Số Đặc Biệt TÁC PHẨM CÁC NHÀ VĂN

0
416

Số Đặc Biệt   TÁC PHẨM CÁC NHÀ VĂN: TRUYỆN KÝ SỰ  BÚT KÝ TẠP GHI HỒI KÝ.

  • Nhà văn NGUYỄN NGỌC HOA  *GS NGUYỄN QUANG THÀNH * Nhà văn PHẠM TÍN AN NINH *Nhà văn NGUYỄN TRẦN DIỆU HƯƠNG *Nhà văn TRẦN TRUNG CHÍNHNhà văn SAIGON CÔ NƯƠNG * Nhà văn PHAN XUÂN SINH  * Nhà văn VŨ THƯ HIÊN *Nhà văn PHƯƠNG LAN *Nhà văn THÁI PHƯƠNG * SA CHI LỆ.

  • Nhà văn NGUYỄN NGỌC HOA                

                  Lùi Lại về Tương Lai

Cuối tháng Năm, bộ chỉ huy trại Orote Point mỗi ngày tổ chức hai chuyến du ngoạn đảo Guam để giúp dân tỵ nạn tìm hiểu thêm về Hoa kỳ.  Ít người hưởng ứng các chuyến du ngoạn này vì đa số không ai có lòng dạ nào mà “đi chơi” trong khi chưa rõ ràng về tình trạng pháp lý, không có một mảnh giấy tùy thân nào do chính phủ Mỹ cấp, và chỉ ngồi trên xe chạy vòng vòng và không được xuống xe.  Một buổi chiều đầu tháng Sáu, sau khi ăn trưa, tôi và Quỳnh Châu lên xe buýt đi du ngoạn, tha hồ chọn chỗ ngồi vì xe còn khá nhiều ghế trống.  Bên ngoài nắng chói chang và bên trong xe nóng hâm hấp khiến ai nấy đều buồn ngủ.

Đây là lần đầu tiên tôi thực sự nhìn thấy nước Mỹ bên ngoài trại Orote Point.  Xe buýt chạy qua các đường phố rộng, sạch sẽ, và vắng xe, trong lúc một anh thiếu úy trẻ qua lời thông dịch viên giảng giải về những địa điểm đi qua.  Toàn đảo Guam có 19 làng, và thủ phủ là làng Agana; đó là nơi đặt văn phòng thống đốc và tòa nhà nghị viện.  Không giống như hầu hết nghị viện của các tiểu bang Hoa kỳ, Nghị viện Guam chỉ gồm một viện, đại biểu gọi là thượng nghị sĩ.  So với Sài gòn, hòn đảo này vắng bóng những tòa nhà tráng lệ, những con đường đông đúc với đủ thứ xe cộ chen nhau chạy nườm nượp, những đường phố đầy dẫy hàng quán với khách bộ hành đi lại tấp nập, v.v.  Guam nhỏ bé giống như Tuy Hòa, thành phố hiền hòa và sạch sẽ ở miền Trung gia đình tôi sống hơn năm năm.

Khi xe lần lượt chạy qua trường Đại học Guam và trụ sở cục Điện lực Guam trong làng Mangilao ở mé đông của đảo, Quỳnh Châu hích nhẹ vào tay tôi,

            “Sở làm tương lai của chồng kia kìa.  Tha hồ chọn lựa, muốn trở lại nghề gõ đầu . . . sinh viên cũng đặng, mà làm ông kỹ sư làm oai làm tướng với thợ điện cũng xong.”

Quỳnh Châu che miệng cười.  Tôi chợt tỉnh ngủ, trong đầu lóe lên một tia hy vọng.  Ngay cả hòn đảo nhỏ bé này cũng có trường đại học và cơ quan điện lực thì những thành phố nhỏ dân số dưới một trăm ngàn thiếu gì cơ quan để vợ chồng tôi có thể xin việc làm thích hợp với khả năng.  Biết đâu trời thương sẽ cho tôi thực hiện điều ước mơ nhiều năm qua:  Tôi vốn là cậu bé nhà quê chất phác và thích yên tĩnh và từ ngày về Sài gòn học và làm việc, luôn luôn mong được trở về Huế sinh sống.  Tôi rời Huế tháng Năm 1963 và chưa một lần về thăm lại.  Mùa hè sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, tôi làm đơn xin ra dạy ở Đại học Huế, nhưng không được chấp thuận.  Từ đó, thỉnh thoảng tôi nằm ngủ mơ thấy mình đứng trước một tấm bia lớn trước bãi cỏ xanh mướt rộng như sân vận động có hai hàng cây cao ở hai bên và tòa nhà lớn hình hộp diêm ở đằng sau.

Tôi không thố lộ cho ai biết mơ ước sống ở tỉnh nhỏ của mình.  Buổi tối tụ họp ở “Ngã Năm Quốc tế,” anh Bảng phác họa chương trình thành lập khu phố Việt nam, tương tự như phố Tàu ở các thành phố lớn của Hoa kỳ, có chợ bán đồ ăn, tiệm ăn, trường dạy Việt ngữ, nhà kính trồng rau, v.v.  Lúc ra đi, anh mang theo hạt giống các rau cải và hoa quả Việt nam, và dự định định cư ở Los Angeles thuộc tiểu bang California là thành phố lớn thứ ba của Hoa kỳ.  Anh Hán mỉm cười kê tủ đứng vào miệng anh Bảng và kéo anh về thực tại,

            “Anh đừng tưởng bở mà vội xây lâu đài trên cát.  Los Angeles chưa chắc là miền đất hứa vì California đang ở trong tình trạng suy hóa kinh tế, mức thất nghiệp cao, và hãng xưởng thi nhau đóng cửa.  Thống đốc, nghị viện, và dân chúng theo đuôi bọn tài tử Hollywood phản đối chiến tranh Việt nam và thiên về phe Cộng sản miền Bắc nên anh sẽ phải thắp đuốc đi tìm một người dân California có thiện cảm với mình.”

Chuyện định cư chưa tới, hiện tại mối lo lớn nhất là mùa bão ở Thái bình dương sắp bắt đầu, và lều vải nhà binh không phải là nơi trú ẩn khi bão tới.  (May thay, trời thương dân tỵ nạn nên năm 1975 đảo Guam không hề bị bão.)  Trong những ngày kế tiếp, chúng tôi được gọi đi làm giấy tờ để vào đất liền.  Gia đình tôi ở Khu 5 là khu cuối cùng nên phải đợi hơn hai tuần lễ mới đến phiên mình.  Chúng tôi xếp hàng trước trailer (nhà rơ-moóc) dùng làm văn phòng tạm thời của sở Di trú và Nhập tịch (hay INS) thuộc bộ Tư pháp.  Để che nắng mùa hè thiêu đốt cho hàng người rất dài, người ta đóng một hành lang khá dài bằng gỗ, bề ngang đứng được năm sáu người, có sàn, mái che, và tay vịn hai bên.  Người đợi có thể đứng hay ngồi bệt xuống sàn, và tha hồ đọc những lời nhắn tin tìm thân nhân trên mặt gỗ và ghi thêm mẩu nhắn tin của mình vào những chỗ còn trống.

Sau khi được nhân viên INS phỏng vấn, mỗi người được cấp mẫu I-94, tức là Thẻ Ghi Đến-Đi, dùng để theo dõi những chuyến đến và đi khỏi Hoa kỳ của người không phải là công dân hay ngoại kiều thường trú.  Mẫu I-94 ghi tên họ, chi tiết cá nhân, và tư cách pháp nhân là “parolee.”  Ra khỏi văn phòng, cầm mẫu I-94 của cả gia đình trong tay, tôi nhăn nhó với Quỳnh Châu,

            “Em à, mình bị họ liệt kê vào hạng parolee hay tù nhân tạm dung (được tha tạm).  Có đáng buồn không?”

            “Chồng nói gì em không hiểu,” nàng đưa mắt dọ hỏi.

            “Cô vợ dễ thương của anh ơi, ‘parole’ trong tiếng Anh là lời hứa danh dự.  Parolee là danh từ pháp luật chỉ tù nhân chưa mãn hạn tù mà được tha tạm vì hạnh kiểm tốt chẳng hạn với lời hứa sẽ không vi phạm một số điều kiện ấn định.  Nếu vi phạm, sẽ bị bắt vào tù trở lại và giam giữ đến khi mãn án.”

