SAIGON ĐẸP LẠ-Những Mùa Xuân & HOTNEWS

SAIGON ĐẸP LẠ-Những Mùa Xuân & HOTNEWS

ĐỀ TÀI ĐẶC BIỆT HÔM NAY:

1-CHÚC MỪNG TẾT & VÀI ẢNH HAY

2-SAIGON LẠ QUÁ

3-NÉN NHANG 19 THÁNG GIÊNG

4-KÝ ỨC NHỮNG MÙA XUÂN

5-HOTNEWS 20-1-2020

***

**VÀI ẢNH KHÓ QUÊN                                       ***

*Sài gòn bây giờ sang trọng quá phải không Anh..?

Sài gòn bây giờ dù mưa hay nắng
Rác ngập đầy đường xe kẹt quanh năm
Sài gòn bây giờ ăn xin khắp lối
Quán nhậu lan tràn hạnh phúc tối tăm
Sài gòn bây giờ mánh mung hết biết
Một bước ra đường bao kẻ rình ta
Sài gòn bây giờ cơn mưa trút nước
Phố xá thành sông nước ngập tràn nhà

 Sài Gòn bây giờ mạnh ai nấy tiểu
Chẳng chút ngượng ngùng tiểu giữa thanh thiên
Sài Gòn bây giờ quán ôm trăm thứ
Phẩm giá con người đạo đức đảo điên
Chỉ biết đến tiền, tình người không có
Chân ngắn chân dài tìm cách lừa nhau
Ngậm đắng nuốt cay đổi tình thay bạn
Tan nát gia đình nuốt hận niềm đau
 Sài Gòn bây giờ bụi ơi là bụi
Cái nóng nung người da thịt mồ hôi
Sài Gòn bây giờ cướp ngày hết ý
Tích tắc một giây tấm lắc bay rồi .
Sài Gòn bây giờ khói xe mù mịt
Nghẹt thở tim gan phèo phổi mệt nhoài
Sài Gòn bây giờ kẹt xe không ngớt
Đâu dám qua đường ngại chết banh thây
 Sài Gòn bây giờ suốt ngày ăn nhậu
Đĩ điếm đầy đường chèo kéo người qua
Sài Gòn bây giờ khắp nơi đồ giả
Giả vật, giả người, giả cả tình xa
Sài Gòn bây giờ cường hào ác bá
Tham nhũng vòi tiền mọi thứ trao tay
Tình người tan nhanh,đồng tiền trước đã
Sài Gòn bây giờ đạo đức đã bay .
 Thực phẩm ngập đầy tràn lan hoá chất
Tráo trở lọc lừa giết cả Mẹ Cha
Sài Gòn bây giờ dù mưa hay nắng
Cắt xéo lọc lừa xẻ thịt banh da .
 Sài Gòn bây giờ chỉ toàn người Bắc
Nắm giữ quyền hành to nhỏ cơ quan
Khắp cả phố phường âm thanh the thé
Một lũ ngu si cuồng sát đầy đàng
Sài Gòn bây giờ tang thương khiếp quá
Bệnh viện một giường năm bảy người chen
Bác sỹ, y công đua nhau móc túi
Tán tận lương tâm một lũ ươn hèn.
Sài Gòn bây giờ Đài Loan kiếm vợ
Những gái trần truồng để lựa tự nhiên
Văn hoá thuần phong nát tan hết cả
Một đám côn đồ một xã hội điên.
Sài Gòn bây giờ trăm phương ngàn kế
Móc ngoặc, phong bì, tham nhũng, mánh mung
Tai nạn giao thông lăn đùng ra chết
Vô cảm làm ngơ văn hoá điên khùng.
Sài Gòn bây giờ nhà cao cửa rộng
Của đám cường quyền vơ vét người dân
Khóc lóc kêu oan biểu tình khắp lối
Sắt máu côn đồ đàn áp thẳng tay .

 Sài Gòn bây giờ ôi thôi hết biết
Còn nữa ta đâu Hòn Ngọc Viễn Đông
Tan nát niềm tin lòng dân căm phẫn
Mong muốn có ngày xoá sạch cho xong
Sài Gòn còn nhớ hay quên
Từng đêm ray rứt cạnh bên đọa đày
Hỡi người còn nhớ chăng thay
Sài Gòn năm cũ tháng ngày yêu thương.
Nguyễn Trãi

***

NÉN NHANG 19 THÁNG GIÊNG

Nén nhang 19 tháng Giêng
Thắp lên khói tỏa quanh triền sóng xa
Khói bay mờ mịt Hoàng Sa
Hận quân xâm lược gian tà giặc Trung
Chừng nghe tiếng pháo ta rung
Nã vào tàu giặc trùng trùng hờn căm
Đạn bay tiếng sóng thét gầm
Lời non nước gọi xa gần lắng nghe
Nén nhang thắp nhớ tái tê
74 chiến sĩ đã về cõi cao
Mang theo hồn nước dạt dào
Mang theo tình nghĩa đồng bào phiêu linh
Thương người chiến sĩ hy sinh
Quyết tâm giữ đất nước mình, toàn an
Giữ từng tấc đất tấc vàng
Tến lên chiến đấu nguy nan không sờn
Trăm năm bia đá cũng mòn
Ngàn năm lịch sử mãi còn lưu danh
Nén nhang thắp nhớ các anh
Khói bay lờ lững kết thành mộ bia
Biển xanh mộ sóng anh về
Cũng như đồi cỏ suối khe quê nhà
Noi gương anh dũng ông cha
Quyết tâm chống lũ ác ma giặc thù
Trầm Vân

