được một chốc thì cô em tôi nhập về lại, cả nhà xin cô thỉnh thoảng dẫn Ba tôi về cho cả nhà thăm nữa. Cô ta nói:

– Thôi, làm vậy không tốt cho Ba, để yên cho ông tu tập, ông còn nhiều nghiệp nặng lắm, đừng làm phiền ông.

Rồi cô lãng qua chuyện khác. Cô ta còn cười nói với tôi là:

– Thử như vậy đã tin chưa hay còn muốn thử nữa…

Tôi hết hồn, ngồi im ru không dám nói gì cả. Đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất Kim Liên cho Ba tôi về thăm, ngày hôm đó đúng vào thất tuần làm lễ cầu siêu 49 ngày cho Ba tôi, sau này chúng tôi có xin mấy lần nữa nhưng cô ta không cho.

Sau cái chết của Ba tôi, Má tôi buồn lắm, tinh thần suy sụp thấy rõ, cộng thêm cuộc sống ruộng rẫy quá khó khăn mà vẫn không đủ sống, làm cho Má tôi càng lo rầu hơn. Chúng tôi bàn bạc với nhau bán hết nhà cửa đất đai về Saigon tìm cách khác sinh sống. Khổ một nổi vấn đề hộ khẩu và với số người trong gia đình tôi đông như thế, đâu phải chuyện nói là làm được ngay đâu, đa số các em tôi tuổi thì còn quá nhỏ, Má tôi lại nhất quyết không cho các em tôi bỏ học, làm gì thì làm nhưng cũng phải tiếp tục học. Cho nên chuyện bỏ hết đi về Saigon sinh sống thật không dễ dàng chút nào cả? Vả lại nhà cửa ở Saigon đâu còn nữa mà về. Cho nên tính là một chuyện mà không biết thực hiện bằng cách nào ?

Năm sau 1980, vợ tôi sinh được một đứa con gái, cảnh nhà khó khăn đến nổi nhiều lúc vợ tôi phải cho con gái tôi bú nước cháo pha với đường, chứ không có tiền mua sữa cho nó mà cơ thể vợ tôi lúc đó cũng không được tốt lắm, cho nên không đủ sữa mẹ cho đứa bé. Nhân một dịp cô em tôi nhập về, tôi xin cô ta nếu có linh thiêng thì hãy tìm cách cứu giúp cho gia đình, chứ hoàn cảnh như thế này hoài thì làm sao sống nổi, qua đó tôi cũng nói là ý của Má và chúng tôi nhất quyết bán hết tất cả để về thành phố sinh sống. Cô em tôi buồn bã lắm và cho tôi biết rằng sắp tới đây cô sẽ ít về được vì bận lắm. Cô đã tính toán, tạo phước để cứu giúp cho gia đình rồi, chẳng qua thời cơ chưa tới, và nghiệp của Má tôi, của vợ chồng tôi cũng như mọi người còn phải chịu cay đắng khó khăn thêm một thời gian nữa, thì mới an nhàn được.

Tôi hậm hực hỏi :

– Như vậy thì còn phải chịu đựng bao nhiêu lâu nữa?

Cô ta chỉ lắc đầu buồn bã, không trả lời câu hỏi đó. Tuy nhiên cô ta có khuyên gia đình là hãy cố gắng lên, mọi chuyện rồi sẽ được an bài tốt đẹp. Tuy sẽ còn nhiều nạn tai, khó khăn, nhưng bất kỳ gặp chuyện gì cũng có cô ra tay cứu đỡ cho tai qua nạn khỏi, tiền hung hậu kiết hết… Riêng vợ chồng tôi, cô có nói thêm, bất kỳ gặp chuyện nguy nan gì, hãy kêu đến tên cô, cô sẽ về giúp cho, phải ráng vững lòng tin. Thật tình mà nói, tuy tôi chứng kiến nhiều chuyện rất lạ lùng của cô em tôi đã làm, nhưng chuyện cô ta nói sẽ cứu cho cả gia đình tôi thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn hiện tại, tôi không tin tưởng chút nào hết cả !! Có mấy ai ở vào hoàn cảnh của chúng tôi lúc bấy giờ mà còn vững lòng tin vào những lời nói của cô ấy chứ ? Tuy nghĩ thế nhưng tôi không dám nói ra.

Không lâu sau đó, gia đình tôi bán hết nhà cửa đất đai ở ấp Hưng Bình, dắt díu nhau về Saigon, tá túc ở nhà bà dì, chị ruột của Má tôi. Mặc dù bà dì rất thương gia đình chúng tôi, nhưng bao bọc cho cả đại gia đình chúng tôi vào lúc bấy giờ quả thật là một điều khó khăn vô cùng, không những khó khăn về tài chính, mà còn khó khăn về mặt chính quyền địa phương. Bị kêu lên kêu xuống mấy lần riết gia đình tôi đâm liều, cũng may sau đó có một anh chàng công an khu vực còn trẻ, tánh tình rất dễ chịu không hiểu từ đâu đổi về phụ trách khu vực phường chúng tôi đang ở, thỉnh thoảng tôi cũng mời anh ta đi nhậu, nhưng thật tình mà nói tôi biết không phải vì vấn đề này mà anh ta tốt với gia đình chúng tôi, mà có lẽ vì anh ta thấy gia đình tôi nheo nhóc nên tội nghiệp hay sao đó? Anh ta đã ngó lơ cho gia đình tôi nhiều lần, một vài lần xét hộ khẩu, anh ta cho biết trước để gia đình tôi đi tránh. Nhờ vậy nên cũng đỡ khổ.

Thời gian này tôi ngồi sửa và bơm quẹt gas sống qua ngày, bà dì tôi có một trường dạy may, bà để cho vợ tôi và hai đứa em gái đứng ra dạy, còn một cô em nữa thì xin được một chỗ bán trong tiệm sách, nói chung cuộc sống tương đối dễ thở hơn lúc trước còn trên rẫy. Đồng thời trong lúc này, nhiều bệnh nhân ngày trước cô em tôi về chữa cho hết bệnh, thấy gia đình chúng tôi quá khó khăn, nên cũng giúp đỡ bằng nhiều cách, sau này có người có thân nhân làm trong UBND quận Phú Nhuận đã giúp đỡ cho gia đình chúng tôi vào được hộ khẩu thành phố.

Riêng vợ chồng tôi vẫn còn gặp nhiều lận đận lắm, tôi còn bị nạn hai lần tù nữa !! Trong cảnh khổ lại gặp được cứu tinh khác giải nạn cứu vớt chúng tôi, nhưng đó là những câu chuyện khác trong cuộc đời của tôi. (Được ghi lại trong Hồi Ký Chí Hòa đã xuất bản và Hồi Ký Vượt Biên của cùng tác giả)

Câu chuyện của cô em trong gia đình mà tôi vừa kể quả thật rất kỳ lạ và rất khó tin, nhưng đó là một câu chuyện thật mà cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn cái cảm giác rợn người.

Ngồi viết lại câu chuyện này, tôi không hiểu điều mà cô em tôi nói đã tạo phước cho gia đình ứng nghiệm như thế nào ?

Nhưng có một điều tôi thấy rất là lạ lùng: Đó là sau khi bán hết nhà cửa đất đai bỏ về Saigon, những may mắn tình cờ đưa đẩy đến, gia đình tôi được nhiều người giúp đỡ, lần lượt bằng những lần vượt biên khác nhau, hơn 10 người đã qua Mỹ được hết mà không tốn kém gì cả. Má tôi và đứa em út cũng được anh em tôi bảo lãnh qua diện đoàn tụ, nhưng vì cuộc sống ở Mỹ không thích hợp với bà, cho nên sau đúng một năm bà đã về lại VN. Giờ đây các anh em tôi, ai cũng có gia đình đàng hoàng, công ăn việc làm ổn định, các con cháu ngoan ngoãn, học hành tốt đẹp… Mặc dù không bằng ai, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy thoả mãn lắm rồi. Không biết điều này có phải là kết quả do sự tạo phước trước đó của cô em linh thiêng trong gia đình tôi hay không ??

Vĩnh Khanh
***
* Ký giả Từ Thức Viết Về Nhà Văn “TIỂU TỬ”
*                              Nhà Văn Tiểu Tử
Ký giả Từ Thức Viết Về Nhà Văn “TIỂU TỬ”

Kính chuyển một bài viết của ký giả Từ Thức (Paris), giới thiệu vài nét về nhà văn «TIỂU TỬ». Bài viết ngắn, gọn, xúc tích và dễ thương… gây nhiều xúc cảm cho người đọc, nhất là những nạn-nhân của cộng sản.

Từ Thức tên thật là Trần công Sung, cựu phóng viên khóa 1 VNTTX-AN.

Nhà Văn Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

André Gide nói ‘’C’est avec des beaux sentiments qu’on fait de mauvaise littérature‘’ (Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở). Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt, chỉ có tình người. Một nhân vật nói về một nhân vật khác trong truyện ngắn ‘’Made in Vietnam’’: người chi mà tình nghiã quá héng?. Độc giả nghĩ tới câu đó mỗi lần lại gần những nhân vật của Tiểu Tử. Người chi mà tình nghiã quá héng. Độc giả chai đá tới đâu, đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghiã đồng bào vẫn còn những người tử tế. Và thấy đời còn đáng sống. Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động… Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực.

Miệt Vườn

Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không ‘’làm văn‘’. Ông kể chuyện; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách, ông viết với tấm lòng.

Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Điệp, Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My, Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm, bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hoà, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa chỉ rất ‘’miệt vườn‘’, chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương, lạ tai, ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ.

Tiểu Tử, 88 tuổi, kỹ sư dầu khí, tác giả nhiều tập truyện ngắn (Những Mảnh Vụn, Bài ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời) học ở Marseilles, hiện sống ở ngoại ô Paris, nhưng văn của ông không lai Tây một chút nào. Rất Việt nam, đúng ra rất Nam Việt, với lối viết như người ta kể chuyện bên ly la de, bên tô hủ tíu, với những chữ nghen, chữ héng, chữ nghe…’’Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà…’’. Dưới ngòi bút của một tác giả người Bắc, người Trung, gọi người đàn bà là con Huê, con Nhàn có vẻ hỗn, ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân ái.

Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Tiểu Tử đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương làm giầu cho văn hoá dân tộc. Cố gắng bắt chước lối diễn tả Hà Nội là một lầm lỗi, nó chỉ làm cái vốn văn hoá của ta nghèo đi.

(Sự thực Hà Nội ngày nay không còn gì là nơi văn vật, cái gì cũng ‘’đéo‘’. Còn báo Nhân Dân không? Đéo còn, chỉ còn Người Hà Lội).

Những giọt nước mắt

Văn chương là hư cấu, nhưng đọc Tiểu tử, người ta thấy cái chân thực, có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của tưởng tượng. Tất cả đều la những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại. Vả lại, ở Việt Nam, thực tế vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã, đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra. Trong ‘’Thầy Năm Chén‘’, ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghiã, bị cách mạnh hành hạ, chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con, thằng Kiệt, ‘’một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút, nói: cho con cái ni (ông là người gốc Huế). Con giữ trong người để hộ thân. ’’Kiệt đến Canada an toàn, một ngày dở cái gói của cha cho ngày vượt biển. Trong đó có ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén, nghèo đói quá, đã cạy ba cái răng vàng cho con làm của hộ thân đi tìm đường sống ở xứ người. Độc giả hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén chỉ ăn cháo.

‘’Chiếc khăn mùi xoa‘’ có thể coi là điển hình cho truyện ngắn Tiểu Tử, trong đó có sự xúc động cao độ, đẫm nước mắt, với những nhân vật nhân hậu, giầu tình nghiã, những chi tiết éo le như một cuốn phim tình lãng mạn, nhưng đơn giản, chân thực.

Một người Việt tị nạn ở Pháp về thăm nhà, gặp những người bạn học cũ, trong đó có nhân vật chính, ‘’con Huê‘’, sự thực là một người đàn bà đã đứng tuổi. Ông ta kể lại: ‘’Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ: Anh qua bên Tây, gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh. Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê nói với tao: Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận. Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên, phải có nước lớn nước ròng‘’.

Tiểu Tử viết chuyện tình âm thầm của người đàn bà từ ngày còn đi học, tới ngày nay đã bạc đầu, với người bạn trai ngày xưa tên là Cương, nhưng sóng gíó 75 đã khiến người đàn ông bỏ nước đi lánh nạn. Người con gái của ông Cương, đang sống ở Bruxelles, đọc truyện, cho tác giả hay bố mẹ đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái: ‘’Con ráng tìm cách về Nhơn Hoà, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết‘’. ‘’Cái này ‘’ là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thấy thương bố, thương cô Hai Huê không cùng. Cô gái đi Việt Nam, một xứ xa lạ, tìm về Nhơn Hoà, Cầu cỏ, tìm người bà tên Huê để trao lại kỷ vật của người đã qua đời. Cô Hai Huê xỉu đi khi nghe tin người bạn xưa đã chết. Hai người đàn bà, một già, một trẻ ôm nhau khóc. Nếu bạn là người tưởng mình có tâm hồn sỏi đá vì đã sống, đã chứng kiến đủ mọi thảm kịch của đời sống, nhất là đời sống của một người Việt Nam, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang lau nước mắt.

Không Điên Cũng Khùng

Thế giới truyện ngắn của Tiểu Tử xoay quanh hai đề tài chính: những kỷ niệm về một Miền Nam hiền hoà, chất phác, nhân hậu ngày xưa, với những trò vui đưà nghịch ngợm của đám bạn bè trẻ, những mối tình mộc mạc của những người dân quê và, sau đó, những đảo lộn sau 75, khi tai họa trên trời giáng xuống. ‘’Tất cả đều bị xáo trộn, bị nghịch lý đến nỗi tao sống trong đó mà lắm khi phải tự hỏi: làm sao có thể như vậy được‘’. Một xã hội vô tư, kể cả vùng quê, trở thành địa ngục. Chỉ còn hận thù, phản trắc, gian sảo, cướp đoạt, dối trá.