            “Theo quốc tế công pháp, kẻ di tản như mình không thể hưởng quy chế ‘tỵ nạn’ vì dưới mắt Liên hiệp quốc, mình trốn thoát ra khỏi nước vì ‘chính thể đổi’ chứ chưa bị bạc đãi bắt bớ hay tù đày vì lý do chính trị.  Sở Di trú và Nhập tịch đặc cách cho phép nhập nội và sinh sống ở Hoa kỳ, nhưng chưa cho vào ngoại kiều thường trú là vì vậy.  Với tư cách parolee hay ngoại kiều tạm dung, nếu vi phạm các điều kiện luật định, trên nguyên tắc có thể bị trục xuất và trả về Việt nam.  Chồng em giỏi tiếng Anh thấy khó chịu, nhưng đừng théc méc quá mà . . . hao tổn mình dzàng!”

Ngày thứ Tư 18 tháng Sáu, sau bốn mươi ngày lấy trại Orote Point làm nhà, chúng tôi được đưa qua trại Andersen bên căn cứ Không quân Andersen ở mé bắc đảo Guam, chờ nửa ngày trời, và đến mười giờ tối được gọi ra đứng xếp hàng lên máy bay.  Gia đình tôi xếp hàng đầu, đằng sau hàng rào cản.  Khoảng mười một giờ, một anh sĩ quan trẻ cầm danh sách hành khách đột nhiên bước tới chỉ mặt tôi hỏi,

“Ông nói tiếng Anh được không?”

“Được.  Anh cần tôi làm gì?” tôi trả lời như một phản xạ.

“Ông sẽ làm thông dịch viên cho chuyến bay này.  Mời ông và gia đình lên máy bay trước.”

Anh sĩ quan mở rào cản đưa chúng tôi lên máy bay và giới thiệu với cô tiếp viên hàng không chính; tôi thành thông dịch viên có nhiệm vụ dịch ra tiếng Việt các thông báo của phi hành đoàn qua hệ thống truyền thanh chỗ đông.  Chiếc DC-10 của hãng Hàng không Northwest Orient cất cánh vào lúc nửa đêm (rạng ngày 19).  Trong khi gần 300 người khác ngồi ngủ gà ngủ gật trên ghế, tôi chống mắt rán thức để sẵn sàng chuyển lời tiếp viên.  Đây là lần đầu tiên đi chuyến bay quốc tế nên có nhiều danh từ tôi hiểu nhưng tức thời không biết dịch sao cho đồng bào hiểu.  Quỳnh Châu cùng thức với tôi và nhắc những chữ không quen thuộc; nàng thủ thỉ, “Em thức cho chồng có bạn.”

Phi cơ ghé lại phi trường Honolulu, thủ phủ và thành phố lớn nhất của tiểu bang Hạ Uy Di, để lấy thêm nhiên liệu; hành khách phải ngồi trên máy bay và không được ra ngoài.  Sau tổng cộng khoảng 12 tiếng đồng hồ, máy bay đáp xuống một phi trường quân sự ở nam California.  Cô tiếp viên hàng không chính từ giã hành khách bằng câu nói thiết tha,

“Chào mừng quý vị đến tiểu bang California chan hòa ánh nắng.  Chúc quý vị may mắn trong những ngày sắp tới.”

Mặt trời đang lặn sau dãy núi xanh thẫm và chiếu lên bầu trời các tia nắng cuối trong ngày; California sắp chính thức bước vào mùa hè, tôi nói thầm.  Gia đình tôi lên chuyến xe buýt cuối cùng về Trại Pendleton, “nhà” của chúng tôi trong hơn hai tháng kế tiếp.  Trời tối mịt khi chúng tôi làm thủ tục nhập trại.

* * *

Cuối tháng Tám, chúng tôi xuất trại đi định cư ở thành phố Bismarck, thủ phủ tiểu bang North Dakota, dưới sự bảo trợ của nhà thờ Ba Ngôi LutheranMục sư nhà thờ cùng họ đạo ra đón chúng tôi ở phi trường, đưa về nhà thuê trang bị đầy đủ bàn ghế tủ giường với chiếc tủ lạnh lớn trong nhà bếp chứa đầy thức ăn, và mở tiệc tiếp tân tưng bừng với bích chương và lời chào mừng nồng nàn.  Tôi ngạc nhiên khám phá ra hôm nay là thứ Năm 21 tháng Tám.  Cuốn lịch bỏ túi 1975 tôi luôn luôn mang trong mình và đánh dấu mỗi ngày, cũng như ô vuông chỉ ngày trong chiếc đồng hồ đeo tay Seiko tự động tôi mang thường trực trên tay, lại ghi rõ ràng là thứ Sáu 22 tháng Tám.  Thật khó tin, một ngày biến đi đâu mất?

Ba tuần sau khi đến Bismarck tôi mới có dịp đi dạo quanh thăm viếng thành phố với Quỳnh Châu.  Bismarck đẹp đẽ êm ả và hiền hòa không kém gì Tuy Hòa yêu dấu ngày trước.  Tôi há hốc mồm khi đến trước tấm bia với quang cảnh nằm mơ thấy hai năm trước.  Hàng chữ nổi khắc trên tấm bia:  “North Dakota Capitol.”  “Capitol” viết hoa chỉ tòa nhà Quốc hội Hoa kỳ nhóm họp tại Hoa Thịnh Đốn, và “capitol” viết thường chỉ tòa nhà nghị viện tiểu bang nhóm họp hay, trong trường hợp North Dakota, là khu nhà chính quyền tiểu bang (gồm thống đốc, nghị viện, và tối cao pháp viện) thi hành phận sự.  Không như capitol các tiểu bang khác có mái vòm bán nguyệt, capitol North Dakota là một tòa nhà 21 tầng hình hộp diêm đơn giản.  Thực ra, ngày trước capitol North Dakota cũng có mái vòm, nhưng năm 1930 bị cháy và khi được xây lại, dân North Dakota vốn cần kiệm và thiết thực quyết định xây capitol mới hình hộp diêm để khỏi phí phạm khoảng không gian trống trên mái vòm.  (Về tính dè xẻn này, tôi đồng hóa theo dân North Dakota lúc nào không hay.)

Điều thắc mắc tại sao một ngày trong đời tôi biến mất chìm vào quên lảng cho đến gần hai mươi năm sau, khi tình cờ tôi nghe hai người bạn bàn cãi về câu hỏi:  đảo Guam là điểm cực tây hay cực đông của lãnh thổ Hoa kỳ?  Hai ý kiến trái ngược nhau, nhưng cả hai đều đúng.  Nếu tính theo chiều di chuyển, Guam là điểm cực tây nằm phía trái cùng trên bản đồ.  Tuy nhiên, nếu tính theo múi giờ từ kinh tuyến gốc (kinh tuyến 0° chạy qua Greenwich ở Anh quốc), Guam là điểm cực đông:  Theo múi giờ từ đông sang tây, một ngày ghi trên lịch bắt đầu trước tiên ở Guam; 17 tiếng đồng hồ sau, ngày đó mới bắt đầu ở California; và ba tiếng đồng hồ nữa, ngày đó mới bắt đầu ở Hạ Uy Di.  Guam và Hạ Uy Di gần nhau về khoảng cách địa lý, nhưng nằm hai bên kinh tuyến 180° phân chia đông – tây.

Năm 1975 tôi rời khỏi Guam lúc “không” (0:00) giờ ngày 19 tháng Sáu, ngồi trên máy bay 12 tiếng đồng hồ, và đáp xuống California lúc bảy giờ chiều ngày hôm trước, tức là ngày 18.  Tôi đến nơi trước lúc khởi hành năm tiếng đồng hồ, lùi lại về tương lai, và sống ngày 19 đến hai lần.  Nếu bảo thì giờ là vàng bạc thì trong cuộc di cư đổi đời tôi . . . lời thấy rõ.  Tôi cù lần nên không biết đó thôi.