***

Những mùa xuân tù đày trên đất Bắc

From: Nhon Nguyen <nhon37@hotmail.com>

Friday, January 17, 2020

Tùy Bút về các trại tù Hoàng Liên Sơn – ĐÁ NÁT VÀNG PHAI

XUÂN TRÊN NÚI HOÀNG LIÊN
Những mùa xuân tù đày trên đất Bắc

Đầu Đông năm 76, hai ngàn tù cải tạo Miền Nam lênh đênh trên chiếc tàu Hồng Hà trên đường ra Bắc. Đổ bộ lên Bãi Cháy, Hải Phòng.Đoàn tù chia thành hai nhóm. Một hướng về Cao Bằng – Lạng Sơn tiến phát. Một quẹo trái thẳng về Hoàng Liên Sơn. Sau một ngày và gần một đêm rong ruổi, đoàn tù nhóm tôi đặt chân xuống “Trại Cải Tạo Trung Ương Số 1″, Lào Cai lúc 3 giờ sáng. Đường vào các phòng giam chật hẹp, đèn đóm lập lòe, chốc chốc hiện ra khung cửa hẹp, trông giống hệt cảnh Địa ngục A Tỳ, vẽ trên vách các ngôi chùa cổ Miền Nam.

Mùa Đông năm đó thời tiết thật là khắc nghiệt, đó là lời của bọn cai tù nhận định như vậy. Ban ngày còn được 5-7 độ C, ban đêm dưới 0 độ. Đội 11 chúng tôi khi đó chưa được phân công chẻ tăm mành xuất khẩu nên được xua đi, xa cách trại 5-3 cây số, cuốc đất trồng mì (sắn). Theo “kỹ thuật thâm canh tăng vụ xã nghĩa hiện đại” thì … hốc mì phải vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc, rồi bỏ phân xanh xuống, tức là quơ lá cây rừng bỏ xuống đầy hốc, lấp đất lại, ủ năm ba bửa mới bỏ hom mì xuống. Trong Nam, chỉ cần cuốc một cuốc, bỏ hom mì xuống, lấy chân gạt đất lắp lại là xong. Còn ở đây, đồi núi toàn sỏi đá, không làm như trên thì hom mì không làm sao bắt rễ nổi. Cho nên phải làm như vậy chớ chẳng phải kỹ thuật xã nghĩa cái mụ nội gì! Đội 11 triển khai đội hình, tức là dàn hàng một vòng quanh ngọn đồi trọc, vì trước đó tù hình sự đã phát xong lùm bụi rồi, bắt đầu cuốc dần lên đỉnh. Sức tôi lúc đó cầm cuốc còn không vững, lại thêm trời lạnh như cắt, tay chưn run lập cập, dẫu cho có dùng hết “tinh thần cách miệng tiến công”, ra sức cố cù lừ cuốc xuống thì chỉ thấy sỏi đá văng tứ tung mà lưỡi cuốc không ăn xuống được bao nhiêu! Tên cai tù trẻ nhìn tôi, lắc đầu ngán ngẩm, bèn bảo tôi chạy đi gom chà, đốt một đống lửa to cho nó ngồi sưởi ấm. Nghỉ giữa buổi, chúng cho phép anh em xúm quanh đống lửa, sưởi ấm một lúc. Nhìn anh em mặt mày tái xanh, tái xám, ngồi ủ rủ giống như một lũ u hồn, oan khuất. Lại thêm gió giật từng cơn, đã lạnh càng thêm giá buốt, tôi cám cảnh sanh tình, đặt tên cho ngọn đồi đó là “Đỉnh Gió Hú” cho nó văn chương, thơ mộng. Chiều xuống, sương mù giăng mắc, gió rét căm căm, bọn tù lầm lủi bước. Về đến trại, trời đã tối mịt mùng. Nuốt vội một chén đá duy nhất củ mì băm mà nơi đây gọi là “sắn dui” là cai tù đã lùa vào phòng giam, khóa lại. Ai nấy lật đật giăng mùng. Bao nhiêu mền chiếu đều đem ra quấn vào người. Riêng tôi, lấy hết mền chiếu trải phía dưới, quấn quanh người tấm nệm mỏng của trại tù, ngồi dựa vách run rẩy, chống lạnh cho đến khi mệt mỏi, thiếp đi. Phòng giam chật hẹp, chứa 50 nhân mạng mà lúc nầy vắng lặng như nhà mồ vì không ai đủ sức cựa quậy, đi lại. Thuở nhỏ, ở Miền Nam ấm áp quanh năm nên nghe ông già, bà cả ví von “lạnh thấu xương, lạnh nứt da, nứt thịt hoặc lạnh trong xương lạnh ra” đều không hiểu nổi. Lúc này tuổi ngoài 40 mới hiểu được thế nào là cái lạnh trên núi rừng Việt Bắc.