Những nhân vật của Tiểu Tử không còn cười đuà, vui chơi, dễ dãi nưã. Đó là những nhân vật đầy ưu phiền như ông Tư, như bà Hai, như thầy Năm Chén, như anh Bẩy, như bà Năm cháo lòng. Một xã hội đổ nát, rách bươm… ‘’Những người ‘’cách mạng’’ xông vào nhà, ngang nhiên hùng hổ, như một bọn cướp. Họ ‘’bươi‘’ từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước… giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm tra nấy. Vậy rồi… hốt hết. ‘’

Sau 75, người ta truyền nhau một câu ca dao mới: “Thằng khôn thì đã vượt biên. Những thằng ở lại không điên cũng khùng”. Các nhân vật của Tiểu Tử, vốn là những người miền Nam hiền lành, dễ tin, yêu đời, nhiều người đã hết lòng với ‘’kháng chiến‘’, sau ‘’cách mạng’’, đều bị đàn áp, gia sản bị cướp đoạt trắng trợn trong những chiến dịch ‘’đánh tư sản mại bản‘’ trở thành không điên cũng khùng

Ông Tư (trong IM LẶNG) là người có gia sản ở Saìgòn, đã bí mật đóng góp tài chánh cho ‘’Giải Phóng’’. Khi Cộng Sản chiếm miền Nam, không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị cướp sạch. ‘’Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ cuả ông đang chờ đợi ông ở nhà‘’… Nhưng bà vợ tiếc cuả, uất hận vì bị cách mạng lưà gạt, suốt ngày đay nghiến trách móc chồng. Rốt cuộc hai vợ chồng tìm được cách chạy sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cưả sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn. Ông con nói, giọng đặc ‘’Việt kiều yêu nước’’: ‘’Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý‘’. Ông Tư trở thành một người câm, không nói gì với ai nưã. Cho đến một hôm lầm lũi lội chết dưới biển.

Bà Hai (trong Thằng Đi Mất Biệt), con cái chết, gia tình tan nát, suốt ngày ngồi chờ đưá con trai còn lại bị đưa đi cải tạo. ‘’Khi trời nắng ráo, bà đi tuốt ra ngoài vàm rạch, lên ngồi trên môi đất có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, “khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông, mình cũng nhìn ra đươc nó liền hà‘’.

Thầy Năm Chén (trong truyện cùng tên) phòng mạch bị chiếm, con trai phải bỏ đi kiếm ăn. ‘’Chia tay nhau mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghiã trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý. Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ chỉ thở dài là không ai để ý. Bởi vì ai cũng thở dài hết”.

Ông già bới rác (truyện cùng tên) là một ông già có công với ‘’cách mạng’’, bi cách mạng cướp hết không còn manh giáp, trở thành khùng, suốt ngày lang thang ngoài đường bới rác, ‘’tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng tao đã nuôi trong nhà‘’

Trong Những Mảnh Vụn, người yêu ‘’đi chui bán chánh thức‘’, nghiã là đi vượt biển do cán bộ tổ chức, biệt tăm, chắc mất xác vì tầu quá cũ bị chìm, anh Bâỷ suốt ngày, như một người mất hồn, đi qua lại tất cả những nơi ngày xưa hai người vẫn hẹn hò. ‘’Bẩy không biết mình đang đi lượm những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái ‘’ngày cách mạng thành công‘’ đã thật sự thành công trong nhiệm vụ đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt, tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó‘’.

Bà Năm cháo lòng ‘’vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi cả nước‘’

Đọc Tiểu Tử, người ta không thể không xúc động… Nhưng văn Tiểu Tử cũng đầy nét khôi hài, những nhận xét ngộ nghĩnh. Phòng mạch của Thầy Năm Chén ‘’bịnh nhơn cũng vắng. Làm như người ta sợ quá rồi… quên bịnh. Trái lại, bên phía chuà thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như người ta chỉ còn biết… dựa vào Phật‘’. Qua vài nét chấm phá, ông ghi lại những cảnh trái tai gai mắt, những cảnh lố bịch của những người thắng trận. Những cảnh không biết nên cười hay nên khóc diễn ra trước mắt, mỗi ngày, chỉ cần ghi lại, không thêm thắt, bình luận. André Gide: Plus un humouriste est intelligent, moins il a besoin de déformer la réalité pour le rendre significative (Một nhà khôi hài càng thông minh, càng không cần bóp méo sự thực để làm cho nó có ý nghiã). Tiểu Tử không cần bóp méo sự thực, chỉ việc cúi xuống lượm, ghi lại những cái lố lăng, đảo lộn luân thường diễn ra mỗi ngày, trước mắt.

Muốn hiểu lịch sử, hay xã hội trong một giai đoạn lịch sử, không gì hơn là đọc các nhà văn. Hơn là những sử gia, những nhà biên khảo, nhà văn, trong vài chữ, vài nét, cho thấy mặt thực của xã hội. Văn chương đi vào trái tim, trong khi biên khảo chỉ đi vào trí óc. Không có xúc động, rất khó có cảm thông, không có cảm thông, không sống với người trong cuôc, làm sao hiểu được? Một câu danh ngôn: ‘’một người chết là một bi kịch, một triệu người chết chỉ là một con số thống kê‘’. Tiểu Tử không làm thống kê, ông ghi lại bi kịch của một nhân vật, của tôi, của anh, của mỗi người. Mỗi câu chuyện cuả ông là một bi hài kịch (farces tragiques) của một thời đảo điên.

Truyện ngắn Tiểu Tử, với lối hành văn bình dị, linh động là một cuốn tự điển sống của ngôn ngữ miền Nam thời chưa loạn. Đó là kho tàng quý, trong khi ở hải ngoại, chữ Việt càng ngày càng lai Tây, lai Mỹ; trong nước càng ngày càng lai Tầu, với những chữ, những lối nói ngớ ngẩn, đôi khi kỳ quái, khiến tiếng Việt không còn là tiếng Việt, báo hiệu một ngày người Việt không còn là người Việt. Truyện ngắn Tiểu Tử là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài, nụ cười trong những ngày bình an và ngay cả trong cơn đớn đau cùng cực. Ông là một nhân chứng quý báu của một giai đoạn bi thảm, một cuộc đổi đời ghê rợn nhất trong lịch sử Việt./-

TỪ THỨC
***
*TÚY HỒNGBuổi chiều nghiêng không thẳng, chiều tà

Truyện ngắn

Theo tiên đoán thời tiết, từ tháng 5 đên tháng 7, mưa Việt Nam mất muà, những cơn áp-thấp giảm sức ép, các đợt khí lạnh ở trên trời cao không xuống trần để giảm nóng các luồng hơi nhiệt, và mây gió lãng mạn trôi qua trời nam sẽ tạm vơi nỗi sầu thương. Năm nay thời tiết quê hương hiền, không hậm hực nóng như đường, không bất thường thay đổi như tâm điạ đàn bà. Trên đầu Hương, tóc đen đã rụng hết rồi. Theo Y-học Đông-phương, đường là thức ăn rất nóng rất độc, Hương hảo ngọt ăn chè, nên đường làm tóc Hương sớm bạc. Giờ đây, trên cái đầu này, Hương cho mọc một lớp tóc màu muối biển, màu muối mặn của cửa Thuận
An, cá thu ngàn, nơi cất giữ một thời trẻ tuổi Hương lớn lên trong phố cổ Huế.

Thời tiết tốt đẹp có phải là nguyên nhân thúc dục Việt kiều mau mau về
nước?

Tháng sáu, tháng bảy, nắng Sài Gòn gọi Hương về nhìn những mái tôn nghèo mới dựng lên trên biển đảo nối liền với đất lành. Hương nghe tiếng cười tiếng nói giọng Huế giọng Bắc-Nam, tiếng sấm rền từ dãy Trường Sơn, tiếng sóng vỗ từ biển-đảo Trường Sa.

Trời mây quê hương và hồn vía sông núi cũng nhắn-nhủ những Việt kiều khác cùng về nước với Hương để nghe sóng Hoàng Sa ghi thanh từng mỗi một
câu nói đa tình của chàng Vọi đẹp trai trả lời cô Hiền trong tiểu thuyết Trống
Mái của Khái Hưng, và Việt kiều về nước cũng để tìm đọc những trang báo Tuổi
Trẻ đăng lọat bài Góp đá xây Trường Sa, mảnh đất tiền-tiêu của tổ quốc.

Ra đi từ độ Sài gòn mất tên, người hải ngoại thường xuyên nhớ Sàigòn, thương tha thiết thủ đô những buổi chiều trời vơi gió. Nắng Sàigòn nóng nhựa đường xích đạo, và gió hạ Lào thổi qua đuà giỡn những cánh hoa dầu xoay xoay, mây Cửu-Long sà xuống thấp trên đỉnh những cây me cây phượng, hóng chyện nắng mưa để loan tin thời tiết cho tàu bè chạy ven biển. Tình người Việt kiều
càng nôn nao nhớ nhung những quận Ba quận Bảy của Sàigòn, lòng người Việt kiều càng xốn xang hình ảnh những thôn Thới-tứ, xã Thới-tam, phường Bình Thới Hóc Môn, dạ Việt-kiều càng thương tưởng những buổi sáng sương lam nhẹ rơi khi chân nhẹ bước dọc theo Nguyễn Du Nguyên Hồng Pasteur Nguyễn Đình Chiểu ấm nắng sớm mai, tóc Việt kiều còn ánh lên những hoàng hôn thời tiết thổn thức khi trời chưa tắt nắng để rạo rực nghe vài chiếc lá khô rơi nhẹ lên vai bức tượng trước nhà thờ Đức Bà, trong lúc đâu đó êm đềm tiếng đàn Tây Ban
cầm dạo khúc nhạc Bach. Khí hậu Sàigòn năm nay hiền hoà, Việt kiều về nước uống ly chanh đường trước công viên Tao-Đàn những chiều mưa nắng hôn nhau, và ngắm những cô gái xinh xinh đèo nhau trên xe gắn máy.

Bà hàng xóm người Miên bức xúc:

“Người Việt Nam về nước hoài, người Mỹ bảo rằng người Việt Nam nhiều tiền: Một cái vé máy bay từ đây về ViệtNam chém hơn một ngàn đô-la. Mỗi lần về, Việt kiều lận lưng một số tiền vĩ-đại. Năm nghìn đô-la, sáu nghìn đô-la..Năm sáu nghìn đô-la, thân nhân ở quê hương chê ít, vì ngộ nhận Việt Kiều là những kẻ đang leo lên núi vàng.. Những ai chưa đến Mỹ đều nghĩ rằng ở nước Mỹ, tiền đô- la bay liệng như lá vàng rơi.. Ngoài ra, trên mỗi chuyến bay, người Việtnam
mang theo nhiều thùng đồ lớn, nhiều hành lý nặng nhẹ. Do đó, người ta bảo Việt kiều ở Mỹ giàu.”

Hương đáp:

“ Trường hợp tôi, nếu xin được tiền của con cái, thì tôi mới về, hoặc gửi số
tiền ấy về nước.”

Tuần trưóc, Hương đã gọi điện thoại đến cơ quan du lịch hỏi mua vé.

Vé máy bay về ViệtNam lúc này đang bán khuyến mãi, rẻ hơn giá chính thức gần năm trăm đô-la. Nhưng, mua vé rẻ thì phải làm thư tục nhiều. Tại phòng đợi trong phi trường, nếu giấy tờ không đầy đủ, hành khách phải xếp hàng một, bổ
túc phần thiếu sót, rồi mới được leo lên máy bay, như Hương đã làm, khi phi cơ đáp xuống San Francisco..

Xong phần thủ tục, Hương ngồi xuống nghỉ mệt giữa đám đông hành khách quốc tế, nhìn một bà đồng hương đang tập thể dục thẩm mỹ trước mặt: dong tay lên, dang tay ra, xoạt chân, thót bụng.

Hàng ghế bên cạnh, một ông người Thái-Lan hỏi Hương:
“Bà về đâu?”

“Việt Nam.”

Ông ta nói:

“ Tôi về Bang-Cúc.” Hương cảm thấy vui:
“ Người Thái Lan đọc chữ Bangkok là Bang-Cúc?.. Lâu nay, tôi đọc chữ
Bangkok là Băng-Cốc.”

Ngồi trên máy bay, Hương đọc báo: Trung quốc lấn chiếm chủ quyền hai hải đảo Trường-sa và Hoàng sa, tàu Trung Quốc rượt đuổi tàu hải quân Việtnam chạy té khói trên biển Đông để độc quyền khai thác dầu khí.

Hương chỉ mang hai va ly hành lý về nước, trong lúc các hành khách khác mang xách lắm đồ.. nào va ly, nào hộp, nào thùng.

Tất cả chị em đều có mặt ở phi trường đón Việt Kiều về nước. Từ Phan
Thiết, chị Nga của Hương vào Sàigòn thăm gia đình đem theo vài thứ hải sản và
chai nước mắm chế tạo tại Mũi Né.

Chị em gặp nhau, Hương chia quà cho mỗi người một gói muối Morton mua ở Mỹ và hai cái bọt biển để rửa chén bát và lau chùi bếp, bàn ghế.

Chị Nga nói:

“Năm nay, chị vẫn trồng Thanh Long vì chưa tìm được thứ trái cây nào qúy hơn để thay thế; nhưng năm nay, chị không ký hợp đồng với Sàigòn để chuyển Thanh long đi Âu Mỹ, mà chị phải làm theo mọi người, bán Thanh-long cho Trung
Quốc.”

Về nước với nắng, Hương đi bộ trên đường Duy Tân, con đường in dấu chân sinh viên trường Luật; Hương coi tivi, thưởng thức ca sĩ ViệtNam, và xem một vài phim có võ sư nhỏ-con Lý Tiểu Long đóng vai chính.

Về nước mua đồ, mua sắm sản phẩm quê hương để đem sang Mỹ. Hương mua năm cái rổ sắt, sản phẩm chính hiệu con nai vàngViệt nam. Rổ sắt quê hương dùng để vo gạo, rửa rau, và dùng vào những công việc khác như nấu xôi, hấp bánh, hấp khoai..

Chị Nga bỗng nói:

“ Trong mấy chị em, chỉ một mình con Loan viết văn.”
Chị Loan của Hương bắt đầu viết truyện ngắn ba xu, bỏ mối cho vài tờ báo lá-cải ở Sàigòn lúc hai mươi ba tuổi. Và tai biến xẩy ra khi truyện ngắn thứ
hai, Vết thương dậy thì, được chọn đăng lên một tờ báo giàu, nguyệt san Bách
Khoa do ông Lê Châu làm chủ bút. Chị Loan đã viết đụng chạm đến dòng họ
ngoại.