Nguyễn Ngọc Hoa

                         Ngày 24 tháng Bảy, 2019

  • GS NGUYỄN QUANG THÀNH
  • Nguyên Giáo sư trường nữ trung học Đà Nẵng

                   CON BƯỚM ĐEN

Lời người viết:

– Bài viết này là nén nhang thắp lên để tưởng nhớ anh tôi là Nguyễn Quang Khóa, nguyên Trung tá phi công phản lực, Trưởng phòng kế hoạch Không đoàn 41 Chiến thuật, xuất thân khóa 61A SVSQKQ đã chết tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Chân thành cảm ơn anh Phan Trừng, và anh Đan Hoài Bửu (Phượng Hoàng Kim Cương), nguyên Trung tá phi công phản lực, bạn học cùng khóa của anh tôi, đã giúp tôi hoàn thành bút ký này.

– Quý vị nào là bằng hữu, chiến hữu hoặc cựu tù binh biết về cái chết và mộ phần của anh tôi, xin liên lạc với tôi qua địa chỉ email:

nguyenpierre24@yahoo.com.
Xin đa tạ.

Gia đình tôi ít anh em. Không phải do ba mẹ tôi hiếm muộn mà do thời gian ba tôi ở Pháp khá lâu. Hơn mười năm từ khi mẹ tôi sinh ra anh, hai ông bà mới gặp lại nhau, nên tôi kém anh tôi đúng một con giáp.

Mặc dù khoảng cách tuổi tác sai biệt khá nhiều, nhưng anh em tôi đều có điểm tương đồng là yêu thích toán học và ôm mộng viễn du. Vì thế chúng tôi đều học ban khoa học toán và tình nguyện gia nhập quân đội sau khi đậu tú tài toàn phần:

“Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả, trả vay

Chí làm trai, nam bắc đông tây

ho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

Hình minh họa

Mùa hè 1960, anh tôi nhập học khóa 61A SVSQKQ. Khoảng tháng sau lại có giấy báo nhập học ban Toán của trường Đại học sư phạm gửi về nhà, ba tôi mở ra, đọc đi đọc lại nhiều lần, mặt đăm chiêu, ra chiều nghĩ ngợi nhiều lắm.

Mười năm sau, tôi cũng vừa thi vào đại học sư phạm, đồng thời làm đơn xin gia nhập trường Võ bị Đà lạt để được sống và học tập trong khung cảnh hào hùng và thơ mộng của vùng đất cao nguyên, mà tôi đã bị quyến rũ trước đây qua bài “Ai Lên Xứ Hoa Đào” của nhạc sĩ Hoàng Nguyên và một số hình ảnh của người sinh viên sĩ quan Đà Lạt trong đoạn phim giới thiệu về trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt, đã chiếu tại trường vào dịp cuối năm lớp Đệ nhất (lớp 12) tại trường Quốc Học, Huế.

Tôi đã trúng tuyển vào trường đại học sư phạm nhưng không thấy giấy báo nhập học trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt gửi về nhà. Vì thế, sau này tôi đã trở thành một giáo sư khoa học tại một trường nữ trung học đúng theo ý nguyện của ba mẹ tôi, nhưng tôi không bao giờ quên được hình ảnh hào hùng và lịch lãm của người trai thế hệ mà mình mơ ước.

Sau khi học đại học sư phạm được vài tháng, nhân một buổi ăn tối của gia đình, ba tôi mới ôn tồn cho tôi biết là ông đã nhận được giấy báo của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt gửi về nhà, nhưng ông không cho tôi biết, vì anh tôi đã là pilote de guerre vào sinh ra tử trên bốn vùng chiến thuật (ba tôi có thói quen nói nửa Việt nửa Pháp, như ông thường viết các toa thuốc cho bệnh nhân).

Anh tôi du học tại Hoa Kỳ năm 1961. Gia đình tôi đều đặn nhận được thư từ và hình ảnh của anh tôi, chụp tại các trường huấn luyện phi công, luôn luôn kèm bên chiếc phi cơ đã bay, hoặc các hình ảnh chụp tại các tiểu bang đã đi qua nhân dịp cuối tuần hoặc các dịp lễ lạc. Tôi ước mơ một ngày nào đó mình cũng được như vậy.

Ngoài thư từ gửi cho gia đình, anh tôi còn gửi cho chị M.T., sinh viên trường CSYT, con gái của một người bạn của ba tôi, mà ba tôi đã chấm theo tiêu chuẩn “Công-Dung-Ngôn-Hạnh” cho anh tôi, trong lúc hai người chưa một lần gặp gỡ.

Nhiều lần tôi cảm thấy xót xa cho chị, khi chị đưa lá thư anh gửi cho tôi xem với hai câu thơ mở đầu:

“Người ơi, gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không”

Năm 1963 anh về nước. Hai câu thơ trên trích trong tập truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà anh đã lồng vào trong bức thư, gửi cho chị M.T. như một định mệnh đã an bài.

Ba tôi đã phải nói lời xin lỗi với cha mẹ chị, vì việc đi hỏi chị là do ba tôi đơn phương quyết định.

Một lần nữa, ba tôi lại đăm chiêu, suy nghĩ nhiều lắm.

Dĩ nhiên, anh tôi từ đó không về nhà, cứ ở mãi Sài gòn. Lúc đầu, anh ở Liên Phi đoàn 33 Vận tải tại căn cứ Tân Sơn Nhứt, sau đó chuyển qua Phi đoàn 518 Khu trục tại căn cứ Biên Hòa.

Thỉnh thoảng anh gửi thư cho ba mẹ tôi nói rằng anh quen một người con gái gốc Bắc, con của một sĩ quan cấp tá, bạn của cậu tôi. Chị là sinh viên trường Đại học Luật khoa Sài gòn và cũng là bạn cùng học tại ĐHLK với anh tôi (sau khi ở Hoa kỳ về, anh lại ghi danh học ĐHLK).

Chị có tên rất ấn tượng: Phạm Chất L.

Thư từ giữa hai anh chị chất đầy như núi. Một lần vào cư xá thăm anh, tôi tò mò đọc được một lá thư của chị gửi cho anh, với bài thơ mà tôi chỉ nhớ được hai câu:

“Đời phi công có mấy người chung thủy

Mỗi đường bay thay một cánh hoa yêu”

Hay một lá thư khác:

“Oublie, c’est le nom d’une fleur

N’oubliez pas, c’est le vœux de mon cœur”

(Xin người giữ lấy hoa quên

Và đừng quên nhé lời nguyền trong tâm)

Chị cũng không quên ép vào những trang thư tình màu tím một con bướm đen đậu trên nhánh hoa Forget Me Not. Điều này làm tôi liên tưởng đến sự trùng hợp màu sắc một cách ngẫu nhiên: Bộ áo bay của anh tôi màu đen với khăn quàng cổ màu tím, tôi thường thấy anh tôi mặc trong những phi vụ đặc biệt.

Đời phi công thật hào hùng và bay bướm. Trong tủ sách anh tôi để lại cho tôi học, tôi thích thú khi đọc cuốn Đời phi công của Toàn Phong, Chuyến bay đêm (Vol de nuit), Cõi người ta (Terre des hommes) của nhà văn phi công Saint Exupery. Càng thích thú hơn, khi biết Toàn Phong là bút hiệu của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, tác giả cuốn Hình học Không gian không thua kém gì các cuốn Géométrie dans L’espace của Le Bosse hoặc của Caronner mà anh em tôi xem như là quyển Tự điển Toán Hình học Không gian.

Suy cho cùng, toán học và văn chương tuy thuộc hai phạm trù khác nhau nhưng luôn luôn có sự tương quan logic. Toán học tuy khô khan, nhưng nhà toán học lại là người rất nhạy cảm. Sự nhạy cảm là khởi đầu cho bao đề tài lãng mạn trong văn chương.

Thời gian dần trôi, tình hình chiến sự ngày càng ác liệt, anh tôi được điều động ra căn cứ Đà nẵng. Ác liệt nhất là trận đánh Tết Mậu Thân 1968 và sau đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Hình minh họa

Phi vụ oanh tạc, giải tỏa cố đô Huế dịp Tết Mậu Thân, chiếc Khu trục cơ Skyraider AD6 do anh tôi lái bị bắn với chi chít lỗ đạn phòng không của Bắc quân, đặc biệt là bánh đáp bị bắn gãy nhưng anh tôi đã đáp bụng an toàn.

Phi vụ oanh tạc, giải tỏa cổ thành Quảng Trị, chiếc phản lực cơ A37 của anh tôi bị bắn rơi trên bầu trời cổ thành, anh đã nhảy dù thoát hiểm và may mắn được một trực thăng cứu thoát, đưa về căn cứ Đà Nẵng an toàn.