Cho nên một buổi sáng tàn Đông, nhằm ngày Chúa Nhật, cai tù mở cửa trễ. Đang ngồi thiêm thiếp, bất đồ anh bạn nằm bên cạnh mở tung cửa sổ ra. Ngoài song cửa hoa rừng nở rộ một màu trắng xóa khắp núi đồi, báo hiệu mùa Xuân đến. Chỉ trong một thoáng, tôi cảm thấy trong lòng bừng nở một sức sống mới: Sự HỒI SINH của Mùa Xuân. Cho nên sau nầy, khi đọc Thiền Luận của Suziki, dẫn bài “Hài cú” của một thi sĩ Nhật Bản, nhìn một đóa hoa đơn côi bên vệ đường, cảm tác nên, để dẩn giải về nguyên lý “Chẳng phải một, chẳng phải hai” của Thiền Đạo, tôi cảm nhận được liền. Cũng tương tự, khi đọc bài Xuân Thiền cuả Trúc Lâm Trần Nhân Tôn:

Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không
Xuân về hoa nở, rộn trong lòng
Đến nay hiểu được điều không sắc
Xuân đến, giường Thiền, ngắm rụng hồng

Hoặc giả hai câu trứ danh:

Đừng tưởng Xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước, MỘT CÀNH MAI

Tết năm đó, trên núi rừng Hoàng Liên, chúng tôi có một điều vui nhỏ, mỗi người được một cặp bánh chưng nhân đậu, có một lát thịt mở đàng hoàng, tuy nhỏ và mỏng. Đáng ghi nhớ là một sự kiện chấn động: Đó là tin hai người tù cải tạo Miền Nam toan vượt ngục, bị bắt lại. Ngày mồng ba tết năm đó, toàn phân trại K1 tập hợp tại Hội trường để nghe viên Chúa ngục xỉ mắng và đe dọa về vụ nầy. Về sau, biết được hai người anh em dũng cảm nầy là: Thiếu Tá TQLC Tôn Thất Thiện Nhơn và một Trung Tá HQ dường như tên là Phát.

Đó là cái Tết đầu tiên trên đầu phía Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn. Về sau, khi từ phòng kỷ luật ra, anh Nhơn được bố trí về Đội 11 chẻ tăm mành của chúng tôi. Lúc nầy đã sang Hè, trời nóng như thiêu, như đốt. Cột kèo bằng tre nứa, giữa trưa nổ đom đóp.Trong một buổi họp đội do tên quản giáo chủ trì, anh T3 Nhơn liền cho nổ bom, long trời, lở đất, chấn động cả toàn trại. Chẳng là vừa khi khai họp, một tên “ăng ten” hèn nhát đứng lên tố cáo, “Nhờ ơn Bác đảng nuôi cho ăn học, nhà cao, cửa rộng, áo quần lành lặn, mà có người còn phát ngôn phản động… “. Tên nầy chưa kịp chỉ danh ai thì anh T3 Nhơn đã hùng hổ đứng vụt lên, bất kể cai tù dọa nạt, hô lớn như vầy: ” Đồ bợ đít, ngồi xuống. Tao chẳng những không biết ơn mà tao thù, tao oán. Bởi vì bác đảng mà thân tao tù tội, gia đình tan nát, đói khát, rách rưới tả tơi. Còn nhà cao, cửa rộng hả? Coi kìa! cái phòng giam chật hẹp, nóng như thiêu đó giống như Hỏa ngục A tỳ. Đồ bợ đít hỗn xược! Câm miệng, không thôi tao dọng vỡ mồm”. Trước tình cảnh lỡ khóc, lỡ cười, tên cai ngục bèn đứng dậy … dong thẳng một lèo … vì không có võ trang bảo vệ.

Mùa Xuân năm Kỷ Mùi 78 kế tiếp là một cái Tết buồn. Đêm 29 Tết, bác Hồ Đắc Trung cựu Dân Biểu và Tỉnh Trưởng Tây Ninh bị đau ruột trầm trọng. Trại chở đi Bệnh Viện Lào Cai cấp cứu, mãi không thấy về, không biết thân xác vùi dập nơi đâu! Đó là cái chết đầu tiên của người tù cải tạo Miền Nam trên núi rừng Hoàng Liên. Lại thêm năm đó, trại cạn láng rồi nên mỗi thằng tù chỉ được phát cho một cặp bánh chưng mỏng lét, ruột toàn khoai lang. Đến nổi bọn cai ngục mắc cở, chống chế, “Thôi mấy anh ăn đỡ cái Tết xoàng ở đây để năm tới về nhà ăn Tết vui hơn”.