Dòng họ ngoại của Hương là dòng họ có thế lực lớn nhất, rạng mặt những
công thần khai quốc, tột đỉnh danh vọng và nức tiếng giàu sang. Một dòng họ gồm nhiều anh tài, và quan quyền, dưới tất cả các chế độ quân chủ và dân chủ xưa nay. Thay vì ca ngợi công trạng giúp dân, hy sinh mạng sống, đem tài đức
văn võ tuyệt vời, vì vua dựng nước của tổ tiên bên ngoại, chị Loan lại đụng chạm
đến đời tư tình ái, và cuộc sống gối chăn của vài vị quan lớn trong họ.

Vào thời điểm đánh Tây, Phạm Văn Đồng đang dạy học tại Huế. Một buổi sáng, nhà giáo trẻ họ Phạm xách cặp bước vào lớp, giảng giải bài học Lòng ái quốc trước học trò. Rồi nói câu chia tay với bầy trẻ, rồi nghiêng vai chào học sinh và cởi áo sa đen vắt lên vai, Phạm Văn Đồng từ chức giáo học, xách cặp về vườn. Chàng đến thăm cô bạn gái làng Nguyệt Biều và thuyết phục nàng bỏ nhà đi theo
chàng vào chiến khu chống Pháp.

Người con gái Đồng yêu thương là bà cô ruột của mẹ Loan, trả lời:

“ Anh vào bưng vào biền một mình đi, tôi ở lại phụng dưỡng mẹ già.”

Khoảng giữa thập niên 1946, Phạm Văn Đồng được đề cử tham dự hội nghị tại Ba-Lê. Trước đông đủ hội viên trong phiên họp trọng đại, Phạm Văn Đồng làm dữ, đập bàn lay ghế kêu la nguyền rủa giặc Pháp xâm lăng cướp nước, bóc lột, giết hại lương dân Việt Nam, lừa đảo dân hiền vô tội.

Trước vẻ hung hăng la to hét lớn của Đồng, toàn thể hội viên trong hội trường nín lặng; nhưng sáng hôm sau, nhật báo hải ngoại đăng tin: Phạm Văn
Đồng không hội đủ ưu điểm của một nhà chính trị tài danh để thay mặt một quốc gia tham dự hội nghị quốc tế. Trong phiên họp, người đại diện nước không nên
để lòng yêu nước làm mờ mắt, không nên để cơn giận in dấu lên mặt, và cơn
nóng toát ra bằng những cử động tay chân, đập bàn đập ghế kêu thương.. Người làm chính trị phải che dấu nỗi lòng riêng khi ra trước đám đông, phải bình tĩnh để không mất trí nhớ và tài năng ăn nói.

Đến khi hội nghị Genève xé đôi đất nước, Phạm Văn Đồng cầm đầu phái đoàn tham dự. Chữ ký nào rõ nét nhất, nét mặt nào bình thản nhất, và tài ăn nói
của ai trung thực nhất. Từ hội nghị xé xác Genève trở đi, tên của PhạmVăn Đồng được xếp trong danh sách Hồ Võ Phạm.

Một buổi chiều rộng không mưa; nếu mưa, trời sẽ sẫm màu xám, làm cho không gian trông như chật chội hơn; một buổi chiều nghiêng không thẳng, chiều tà; một buổi chiều tươi, không gắt nắng, có tiếng nhiều người đối đáp và tiếng chim chiều hót trên cây mộc-miên, bà Tú đi họp hội đồng gia tộc về, mặt mày tái tê, ngồi bệt trên nền nhà, đưa tay đè ngực nén cơn khóc:
“ Con dại cái mang. Người ta đấu-tố tui, người ta kết tội con Loan viết văn du côn.. con Loan viết văn theo bản năng, con Loan viết văn vì cái quần, con
Loan không có tài năng gì hết. Bên ngoại khai trừ nó.”

Ông Tú cau mặt ngó vợ:

“ Thôi thôi nín đi mụ ơi! Không phải tất cả bà con bên ngoại đều lên án con
Loan đã viết bậy, mà chỉ một gia đình trong họ mà thôi, người ta nhân danh cả họ
mà xử tội con Loan.. Nhưng các ông lớn, ông Tham, ông Thượng, ông Cử, ông
Đại biểu chính phư tại cao nguyên Trung Phần, những nhà ái quốc cách mạng trong họ.. ai ai cũng thông cảm nó và khoan hồng cho gia đình mình.”

Đầu tiên, mỗi gia đình trong họ nhận được một lá thư mời họp hội đồng gia tộc, lập một tòa án để xét xử tội lỗi của ̉Loan. Tất cả phải có mặt đông đủ không vắng một ai, từ kỹ sư, bác sĩ, luật sư, thiếu tá quân y.. cho đến những người làm
cu-li, làm ăn mày trong họ. Truyện ngắn của Loan được in rô-nê-ô ra nhiều bản để phát cho mỗi người một bản.

Vị chủ tọa lên giọng:

“ Viết văn ba xu như vậy.. là du côn, là bôi bẩn dòng họ. Viết văn cái kiểu gì mà điều hay ý đẹp không hề nhắc tới một câu, mà chỉ nói toàn chuyện bà chuá ngoại tình, ông hoàng đi hoang, phò mã dê xồm. Viết văn cái kiểu gì mà đọc lên không cảm thấy dễ chịu trong lòng, mà chỉ cảm thấy bực mình khó chịu. Chúng ta ai cũng biết rằng văn sĩ cần phải lãng mạn, như thương một đám mây mồ côi lang thang, mê một cơn mưa lẻ-loi trái muà, ngắm một chút cảnh đẹp nào đó..
nhưng con Loan đã làm tàng, đã vung tay viết bạo, đụng chạm đến gia phong, bôi nhọ giòng họ, làm hư hại truyền thống cao đẹp của tổ tiên.”

Cử tọa vỗ tay, một người đề nghị:

“Phải có một giải pháp trừng phạt đích đáng.”

Ánh nắng chiếu mạnh như húc vào da thịt. Nắng Huế nóng, gió Huế thở nhẹ không lay động mấy bụi chuối lá rộng và dài. Những cây tre thì uốn mình muá vũ. Theo sự tìm kiếm mới lạ nhất, cây tre trăm năm mới nở hoa một lần, và nở một lần rồi chết.̉

Nhiều người đồng thanh: “Phải trị tội mới được.”
“Viết bài cải chính đăng lên báo trước đã.”

“Viết một bức thư gửi ông Hiệu trưởng trường Hàm Nghi, nơi con Loan dạy học.”

“ Thuê 5 tên ăn mày chợ Đông Ba nhét cứt vào miệng con Loan trước cổng trường Hàm Nghi.”
Sau khi cuộc họp mặt bế mạc: một ông rể quý trong họ cầm bức thư cậy đăng, và bài viết cải chính dày 8 trang đến tòa báo Bách khoa đưa tận tay chủ nhiệm. Chủ bút Lê Châu xé xấp giấy quẳng vào sọt rác.

Cả nhà mừng cho Loan thoát được xì-căng-đan lớn. Bà Tú dí ngón tay vào trán Loan:
“ Mi phải biết ơn đức các ông lớn trong họ ngoại đã thương tau mà khoan hồng mi.”

Ông Tú không đọc sách báo tiếng Việt, nhưng ông thầm nghĩ chắc Loan viết cũng được, có thế nào báo Văn Hữu mới trả nhuận bút một ngàn rưỡi đồng cho truyện ngắn đầu tay, báo Bách-khoa trả một nghìn đồng cho truyện ngắn tiếp theo. Ông khuyên Loan:

“ Trong nghề văn có ân oán giang hồ. Văn-sĩ không mấy ai tốt bụng, họ ganh tài nhau, họ dìm nhau. Nhưng thôi, vòng ân oán đã vướng rồi.. Con Loan! Bây giờ đã muộn, đời mi đã đảo điên rồi, tau có khuyên bảo gì thì mi cũng không nghe.
Thôi thì, đời con gái đã lỡ viết lách năm ba con chữ rồi, tau khuyên mi không nên đụng đến uy thế của kẻ mạnh, không nên đụng đến đám đông làng nước, không nên đụng đến kẻ nắm quyền hành trong tay, mà chỉ nên đập vào mặt kẻ yếu thế,
bẻ gãy lưng kẻ sa cơ, kẻ đứng cô độc ở chân tường một mình không ai bênh vực.. để tránh khỏi cái nạn đám đông cả họ cả làng xúm lại lên án.”

Bao nhiêu thập niên đã qua nhưng dư luận vẫn còn chút ít, tai tiếng vẫn còn văng vẳng. Mới đây, chị bạn ở tiểu bang Oregon điện thoại nói chuyện:

“ Chị Loan đi đâu cả tuần lễ vậy, gọi hoài không được.”

“ Thăm người em ở San Jose..Cậu ấy chở đi chùa mỗi ngày.. Việt kiều ở Cali góp tiền xây chùa đẹp lắm. Tôi có đến thăm cô giáo Nhân Tâm.”

Chị bạn hỏi:

“ Chị mà cũng đi thăm người này người nọ họ hàng bà con sao?”

Hỏi xong, chị ấy cúp ngang đường dây:

“ Xin lỗi chị, tôi phải gọi điện thoại đi Nam Cali hỏi dò chút chuyện”.

Cô giáo Nhân Tâm là em họ của mẹ Loan. Theo tin đồn thì Loan đã bị bà con khai trừ, không ai cho vác mặt tới nhà nữa. Chị bạn này mỗi ngày điện thoại, bảy ngày điện thư cho Loan, nhưng không thương Loan. Chơi với nhau đã dài lâu,
chị không bênh vực Loan, chỉ tin vào lời đồn và sức mạnh của dư luận, đã nghi ngờ Loan nói láo, nên gọi điện thoại viễn liên đi vài nơi để hỏi, để kiểm tra sự thật: Loan vẫn bị bà con nội ngoại tẩy chay, bị nhét cứt vào miệng, bị nhét sán lãi vào mồm, hay đã được tha thứ.
Bị họ hàng vật một cú như vậy, nhưng bản năng văn nghệ trong Loan cứ vùng lên, cứ còn không hết.. Ngày hôm nay ở Mỹ, dù thân phận của văn chương đang xuống giá, thua tô phở, thua cháo lòng, thua bún bò Huế, thua gỏi cuốn, và vắng teo độc giả. Loan vẫn văn nghệ văn gừng cay cay như tương ớt đỏ, như nước mắm chua ngọt ngâm cà-rốt thái chỉ..

Tuần lễ sau, chị bạn gọi lại, nói chuyện khác:

“ Chị Loan sắp về Việt Nam phải không?.. Nhưng quê hương đâu còn nưã mà về, người ta đã bán đứng Việt nam cho Trung Quốc rồi.”

Chị bạn của Loan càng già, càng gân, càng chống Cộng dẽo dai. Mới hơn mười năm về trước, chị bạn là người ôn hoà; gần đây, bỗng dưng chị vùng lên chống Cộng mãnh liệt như cơn lũ-lụt, như luồng gió-o.

Chị bạn tiếp:

“ Người ta đang âm mưu sáp nhập Việt Nam vào Trung quốc.”

Chị bạn chống Cộng như chống ma tà, ma túy. Chống Cộng bao giờ cũng rất hay,
rất tốt, rất đẹp; nhưng nếu bất cứ một giây một phút nào cũng gồng lên chống Cộng, đập vỡ mặt thằng Việt Cộng, đá đít thằng Việt Kiều thân Cộng.. thì găng quá. Đôi khi, cần phải chống Cộng nhẹ tay và ôn hoà hơn chút xíu!.

Dưới thời Thiệu-Kỳ, Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, dân chúng miền Nam đã xuống đường biểu tình, dong biểu ngữ phản đối thái độ tiêu cực của chính quyền hồi đó không quyết tâm bảo vệ đất đai và biển đảo. Đến bây giờ,
Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, chuyện đó chắc ăn như bắp.

Chị bạn nói:

“ Hoàng sa và Trường sa bây giờ thuộc về Trung Quốc rồi ”

Loan trả lời:

“ Những người biểu tình thời Thiệu-Kỳ phần đông vẫn còn sống đến bây giờ. Những ngày giờ tôi về Việt Nam, tôi không biết họ có còn biểu tình ngồi, hoặc biểu tình nằm gì gì nưã không, nhưng vẫn biết họ còn sống. Trước 1975. Chính quyền cũ không nắm được lòng dân, dân miền Nam một dạ hai lòng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, hơn tám mươi lăm phần trăm dân số huà theo kẻ mạnh là Cộng sản. Hồi đó, người ta ví von miền Nam là đĩa tiết canh vịt, chỉ mấy hạt đậu phọng rang lắc rắc trên mặt..là Quốc, còn bao nhiêu máu ở dưới..là Cộng. Hồi đó quê hương đau buồn đứt ruột, sinh viên học sinh quậy và phá quấy, tuổi trẻ thác loạn, biểu tình đả đảo hoan hô, bụng thì đã ăn no ở nhà, miệng thì nhân danh Phật tử tuyệt thực xuống đường.. Hôm nay, qua tin tức báo chí, tôi nghĩ rằng, ngưòi
dân ViệtNam sẽ không để mất đất đai, mất biển và đảo.”

Chị bạn laị chống Cộng tiếp:
“ Nguyễn Tấn Dũng đã sáp nhập Việt nam vào Trung Quốc. Tôi tuyên bố không nhận nơi này làm quê hương.

Loan nói:

“ Quê hương vẫn là quê hương muôn thuở. Sau 1975, lần về nước đầu tiên, tôi nhận thấy Việt Nam nghèo; lần về nước thứ hai, tôi nhận thấy Việt Nam vươn lên; lần về nước thứ ba, quê huơng giàu mạnh hơn. Việt Kiều về nước là vì nước mà họ về, chứ không phải vì mấy ông ngồi ngồi trên chóp bu đó. ”

Lũ lụt rút lui, mưa tạnh, ánh sáng mơng như lụa len qua mây, rọi xuống cuộc đời ngọt như chén chè ba màu và đẹp như con mèo tam thể. Hương vẫn rong chân đi bộ đến trường học, Hương vẫn ở Huế cho đến năm 16 tuổi mới theo gia đình vào Sàigòn.