Năm đó, tôi đang học năm thứ hai. Vừa ra khỏi giảng đường, một con bướm đen to bằng bàn tay, bay lởn vởn và đậu trên vai tôi vài tích tắc rồi biến mất. Sau đó tôi gặp một viên thiếu úy phi công trực thăng đến trường tìm một người bạn, vô tình kể lại chuyên anh ta vừa cứu thoát một thiếu tá phi công phản lực A37 bị bắn rơi tại Quảng trị, tôi nghe chuyện và hỏi tên người phi công lâm nạn, thì ra người phi công phản lực đó chính là anh tôi.

Sau này, trong tập san Lý Tưởng của binh chủng Không quân có đăng bài Cánh Thiên Thần Trên Bầu Trời Cổ Thành Quảng Trị của ký giả L.R.viết về anh lúc cánh dù bung ra từ chiếc phản lực cơ lâm nạn trên vùng trời lửa đạn.

Bạn bè cùng khóa 61 A SVSQKQ và các khóa sau đã có nhiều người ra đi không bao giờ trở lại như tráng sĩ Kinh Kha qua sông Dịch không hẹn ngày về. Chiến tranh đồng nghĩa với mất mát, đau thương, cô đơn và giá lạnh:

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi

Chinh phu, tử sĩ mấy người

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn”

Biến cố khó quên đối với gia đình tôi xảy ra vào ngày 29/3/1975 sau khi tôi nhận bằng tốt nghiệp và sự vụ lệnh bổ nhiệm làm giáo sư tại trường trung học được vài tháng. Đà nẵng đang trong cơn hấp hối. 

Tình hình chiến sự vô cùng căng thẳng.

Anh tôi một mình lái xe jeep ra nhà, hối hả chở cha mẹ tôi vào phi trường Đà nẵng, còn tôi không liên lạc được phải chạy một mình ra cảng Tiên sa mong thoát thân bằng đường biển.

Vừa đến cảng thì bị pháo kích dồn dập, tôi chỉ kịp nằm bẹp xuống một mương nước, và chiếc vali trong tay tôi rơi lúc nào cũng không hề hay biết. Một quả đạn pháo kích rơi ngay trước mặt tôi chừng mươi thước, đúng lúc một chiếc xe jeep trờ tới, mọi người trên xe bị hất tung lên và trở thành tro bụi trong phút chốc.

Quá hoảng sợ, tôi chạy lùi theo một số người tìm đường ra biển Sơn Trà.

Lúc này có một vài chiếc phi cơ bay vút qua, hướng ra biển Đông. Tôi ngửa mặt lên trời, ước gì ở trên cao có anh tôi thấy để cứu vớt tôi. Thế nhưng, tất cả đều đã bay xa cho đến khi chỉ còn là vài chấm đen trên nền trời ảm đạm.

Lúc này tôi đã ra đến bờ biển Sơn trà, gặp được một chiếc tàu đánh cá đang đậu cách bờ chừng vài trăm thước. Mừng quá, tôi cởi vội quần áo và lao nhanh xuống biển. Lúc tay tôi chạm vào mạn tàu cũng là lúc trên bờ xuất hiện vài người có vũ khí cầm tay, ra hiệu cho tàu vào bờ. Một số người trên tàu vội vã kéo tôi lên đồng thời tàu nổ máy chạy thẳng ra khơi.

Nhóm người võ trang nhắm thẳng vào tàu bắn liên tục nhưng chỉ làm bị thương một người trên tàu, còn lại đều vô sự.

Một tiếng sau, tàu này được tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cứu vớt và chuyển lên một chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ.

Trên boong tàu, tôi đưa mắt nhìn vào phía đất liền. Mịt mù trùng khơi. Biển vây kín biển cả. Tiếng sóng vỗ ào ào. Tàu lắc lư chao đảo. Tôi ngửa mặt lên trời, tự nhủ: Có phải đây là giờ phút vĩnh biệt của anh em tôi? Đột nhiên bầu trời trở nên u ám, vài hạt mưa đã rơi nhanh xuống sàn tàu.

Sau này, qua một người quen cho biết: khuya 29/3/1975 anh tôi đã lên và lái một chiếc phản lực cơ A 37 ra phi đạo nhưng không thể cất cánh được vì đã bị hư hại. Vì thế anh tôi đã trở thành tù binh tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Hơn một năm sau, trong lúc gia đình đang ăn cơm trưa, bỗng nhiên có một con bướm đen to bằng bàn tay, bay vòng vòng trong phòng và đậu trên vai từng người rồi cuối cùng đậu ngay chính giữa bàn thờ gia đình. Năm phút sau, nhận được tin báo là anh tôi đã chết, nằm trong một bụi cây bên ngoài trại tù chừng 800 mét. Mọi người đều sửng sốt, bàng hoàng nhưng không dám bật thành tiếng khóc.

Đến khi bình tĩnh lại, nhìn về phía bàn thờ, con bướm đen cũng đã vỗ cánh bay ra khỏi nhà.

Đêm hôm đó, tôi nằm mơ thấy anh tôi mặc bộ áo bay màu đen với khăn quàng cổ màu tím, đang lái chiếc xe jeep về nhà nhưng máu đã đẫm ướt phi bào.

Sáng dậy, nhớ lại giấc mơ đêm qua, tôi cảm thấy một vị đắng, chua cay tràn ngập cổ họng. Tôi nghe như đâu đây phảng phất tiếng hát .của một nữ ca sĩ nỗi tiếng một thời:

“Ngày xưa khi anh vừa khóc chào đời

Mẹ yêu noi gương người trước đặt lời

Người phi công giữ khung trời

Vẫn còn mang số phận con người”

Bất giác hai dòng nước mắt tuôn trào lúc nào không hay.

Hai mươi năm sau, một mình tôi trở lại vùng rừng thiêng nước độc, nơi anh tôi đã bị lưu đày, khổ nhục. Trại tù giờ đây chỉ là một vùng lau lách đầy cỏ dại, rất khó xác định.

Nghĩ mình đã vượt núi, băng rừng, lội suối trong mùa nước lũ, chẳng lẽ bó tay trở về.

Trời đã nhá nhem tối, tôi thì thầm khấn nguyện anh tôi. Bỗng từ đâu một con bướm đen to bằng bàn tay bay đến trước mặt tôi, như có ý dẫn đường. Tôi tiếp tục khấn nguyện. Con bướm đen bay vòng vòng, tôi chạy theo và bị té sấp vào một bờ đất.

Sau phút hoảng hốt, tôi lồm cồm bò dậy và nhận ra một số nấm mộ nho nhỏ nằm khuất dưới đám cỏ dại. Tất cả gồm 12 nấm mộ vô chủ. Người dân địa phương cho biết đó là mộ của tù binh tại trại 3 Kỳ Sơn. Tôi vội vàng hốt 12 nắm đất bỏ vào 12 bao nilon nhỏ và đánh dấu theo số thứ tự, rồi đến nhà dân xin ngủ tạm qua đêm.

Sáng hôm sau về lại Tam Kỳ, tìm đến nhà một thầy ngoại cảm. Thầy cho biết anh tôi nằm ở ngôi mộ số 3.

Tuy nhiên tôi vẫn mong trong tương lai, khi bài viết này của tôi được nhiều người biết đến, tôi có thể có nhiều tin tức hữu ích và cụ thể để xác định chính xác mộ phần của anh tôi.

               Nguyễn Quang Thành

  • NỖI BUỒN MÙA THU.

 Phạm Tín An Ninh

 Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng “Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm).

Ông mất đi trong cảnh khôn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết”. Ở Việt nam ta, nếu “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc – đặc biệt có Mùa Thu trong đó.

Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất… học trò của ông Thanh Tịnh.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được..

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…”

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm “công tác xóa nạn mù chữ”. Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi.

Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm… kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” lên thế giới đại đồng (!).

Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành “những con nai vàng ngơ ngác”, cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào “trường cải tạo”. Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao

đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng

Lạc loài trên chính quê hương

thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

 Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái “bằng khen”, mấy cái huy chương “dũng sĩ” treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. “Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi… trở về”. Khoảng cách giữa hai mùa thu… vậy mà cũng đã hai mươi năm.

Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời.

Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ

nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm

nhấp nhô những mái nhà rêu phủ

thương hải tang điền mấy biến thiên

Tôi về xuôi một dòng sông chảy

con nước vô tình lặng lẽ trôi

hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể

hai lần tắm ở một dòng thôi

– Tôi về – có phải sông về biển

sao nghe từng con sóng não nề

như thể bây giờ là cổ tích

tôi về – chỉ gặp lại mình… tôi

Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành “Trường PTCS Lê văn Tám”.

Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài “thơ trong tù”của bác, thơ “Khóc ông Lê Nin” của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…” hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng?

Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên “anh hùng Lê văn Tám” mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới – Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở “thành phố mang tên bác” thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa “phong bì”?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “nhất tự vi sư bán tự vi sư” một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trữ tình với mùa thu và hương hoa sữa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước “lấy điểm gạ tình” một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ “trả bài” cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng “chú” mà không phải bằng “anh” thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: “Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nổi.” (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin “vui” này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè.

Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để… gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

“Thầy có nhớ con không…?”

Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác

người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.

“Thầy còn nhớ con không…?”

Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng

hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè

rụng xuống trên vai người thầy học cũ

“không… xin lỗi.. ông lầm…

Tôi chưa từng dạy học

Xin thối lại ông tiền thuốc… cám ơn!”

Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn

Thầy học cũ mười năm không lầm được

Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc

giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.

Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư

người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,

chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,

biết yêu anh em – đất nước – xóm giềng.

Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,

Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.

Bên hè phố im lìm,

vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.

Câu phủ nhận phải vì câu áo rách

trước đứa học trò quần áo bảnh bao?

Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,

những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.

Mười năm nữa đứa nào trong số đó,

sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

 Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời.

Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những “đỉnh cao” đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi… buồn chết được.

phạmtínanninh

                 *CHUYỆN CÓ THẬT

               *NGUYỄN TRẦN DIỆU HƯƠNG

                      *Bé Biển

Trên tường, lẫn trong nhiều bức hình rất đẹp được chụp từ một ống kính chuyên nghiệp là tấm hình của chiếc ghe mong manh, nhỏ bé, bồng bềnh trên đại dương. Trên khoang ghe, các thuyền nhân Việt Nam (những boat people đã đánh động lương tâm thế giới vào những năm 70s và 80s) mặt mày ngơ ngác mệt mỏi nhưng mắt sáng lên hy vọng. Đó là món quà tặng cho BS HQM từ một thuyền nhân cùng tàu vượt biển năm xưa.
Ảnh con thuyền vượt biển đó vị thuyền trưởng một tàu buôn  chụp trước khi đón mọi người lên tàu. BS. Vinh đứng ở mũi thuyền, tay cầm một thùng rỗng để xin nước từ con tàu gặp giữa Thái Bình Dương JUN 1979.
Mọi người trên ghe gọi em là “công dân của đại dương” vì em sinh ra giữa biển trời mênh mông, không thuộc hải phận của quốc gia nào, vào một đêm trời chuyển mưa, trời không trăng sao, lâu lâu có những tia chớp lóe lên soi sáng đêm đen.

Chiếc ghe rời cửa biển Long Hải lúc nửa đêm về sáng để tránh công an biên phòng, đưa gần bảy mươi thuyền nhân trốn khỏi quê cha đất tổ, đem sinh mạng mình đánh cuộc với định mệnh để tìm tự do và tương lai. Trong số đó có hai vợ chồng trẻ, người vợ ốm yếu mảnh mai, lại mang thai lần đầu, mặc hai ba lớp áo quần nên hình như không ai biết chị có thai đã bảy tháng, ngoài anh chồng trẻ cũng mảnh khảnh như chị.

Mà nếu có biết cũng chẳng ai còn tâm trí nào để nghĩ đến chuyện người khác khi trong lòng mình cũng “ngổn ngang trăm mối”. mà mối lo lớn nhất là có thể bị bắt lại, bị nhục hình, bị tù tội trong khi mình không có tội gì hết, chỉ bỏ xứ ra đi, bỏ ông bà cha mẹ, bỏ tất cả ra đi vì muốn có tự do.

Vừa đặt chân lên sàn ghe, tất cả mọi người đều được đưa xuống lòng ghe để bảo đảm an toàn. Nếu có bất cứ ghe tàu nào đi ngang, nhìn vào người ta chỉ thấy trên khoang ghe có vài ngư phủ đi thả lưới ban đêm để có được một ít cá tôm tươi cho vợ hoặc mẹ mang ra bán ở buổi chợ sáng ngày mai. Nhất là vào ban đêm, ánh đèn bão tù mù, vàng úa giúp những người đang trốn chạy khỏi quê hương che được nét ưu tư lo lắng.

Phía dưới lòng tàu, thông thường chỉ để lưới, xăng dầu, thức ăn của ngư phủ, mấy thùng nước ngọt, và mấy thùng đựng cá tôm lưới được vào những hôm ra khơi nhiều may mắn. Vậy mà bây giờ gần bảy mươi con người ngồi chen chúc, không khí đã thiếu lại càng ngột ngạt hơn khi rất nhiều người bị say sóng ói mửa ngay trên sàn tàu, trên áo quần của mình hay của người ngồi bên cạnh. Không ai nói với ai tiếng nào. Khi ghe chưa ra đến hải phận quốc tế, người ta chưa sợ chết vì đại dương bao la, vì thiếu nước ngọt, thiếu thức ăn, mà đích đến thì còn ở xa mù tít tắp, nhưng nỗi sợ bị công an biên phòng bắt được thì tù tội, nhục hình cũng kinh hoàng như nỗi chết. Nỗi sợ đó lớn quá, bao trùm lên mọi thứ, át đi sự ngột ngạt trong một hầm ghe quá tải, át đi mùi của mọi thứ trong bụng chưa kịp tiêu hóa chạy ngược lên miệng tuôn ra ngoài. Khi thức ăn đã ra hết, cả đến mật xanh cũng theo ra, người ta mệt nhoài, không còn sức để sợ bị bắt lại, không còn sức để cảm nhận được không khí ngột ngạt, nặng mùi chung quanh mình. Ở một góc ghe, người đàn bà trẻ đang mang thai lại tỉnh táo hơn mọi người, hơn cả ông chồng cũng vật vờ say sóng, nôn mửa như hầu hết mọi người trên ghe. Lòng ghe tối đen, không ánh sáng, không cả tiếng động, thời gian tưởng như ngưng lại. Lâu lâu có một chút ánh sáng xanh yếu ớt từ cái đồng hồ đeo tay có dạ quang của ai đó. Đêm dài và sâu hơn với những người đang trốn chạy khỏi quê hương.

Vào đêm thứ nhì của cuộc trốn chạy bằng đường biển, người đàn bà đang mang thai chợt thấy đau nhói ở bụng. Đây là con đầu lòng, chị không có kinh nghiệm về chuyện sinh đẻ. Trong bóng tối đặc quánh trong lòng chiếc ghe mong manh chật như nêm, một tay nắm tay chồng, một tay chị chị nhẩm tính trên những ngón tay xem mình đã có thai bao nhiêu tháng.

Họ lấy nhau tháng chín năm ngoái, sau mười lăm tháng quen nhau ở vùng kinh tế mới Đồng Bò, ngoại ô Nha Trang. Chị cố quay lại khúc phim tình yêu lãng mạn của anh chị để quên đi nỗi đau âm ỉ trong bụng. Tình yêu trên vùng đất khô cằn, -ngay cả hoa dại cũng không mọc nổi, không trồng được gì hết ngoài khoai mì, – nhưng rất chân thành, sâu đậm vì đó là tình đầu của cả anh và chị. Họ lấy nhau, không có đám cưới bình thường, chỉ có một lễ ra mắt hai bên họ hàng (cũng chỉ lưa thưa mấy người đàn bà vì đàn ông dạo đó hầu hết đã ở trong lao tù cải tạo vì “tội ngụy quân ngụy quyền”) bằng một mâm cơm… trắng (không bị độn khoai sắn như bữa ăn thuờng ngày của người dân kinh tế mới) và vài món ngon như nem, chả được gởi mua từ chợ Đầm ở Nha Trang. Hôn thú cũng chưa làm vì “ủy ban nhân dân xã kinh tế mới” vừa thành hình, chưa có con dấu. Về nơi ở cũ thì bị từ chối vì “hộ khẩu đã bị cắt”. Nhưng gia đình vẫn cho họ lấy nhau, vì “phải nương nhau mà sống, không phải ở cái vùng kinh tế mới hoang vu này, mà sau này, đi đâu cũng nương tựa vào nhau….”. Mẹ chị đã căn dặn anh chị như vậy ở một lễ cưới dã chiến, không có khăn áo, không có make up, và không có cả họ hàng, quan khách. Mấy miếng chả heo màu trắng – chắc là tỉ lệ thịt và bột ngang nhau -, mấy miếng nem hồng nhạt dành cho hai đứa em chưa đến tuổi đi học, lần đầu tiên trong đời được nếm mùi nem chả. Anh chị nhường nem chả cho các em, ăn cơm với canh rau muống, sau khi đã ăn mấy lát gừng mỏng chấm muối như phong tục ngàn xưa “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”.