Mà quả có thế thật, vì cuối tháng sáu năm đó, toàn trại, trừ hình sự và các anh Biệt Kích Miền Nam bị giam cầm ở đây từ trước, được lịnh chuẩn bị di chuyển. Có điều … KHÔNG phải về NAM mà là về Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, về phía hữu ngạn sông Hồng. Trại nầy nổi danh là “MỒ CHÔN TÙ CẢI TẠO MIỀN NAM”! Vốn nó là trại cải tạo địa phương cải sang. Nhà cửa lụp xụp, lợp toàn bằng lá cói, lương thực dự trữ không có. Cho nên chỉ sau đó một tháng, xãy ra trận “dịch chết đói” mà họ gọi văn hoa là “suy dinh dưởng”. Có trên một trăm anh em tù cải tạo Miền Nam, rải rác khắp 5 phân trại, nhất là phân trại K1, K2, ngã gục, vùi thây khắp các đồi trồng khoai mì.

Mùa Xuân năm Canh Thân 79, vì suốt năm dài không nhận được chút ít tiếp tế nào của gia đình từ trong Nam gởi ra, nên sức dự trữ trong cơ thể cạn rồi, ai nấy đều phờ phạc, lửng lơ như xác chết chưa chôn. Tuy nhiên, tôi có một kỷ niệm cuối cùng với Đại Tá Nguyễn Văn Của, Tỉnh Trưởng Bình Dương. Tết năm đó, họ để cho tù đi lại các khu, thăm hỏi nhau. Khu tôi ở cách khu ĐT Của chỉ một bức tường cao. Tôi qua đó tìm thăm Ông. Thấy tôi, ông bước lại bá cổ, mừng rở. Tôi dang ra nhìn Ông đùa, “Coi bộ còn khá lắm”. Ông vừa chửi thề, vừa kéo lưng quần ra, “Coi nè, lưng quần tao hụt cả tấc vầy! Được, được cái nỗi gì!” Lúc nầy quả thật Ông Tỉnh Trưởng đã ốm yếu quá rồi. Tôi chỉ đùa cho Ông vui vậy thôi. Mùa Đông năm ấy, Ông bị phổi có nước. Mặc dầu anh em ở Bệnh xá, cũng là tù cải tạo, tận tình giúp đở, nhưng mà Ông yếu quá, quỵ xuống vĩnh viển.

Ngày chôn Ông, tôi đang cuốc đất bên vệ đường. Chống cuốc, đứng nhìn anh em đội Cải Lương quảy chiếc hòm dã chiến, đầu cao đầu thấp, lắt lẻo bước đi, trông thật thảm thương. Đàng sau chiếc hòm đong đưa đó, không có một ai thương khóc tiễn đưa. Tôi đứng đó, thầm khóc tiễn Ông mà cũng khóc cho thân phận khốn khổ của chính mình. Nói rằng khóc thầm là bởi vì, nếu chảy nước mắt mà bọn cai tù hay ăng ten nhìn thấy thì vừa bị chửi, vừa bị làm kiểm điểm về tội “không yên tâm cải tạo”.

Hồi đó, mùa Đông năm nào hay nói cho đúng là bắt đầu từ đầu tháng 9 tức là mới đầu Thu là tôi bắt đầu ôm bụng, rên rỉ cho đến hết Đông qua Xuân. Cho nên kể từ khi ĐT Của thượng đồi chè, tức là chôn bên cạnh đồi trồng trà, anh em thường kháo nhau, “không biết mùa Đông năm nay Phó Nhơn có qua khỏi không hay là lên đồi chè làm Phó cho Ông Của?”. Tôi nghe thấy được, liền dẫy ra, “Ổng có kêu thì kêu thằng Vinh đó! Nó là Phó của ổng chớ can hệ gì tới tao.”