Sàigòn vừa lãng mạn đa tình vưà thực tế.. Cha mẹ Hương sinh ra một thằng con trai ít nói, và nhiều đứa con gái lãng mạn! Thương một đám mây, một cơn mưa, thương trời nắng và thương đàn ông nhiều nhiều. Nếu chị em Hương chừa bỏ được cái tính lãng mạn thuyển tình ấy đi! Lãng mạn thì không làm ăn gì được hết, không kiếm ra một đồng xu nhỏ. Mấy chị em lãng mạn quá cỡ, mơ theo vầng trăng chiếu lệch đầu non, mộng theo đám mây in bóng dòng nước, và không ai nhìn xuống thấp để mà mơ lấy một ông thợ mộc hạ cấp, dùi đánh đục, đục đánh săn, ai cũng ham chơi với những tay lớn. Chị Loan của Hương, từ tấm bé đã hiểu
công dụng của phấn son, đã đánh trộm môi son từ lúc choai choai còn học trường
Đồng Khánh. Và các chị khác của Hương, vài chị đã vấp phải những trở ngại của những mối tình đầu, để rồi khi tàn những cuộc vui viễn mơ tiểu thuyết, khi hết những muà xuân xanh, hạ hồng, đông xám, thu vàng.. thì chỉ còn biết quay về trốn chui trối chủi trong nhà với cha mẹ! Mối tình đầu, nếu thất bại, có thể tai hại đến những mối tình sau và tình cuối.

Và Huế thì khỏi nói.. Huế lãng mạn xác thịt, đa tình văn nghệ. Huế hiền như ni cô, Huế thơ như thuyền tình chòng chành sóng nước sông Hương. Gái Huế thiếu thực tế, sống sai công thức, vui chơi với tiếng reo của nụ cười, tiếng rơi của giọt nước mắt, tiếng rụng của lá úa muôn chiều, và vẻ quyến rũ của mái tóc thề buông xõa bờ vai.

Em xa Huế, để anh tờ di chúc

Hết mưa buồn anh đếm bước Văn-lâu

Giữa sáu vài Trường-Tiền gọi tên nhau

Anh sẽ gặp dáng màu trăng Tôn-Nữ.

Đông Hương
Huế trữ tình thân xác. Dọc theo bờ cỏ, với hàng cây cao niên trên ghềnh núi Ngự và ven bờ sông Hương, thảo mộc mọc chen chúc cùng các loại nấm như nấm tràm, nấm mối, nấm mèo. Thời tiết nhẹ êm tiếng nhạc Bach từ cung Si thứ trên những đường dây Tây Ban-cầm. Mảnh trời rộng, gió mây duỗi mình, đàn chim sẻ vô tư bay thẳng không liếc mắt quẹo trái. Những cành cây già khẳng khiu hình như có mập ra, và mọc râu xanh như rêu. Người yêu! Anh có nghe gió đêm và tiếng đàn tranh dạo trên tình sử từ cung đình Huế? Mặt trời sẽ mở ra những cánh cửa tái nhạt. Người yêu! Tất cả mọi vật vẫn yên ngủ, có phải anh một mình thao thức để nghe tiếng đàn sáu giây trước khi anh xa lìa em? Và gió đêm đáp lại lời
anh bằng tiếng kinh ca, bằng lời tâm ca, trước bàn thờ Thích Ca? Rồi muà thu
chết để lại lời di chúc buồn thiu, muà đông ngủ giấc đông miên với nỗi sầu sủi bọt, muà xuân vươn vai tỉnh mộng và muà hạ gia tăng sức hoạt động cười tươi
ánh sáng. Chị em Hương càng lãng mạn đa tình can không nổi!

Bờ bên ni tâm tư hương tóc

Bờ bên tê âm vọng lời ru

Tiếng của thơ những đêm nhớ nhất

Hoài trông người biển lại chừ xa.

Đông Hương Hơn một lần, Hương nghe nhà thơ Thanh Hiền nói: “ Tôi không thích người Huế!”
Hương về nước lần này để ăn những món ngon. Mấy bà chị của Hương là những tay nữ công gia chánh kỳ tài, có người làm được món nem chua và món bánh sen chấy, sen tán, có người giỏi đan thêu và may được áo dài.

Hương nói với mấy chị:

“ Việt Nam bây giờ kinh tế cải tiến! Nhiều gia đình Việt Kiều ở Mỹ bây giờ xài toàn những đồ sản xuất tại Việt nam. Lần này về, em phải mua ba cái rỗ bằng sắt, bốn gói đậu ngự, đậu xanh, ba ký tôm khô.”

Cô Út xì một câu:

“ Chỉ mua chừng đó thôi sao? Việt Kiều dối gian, hà tiện”. Chị Phương reo:
“ Ai ra xứ Huế.. Chị Loan và con Hương nên ra Huế một chuyến?.” Chị Loan trả lời:
“Hết tiền.”
Chị Hiền háy nguýt:

“ Mỹ không bao giờ để ai chết đói trên đất Mỹ. Ngày ba mươi tháng tư, mỗi Việt
Kiều bỏ nước ra đi đều được Mỹ phát cho mỗi người một túi tiền. Ngày ba mươi tháng tư.. quân lính, binh sĩ miền Nam Cộng-hoà cởi bỏ chiến bào ka-ky, vứt tung
lon vàng và phù hiệu, quẳng hết áo trận giày đinh, đầy đường phố, đầy ngõ hẹp
để tháo chạy thoát thân.” Nghiêm tiếp:
“ Miền Bắc thắng miền Nam, vì dân miền Bắc giỏi chịu đói không ai bằng! ”.

Nhưng đã qua rồi ba mươi tháng tư; ba mươi tháng tư với ơn Phật từ bi cứu độ, Mỹ ra tay vớt hàng trăm ngàn vạn người bơi trên biển..

Quê hương còn Cộng sản không anh? Việt Nam hiện tại là thiên đường Cộng
Sản. Việt Nam quá khứ nếu không Cộng sản thì là cái gì? Nhưng thôi dẹp chuyện
Việt Cộng Việt kiều sang một bên, bây giờ thì chỉ cần biết một chuyện là Việt
Kiều về nước để mua vui, và về nước lần nào cũng vui hết sẩy, cũng ăn ngon, ngủ ngon, cũng hạnh phúc sung sướng, cũng thấy an toàn, chạy xe bon bon trên xa lộ cũng cảm thấy an toàn luôn! Chỉ có lúc ngồi trên tàu bay, thì có hơi lo máy bay
rớt mà thôi!

Phương nói như tả cảnh:

“ Huế bao giờ cũng đẹp về phần ngoại hình, và thâm sâu về phần văn nghệ. Những người nghiên cứu về Huế, tiếng địa phương gọi là những nhà Huế
học_ như nhà văn Nguyễn Đắc Xuân và nữ sĩ Minh Châu Nguyên Ngọc, nhận
xét rằng Huế thu hút vào tất cả cái đẹp của trời đất và văn minh bên ngoài rồi Huế
tỏa ra cho du khách thưởng ngoạn. Huế bây giờ là danh lam thắng cảnh hàng đầu
của quê hương.”

Bất chợt, một hơi thở của gió và một cơn mưa bắt đầu rớt xuống, một chuyến
mưa khứ-hồi đổ vào đất thật nhiều nước. Một nhà văn đương đại Trung Quốc gọi đó là mưa Tàu. Mưa đen. Nhưng mưa Việt Nam thì bao giờ cũng trắng. Những
hạt nước nặng tát mạnh vào mặt đất, xối ào ào lớp cơ xanh. Và nhiều hạt nước reo
vang, giọt tung trắng xóa, bọt bắn bong bóng. Và người đi đường ướt áo khi về tới nhà. Và người ấy đứng sau khung cửa nhìn ngắm từng vũng nước mưa. Rồi một lúc sau thì lũ lụt chảy đầy kênh đào. ViệtNam bây giờ mưa nắng bão lụt trở mình nhanh như phản ứng hóa học…

Rồi cơn mưa tạnh, rồi nắng lớn dần. Hương nói tiếp:
“ Em là kẻ đến sau. Chị Loan đi Mỹ hồi ba mươi tháng tư..Nhà chị Loan treo sáu
cái đồng hồ Thụy-Sĩ. Nhà chị Loan mỗi phòng đều có buồng tắm riêng. Chị Loan
là Việt kiều cũ, còn em là Việt kiều mới. Chị Loan giàu như Ba Tàu sang Mỹ lập nghiệp.”

Loan cãi:

“ Nhà chị không treo sáu cái đồng hồ, nhưng mỗi phòng trong nhà đều có một
cuốn tự-điển Hán-Việt, để chị học những chữ, những tiếng và những câu văn mới. Sau 1975, tiếng Việt đẻ ra lắm từ ngữ mới. Đến năm 1985, tiếng Việt càng phong
phú hơn khi phong trào dịch sách ngoại quốc ra tiếng Việt.”

Nước Mỹ ngọt, nhiều sông và nhiều suối, dồi dào tài nguyên, người dân từ các quốc gia xa xôi đã đến tìm vàng…

Một nước Tàu diện tích rộng bằng cả Châu Âu. Một tỉnh-lỵ Kwantung, một vùng
châu thổ sông Pearl..đã đào tạo nên bao thủy thủ anh hùng..

Từ thế kỷ 18, Trung Quốc không bế quan tỏa cảng, hải địa Canton đã mở toang những cánh cửa, có lẽ chỉ đóng lại những cánh bốn dài hai ngắn mà thôi, để
Trung Quốc rộng ̣đường giao thương cùng thế giới bên ngoài. Người Âu-Á đến đó mua bán, trao đổi hàng hoá: xà bong thơm, thuốc phiện chính hiệu Ấn Độ.. để đổi lấy lụa Tàu toàn tơ và trà Tàu ướp tim sen.

Năm 1848, nguồn tin chính thức từ hải ngoại loan đồn công khai rằng
mỏ vàng phát hiện ở Sacramento Cali; thuyền nhân Trung Quốc thi đua vượt biên, băng qua biển đảo Pacific, hăm hở đến Núi Vàng, một cái tên người Tàu tặng nước Mỹ. Năm 1862, đợt vượt biên lần thứ hai, người Tàu đổ xô đến sông Columbia, đến Barkerville..Nhiều năm sau, năm 1913, trong một lần vượt biên có bảy nghìn người gồm những Chan, Chen, Chin, Wong, Mah vv..một thuyền nhân
Trung Quốc đến phố Tàu thuê phòng mở cửa tiệm muối cá mòi, đóng hộp cá trích. Tám năm trôi qua, anh trở thành tỉ-phú và về cố quốc cưới vợ. Trong thời điểm này, người Hoa nhập bọn với người da trắng đua nhau tìm vàng.

Từ lần vượt biên đầu tiên, nhiều người Tàu đã ở lại làm nghề bồi bếp, rửa chén bát, giặt quần áo, cưới một vợ lớn tại My, rồi sau đó trở về quê quán lấy vợ hai,vợ ba.

Các phố Tàu dần dần mọc lên, người Trung quốc quơ tay kiếm tiền. Một người Hoa làm ăn tại Mỹ kiếm được lợi tức gấp mười lần một người làm ăn tại Tàu. Một chàng Hoa trước khi xa xứ, người mẹ tiễn con tận bến tàu, dúi vào tay con mười trăm đô-la và dặn dò:

“ Ngày ra đi, con mặc áo vải. Ngày trở về, con xé toẹt áo vải ra làm mười mảnh, con mặc áo gấm vàng chói. Người làng người nước bu lại đứng coi kẹt đường kẹt
cổng. Ngày ra đi, trên đầu con là tranh, ngày trở về, trên đầu con là ngói, và dưới
chân con là đất ruộng.”

Một nàng Hoa, trước giờ ra khơi sang Mỹ đoàn tụ cùng chồng, mẹ tươi cười răn dạy con gái yêu:
“ Con ơi nhớ lời mẹ khuyên: trai Trung Quốc giờ này đang hái ra tiền ở Núi
Vàng, con có phước được lấy chồng đô-la…con phải để cho chồng con về nước lấy thêm vợ bé và nàng hầu. Nàng hầu, nàng thiếp của con và của chồng con..sẽ nhường quyền ưu tiên cho con được ngư với chàng trên giường lò-xo nệm êm chăn ấm; còn nàng thì nằm trên giường tre ọp ẹp, đợi chồng sau giờ làm tình với
con sẽ làm thêm giờ phụ trội với nàng, và đêm đêm nàng cầu nguyện cho con bụng mang dạ chửa để mà đẻ ra mấy thằng quý tử. Và con, mỗi buổi sáng khi thức dậy, con phải sắc một chén thuốc bổ Triều-Tiên, một chén Cao Ly sâm cho
chồng con uống ̣để dai sức làm tình liên tiếp đêm mai đêm mốt và những đêm sau.”

Một bà Hoa sồn sồn ngậm ngùi:

“ Nàng hầu có nghĩa là người hầu của người vợ cả. Người vợ cả phải cao thượng không nên có máu ghen. Máu ghen là máu xấu. Theo phong kiến Trung quốc, hôn nhân là do tình yêu và ý muốn của cha mẹ đôi bên ưng ý nhau, nên kết làm sui
gia với nhau. Tuổi trẻ tuyệt đối cấm không yêu, không lén lút hẹn hò, không tranh dành hạnh phúc của tuổi già, người già cần phải yêu để kéo dài tuổi thọ.”

Người da trắng, một màu da mơn mỡn, ít khi nổi mụn. Dù mặc áo ấm dày bốn
lớp, màu da trắng vẫn mịn, vẫn tươi mát. Người da trắng ở Bắc Mỹ gây áp lực với
chính quyền địa phương, với liên bang, tiểu bang, với phường phố.. để cố ngăn chận lớp sóng người Tàu mới đến, và đồng thời tỏ rõ cho lớp người Tàu đã đến từ
lâu, biết răǹg họ không được welcome. Từ 1870, chính quyền Bắc Mỹ hạn chế số
thuyền nhân Trung Quốc vượt biển đến Núi-vàng, các cơ sở thương mãi cũng mướn hạn chế sốthằng Chệt, những nam công nhân tóc tết lại thành cái đuôi sam.. và cấm dùng đòn gánh để gánh hàng, gánh nước như các dân tộc Đông-Á.