Hơn nửa năm sau ngày cưới, một lần về Nha Trang mua hạt giống, anh gặp một người lính hải quân làm dưới quyền ba anh ngày xưa. Thương anh cựu sinh viên Khoa học thư sinh kính trắng phải cày sâu cuốc bẩm nuôi mẹ, nuôi em khi ba ở trong tù cải tạo, người lính hải quân sắp lái một chuyến tàu vượt biển, được chủ ghe cho mang theo cả gia đình, cho anh và chị đi theo.

*

Bụng chị vẫn đau, chị ước gì mình bị say sóng ngủ vùi, hoặc lã đi vì mệt như anh, như tất cả mọi người trong lòng ghe. Nhưng cơn đau vẫn chẳng chịu đi, lúc âm ỉ, lúc nhói lên, chị xanh mặt, vả mồ hôi chịu đựng, tự nhủ trong đầu:
– Không sao, đau một chút rồi sẽ hết. Mình chưa đẻ đâu, đến hôm nay nhiều lắm là 29 tuần, ít nhất cũng cả tháng nữa mới sinh..

Hết tự bảo mình, chị cúi xuống rờ tay lên bụng, thì thầm trong bóng tối:
– Con ơi, nằm yên nha, để đến trại tỵ nạn rồi hãy ra nghe con, an toàn hơn cho cả con và mẹ.

Cơn đau chỉ lắng xuống một vài giây, rồi lại nhói lên quặn đau mỗi lúc một nhiều hơn. Chịu không nổi, chị đành lay vai anh:
– Anh ơi anh, chắc em đang chuyển bụng đẻ.

Đang vật vờ say sóng, nghe vợ sắp sinh, anh tỉnh hẳn, mở mắt nhìn quanh, rồi hỏi chung quanh:
– Có ai biết đở đẻ không? Xin giúp vợ tôi.

Câu hỏi làm mọi người trong cái khoang ghe tối đen, ngột ngạt tỉnh hẳn lên. Giữa lúc mọi người đang vượt đại dương, có một phụ nữ trẻ sắp “vượt cạn”. Có ai đó thò đầu lên khỏi hầm ghe, hỏi xin một ánh đèn cho sản phụ.

May là ông chủ ghe cũng thuộc loại người nhân từ, và ghe đã ra đến hải phận quốc tế, nên chị được đưa lên khoang ghe. Anh cũng được đi theo cùng chị. Họ tỉnh hẳn ra khi ra khỏi hầm ghe, được hít thở không khí trong lành của đại dương, cũng là không khí của tự do mặc dù đích đến còn ở xa, xa lắm. Chị thấy khỏe hơn mặc dù cơn đau vẫn không dứt, quặn lên từng cơn.
*

Vinh cũng được rời khỏi hầm ghe, lên sàn tàu cùng với anh chị vì Vinh là bác sĩ duy nhất trên chuyến ghe vượt biển đêm đó. Trời tối đen, Vinh cũng không biết lúc đó là mấy giờ, cái đồng hồ đeo tay đã rớt mất từ lúc nào. Dù đã từng làm việc đở đẻ từ cuối năm thứ tư y khoa trong ca thực tập đầu tiên ở bệnh viện Từ Dũ. Và từ đó đến giờ, dù không chuyên về sản khoa, Vinh cũng đã có dịp trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc trong những trường hợp sinh thường, cũng như sinh khó, phải xoay đầu hài nhi từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, phải mổ để đem con ra khỏi bụng mẹ. Nhưng lần này giữa đại dương, trời tối đen, trên sàn tàu bằng ván lồi lõm còn mùi tanh của tôm cá, chỉ có một ngọn đèn bão tù mù mà người tài công tốt bụng đã cho mượn, không có thuốc khử trùng, không có alcohols, cũng chẳng có bông băng, hay bất kỳ một dụng cụ y khoa nào. Sản phụ lại sinh lần đầu, và Vinh không có một chi tiết nào về hồ sơ bệnh lý của chị. Chưa bao giờ Vinh tưởng tượng mình phải làm công việc tưởng như đơn giản nhưng cả hai sinh mạng đều đặt trong tay Vinh trong một đêm trời tối đen trên sàn một chiếc ghe vượt biển. Mọi thứ đều làm bằng tay, không có cả găng tay, phương tiện còn hạn chế hơn dụng cụ thô sơ của một cô mụ đỡ đẻ ở nhà quê từ nhiều thập niên trước. Dưới ánh đèn bão tù mù, phải mất gần một tiếng, từ việc xoay đầu em bé đến việc cắt cuốn rốn, em bé sinh ra đỏ hỏn, sớm hơn kỳ hạn bình thường một tháng nhưng khỏe mạnh. May mắn là sản phụ dù xanh xao, yếu ớt nhưng rất can trường, đã dùng hết sức bình sinh để đẩy được em bé ra ngoài từ cửa tử cung hẹp của một người sinh con lần đầu. Gió của đại dương nhanh chóng làm khô những giọt mồ hôi đầm đìa trên mặt của Vinh, của anh, và nhất là của chị, sản phụ can đảm nhất nhì thế giới, đã vừa vượt biển, vừa “vượt cạn” lần đầu, không có thuốc tê, không có thuốc mê, không có cả bông băng, nhưng chị không hề rên la, chỉ cắn chặt môi đến rướm máu chịu đựng. Nếu chị không tự đẩy em bé ra được, Vinh cũng không biết mình phải làm gì trong tình trạng không thuốc men, không dụng cụ. Mãi về sau, sau này, sau nhiều năm hành nghề Y khoa ở Mỹ, có dịp chẩn đoán, điều trị cho rất nhiều bịnh nhân thuộc nhiều chủng tộc, nhiều lứa tuổi khác nhau, chị vẫn là bệnh nhân can đảm nhất của Vinh.

Anh đứng bên cạnh là một chỗ dựa tinh thần cho chị, và một phụ tá đắc lực cho Vinh. Người chồng sắp được làm cha, lại vô tình trở thành y tá bất đắc dĩ phụ việc cho Vinh trong một ca đỡ đẻ rất khác thường trên một chuyến tàu vượt biển. Em bé gái mới ra đời được tắm bằng nước biển Đông, được cắt nhau bằng đầu móng tay cái và móng tay trỏ của Vinh. Những đầu móng tay Vinh bắt đầu để dài từ lúc bắt đầu chơi guitar với sự hướng dẫn của một ông thầy dạy môn Nhạc từ những năm đầu Trung học, không ngờ lại được dùng rất có hiệu quả trong trường hợp hy hữu giữa biển khơi. Không có alcohol để tẩy trùng, Vinh đến bên mạn thuyền, múc nước biển lên rửa tay. Muối của đại dương cũng ít nhiều sát trùng những đầu ngón tay của Vinh trước khi Vinh cắt cuốn rún của em bé sơ sinh.

Em được bọc bằng hai lớp áo, lớp trong là cái áo thun của cha, lớp ngoài là cái áo khoác của mẹ. Tiếng khóc đầu tiên của em, của mầm sống mới đem lại nụ cười cho Vinh, cho anh và chị, và hy vọng cho một đời sống mới tự do, tốt đẹp hơn cho mọi người trên ghe. Em ra đời an lành giữa biển Đông, sớm hơn thời hạn bình thường (9 tháng 10 ngày) gần một tháng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Và dĩ nhiên không có cân, không có thước để biết trọng lượng, và chiều cao của em.