Tuy nói đùa như vậy mà suýt tí nữa thì tôi đã theo Ông Của thật. Giữa tháng 12 năm 80, tôi đau một trận, thập tử, nhất sinh. Không phải ví von mà thật sự là như vậy. Đêm đó, khoảng 10 giờ, tôi bắt đầu lên cơn đau. Đến nửa đêm, chịu không nổi, la hét dữ dội, kêu lính gác, đòi cho đi Bệnh xá. Tên nầy lém lỉnh, dở trò hoãn binh, bảo chờ đi kêu cai ngục mở khóa cửa. Tôi chỉ biết lăn lộn, rít lên từng cơn. Gần sáng, tôi chịu hết nổi, làm liều, bước lại cửa sổ, thò tay qua song sắt, kêu toáng lên, xin cho một mủi Atropine. Thằng lính gác có biết trô pin, trô péc cái gì, nạt lại bảo chờ một chốc là mở khóa. Tới sáng, lả người nên khi cửa phòng giam được mở, tôi chỉ lờ mờ nhận thấy anh Mai, Đội phó Đội Rau Xanh, quấn mền, bồng đi. Đến Bệnh Xá, anh vừa đặt xuống là tôi bất tỉnh nhân sự. Từ đó về sau, tôi không biết gì nữa.Tỉnh lại thì đã nửa đêm, lại bắt đầu rên rỉ. Anh Lang cũng là tù cải tạo, được cử làm y tá trực Bệnh Xá, nghe thấy, bước lại nhỏ nhẹ bảo, “Cả Bệnh Xá chắt chiu mãi mới có được 5 ống Atropine. Từ sáng đến giờ, thấy anh đau đớn quá, không cầm lòng được, đã chích cho anh hết rồi. Bây giờ, dẫu còn thuốc cũng không dám chích cho anh nũa. Thôi, ráng ẩn nhẫn cho qua cơn.” Tôi dật dờ, khi tỉnh, khi mê như vậy trải qua 4 ngày, đêm. Sáng ngày thứ năm, thấy tôi có vẽ tỉnh táo, anh Lang cầm một ống thuốc đưa ra trước mặt tôi, không rõ là thứ thuốc gì, miệng nói, “Thuốc nầy khá mạnh, anh liệu sức kham nổi không, tôi chích cho.” Tôi cùng đường rồi, đánh liều, đưa tay ra. Quả nhiên, mủi kim chích chưa kịp rút ra, tôi cảm thấy như có ai cầm búa tạ đập mạnh vào ngực. Vừa tức thở, vừa nghe khí huyết nhộn nhạo, dâng lên, dâng lên. Sức sống từ mười đầu ngón tay, ngón chân thoát ra khỏi thân thể. Tôi kêu lên, “Anh Lang ơi! Tôi mệt quá!” mà nghe văng vẳng như tiếng của ai đó chớ không phải tiếng của mình. Tôi mơ hồ nghe thấy anh bảo, “Nằm xuống, nằm xuống.” Nếu tôi nghe lời anh, nằm xuống, có lẽ đã đi luôn rồi! May sao, tôi chỉ chống hai tay ra sau cho vững, nủa nằm, nửa ngồi, cố ngáp ngáp thở. Đợt thứ nhứt vừa hạ xuống, đợt nhộn nhạo thứ hai lại bùng lên. Có điều lạ lùng là lúc nầy tôi không cảm thấy đau đớn gì. Trí óc vẫn sáng suốt. Nhìn ra bên ngoài, buổi sáng mùa Đông mà lại có ánh nắng vàng le lói. Đồi núi dường như nhảy múa, khi gần khi xa. Tôi thầm than, “Cả đời không làm gì ác, sao đành phải vùi thây nơi rừng núi xứ lạ, quê người?” Rồi cố gắng hít thở. Bỗng nhiên, tất cả đều lắng xuống, thân tâm cảm thấy êm ả lạ thường. Đến nỗi khi về lại giường, nằm xuống đi vào giấc ngủ cô miên, êm đềm như chưa từng thấy.

Hồi đó, tôi chưa đọc Kinh Phật nên không lý giải được hiện tượng kể trên. Về sau, trong những năm cày cuốc trên Khu Kinh Tế Mới Bảo Lộc, tôi lần mò đọc Kinh Luận mới vỡ lẽ. Nếu hồi đó tôi hiểu được lẽ “Tùy Thuận Duyên Giác”, yên lặng nằm xuống, có lẽ đã dứt nghiệp từ khi ấy. Nhưng vì không hiểu biết, tôi lại cưỡng cầu, lại còn dấy lên “một niệm” oan khuất nên lại tái sinh. Nói cho rõ thì như vầy: Đạo Phật giải thích về Nghiệp bằng hình ảnh một mủi tên, ví như thân mạng. Nghiệp lực là sức mạnh phóng mủi tên thân mạng lao đi. Nghiệp dứt, mủi tên hết đà rơi xuống, thân mạng cũng dứt theo. Lúc đó, tôi đâu hiểu lý nầy nên mới cưỡng cầu, dấy lên một niệm oan khuất, tạo ra một Nghiệp Lực mới, đẩy mủi tên thân mạng tiếp tục duyên nghiệp mới.

Trên đây là những MÙA XUÂN TRÊN NÚI HOÀNG LIÊN, bởi vì nói là Tân Lập, Vĩnh Phú, kỳ thật nơi đó vẫn là một thung lũng hẹp nằm giữa rặng Hoàng Liên trên Đất Bắc

Xuân năm nay là bắt đầu năm thứ năm, sống trên đất Mỹ. Bốn Mùa Xuân qua đều không cảm thấy gì là Tết. Hội Tết ở đây, dẫu cho tổ chức khéo léo cách mấy cũng không thể tạo nên “không khí” của Ngày Tết nơi Quê Nhà. Con lân múa trong Hội Chợ Mỹ không thể nào sinh động như con cù giỡn pháo trên đường phố quê tôi. Con cù râu bạc đó làm thế nào sánh được với con cù râu bạc của Hội Chùa Bà, xứ THỦ, Bình Dương.