Dần dần, người di dân Trung Quốc cầm kéo cắt cụt cái đuôi heo trên mái đầu đen và kiếm việc làm không mấy khó; vì một số đông thầu khoán, những thương gia da trắng.. ham tuyển dụng nhiều nhân công rẻ tiền để đào đất, đào đá thiết lập hệ thống đường sắt từ Mỹ-châu đến Gia-nã-đại. Cu-li Trung Quốc lòng dạ trung thành, giỏi chịu đựng gian khổ và chăm chỉ làm ăn hơn cu-li da trắng, trong đó có
cu-li xứ Irish, nên đa số được bổ sung vào nhóm công nhân đào đường sắt. Hương nói:
“ Nước Mỹ khó kiếm việc làm quá, Việt Nam đâu đến nỗi này.”

Loan nhìn quanh nhà kêu:

“ Nhà nhiều đồ quá, trong bếp nên dẹp bớt đồ lại. Đồ gì không cần thiết thì vứt đi.”

Hiền đứng vùng lên:

“ Đồ gỉ? Đồ gì? Việt kiều về nước nói độc!”
Nghiêm tiếp lời:

“ Chị Loan! Từ 1975, chị được bàn tay người Mỹ bốc bỏ vào Hoa Kỳ; tính đến nay, chị về nước đếm đủ tất cả là ba lần, chị nói với chúng em một câu đau quá!”

Loan hỏi:

“ Nói câu gì mà bảo là đau?” Nghiêm trả lời:
“ Nhà nhiều đồ quá, câu nói thâm độc, nhiều ác ý.”

Loan bật cười:

“ Nhà nhiều đồ thì nói là nhà nhiều đồ, câu nói thường thôi, có gì đâu…”

Hiền nổi sùng:

“ Nói một câu như chửi vào mặt người ta vậy. Nhà nhiều đồ cũ, đồ phế thải, thùng rác.. Chị ơi, chị được ở một siêu cường quốc, chị vung tay tiêu tiền, chị mua những dụng cụ làm bếp đẹp mê mắt! Không bao giờ tôi tin được Việt Kiều là những kẻ có lòng thành, mà chỉ căm giận họ là quân dối gian giả ngụy.”

Nghiêm phụ hoạ:

“ Hoa Kỳ là một quốc gia để người ta bu tới nhập tịch, chứ không phải là một nước mà người ta từ bỏ để ra đi. Xưa nay, có ai nói rằng người Mỹ chạy đến những quốc gia khác để xin ăn đời ở kiếp bao giờ.”

Loan nhăn mặt:

“ Chị ít đọc sách, không biết chuyện đó.”

Cho đến bây giờ, Loan về nước chỉ được ba lần, lần nào cũng chuẩn bị kỹ trước, ghi vào giấy những vật cần thiết phải mang theo, suy nghĩ nhiều đêm, tính toán lo lắng số tiền cần phải có, dự định thời gian lưu trú chừng bao lâu, biếu xén thân nhân những món quà gì, đối xử với chị em ruột thịt ra sao.. Vấn đề về nước, Loan suy nghĩ kỹ như một vấn đề chiến tranh, như quân đội hai bên cộng-sản và quốc- gia trước 1975, mỗi lần hai phe diễn xuất một trận ác chiến, hai kẻ thù ấy đều đã tính sẵn con đường tiến thoái và thấy trước ai thua ai thắng.

Vậy mà cũng không tránh được một câu nói lỡ miệng.

Ngày xưa Huế, hai cô em Hiền và Nghiêm của Loan cũng có tên trong danh sách những người đẹp đất Thần Kinh. Tóc thề, mũi thẳng và cứng, môi cong, gò má lộ.

Loan nói tiếp:
“ Ngày xưa, Hoa-kiều muốn đến Mỹ phải mất tiền, phải bán trâu bán ruộng bán nhà, bán sạch tất cả, để đi chui bằng đường thủy. Khi xuống tàu, họ phải cắt cụt
cái đuôi sam, cởi bỏ hết áo quần ra, trần truồng trong ba ngày cho y-sĩ khám sức khoẻ. Đến Mỹ, họ bị nhốt trong trại cải tạo đủ ba tháng; sau đó, mới được cho ra
ngoài làm ăn. Đem hết sức bình sinh của mình ra để vật lộn với thực tế, họ làm đủ
nghề: bồi bếp, rửa chén bát, đánh cá, bài bạc, nhưng số đông thì làm cu li đào đường sắt. Họ sống hợp quần, tiết kiệm, che chở đùm bọc nhau..Cộng đồng Hoa mau chóng trở nên giàu mạnh, leo lên núi vàng, lội xuống biển bạc và có kẻ trở thành tỷ-phú.”

Gần đây và giờ đây, người Việt Nam sang Mỹ đi cày và chống Cộng, ai cũng ăn no làm ra; nhưng Việt Kiều vẫn thua Hoa Kiều, ta vẫn thua Tàu một nước cờ: Người ViệtNam chống Cộng quá trời nên không thành công bằng người Trung- quốc sang Mỹ làm đường sắt! Trên đất Mỹ, người Việt Nam vẫn anh hùng, vẫn chống Cộng như chống tà, chống ma trơi, ma cà rồng. Chiến tranh vẫn không phai mờ trong mắt người Việt Nam, một chiến tranh gồm ba quân thù, thù Tàu, thù Tây và thù Cộng Sản. Còn người Tàu, khi đã đến Mỹ thì lăn ra làm tiền trước đã. Với người Tàu, làm tiền là vấn đề trước tiên! Mao Zedong, Sun Yat-sen, Chiang Kai-shek, Cộng-sản với Quốc Dân đảng..hơi sức đâu nưã để mà chống, hoặc tôn vinh.

Hiền, giọng càng oán hận:

“ Người ta đi Mỹ, người ta bảo trợ cha mẹ, anh chị em ruột thịt sang Núi Vàng
chung sống; chị đi Mỹ, chị bỏ lại sau lưng tất cả.”

Chị Quyên, con gái bác Ấm, lấy Mỹ từ hồi Hoa Kỳ mới gửi sáu trăm cố vấn quân sự sang Việt Nam để giúp các ông Tá Việt Nam chỉ huy các trận giao tranh, để
chiến tranh còn có thể kéo dài.

Nhưng ngày ba mươi tháng tư, chiến tranh Nam-Bắc đến giờ phút này là tắt thở và tàn hơi và màn hạ. Mỹ ra tay cứu độ ngót năm trăm nghìn Việt kiều vượt biên bằng mọi cách.

Chị Quyên con bác Ấm, lấy Mỹ từ sớm tinh mơ. Ngày dứt cuộc chiến, ông chồng Mỹ của chị ấy biệt phái một chiếc phi cơ quân sự bay thẳng sang Sàigòn đáp xuống trên nóc nhà của một ông luật sư ở đường Tân Sơn Nhất, bốc hết gia đình
của chị ấy, và gia đình của ba ông chú..sang Mỹ hưởng giàu sang phú quý. Chị Quyên đã để lại một tấm gương sáng lóa cho hậu thế soi chung. Chị Quyên đã lưu bút một bài học của chữ hiếu rạng ngời trong pho kinh Nhị thập tứ hiếu cho nhân gian đời đời truyền tụng công đức. Ngày hôm nay, mỗi lần nhắc nhớ đến tấm gương cao cả ấy, em hổ thẹn cho người chị ruột cùng cha cùng mẹ với em.. Toà
án nhân dân hải ngoại đang nhân danh Khổng Mạnh lên án chị. Chị cảm tưởng thế nào?”

Im lặng, những con chim ngoài trời cũng im hót. Chị em Loan đã sống một thời thơ ấu khá thăng bằng, ai cũng tin rằng lớn lên mình sẽ làm ra tiền, và dễ dàng lấy một đàn ông làm chồng. Và lấy chồng dễ như chơi!
Trong gia đình Loan chỉ có một mình bà mẹ là sáng suốt, ông bố hồi hưu đã lâu, ông bán ngôi nhà trong ngỏ hẹp ở đường phố Nguyễn Cư Trinh, đem một bầy con gái về sống ẩn danh ẩn dật, dấu kín một nơi ở ngoại ô Sàigòn, không giao thiệp
với bạn bè, không lui tới cùng đồng nghiệp, đẩy đưa con gái vào cuộc đời thiếu thăng bằng.

Chuyện gì đã làm cho cuộc đời của những cô em Loan nghiêng lệch đi? Không phải chỉ một nguyên nhân, mà gồm nhiều biến cố, một chuổi dây xúc xích biến cố và mỗi chị em Loan là một khâu xích nhỏ móc nối lại.

Hiền nhìn Loan:

“ Từ ngày ba mươi tháng tư, ngày đổi đời, gia đình mình xuống cấp.”

Từ ngữ xuống cấp là tiếng Việt mới, là một động từ chưa đi vào tự-điển, chưa thông dụng trong văn chương, có nghiã là đang giàu bỗng trở nên nghèo, đang sang bỗng trở nên tồi, đang ở trên cao bỗng tụt xuống thấp, và kẹt tiền. Việt kiều Mỹ là kẻ cao cấp, 5 chị em Loan còn lại ở Việt Nam thuộc thành phần những kẻ xuống cấp. Cô Thơm bà con bên ngoại, lấy Mỹ từ hồi Mỹ mới đưa quân sang ViệtNam, bị cả nước gọi là Me Mỹ; bây giờ đời đổi, được cả nước công nhận là thành phần cao cấp. Bà Chanh thông dịch viên dạy tiếng Việt cho lính Mỹ, mang bầu đẻ ra thằng con lai, bị cha mẹ từ mặt đuổi đi; sau năm 1975, Chanh bế con về nhà cũ và bảo trợ cha mẹ anh em sang Mỹ..

Trung bình, mỗi ngày cô em tên Hiền của Loan lập đi lập lại từ ngữ xuống
cấp vài ba lần, kể tội Loan không bảo trợ gia đình sang Mỹ, và sang Mỹ với điều kiện được Mỹ nuôi, tháng tháng được lãnh tiền trợ cấp và bảo hiểm y tế..

Cô em tên Nghiêm của Loan là người to con nhất nhà, thân hình cao chân dài, nét mặt đều, nổi tiếng đẹp một thời, nhưng lớn lên giữa trường đời, Nghiêm làm ăn thất bại. Sau năm 1975, Nghiêm bỗng mắc phải chứng bệnh nằm, mỗi lần buồn giận là nằm dài trong phòng ngủ. Loan về nước, nếu lỡ nói một câu gì làm Nghiêm buồn giận, là Nghiêm vào phòng riêng nằm xuống. Nếu nhà có khách
đến thăm, Nghiêm cũng không ngồi lên tiếp chuyện, cứ nằm và nói chuyện với khách.

Loan bảo Hiền:

“ Em nên nói thật, đừng buộc tội, đừng oán trách chị nhiều, thằng Quyền bảo
rằng, hai lần, nó làm giấy tờ bảo trợ em sang Mỹ, nhưng em đều từ chối, em không muốn đi. Em muốn ở lại với bàn thờ Cậu Mạ, và em không thích ăn hạt cơm xứ người.”

Loan không nhìn nhưng thấy những giọt nước mắt như sương đọng trong cổ họng
Hiền:

“ Điạ ngục có thật, Việt Nam có thật. Chị đi Mỹ, chị bỏ lại một đại gia đình trong địa ngục. Sau năm 1975, tất cả các văn sĩ Việt Nam chuyên viết một đề tài, và
chú tâm nêu lên một luận điệu: Trên trái đất này, không ai khổ bằng người ViệtNam, nhưng.. và nhưng.. không ai sướng bằng người ViệtNam ở Mỹ. Chị có quốc tịch Mỹ, chị là công dân Hoa-Kỳ. Các em của chị cực khổ như ăn mày ở Việt nam.”

Loan kêu lên:

“ Mấy thằng cha nhạc sĩ hét hụt hơi rằng một ngàn năm nô lệ thằng Tàu, một
trăm năm nô lệ thằng Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày..và thằng nhạc sĩ ấy lại rú tiếp rằng Việt Nam là nước khổ đau nhất thế giới, nhưng xét theo sách
truyện, và nên xét cho đúng.. thì quốc gia khổ đau nhất thế giới là nước Đức.”

Hiền rên:

“ Xứ Mỹ thần tiên: Thời tiết và khí hậu không ô nhiễm, nước nguyên chất ngọt và sạch, sông, núi, và diện tích gấm vóc nước Mỹ.. Ôi! xin cho tôi được sống một ngày với từng ấy thứ đó!.Chị lại được ở một tiểu bang không bị đánh thuế. Chị
xài điện hoang phí, bật đèn sáng cả ban ngày, chị xài khí gas thỏa thích, mở bếp gas cháy đỏ suốt cả ban đêm..Chúng tôi sống trong nắng Việt Nam, trong lò bát- quái trần gian, trong khói lửa nhiệt đới đốt cháy lưng người đàn bà. Chúng tôi
sớm già với gian nguy, gai lửa, xương khô, cốt tàn. Nhà chật, chúng tôi bắt buột
phải bày đồ ra nhà, vì không còn chỗ để cất dấu đồ đi đâu được. Ban ngày, chúng tôi để xe-đạp-điện ngoài sân và khoá cửa sắt lại, nhưng ban đêm thì phải đem xe vô nhà, vì thế cho nên nhà chúng tôi nhiều đồ quá!”

Loan có thể nghe những sợi gân trong cổ họng Hiền căng lên khi cố sức nói to hơn:

“ Mấy ngày nay chị kêu nóng quá, nóng quá.. tôi nghe và cố nhịn, cho đến khi hết nhịn nổi. Chị có nhà cao cửa rộng ở Mỹ, chính phủ Mỹ cho Việt Kiều thụ hưởng nhiều thứ trợ cấp, chính phủ Mỹ thiết lập một hệ thống chống nóng lạnh trong
mỗi nhà Việt Kiều. Trên trái đất này, thử hỏi có ai sung sướng bằng Việt Kiều
Mỹ?”

Loan cười gượng:

“ Không biết Việt Kiều có công lao gì với nước Mỹ mà người Mỹ nặng lòng ưu ái như vậy?”

Nghiêm phụ họa:

“ Mặt trời, mặt trăng và mặt đất..trên ba mặt ấy, không có một sinh vật nào nỡ lòng bỏ lại 4 đưá em và 1 bà chị nghèo đói tạỉ Việt Nam quê hương bất hạnh, để đành đoạn sống trong hoa gấm Hoa Kỳ.. như chị.”