Trong niềm vui vừa hoàn thành một ca đở đẻ có một không hai trong đời, Vinh trao em bé cho sản phụ, dùng nước biển để rửa tay. Giữa biển trời mênh mông, không có xà bông, không có alcohol sát trùng, không có cả nước thường để rửa tay. Vinh đến bên thành ghe, một tay bám chặt vào thành ghe, tay kia múc nước biền bằng một cái thùng nylon để rửa tay, và rửa em bé cùng sàn ghe. Sau vài phút vui mừng cạnh vợ con với niềm vui của một người lần đầu làm cha, người chồng trẻ vừa rối rít cảm ơn, vừa giúp Vinh dọn rửa sàn ghe, nơi một con người bé bỏng vừa chào đời trong đêm tối giữa biển trời bao la. Cũng như cha mẹ không được làm hôn thú ở một vùng kinh tế mới, em cũng không được làm khai sinh giữa biển trời, trên một chiếc ghe tỵ nạn. Em được cha mẹ gọi là “bé Biển”.

Trời sáng dần, mọi người tỉnh táo hơn, lạc quan hơn vì ánh sáng mặt trời luôn là người bạn tốt của những con tàu đang lênh đênh trên đại dương. Họ còn vui mừng hơn vì có thêm một mầm sống mới vừa chào đời bằng sự can đảm của người mẹ, bằng sự tận tình của một ông bác sĩ trẻ cùng là đồng hành trên chuyến vượt biển tìm tự do của họ.

Những ngày sau đó, dù vẫn phải ăn uống dè chừng vì không biết khi nào mới đến được đất liền, Vinh vẫn được đối xử tử tế hơn, được ông bà chủ ghe mời lên ngồi trên khoan tàu, được hít thở không khí trong lành của đại dương. Vinh cũng được phân phát thức ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt, nhưng Vinh cũng chỉ ăn như khẩu phần của mọi người trên ghe, nhường phần đặc biệt đó cho người mẹ mới sinh ốm yếu mảnh mai, cần ăn nhiều để còn có sữa nuôi con sơ sinh.

Những chuyện bình thường đó được rỉ tai bởi những người còn tỉnh táo, khỏe mạnh trên ghe, và như một vết dầu loang, người ta đối xử tốt đẹp với nhau hơn. Một vài người lớn tuổi được những người trẻ hơn nhường phần nước uống hiếm hoi được phát hai lần mỗi ngày. Các em bé được ăn thêm vài muỗng cơm từ những người lớn trên tàu. Chuyện tưởng như đơn giản trên đất liền trong hoàn cảnh bình thường, nhưng là cả một niềm an ủi, một niềm tin khi con người đang trốn chạy khỏi quê hương, đang lênh đênh trên đại dương, không biết lúc nào mới đến bờ, đến bến.

Bốn ngày sau, chiếc thuyền mong manh của những thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ Cộng sản may mắn được một con tàu buôn của Ý trông thấy. Họ đến gần và cho tất cả người tỵ nạn lên tàu của họ, cho ăn uống. Họ đặc biệt cho bé Biển nhiều món quà quý, trong đó có một cái mỏ neo nhỏ như một lóng tay, – làm bằng vàng, biểu tượng của chiếc thương thuyền -, sau khi nghe kể em được sỉnh ra vài ngày trước đó trên sàn con thuyền mong manh không có một dụng cụ thuốc men nào, ngoài sự can đảm của mẹ em, và sự tận tình của một bác sĩ trẻ được đào tạo ở Đại học Y khoa Saigon trước năm 1975. Như luật hàng hải quốc tế vì sinh ra ở hải phận quốc tế nên bé Biển có quốc tịch Ý, chiếc tàu đầu tiên có mang cờ một quốc gia em được mang lên.

Trước khi đưa từng thuyền nhân lên tàu lớn, họ có ghi lại hình ảnh của chiếc ghe mong manh và những thuyền nhân mặt mày hốc hác nhưng ánh mắt rạng rỡ vì biết chắc chắn mình sẽ đến được bến bờ tự do. Ông thuyền trưởng đích thân ra trước mũi tàu chụp hình. Bên kia, bác sĩ Vinh được những người trong ghe cử ra nói chuyện với đại diện của tàu Ý. Vinh cũng đứng trước mũi của chiếc ghe tỵ nạn, bên cạnh chiếc tàu buôn như một em bé gầy yếu đứng trước một người khổng lồ. Tấm hình đó không một người tỵ nạn nào có dịp trông thấy. Ngoài một số người muốn được định cư ở Ý, tất cả thuyền nhân còn lại được đưa đến trại tỵ nạn và được đi định cư ở nhiều nước khác nhau.

Ông thuyền trưởng nghe Vinh kể chuyện đỡ đẻ rất hiếm hoi đã giơ cả hai tay lên trời:
– Tôi cảm phục lòng can đảm của sản phụ, tôi cảm phục sự bình tĩnh và tận tình của bác sĩ. Tôi cảm phục lòng quả cảm của tất cả các bạn. Thượng Đế đã phù hộ các bạn.

Ông ta còn nói nhiều điều nữa, nhưng Vinh chỉ nhớ câu đó, và nhớ nụ cười hiền từ nhân hậu của người thuyền trưởng người Ý da trắng, tóc đen.

Vinh đến Mỹ vào cuối năm 1979, đi học lại một số lớp để có thể thi lấy bằng Medical Doctor ở Mỹ và thi lấy giấy phép hành nghề. Kiến thức của những năm Y khoa Saigon giúp Vinh rút ngắn được hơn nửa đường học trình của một Bác sĩ chuyên khoa ở Mỹ. Cứ lấy các “equivalent test” của từng giai đoạn, đậu được mỗi bài test là khỏi phải học ít nhất là hai học kỳ (tương đương một năm).. Cứ từ dễ đến khó, Vinh lần lượt đậu từng bài thi và không phải học lại, chỉ phải đi thực tập nội trú (Internship) trong một bệnh viện ở New York trước khi được cấp bằng hành nghề. Lúc đó còn trẻ, chưa lập gia đình, dù không phải học lại 5 năm đầu của chương trình Y khoa ở Mỹ, Vinh vẫn chăm chỉ đọc sách và học thêm một lớp căn bản về “Business Law”..

Mỗi tuần làm việc từ bốn đến năm mươi giờ ở bệnh viện từ phòng cấp cứu đến các phòng bệnh nội trú, Vinh gặp bệnh nhân đủ mọi lứa tuổi, mọi màu da. Có người suốt ngày rên rỉ, có người chỉ nhăn mặt khi thiếu thuốc giảm đau, có người luôn cố giữ nụ cười lạc quan để thêm tinh thấn chiến đấu với bệnh tật. Không có ai can đảm như người sản phụ thuyền nhân giữa đại dương năm nào, kể cả những người sinh con giữa một bệnh viện đầy đủ thuốc men, dụng cụ, y tá, bác sĩ, đã được chích thuốc giảm đau mà vẫn rên la.

Xong một năm nội trú ở New York, những ngày đầu chính thức hành nghề y khoa trong một bệnh viện ở Chicago, những khuôn mặt bệnh nhân đủ mọi cá tính đến rồi đi trong từng ngày làm việc của Vinh, vẫn chưa có ai vượt qua được sự can đảm chịu đựng của người sản phụ trên chiếc ghe mong manh vượt biển ngày trước. Giữa những tiện nghi dành cho một bác sĩ ở Mỹ, thỉnh thoảng Vinh vẫn nhớ đến nước Thái bình dương đã rửa tay cho mình và tắm cho em bé sinh giữa đại dương. Vị mặn của nước biển có thể sát trùng một cách tương đối, đã giúp một em bé thuyền nhân chào đời an toàn, khỏe mạnh trên sàn ghe giữa biển trời mênh mông.

Họp mặt truyền thống chs Ngô Quyền lần thứ XIII – JUL 2014 ở Milpitas, California. Nhân vật chính: BS Huỳnh Quan Minh– cựu học sinh NQ K6- trước micro. Tác giả NTDH áo dài trắng, đứng giữa hai đàn anh Ngô Quyền.

Rồi Vinh lập gia đình, dọn về San Jose ở California với khí hậu ven biển ấm hơn giống Việt Nam hơn, và để một lúc nào đó những đứa con chào đời sẽ có nhiều cơ hội học tiếng Việt hơn. Lúc đó là đầu thập niên 80s, cộng đồng Việt Nam ở Mỹ chưa lớn mạnh, những lần hiếm hoi gặp bệnh nhân người Việt ở bệnh viện Kaiser, họ cứ hỏi Vinh có khám thêm ở nhà ngoài giờ làm việc để họ đến nhờ giúp khi bệnh hoạn. Một, hai, năm, bảy rồi cả chục lần được yêu cầu như vậy, Vinh quyết định xin thôi việc ở bệnh viện, mở phòng khám tư, tự do hơn.