Tìm đâu thấy cành mai vàng rực rở của Ngày Tết ở Quê Nhà!? Tìm đâu thấy cảnh trẻ em mặc quần áo Tết sặc sỡ, vui đùa trên hè phố, thỉnh thoảng đốt trái pháo chuột nổ tì tạch!? Cho nên ngày Tết, cứ nằm nhà, ngâm Kiều, giải khuây:

Ngày Xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Hoặc giả, xót thân 15 năm lưu lạc phong trần thì ngâm Kiều vịnh:

Tấm lòng nhi nữ thương mà trách
Chẳng trách chi Nàng, trách Hóa công

Nguyễn Nhơn
Cuối Đông 1994

(nguồn:http://baotoquoc.com/)

Những Mùa Đông tù đày gian khổ

Đêm Gia Trung Nhớ Em

Anh từ Suối Máu về Gia Trung,
Chiều Tây Nguyên bóng núi chập chùng.
Sương trắng mịt mờ tràn thung lũng
Gió mùa Đông Bắc lạnh căm căm.
Kiếp tù không án giữa rừng hoang,
Đã mấy mùa đông lạnh kinh hoàng.
Đêm nghe vượn hú từ xa thẳm
Tiếng gọi đàn dội núi buồn vang.
Vượt Mang Giang, em đã đến đây
Đèo cao, dốc thẳm tận chân mây,
Anh biết em đi nhiều gian khổ,
Gánh thăm nuôi trĩu nặng vai gầy.
Rừng núi Tây Nguyên lạnh bốn bề,
Mây xếp chập chùng trắng sơn khê
Em đến thăm anh ngày mưa gió,
Sẽ lạnh nhiều hơn lúc trở về.
Nửa giờ thăm nuôi, thật thê lương,
Gần nhau mà cách trở dặm trường
Ai đem sum họp thành chia cắt,
Hạnh phúc hoen mờ như hơi sương.
Hạnh phúc trôi nhanh như mây bay
Chưa nói tròn câu, lệ đã đầy,
Em gởi thương yêu qua ánh mắt
Anh nuốt vào lòng bao đắng cay.
Vẫn là em của những ngày hoa mộng,
Thuở yêu nhau với ước vọng ba sinh.
Em khác đi nhiều nhưng vẫn còn xinh,
Anh hoa râm, tiếc thương thời tuổi trẻ.
Miền Nam nhớ anh, mây sầu quạnh quẽ,
Gia Trung thương em, sương trắng ngập rừng
Sao thấy trong em
Mắt lệ rưng rưng
Nhắc chuyện ngày xưa,
long lanh kỷ niệm.
Chuyện em kể,
là cung đàn chết lịm.
Chuyện của đớn đau
Thương xót giận hờn.
Chuyện tình yêu và ngày tháng cô đơn
Khung trời cũ – Dấu tình sầu lãng đãng.
Chuyện hôm xưa
và những ngày phiêu lãng
Chuyện ngày mai,
biết sẽ về đâu.
Về đâu,
Sương điểm mái đầu
Về đâu,
Mây đã nhạt màu thời gian.
Một mai chim khóc lìa đàn,
Tiếng buồn rớt rụng vào ngàn lệ châu.
Trại tù Gia Trung 1980
Lê Tấn Dương
(
Đặc San Lâm Viên)

MÙA ĐÔNG HOÀNG LIÊN SƠN

Cuối Thu trên đất Mỹ, trời thấm lạnh

Nhớ về mùa Đông Hoàng Liên Sơn

Cuối tháng chạp, một chín bảy sáu

Hai ngàn “cải tạo viên” Miền Nam

Đáp tàu Hồng Hà ra Bắc “đi du học”

Trên sông Lòng Tàu, tàu trôi êm ả

Cửa biển Cần Giờ lướt qua lúc chiều buông

Một bạn tù lắc lư thổ huyết láng lay

Trên chiếc tàu sóng vùi, gió vập lúc đêm về

Trong âm u, bỗng hiện lên ánh hào quang

Quanh thân người tù nho nhã, hiền lành

Người tu sĩ thánh thiện Nguyễn Văn Thuận

Trong cõi mông lung, người tù thấy lòng êm ả

Mường tượng ánh sáng kia soi chiếu đường về

Đổ bộ Bãi Cháy, Hải Phòng

Sau ba ngày đêm lắt lay trên Biển Đông

Một nửa nhắm Cao Bằng, Lạng Sơn thẳng tiến

Một nửa rẻ về Tây Bắc Hoàng Liên Sơn

Trung tâm Cải tạo Trung ương số 1, Lào Kay

Mùa Đông năm ấy thật là khắc nghiệt

Ngày khổ sai trên đỉnh đồi gió lộng rét căm căm

Đêm về khí núi lạnh buốt xương, nhức óc

Suốt canh trường dựa cột ngồi run rẩy

Sức mỏn, hơi mòn, chợp mắt lúc tàn canh

Ngày tháng trôi qua biền biệt đến cuối Đông

Một buổi sáng, tỉnh giấc nhìn ra song cửa

Hoa bang nở rộ, trắng núi đồi

Mùa Xuân đến đem lại sức hồi sinh

Cửa tù mở, nhìn phía xa xa

Đỉnh Fansipan tuyết phủ, lắp lánh ánh thiều quang

Cụm mây trắng lững lờ trôi như tranh thủy mạc

Lòng người tù êm ả giữa ánh xuân quang

Nguyễn Nhơn

MÙA ĐÔNG DƯỚI RẶNG TRƯỜNG SƠN

Mùa Đông Trường Sơn

Có nắng vàng hiu hắt

Tiếng tù ca ủ ê

Suối A mai chảy dài ra Bến Ngọc

Đường ta đi qua Dốc Phục Linh

Đường ta đi, đường nghĩa, đường tình

Đường đi hạnh phúc, chúng mình đấp xây”(*)