Loan chợt nhớ đến câu nói của một người nào đó:

“ Hắn ta ra đi từ 1975, mà đến nay chỉ về nước có ba lần.. Đồ chó đẻ, đồ Việt kiều, Việt-gian, Việt-dâm!”
Loan nhìn quanh gian nhà nhỏ quét vôi vàng, bốn bức tường không treo tranh, nhưng phòng ngủ treo lên bao thương nhớ và bao thù hận giữa tình chị em. Loan cảm thấy mình quá nhược-tiểu trong căn nhà nhỏ không phải của mình.

Loan nói:

“ Hồi đó, chị không bảo trợ chị Nga và các em sang Mỹ; tội ác đó nặng hơn tội tử hình vì tội tử hình còn có thể giảm xuống tội khổ sai chung thân, còn tội ác chị làm ra thì tuy người Mỹ không xử, nhưng với người ViệtNam thì nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Trước đây, một số Việt kiều sinh sống ở Mỹ, kẻ thì có
cha mẹ, người thì có anh chị em; nếu không người này bảo trợ thân nhân Việt
Nam sang Mỹ, thì người kia bảo trợ. Lấy một thí dụ: Bà Tú Reasonae có người
chị ruột và cô em ruột cùng ở Seattle, nếu bà Tú không bảo lãnh gia đình ông anh
của bà sang Mỹ, thì chị và em của bà làm chuyện đó. Chị lúc ấy, họ hàng không
có ai, chồng vưà mới chết, một thằng con bị tai nạn xe hơi nằm coma trong bệnh viện hơn hai tháng trời, chị không còn biết thương yêu ai nữa.”

Buồn in dấu trên mặt Nghiêm:

“ Tôi không đau khổ vì thất tình, vì người yêu đã lấy vợ bỏ rơi tôi; tôi không đau khổ vì không có một đưá con nào để quét dọn sạch sẽ ngôi mộ của tôi sau khi tôi
chết xuống; mà tôi chỉ khổ đau vì có người chị ruột không bảo trợ tôi đi Mỹ.”

Loan vẫn cố cãi như một luật sư vô tài:

“ Hồi đó, chồng chị vưà mới chết, thằng con của chị bị đụng xe.”

“ Thôi im đi chị ơi! Chồng chị chết, nhưng được chết ở Mỹ, chết sung chết sướng..Còn chúng tôi sống ở Việt Nam, nhưng sống đau sống đớn. Con chị bị đụng xe, nhưng chiếc xe hơi đụng con chị là xe Mercedes, chứ đâu phải
xe ben, xe bồn ở Việt nam. Ngoài ra, bị tai nạn xe hơi ở Mỹ cũng vẫn còn sướng, ngành y khoa của Mỹ cải tử hoàn sinh bao nhiêu người. ở Mỹ, người đau không
chết, người bị xe đụng không bị thương..”

Loan bực mình:

“ Còn chị thì bị bệnh loãng xương”.

Hiền ăn một miếng bánh bông lan tẩm rượu, cãi tiếp:

“ Bệnh loãng xương thì uống calci. Khỏe ngay. Khoẻ bản thân, nhân đôi niềm vui sống. Ở Mỹ, tuổi thọ của con người kéo dài mãi không dứt..Như nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã chín mươi xuân xanh vẫn không loãng xương, vẫn chưa đụng tuổi già.”

Hương xen vào:

“ Ở Việt Nam , nhà văn Tô Hoài, chín mươi mốt tuổi vẫn không loãng xương xơ gan, vẫn còn ngầu.”
Hiền nói thêm:

“ Nếu chị có một tâm hồn cao thượng, thì dù chồng chị chết, con chị bị xe đụng,
chị vẫn thương người và quên mình vì người.. như Hà Mai Anh đã viết trong
“Tâm hồn cao thượng.”

Nhắm mắt, Loan có thể ngủ được không? Hay chỉ thấy một chân trời tím ngắt. Đêm có phải là những tài-khoản gồm nhiều giấc mơ, nhiều cơn mê, nhiều nổi loạn, khi Loan lê bước mộng du quanh nhà, hoặc lên xuống cầu thang làm một vài vận động tay chân cho người mệt đi, để cố ngủ một giấc. Loan sợ hãi những đêm mất ngủ, và móng vuốt những giấc mê hoang in vết thâm quầng trên đuôi mắt. Cơn mất ngủ cũng dài tám tiếng đồng hồ như chiều dài của một giấc ngủ ngon.

Loan tưởng như nghe tiếng chuông chùa xứ Huế vào những đêm trăng mờ bên suối, và thủy triều rút xuống cùng tiếng sóng buồn thiu như lời kêu gọi hồn ai trong cõi tạm thôi đừng tham sân si, thôi hãy quay về cửa chuà ăn vắt xôi đậu xanh. Loan nghe tiếng chuông giải thoát bắt nhịp cầu thông cảm giữa mặt trời, mặt trăng, và trái đất trong tình huynh đệ bền lâu khi trăng gió làm tình giưã trời đêm. Tiếng chuông Linh Mụ, tiếng gà Thọ Xương trầm luân sau cơn mưa tạnh trời trong trăng sáng:

Trăng sáng sau khi trời mới tạnh

Hiên ngoài thoang thoảng gió hương đưa Tiếng chuông ngân vọng trong đêm vắng Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa?
Thích Mật Thể

Trong ánh trăng thiền, mọi sinh vật đều ngủ mê, chỉ một mình người tu sĩ Phật giáo còn thức! Và kẻ thiền tu ấy tự nhận rằng, trên cõi người ta, tôi không ngủ, tôi tỉnh, còn ai ai cũng cũng đang mê. Trăng soi vào tâm trạng các nhà sư và thấy được điểm sáng đó!

Với người văn nghệ, trăng có bụng bự và vành tròn như vành nón, chất chưá huyền thoại hoang đường và sự thật, trăng chiếu màn đêm xuống cõi đời, trăng đem giấc ngủ xuống trần thế và đưa thơ văn vào cuộc sống, trăng nghiêm lạnh tô màu bức tranh thế sự, và tỏa ra một sắc vàng mơ. Không đêm nào trăng đổi màu vàng cố định thành ra màu xanh hoặc màu đỏ, trong suốt những chuyến du lịch quanh hoàn cầu để ghé thăm một vài hành tinh khác..

Trăng ôm bao nhiêu huyền thoại như đạo Phật gồm bao nhiêu kinh sách. Trong ý nghĩ đó, mặt trăng quý báu hơn mặt trời. Mặt trời nóng như lửa, nắng húc vào vạn vật như con cừu đực động cỡn. Loan chào ánh trăng và nhắm mắt ngủ. Trăng
quay lưng và ẩn mặt vào mây. Loan thích trăng với trọn chu kỳ trăng làm dáng,
lặn rồi hiện ra, như thưy triều rút xuống rồi dâng lên trong sự liên kết chặt chẽ
cùng mặt trời, cùng qủa đất, cùng sóng biển.

Sáng hôm sau, Loan điện thoại đến Air-ViệtNam để đổi chuyến đi, nhưng vé mua vào dịp khuyến mãi không đổi được. Trở về Mỹ gấp cho rồi, ở đây em út cứ đứng vùng chống Việt kiều về nước hoài…

Hiền bỗng đứng dậy, to mắt ngó Loan.Tuy chưa nghe, nhưng mắt Loan thấy miệng Hiền sắp sửa nói “Em xin lỗi chị,” Loan tin chắc như vậy, vì Loan cũng đang định nói“Chị xin lỗi em”; nhưng thình lình, Loan cảm nhận rằng hai chị em
cùng có chung nhiều cảm giác khác nưã: chúng ta hiểu nhau, chúng ta còn bao nhiêu điều muốn tỏ bày cùng nhau, nói câu xin lỗi tuy rất cần thiết, nhưng dẹp đi
cũng không chết thằng Tây đen nào cả. Chị còn ở lại Việt Nam những ngày nữa, em còn nấu ăn hầu hạ chị. Có một người chị không ra gì.. như chị, còn hơn không
có. Em không cần yêu một đàn ông, không cần ôm một đàn ông, không cần bo bo bám vào một thằng đàn ông để hắn dẫn đi những bước đời. Em đã xài cạn tiền và
cạn hết tuổi trẻ rồi, em để lại sau lưng hơn nửa thế kỷ tuổi. Đôi khi, nhìn lui nửa thế kỷ sau lưng, em muốn ôm chị để mà khóc, để mà mượn chút tiền còm, đôi khi
em muốn chửi chị một đôi lời.

Mai mốt chị về lại Mỹ, xa cách em ba phần tư qủa đất, chúng ta còn hiện diện giưã đời nhau nữa không?

Chị im lặng dài. Có lẽ để thay thế những lời nói, chị gật đầu nhẹ và hạ đôi mắt tròn xoe xuống. Em biết chị đã tha thứ cho con em hỗn láo của chị!

Ba tuần sau, khi bước xuống phi trường Portland, Loan rủa thầm “con nhỏ gân quá! Cứng đầu, cứng cổ.. Nó vẫn không xin lỗi mình.”

Tháng 9/22/2011

TÚY HỒNG

Nguồn: http://www.gio-o.com/TuyHong.html
www.vietnamvanhien.net
***
*Đi Đâu Mà Vội Mà Vàng
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa

Bismarck được các người Mỹ gốc Âu châu thành lập bên bờ đông (tả ngạn) sông Missouri năm 1872 và dùng làm thủ phủ của North Dakota khi tiểu bang được lập ra và nhận vào Liên bang Hoa kỳ năm 1889. Trong tất cả 50 tiểu bang, North Dakota là tiểu bang độc nhất có thủ phủ mang tên một chính trị gia ngoại quốc – Otto von Bismarck (1815 – 1898) của Đức. Ông chủ trương và điều khiển cuộc thống nhất nước Đức vào năm 1871 và làm thủ tướng đầu tiên của quốc gia mới.
Ban đầu, thành phố có tên Edwinton đặt theo tên vị kỹ sư trưởng Edwin Ferry Johnson của Công ty Hỏa xa Northern Pacific; công ty đưa nhân công tới đặt đường xe lửa, lập thị trấn mới, và kêu gọi dân nơi khác đến sinh sống. Một năm sau ngày thành lập, thành phố được đổi tên thành Bismarck; công ty hy vọng mời được Otto von Bismarck sang thăm để lôi cuốn dân nhập cư người Đức đến lập nghiệp và thu hút vốn đầu tư của Đức vào hệ thống hỏa xa của công ty. Lời mời không được ông thủ tướng đáp ứng, và không dưng tên một nhân vật không dính dáng tới lịch sử Hoa kỳ lại gắn liền với North Dakota.
Hơn 100 năm sau, cuối tháng Tám năm 1975, gia đình tôi theo gót người xưa đến định cư ở Bismarck. Chúng tôi ở đây đã gần hai tuần, các em Bình, Lâm, và Trọng đã trở lại trường, và tôi chuẩn bị cuộc phỏng vấn xin việc lần thứ hai. Lần này với công ty Dale J. Sessions & Cộng sự chuyên trang bị âm thanh, ánh sáng, và các thiết bị khác cho những cơ sở kỹ nghệ và thương mại như xưởng máy, hội trường, rạp hát, và nhà thờ. Tôi đề nghị với ông bảo trợ Gardner,
“Cháu có thể đi phỏng vấn một mình nếu bác kiếm cho cháu chiếc xe đạp cũ làm phương tiện di chuyển.”
“Tôi có mấy chiếc xe đạp trong nhà xe không dùng; để tôi mang lại,” ông trả lời sốt sắng.
Giắt bản đồ thành phố sau túi quần, tôi vừa huýt sáo vừa đạp xe chạy trên con đường thẳng tắp dưới vòm lá xanh tạo thành bởi cành lá hai hàng cây bên đường giao nhau. Tôi lạc quan tin tưởng việc làm đang chờ tôi trước mặt. Với kinh nghiệm và kiến thức học hỏi khi thiết lập phòng Thí nghiệm Vật lý và phòng Máy Điện ở Đại học Minh Đức, hai phòng thí nghiệm hoàn toàn made in Vietnam đầu tiên và duy nhất của đất nước, tôi biết mình dư sức điều khiển các công tác thiết trí xem ra không có gì khó khăn hay phức tạp của công ty này. Hai mươi phút sau, tôi đến ngôi biệt thự nằm trên ngọn đồi thoai thoải, thở hổn hển đạp xe vào sân, và ngạc nhiên thấy một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi mặc bộ áo quần ca-ki thợ thuyền cười tươi đứng chờ,
“Tôi là Dale, chủ công ty này. Mình sang nhà tôi uống cà-phê đã!”
Tôi nhận ra công ty mang tên họ ông Sessions. Một phần của ngôi biệt thự dùng làm trụ sở công ty và phần nhỏ hơn dùng làm nhà ông. Ông đưa tôi vào nhà bếp và pha cà-phê mời tôi uống. Ngồi đối diện với tôi, ông lấy gói thuốc lá trong túi ra mời, tự châm cho mình một điếu, và phà khói ra trước mặt,
“Công ty của tôi nhỏ, chỉ có chừng 20 nhân viên. Khoảng mười nhân viên bên văn phòng lo kế toán sổ sách, liên lạc với khách hàng, ký giao kèo, và lập đồ án cho các công trình phải thực hiện. Số còn lại là ba toán thợ có nhiệm vụ lắp ráp thiết bị tại cơ sở khách hàng, mỗi toán do một đốc công đứng đầu.”
Xem ra công ty của ông Sessions nhỏ hơn Công ty Martinet của tôi ở Sài gòn. Năm năm trước, ngày mới tốt nghiệp kỹ sư, tôi được tiến cử làm cố vấn kỹ thuật cho o Tín là chủ Công ty Martinet và được o thương mến và tin cậy. Cuối năm ngoái, trước khi đi Pháp chữa bệnh ung thư, o bổ nhiệm tôi làm Quyền Chủ tịch Tổng Giám đốc (đồng thời là sở hữu chủ). Sau khi o mất, chức vụ của tôi trở thành vĩnh viễn. Như đọc được ý nghĩ của tôi, ông Sessions gật gù,
“Khi đọc bản tóm lược (bối cảnh học hành và làm việc), ngoài khả năng kỹ thuật vượt trội của anh, tôi đặc biệt chú ý sự việc anh làm chủ một công ty tư nhân ở Việt nam.”
“Thực ra cháu thừa kế công ty đó chứ chẳng có công trạng gì trong việc thành lập hay mở mang công ty. Công việc hàng ngày do Tổng Giám đốc Điều hành của cháu đảm nhiệm, cháu chỉ phụ trách mặt kế hoạch và chính sách dài hạn.”
“Công ty đó bây giờ ra sao?”
“Một ngày trước khi đi di tản ra khỏi nước, cháu kịp thời giải tán công ty và phân chia tài sản đồng đều cho nhân viên.”
Ông Sessions rít một hơi thuốc lá và ngẩng đầu nhìn lên trần nhà cười lớn,
“Thật đáng phục! Anh chính là người tôi muốn tìm.”
“Cháu chỉ làm điều phải làm mà thôi. Bác muốn thuê cháu làm gì? Cháu không đủ tư cách làm đốc công đâu,” tôi nói đùa.
“Chức vụ dành cho anh tệ hơn nhiều,” ông đùa lại rồi đổi giọng nghiêm trang, “Tôi dự định tám đến mười năm nữa về hưu. Trong thời gian đó, anh giúp tôi điều hành, phát triển, và khuếch trương để trị giá của công ty lên cao. Khi về hưu, tôi bán công ty lại cho anh.”
“Làm sao chắc chắn bác bán lại cho cháu mà không bán cho người khác?”
“Chẳng có gì khó, hợp đồng làm việc sẽ quy định nếu lúc đó còn phục vụ cho công ty anh sẽ có ‘quyền từ chối đầu tiên.’ Chỉ khi nào anh từ chối không mua tôi mới được quyền bán cho người khác.”
Ông Sessions lấy xe hơi đưa tôi đi quan sát “công trường,” nơi một toán thợ đang thiết trí hệ thống ánh sáng cho xưởng máy dụng cụ của công ty ráp máy cày và cung cấp các dịch vụ liên hệ như bán đồ phụ tùng và sửa chữa máy cày; North Dakota là một tiểu bang đứng hàng đầu về nông nghiệp của Hoa kỳ. Máy dụng cụ là những loại máy dùng để tiện, khoan, mài giũa, và cắt xén kim loại hay các vật liệu cứng khác để chế tạo vật dụng hay đồ phụ tùng cho máy móc khác. Anh đốc công trạc ba mươi tuổi nhanh nhẹn tới chào tôi và trình bày công tác đang làm,
“Xưởng có 90 cỗ máy dựng thành ba hàng dài như ông thấy. Điều canh tân đáng kể của dự án là theo yêu cầu của khách hàng, công ty dùng đèn huỳnh quang thay vì đèn tim đốt cổ điển. Đèn huỳnh quang tuy mắt tiền hơn đèn tim đốt, nhưng sáng hơn và tiết kiệm điện nhiều hơn nên về lâu về dài khách hàng vẫn có lợi.”
Đèn tim đốt là loại đèn chiếu sáng khi tim đèn bị đốt nóng, tim đèn là bộ phận chính phát ra ánh sáng xuyên qua bóng thủy tinh. Đèn huỳnh quang là loại đèn dùng sự phóng điện để kích thích hơi thủy ngân trong chất khí argon hay neon để phát ra ánh sáng. Tôi đi quanh xem xét lối chạy dây điện và gắn đèn của thợ, khen đôi ba câu lấy lệ, và hỏi anh đốc công,
“Anh có giữ họa đồ điện thiết kế ở đây không?”
“Dạ có, để tôi lấy ông xem,” anh ta sốt sắng lấy họa đồ trải rộng ra.
“Có điều gì không ổn?” ông Sessions hỏi lớn khi thấy tôi vừa xem vừa lắc đầu.
“Dạ, cháu nghĩ là công trình này vi phạm một lỗi lầm kỹ thuật trầm trọng.”
Trước bốn con mắt nghi hoặc của hai người, tôi đằng hắng dọn giọng rồi chỉ lên bản vẽ,
“Theo kế hoạch, tất cả đèn ở mỗi hàng máy đều lấy điện từ một pha.” “Pha” tiếng Anh là “phase” dùng để chỉ điện lấy ra giữa một trong ba dây “nóng” và dây “đất” chung của hệ thống điện tam tướng (ba pha) mà công ty điện lực cung cấp cho khách hàng kỹ nghệ.
“Đúng vậy. Số đèn trên các pha bằng nhau nên hệ thống điện cân bằng một cách hoàn hảo,” anh đốc công tự hào.
“Vấn đề ở đây bắt nguồn từ đặc tính cố hữu của dòng điện xoay chiều. Điện dùng ở Bắc Mỹ có tần số 60 hertz, nghĩa là trong một giây dòng điện tắt hẳn, lên cao nhất, và tắt lại tất cả 60 lần. Nếu dùng đèn tim đốt, dù dòng điện tắt, tim còn cháy đỏ và tiếp tục phát ra ánh sáng đến khi dòng điện trở lại. Ngược lại, khi dùng đèn huỳnh quang, dòng điện tắt thì sự phóng điện trong chất khí cũng ngưng và đèn tắt ngúm 120 lần một giây.”
“Đèn chớp tắt nhanh như thế thì làm sao mắt thường thấy được mà phải quan tâm?”
Anh đốc công bực dọc gạt ngang, nhưng tôi tiếp tục,
“Nếu dùng trong nhà thờ, rạp hát, hay công sở thì không sao, nhưng đây là cơ xưởng gồm toàn máy quay vận tốc cao. Về mặt quang học, một hiện tượng gọi là hoạt nghiệm sẽ xảy ra: Nếu vận tốc của máy gần bằng hay bằng một bội số của tần số chớp tắt, mắt ta sẽ thấy trục quay dường như di chuyển rất chậm hay ngừng hẳn lại. Sự nhận lầm này có thể đưa tới tai nạn đáng tiếc cho người điều khiển máy,” tôi giải thích.
“Vậy anh nghĩ chúng tôi phải làm sao?” ông Sessions nóng lòng hỏi.
“Không cần phải thay đèn huỳnh quang bằng đèn tim đốt trở lại theo họa đồ nguyên thủy; đó là giải pháp mắt tiền vì công ty bác đã mua và gắn các bộ đèn huỳnh quang vào vị trí thích hợp. Giải pháp ít tốn kém hơn nhiều là thay đổi cách cung cấp điện, tức là lối mắc dây: Trên mỗi cỗ máy có ba ngọn đèn huỳnh quang, ta chỉ việc mắc mỗi ngọn vào một pha khác nhau là xong.”
Ông Sessions và anh đốc công cùng thắc mắc,
“Làm sao cách mắc dây ấy giải quyết vấn đề?”
“Trong hệ thống điện tam tướng, mỗi pha cách pha kế tiếp một phần ba (1/3) chu kỳ, tức là tắt và sáng trước pha kế tiếp 1/180 giây. Khi một pha tắt thì hai pha kia vẫn sáng và giữ ánh sáng tỏa ra liên tục. Không còn hiệu ứng hoạt nghiệm!”
“Cám ơn anh đã giúp chúng ta tránh được một vụ nhức đầu lớn lao. Khi nói ‘chúng ta,’ tôi muốn nói cả anh và tôi,” ông Sessions vỗ vai tôi.
Trở về trụ sở, ông Sessions đưa tôi vào văn phòng riêng và đưa đề nghị sửa soạn từ trước,
“Công ty sẽ nhận anh với chức vụ Phụ tá Tổng Giám đốc, tức là phụ tá cho tôi. Hợp đồng làm việc có hiệu lực ba năm, mỗi ba năm sẽ tái tục, và ghi điều khoản ‘quyền từ chối đầu tiên’ như tôi nói với anh. Công ty nhỏ ngân sách eo hẹp nên chỉ trả lương anh 750 đô la ($750) một tháng trong năm đầu tiên. Tôi cũng báo trước là anh và tôi là giám đốc sở hữu chủ nên sẽ làm việc không giới hạn vào một ngày tám tiếng hay một tuần năm ngày như nhân viên khác, và chúng ta chỉ lấy nghỉ hè khi công việc thực sự ngơi ngớt,” và ông nói gần như nài nỉ, “Ba Hoa, số lương đó thấp hơn mức lương kỹ sư trên thị trường, nhưng tôi nghĩ triển vọng làm chủ công ty bù đắp thích đáng cho sự thiệt thòi trong giai đoạn đầu.”
So với lương giờ một đồng bảy mươi lăm xu ($1.75) của thằng Sang ngoài trạm xăng, $750 một tháng là một số tiền đáng kể. Nhưng rõ ràng ông Sessions muốn sử dụng tài năng của tôi và bắt làm việc bất kể giờ giấc mà không đền bù xứng đáng, trả lương tôi kém hơn kỹ sư người Mỹ trung bình. Phải chăng tại tôi là dân tỵ nạn chân ướt chân ráo tới xứ sở này? Lòng tự ái và tính bướng bỉnh chợt bừng dậy, tôi cau mày đứng lên và cố lấy giọng lễ phép nhất,
“Cám ơn bác đã tiếp đãi và cho cháu cơ hội thăm viếng công ty. Nhưng hoàn cảnh gia đình hiện tại không cho phép cháu chấp nhận đề nghị của bác.”
Tôi đạp xe về nhà trong nắng chiều cuối hè vàng nhạt và cảm thấy bằng lòng với chính mình. Tuy tôi không kiếm được việc làm như mong mỏi, tài nghệ của tôi được công nhận; không còn nghi ngờ gì nữa. Hoa kỳ là xứ sở của cơ hội và sẽ có thiếu gì việc làm tốt đẹp hơn, và tôi không cần
Đi đâu mà vội mà vàng,
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây.
(Ca dao)
Chín năm sau, một công ty có phạm vi hoạt động khắp vùng Bắc Mỹ mua lại Dale J. Sessions & Cộng sự với giá trên 15 triệu đô la. Bỏ lỡ thời cơ làm chủ một công ty đáng giá, tôi lạch ạch làm kỹ sư kế hoạch cho công ty tiện ích và tự an ủi số mình chỉ đi làm công ba cọc ba đồng chắc như gạo bỏ hũ mà thôi.
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 15 tháng Tư, 2020
***
*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

*PHẠM THIÊN THƯ *TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN *
* ĐẶNG QUANG CHÍNH * KIỀU PHONG * HUY VĂN *
*LÊ TẤN DƯƠNG * TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO *
* PHẠM T MINH HƯNG * SA CHI LỆ * Á NGHI *
*ĐỨC HÙNG *
***
*THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ*Sớm Tếch Bến Hồng

Bên nhau tơ tóc duyên đầu
Ba năm- trăng dãi hoa dầu thế thôi
Ý người – sông nổi mây trôi
Chốn xa tìm đến, đến rồi – lại đi
Hiên thu lần lữa cầm kỳ
Chén quỳnh lạnh rượu câu thi biến vần
Trước còn nể nguyệt ươm xuân
Kể từ hương lửa một nhà
Phôi pha – thì nhớ, đậm đà thì quên
Kiều xưa như núi hoa triền
Rêu khô lệ đợi, trăng phiền dâng theo
**
Ngựa dong, phố sớm, thôn chiều
Lang thang vó rụng, tiêu điều bụi bay
Chàng kim dường tỉnh, dường say
Mây xuôi nhớ tóc, hoa lay nhớ người
Mười lăm năm năm lại ươm tươi
Duyên may, bọt sóng chim trời gặp nhau
Lan xưa in đáy lòng sầu
Trách chi con suối nhạt mầu thời gian
Trang sao man mác tơ đàn
Chừ nghe hờ hững đôi làn khói bay
Lò trầm ai chửa ngừng tay
Mà sao hơi lạnh mưa ngày lưa thưa
Vui giờ nuối cái buồn xưa
Chút gì để nhớ, để chờ, để không
Tưởng đàn nối nhịp tơ đồng
Thuyền trăng sớm tếch bến hồng bay lên
Chơi vơi trong cõi diệu huyền
Đời Kiều dệt một trường thiên tuyệt vời.

Phạm thiên thư
(Hậu Kiều-Đoạn Trường Vô Thanh)
***
*THI SĨ & DỊCH GIẢ TRẦN QUỐC BẢOHUẾ TÔI Thơ Trần Quốc Bảo

Huế Tôi
Huế tôi xưa rất mộng mơ,
Trường tiền nghiêng nón bài thơ qua cầu.
Trăng vàng gác Phú văn Lâu,
Sông Hương Núi Ngự nối câu khoan hò.

Huế tôi lả lướt con đò,
Huế tôi đặc sản bún bò giò heo.
Dao tre xắt miếng bánh bèo,
Quán cơm Âm phủ, xóm nghèo mà vui.

Tuyệt vời Cơm hến Xứ tôi,
Món ăn độc đáo của người Thần kinh.
Hến từ Cồn Hến, tròn mình,
Gạo Nàng Hương, ngát thơm tình Thừa Thiên!

Huế tôi, thục nữ đẹp hiền,
Thanh nam phong nhã hồn nhiên, siêng làm.
Huế tôi, có chùa Từ Đàm,
Có Tháp Thiên Mụ ; Phú Cam Thánh đường.

Thần Kinh, xứ của yêu đương,
Tịnh Tâm, sen trắng đưa hương ngọt ngào!
Ai chờ ai, dốc Nam Giao…
Ai về Vỹ Dạ, rạt rào mưa đêm!

Xưa rầy … Huế sống êm đềm
Miếng ăn thanh đạm, đời thêm hiền hòa
Ai ngờ dấy cuộc can qua
Cộng quân tàn ác như là quỉ vương!

Huế tôi, dân chết thảm thương!
Mậu Thân, biến cố tai ương ngút trời
Hỡi ơi! … Thương quá … Huế ơi !!!
Còn đâu xứ Huế của thời mộng mơ!
Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
***
*THI SĨ TRẦM VÂN ***THI SĨ ĐẶNG QUANG CHÍNHDã tràng xe cát sẽ xong

Mấy năm trước đây hai ta cùng trao đổi
Mail đi mail lại nhưng không thấy mặt nhau
Rồi tiếp đến sau một lần gặp mặt
Kẻ vội vàng người lo việc của mình

Người ra đi tha phương chưa dừng bước
Sáu năm qua người lại gặp lại người
Cũng vội vàng lo xong việc rồi đi
Chia tay nhau chỉ một tập thơ gửi tặng

Người đọc rồi thông cảm kẻ kia hơn
Hai thế hệ nhưng cùng nỗi đau đất nước
Gánh nặng cha ông rồi em cháu phải mang …?!
Gánh nặng đó, bất công, nhân cách người bị xóa!