Hạnh phúc nào đâu thấy

Những tang thương và tủi nhục

Của người thua trận ngậm ngùi

Đào đấp con lộ ngoằn ngoèo

Lượn quanh chân núi

Để xe trâu đưa đón

Những người vợ tù Miền Nam

Ngàn dặm tìm gặp mặt chồng

Trèo đèo, vượt suối, sang sông

Gánh gạo nuôi chồng, nước mắt rơi rơi”(**)

Nhìn “những gót chân ngày xa xưa

Sợ lấm trong bùn khi mưa”(***)

Ngày nay đâu còn nữa

Chỉ còn những bàn chân chai sạn

Tảo tần nuôi bầy con nhỏ dại

Chắt chiu chút ít quà

Mỗi năm đôi lần

Gởi bù đắp cho chồng, tù nơi xa

Mùa Đông Trướng Sơn lạnh lắm

Chiếc áo ngự hàn năm cũ

Biết chồng có đủ ấm hay không?

Nguyễn Nhơn

(*) Thiếu tá Đạt, Tiểu khu Bình Tuy

(**) Thơ Bình Dương

(***) Nhạc: Tôi đưa em sang sông                                    ***

Điểm Tin Thứ Hai 20/01/2020 (ANM)

Anh Tuấn Phạm <anhtuanfp@hotmail.com>

Jan. 19 at 12:17 p.m.

BREAKING NEWS

“Nuôi thân sinh nô tài, nuôi trí sinh nhân tài, nuôi tâm sinh thiên tài” (Lý Đông A)

“Kẻ thù lớn bởi vì mi quỳ xuống”