Em là kẻ không vô tâm anh biết được
Nhưng đừng hỏi ai là người sẽ chia vai gánh nặng
Thời buổi này không ai muốn làm “bà Nữ Oa đội đá vá trời”
Gánh nặng lương tâm mọi con người đều phải cùng chia xẻ

Cứ làm đi mọi người sẽ động lòng, sẽ hiểu
Lương tâm này gió bão khó chuyển xoay
Đường đi tới, cứ bước đi, đi hoài sẽ tới
Sóng dạt bờ, phù sa tạo đất mới, rồi rốt ráo sẽ xong …!

Đặng Quang Chính
**
Thắp sáng niềm tin

Gặp lại nhau hai ta mừng sao kể
Đời bể dâu đời cùng cực làm sao
Người dân tôi vẫn còn say giấc mộng
Đến hôm nay ta dệt giấc mơ này!

Gấm vóc non sông cha ông xây dựng
Nước mắt, mồ hôi, xương máu vun bồi
Thiên nhiên đẹp lòng người càng thêm đẹp
Sao nỡ nào để bọn chúng dập vùi

Bọn Hán gian tay sai quân Tàu cộng
Bòn rút tài nguyên hút máu đồng bào
Lấy vật chất làm mục tiêu cuộc sống
Đạo đức rớt đài, con người suy thoái

Nhân dân ta đã ngủ lâu chưa tỉnh
Xiềng xích kia thân phận cứ lưu đày
Cứ mê mãi tưởng sống trong hạnh phúc
Nào ngờ đâu nô lệ tận thân tâm

Giấc mơ này thắp niềm tin trở lại
Tình yêu thương, nhân ái rọi muôn nơi
Đuổi Hán gian, diệt Tàu kia gian ác
Vai sánh vai cùng sánh bước năm châu

Đặng Quang Chính
***
*NỮ SĨ Á NGHIÁO TÌNH ĐÀ MỤC NÁT
Viết tặng M.
Cuộc tình vá nhíp đã lắm đường khâu
Lành lặn ở đâu mà như mạng nhện?
Chị khóc, anh cười với người tình mới
Đường đi không tới, chới với qua cầu.

Bao năm áo não chịu đựng gian lao
“Lấy” phải anh chồng tánh tình hung bạo,
Chộn rộn lắm đào, đủ thứ lếu láo
Ai “cho” mà “lấy” rồi nuốt nghẹn ngào?

Càng đi càng gió, leo núi thật cao
Ai bảo thông minh? Rõ ràng khờ khạo!
Đôi tay run run, đôi chân lảo đảo
Gió bay! Gió bay! Chị về phương nào?

Em thương chị lắm, nhưng biết làm sao?
Muốn lệ ngưng trào chị phải tỉnh táo
(Nhà tu cũng buông mới mong ngộ đạo)
Níu chi áo tình nát ngứu, bạc màu?
Á Nghi, 24.7.2020
**
*THI SĨ ĐỨC HÙNG***
THƠ SONG NGỮ
BOB DYLAN & TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO
“BLOWIN’ IN THE WIND”
How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
How many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, and how many times must the cannon balls fly
Before they’re forever banned?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind
The answer is blowin’ in the wind

Yes, and how many years can a mountain exist
Before it’s washed to the sea?
Yes, and how many years can some people exist
Before they’re allowed to be free?
Yes, and how many times can a man turn his head
And pretend that he just doesn’t see?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind
The answer is blowin’ in the wind

Yes, and how many times must a man look up
Before he can see the sky?
Yes, and how many ears must one man have
Before he can hear people cry?
Yes, and how many deaths will it take ’till he knows
That too many people have died?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind
The answer is blowin’ in the wind

BOB DYLAN

“THỔI BAY THEO GIÓ”
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước
Để thiên hạ gọi là được thành nhân?
Bao biển xa bồ câu cần bay lướt
Mới về được cồn cát mượt ngủ yên?
Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá
Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra?
Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió
Câu trả lời theo gió thổi bay xa!

Ngọn núi kia tồn tại được bao đời
Trước khi bị nước cuốn trôi ra biển?
Kiếp người phải sống thêm bao năm tháng
Rồi mới được xếp vào hàng tự do?
Vâng! Bao lần ta chỉ lo ngoảnh mặt
Và làm ngơ như mắt chẳng thấy gì?
Câu trả lời, bạn ơi, mờ trong gió
Câu trả lời, bay theo gió còn chi!

Biết bao lần ta phải ngước mắt lên
Mới nhìn thấy trời cao ngất phía trên?
Ta cần phải có thêm bao tai nữa
Mới nghe được ai nức nở canh trường?
Vâng! Phải thấy nhiều cái chết thảm thương
Mới nhận ra sinh mạng chỉ vô thường!
Câu trả lời, bạn ơi, vương trong gió
Câu trả lời, theo gió lượn muôn phương!

TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO
(Đặc San Lâm Viên)
***
*THI SĨ LÊ TẤN DƯƠNG
Đêm Nhớ Trăng Sông Trà
Thursday, July 23, 2020 ĐSLV , Lê Tấn Dương , Thơ
Đọc:Bao nhiêu năm rồi thương nhớ Trà giang,
Dòng sông tuổi thơ, dòng sông tuổi vàng.
Mây nước lao xao soi nghiêng bóng núi,
Mùa thu gọi ngàn, mùa thu mênh mang.

Nhớ bước chân ai một thời áo lụa,
Hoa nắng đong đưa trên cánh phượng tàn.
Ta chạy hụt chân về vùng kỷ niệm,
Thấy nụ cười em trong bóng chiều hoang.

Ta chạy theo em về miền Cổ Lũy
Khan cổ gọi em suốt cả đêm trường.
Gọi đến Thu Xà, gọi qua Sơn Tịnh
Sông của lòng ta, ơi mãi nhớ thương.

Nhớ những mùa hoa, nắng nhạt lưa thưa,
Mùa của tình yêu, nhớ mấy cho vừa.
Rồi giữa mùa xuân, ai gây oan nghiệt
Trăng nước đau buồn, thương tiếc ngày xưa.

Tóc đã bạc phai, mấy mùa trăng nước,
Từng sợi buồn tênh theo nỗi mong chờ.
Còn lại bên em khung trời kỷ niệm,
Và còn riêng ta nửa mảnh hồn thơ.

Trăng sông Trà, soi nghiêng mờ đỉnh núi.
Bóng thuyền trôi, chết lặng giữa giang hà.
Đêm nguyệt cầm vang điệu nhạc thu ca.
Vọng tiếng hát ngàn xa theo gió thổi.

Đêm yên lặng nhạt nhòa chìm bóng tối,
Sương lạnh đầy khuất nẻo ánh sao đêm
Trăng trên sông như một dải lụa mềm,
Hay mây trắng lênh đênh miền vô thức.

Thuyền ai trôi trên dòng sông rã mục.
Chở ta về tìm lại những ngày thơ,
Có rượu nồng thơm nức một chiều mơ,
Đã hiu hắt giữa bến bờ nghiệt ngã.

Giọt sầu nào tơi tả,
Rớt theo ánh trăng buồn.
Chìm vào cỏi mù sương,
Trên sông đời mộ khúc.
Như thuyền xưa rã mục,
Trôi từng mảnh hồn hoang.

Bao nhiêu năm rồi thương nhớ Trà giang
Ta tương tư em một thuở trăng vàng.
Mắt biếc đong đưa những chiều hoang dại
Áo lụa em về theo gió mùa sang.

Ta đang muộn phiền trên vùng sương trắng,
Lạnh buốt rừng hoang nhớ nắng quê nhà.
Nhớ tiếng sáo buồn trên dòng sông vắng,
Dòng sông êm đềm sáng những mùa hoa.

Bao nhiêu năm rồi thương nhớ Trà giang,
Rượu chưa mềm môi đã vỡ cung đàn.
Trăng sáng chơi vơi lung linh sóng nhạc,
Thu buồn rớt rụng – Thu buồn mênh mang.

Lê Tấn Dương
(Đặc San Lâm Viên)
***
*THI SĨ HUY VĂN**NỮ SĨ PHẠM THỊ MINH HƯNG**THI SĨ KIỀU PHONG ***SA CHI LỆMỘT NGÀY

Người ta nói với anh chuyện tương lai Việt Nam
Chuyện tương lai Việt Nam sẽ có nhiều thắng lợi
Mỗi người có một vuông đất riêng
Dùng để nằm nghĩ khi nào thấy mệt

Phần ăn của mỗi người có đầy đủ mỗi ngày
Buổi sáng điểm tâm bằng lựu đạn cay
Với một tách cà phê nước mắt
Buổi trưa thì nhiều hơn bằng hai

Những biểu ngữ và cảnh tăng ni tuyệt thực
Đôi đũa là gậy sắt đập chết người
Cơm là những khuôn mặt cộng sản

Chạy cùng đường xách động biểu tình
Thị kho như những bàn thờ
giữa đường tranh đấu
Cuối cùng tráng miệng là sự chạy trốn của đám ăn xin

Buổi chiều ăn phải tốn kém.
Trên đường phố xe cứu thương hú từng hồi
Bàn ăn bày ra một chiến trường đau thương
Từng đống thây người như những con vật cố sát
Thôi còn gì nữa – Mẹ Việt Nam ơi!…

**
MỘT NĂM

mùa xuân

Khung trời thanh thanh có những tơ mây
Từ hừng sáng chim đã reo như hội
Những bông hoa lan thơm phức suốt ngày
Pháo nổ tiển anh ra ngoài mặt trận
Em rưng rưng trao anh mảnh khăn tay.

mùa hạ

Nắng xám cả kỷ niệm trong mắt em
Loài ve nằm trên đỉnh cây ngó xuống
Em viết thư bằng hình vẽ con tim
Anh đi vào rừng tìm loài dã thú

mùa thu

Mưa tương tư nghe ngọt ngào cô độc
Lá vàng rơi bay đỉnh tháp sương mù
Khúc hát du dương lạc vào đất lạ
Bẽn lẽn dị thường hôn em phiêu du.

mùa đông

Buổi sáng gió buốt nhà chưa mở cửa
Chiếc xe tang chầm chậm bóng người đi
Anh ở trong đó muôn đời than thở
Em ngậm ngùi nước mắt đọng vành ly.

*SA CHI LỆ ( thời chinh chiến)
https://hangoc2020.blogspot.com/
***
*THI SĨ THA HƯƠNG: BIẾM THI
ĐẦM LẦY

Mèn ui, tưởng chỉ cúm Tàu
Mới lây, làm cả năm châu mệt nhoài
Ngờ đâu một ngài xài bạc giả
Tiền án đeo cả tá bên người
Gặp anh cảnh sát trắng tươi
Qúa tay, ngài vội trút hơi cuối cùng
Giá ngài trắng thì không có chuyện
Sẽ êm ru từ huyện đến phường
Như người da trắng vẫn thường
Bị da đen giết trên đường Cờ Hoa !
Nhưng khốn nỗi ngài là hắc ín
Nên Deep State vội vịn lấy ngài
Hung hăng, mướn lũ quái thai
Biểu tình, thực hiện ván bài đả Trump
Đòi công lý cho ông bạc giả
Mà giết người, cướp phá là sao?
Thế thì chính nghĩa chỗ nào?
Khi cướp của lại lửa cao đốt nhà ?
Khi cảnh sát, người mà gây tội
Đã bị giam, chờ lối ra toà
Chẳng ai binh vực anh ta
Sao còn vẽ chuyện để mà đóng phim !?
Tài tử chính nổi chìm chẳng lạ
Pelosi, Bamá, Biden
Bấy lâu trí trá, mị dân
Đã làm lắm chuyện phong thần gớm ghê
Chúng ăn đã đẫy mề tiền Chệt
Nên lây nhau mê mệt bịnh qùy
Để thêm tình tiết lâm ly
Tiễn ngài bạc giả huyền vi xuống mồ
Họ bèn diễn cả trò qùy gối
Hết Biden rồi tới (Pe)lôsi
Cùng vài giáo sĩ…từ bi
Qùy tôn vinh kẻ hành vi gian tà ! (*)
Đặt bạc gỉa trên toà …Thượng Đế
Rồi Biden mắt lệ não nùng
Xót xa qùy gối tôn sùng
Cúi đầu tưởng niệm anh hùng…tuyệt chưa!
Thêm bà chủ viện lừa sôi nổi
Diễn kịch Tàu qùy gối…oai phong
Đẻ ra một trự anh hùng
Dù đầy tội phạm rồi cùng suy tôn
Ai đạo diễn ác ôn dường ấy ?
Và diễn viên, dân thấy thế nào?
Cựu tông tông phó mà sao
Đi vùi nhân cách làm bao trò hèn???
Cái ngữ ấy mà lên chức Tổng
Sẽ gian manh xảo độc ra gì !
Vinh danh bạc giả, ông qùy
Hỏi thì đáng phục? hỏi thì quang minh ?
Khi cả nước oằn mình hoạn nạn
Trăm ngàn người dịch Hán giết đi
Thì không chia xẻ sầu bi
Lại đi thương xót lâm ly một người !
Kẻ giấu mặt dựng đời tạo phản
Kích động người bạo loạn là Ma?
Nếu không, sao ANTIFA
Mưu đồ để biến Cờ Hoa thành Tàu ?
*
Cờ Hoa hỡi, hãy mau cứu nước
ANTIFA đã rước chệt vào
Đồng lòng, ta với Trump nào
Giữ cho nước mãi tự hào, Cờ Hoa !
Bọn cộng sản do Ma dẫn lối
Muốn cầm đầu cả khối năm châu
Cờ Hoa mà để cộng Tàu
Cướp ngôi bá chủ hoàn cầu, Cờ tiêu !
*
Đầm lầy, bịnh dịch quá nhiều
Cùng Trump, ta tát cho tiêu đầm lầy !

Tha Hương
***
* https://hangoc2020.blogspot.com/

https://www.facebook.com/1sachile

https://www.facebook.com/Sachile-561905583845573/
sachilchannel:
https://www.youtube.com/channel/UCB2ncWMzJ2-URzgn3wnIfTQ?view_as=subscriber
**