  • VNTB – Khi chủ quyền mờ nhạt trong nhân tâm (VNTB) – Hữu Sự (VNTB) – Chủ quyền bị đe doạ, nhân tâm đang bị chia rẽ. Đó là tất cả những gì có thể cảm nhận được trong năm Canh Tý. Báo Tuổi Trẻ Online đưa tin, 18-1-2020, bên bờ biển Đà Nẵng, chính quyền huyện Hoàng Sa phát động xây dựng công trình Thư viện Hoàng Sa. Buổi lễ diễn ra đúng dịp tưởng niệm 46 năm ngày quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép (19-1-1974 – 19-1-2020) nhằm nhắc nhở mỗi người hôm nay và cả mai sau: Hoàng Sa là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam
  • Lối thoát nào cho vấn đề biển Đông trong mối quan hệ Việt – Trung (RFA) – Tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông là không đổi, với nhiều chiến thuật phức tạp, tinh vi và khó dự đoán. Và Việt Nam luôn bị Trung Quốc sử dụng một “vòng kim cô” trói tay chính Việt Nam, đó chính là dùng “mối quan hệ hai Đảng” để “bịt miệng” mỗi khi Trung Quốc “đe doạ, quấy nhiễu” Việt Nam trên biển Đông.
  • VNTB – Tự do báo chí và quyền làm báo của các tòa soạn chính danh (VNTB) – Triệu Tử Long (VNTB) – Gọi là ‘tòa soạn chính danh’ vì các tờ báo này được Nhà nước Việt Nam cấp phép hẳn hoi, giấy phép vẫn còn hiệu lực. Các tòa soạn hoạt động theo đúng hành lang pháp lý của Hiến pháp, của Luật Báo chí. Điều đó có nghĩa những tờ báo này chỉ có thể bị đình bản trong các trường hợp như vi phạm pháp luật, giấy phép hết hạn và không được cấp lại, tự dừng xuất bản vì lý do vốn liếng… Thế nhưng ngay tuần lễ chuẩn bị đón mừng năm mới Canh Tý, tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam, phiên bản báo giấy lẫn báo điện tử đều được Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu phải ‘dừng hoạt động xuất bản’ với lý do ‘quy hoạch báo chí’. Yêu cầu này tương tự như người dân ở bán đảo Thủ Thiêm, ở khu vườn rau Lộc Hưng đang sống yên ổn, bổng ‘đùng một cái’ nhận mệnh lệnh hành chính là phải ‘dỡ bỏ nhà cửa’, chờ ‘quy hoạch’ xong thì sẽ biết được ở đâu, làm gì
  • VNTB – “Đẩy lùi ranh giới”- Sự trỗi dậy của việc xuất bản sách cấm tại Việt Nam (VNTB) – Vũ Quốc Ngữ dịch (VNTB) – Nhà xuất bản Tự do xuất bản và phát hành những cuốn sách mà Chính phủ Việt Nam không muốn công dân của mình đọc. Bên trong một căn phòng chật chội ở một địa điểm bí mật và tạm thời ở miền bắc Việt Nam, một máy in quay tít, phun ra những tờ giấy in kín chữ. Từng cọc sách gọn gàng được xếp chồng lên nhau trên những chiếc bàn gần đó và một người đàn ông đeo mặt nạ phòng độc đặt xếp giấy vào một chiếc máy cắt và đóng bìa. “Sự ẩm ướt trong căn phòng đã khiến nhiều trang giấy bị nhàu. Đây không phải là điều tốt,” tổng biên tập của Nhà Xuất bản Tự do, nói khi ông mở một cuốn sách mới in
  • Đồng Tâm, Phạm Chí Dũng liệu có ‘gây khó’ cho EVFTA? (VOA) – Ngay trước thềm phiên họp mang tính quyết định về EVFTA vào ngày 21/1, có thể thấy rõ nỗ lực dàn xếp nhằm “trấn an” các nghị viên châu Âu của giới hữu trách Việt Nam trước những làn sóng chống lại việc thông qua hiệp định này
  • Những hình ảnh cụ Lê Đình Kình với những vết thương và hiện trường (BoxitVN) – BVN không muốn làm mọi người tan nát cõi lòng vì những hình ảnh dưới đây, nhưng buộc lòng phải đưa lên, cốt để soi tỏ đâu là công chính đâu là vô lương trong vụ bắn giết rùng rợn hơn cả thời Trung cổ này. Xin chúng ta hãy nén lòng vì người đã khuất và vì nỗi oan khuất sững sững đang chờ những người còn sống.
    Bauxite Việt Nam. Hiện trường căn phòng cụ Lê Đình Kình bị quân cộng sản sát hại 4 giờ sáng ngày 9/01/2020. Những vết thương …
  • TUYÊN BỐ ĐỒNG TÂM 10.1.2020 (BoxitVN) – Các tổ chức và cá nhân đồng ý ký tên xin ghi rõ: Tên tổ chức và tên người đại diện/ Tên cá nhân và chức danh/nghề nghiệp (nếu có), tỉnh/thành (và quốc gia nếu ở nước ngoài) đang cư trú. Gửi về địa chỉ email: tuyenbodongtam2020@gmail.com
  • Tẩy chay: Thanh gươm cùn hay “thượng phương bảo kiếm”? (BoxitVN) – Y Chan – Tiền phúng điếu mà xếp vào tài trợ khủng bố, các ông đã đạt đến tận cùng của sự man di mọi rợ. Trần Đình Thu. Với thông cáo của Bộ Công an về việc phong tỏa tài khoản cá nhân chị Nguyễn Thị Hạnh với lý do “tài trợ khủng bố”, Việt Nam đã xứng đáng là một đất nước man di mọi rợ nhất quả đất. Khi các ông đã tấn công xong Đồng Tâm, đã giết người, các ông không hề khởi tố vụ án “khủng bố” và những …
  • VOA 4 giờ 30 sáng (VOA) – Tin tức luôn cập nhật, thời sự quốc tế, và các chuyên mục đặc biệt về Việt Nam và thế giới. Các bài phỏng vấn, tường trình của các phóng viên VOA về các vấn đề liên quan đến Việt Nam và quốc tế.
  • Thảm họa hàng không Ukraina : Cơ hội để Canada và Iran nối lại đối thoại ? (RFI) – Minh Anh – Trong vài ngày qua, các ngoại trưởng Canada và Iran đã có ba cuộc nói chuyện, chủ yếu là để thảo luận về số phận của nhiều gia đình đang chịu tang vì tai nạn chuyến bay PS752 của hãng hàng không Ukraina. Chưa bao giờ chính phủ hai nước lại có nhiều cuộc đối thoại như thế kể từ tháng 9/2012, thời điểm hai nước cắt đứt quan hệ song phương
  • Hồng Kông : Biểu tình chống đảng Cộng sản Trung Quốc (RFI) – Tú Anh – Phong trào dân chủ Hồng Kông tiếp tục biểu tình mỗi cuối tuần cho dù bị đàn áp. Công viên Chater Garden, gần viện Lập pháp, ngày Chủ Nhật 19/01/2020 tràn ngập những người cầm biểu ngữ chống đảng Cộng sản Trung Quốc và đòi quyền ứng cử bầu cử tự do
  • Khói mù cháy rừng đe dọa sân đấu Úc Mở rộng 2020 (RFI) – Anh Vũ – Nghẹt thở ở giải Grand Chelem đầu tiên của năm 2020 Úc Mở rộng, không phải vì các cuộc so tài căng thẳng mà vì các tay vợt bị ngộp thở do thi đấu trong khói mù từ các vụ cháy rừng suốt 5 tháng qua ở nước Úc. Bóng đá Việt Nam kết thúc chuỗi ngày bay bổng sau thất bại nhanh chóng đội tuyển U 23 ngay từ vòng bảng tại giải châu Á ở Thái Lan. Trên đây là những nội dung của tạp chí Thể thao tuần này.

***

 

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here