Lần đầu tiên mở phòng khám tư, lại là phòng khám ở Mỹ, một nơi mà nguyên tắc, và luật pháp rất nghiêm nhặt, Vinh phải mò mẩm từng bước để xây dựng phòng khám bệnh của mình. Thời đó, đầu thập niên 80s, cộng đổng tỵ nạn của người Việt còn non trẻ, bệnh nhân của Vinh thuộc đủ mọi chủng tộc, từ những người bản xứ hay đến phòng mạch của ông bác sĩ trẻ còn giữ nguyên tính kính trọng người lớn tuổi của người Việt Nam, đến những người di dân gốc Nga, gốc Tàu, gốc Ý, gốc Mễ… Và dĩ nhiên cũng có những bệnh nhân Việt Nam chịu khó lái xe vài chục dặm để được một bác sĩ đồng hương chăm sóc.

Cũng chính nơi đây, Vinh gặp lại nhiều bạn học đã mất liên lạc từ ngày xong tú tài, mỗi người mỗi ngả:

– Phúc và Lan di tản từ tháng 4 năm 1975, vẫn không thay đổi nhiều so với ngày còn ở Trung học, tương đối thành công, vẫn mang theo cả một thời mới lớn ở Việt Nam có những lý tưởng màu hồng dù lâu lâu vẫn nghe tiếng súng vọng về từ một chiến trường nào đó rất gần thành phố.

– Xuân đi từ trường Ngô Quyền vào trường Võ bị, vừa cởi áo trắng học trò, khoác ngay áo treillis của lính, không có thì giờ mặc áo dân sự giữa một đất nước chiến tranh. Nước mất, Xuân phải vào “trại cải tạo”, mặc áo màu sậm, xám xịt như đời “tù… không có tội”. Ra khỏi nhà tù nhỏ, Xuân về nhà tù lớn chỉ vài tháng rồi vượt biển, và chịu khó cắp sách đi học lại đến ngày thành kỹ sư ở thung lũng điện tử của miền Bắc California.

– Tuấn rời Việt Nam qua Nhật du học từ năm mười tám. Học vừa xong, thì nước mất, không còn nhà, không còn quê hương để quay về.. Một sáng đầu tháng 5 năm 1975, mở mắt dậy, bỗng dưng thành một người “vô gia đình, vô tổ quốc”, Tuấn quyết định đi xa hơn nữa khi Mỹ cấp free pass vào Hoa Kỳ cho các sinh viên VN đang du học ở các nước tự do trên thế giới vào thời điểm tháng 4 năm 1975. Tuấn ổn định đời sống ở Mỹ từ năm 1976. Phiêu bạt từ Việt Nam qua Nhật, rồi Mỹ, ở đâu người bạn thân của Vinh cũng mang theo hình ảnh hiền hòa, thâm trầm như nhân vật cùng tên trong “Tuấn chàng trai nước Việt”.

– Tấn đậu tú tài, vào Không quân, được đi tu nghiệp ở Mỹ, về nước chưa kịp đóng góp nhiều cho đất nước thì “chim gãy cánh mây ngừng trôi “, Tấn vô tù vì vận nước, rồi trở về làm đủ mọi nghề để sống đến khi được qua Mỹ theo diện HO, là người đến đất nước tự do muộn màng nhất trong lớp.

Cả một cái lớp tứ hai ở Ngô Quyền xưa lưu lạc khắp nơi trên thế giới, gần một phần tư lớp hội tụ ở San Jose, mỗi lần gặp nhau vui hơn Tết, chuyện trò râm ran, tiếng cười vang lên như ngày xưa còn ở tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” ở quê nhà.

Nhưng vui nhất là lần Vinh gặp thầy Hợp, thầy dạy Toán năm đệ tam ở quê nhà. Thầy định cư ở Mỹ vảo thập niên 90s, lúc đó cộng đồng Việt Nam ở vùng thung lũng điện tử San Jose đã quần tụ khá đông. Chân ướt chân ráo ở quê người, chưa có xe, từ nhà, Thầy đi hai chuyến xe bus đến khu vực thuơng mại đông đúc nhất của người Việt ờ San Jose, lấy một tờ báo quảng cáo để tìm một ông bác sĩ đồng hương ở quê người. Và thầy tìm ra cậu học trò thông minh, hiền lành năm xưa đang hành nghề “lương y” ở một con đường yên tĩnh gần downtown. Trong mục quảng cáo của một tờ báo VN, trong danh sách các Bác sĩ Việt Nam ở San Jose, thầy Hợp tìm thấy tên của cậu học trò thông minh, hiền lành ở cù lao Phố, Biên Hòa ngày xưa. Bao nhiêu năm đứng trên bục giảng ở nhiều trường Trung học lớn ngày xưa, như một người lái đò đưa hàng ngàn người khách qua sông; có một vài khuôn mặt, vài cái tên Thầy không hề quên.

Gần như chắc chắn đó lả học trò cũ của mình ngày xưa, nhưng muốn dành cho cho Vinh một bất ngờ, thầy Hợp vẫn gọi điện thoại lấy hẹn, đến văn phòng đúng giờ, làm việc với mấy cô thư ký, điền hồ sơ cho một bệnh nhân mới, rồi kiên nhẫn ngồi đợi như bao nhiêu người khác.

Gần cuối buổi làm việc, Vinh được cô thư ký chuyển vào hồ sơ của bệnh nhân kế tiếp. Nhìn cái folder màu vàng nhạt còn mới toanh của một bệnh nhân mới, Vinh liếc qua tên bệnh nhân, và độ tuổi, cùng giới tính. Tên viết theo lối Mỹ, first name, last name, initial middle name, nên Vinh không hề nghĩ đó là thầy dạy Toán của mình thời trung học.

Vinh rời phòng làm việc của mình, đẩy cửa vào phòng có bệnh nhân, và thả rơi cái folder xuống nền nhà, không tin vào mắt mình. Cứ như một giấc mơ, thầy dạy Toán Nguyễn Thất Hợp của năm đệ tam đang ngồi cạnh bàn khám bệnh ở San Jose, California, chứ không phải cạnh bàn giáo sư của trường Ngô Quyền Biên Hòa như hai mươi năm trước. Thầy vẫn vậy, chỉ già đi theo năm tháng (như người Mỹ vẫn gọi là aging process) chứ không thay đổi. Ánh mắt nghiêm nghị vẫn còn, lấp lánh sau tròng kính trắng. Vinh quên hết nhiệm vụ của mình, quên hết mình đang khám bệnh, quên là mình đã ở xa quê nhà cả một đại dương, mừng rỡ chào Thầy, vẫn cung kính như ngày xưa còn là học trò trung học.

Từ đó, thầy Hợp được học trò chăm sóc sức khỏe rất chu đáo. Không biết vì bản chất Thầy vốn khỏe mạnh, vì Vinh chăm sóc cho Thầy không chỉ bằng kiến thức chuyên môn của một bác sĩ, mà còn bằng tấm lòng của một người học trò cũ, hay vì cả hai lý do, thầy Hợp trông khỏe mạnh và trẻ hơn so với những người cùng độ tuổi.

*Tưởng đó là lần hạnh ngộ vui nhất trong đời ở phòng khám bệnh, nhưng có một lần khác, ngạc nhiên òa vỡ lớn hơn, đưa Vinh về với vị mặn của gió biển, với lần duy nhất hành nghề y khoa dã chiến giữa trời nước mênh mông.
Đó là một ngày mùa hè, ngày dài đến hơn 14 tiếng, bóng nắng vẫn còn lung linh trên hàng cây cổ thụ ven đường, Vinh đã cởi áo blouse trắng, chuẩn bị về thì cô thư ký gọi vào cho biết có người quen cũ, đến từ Châu Âu kiên nhẫn đợi đến lúc bệnh nhân cuối cùng rời phòng mạch để được gặp bác sĩ Vinh.

Vinh đặt chìa khóa xe vào lại ngăn kéo, nhờ cô thư ký mời khách vào phòng làm việc. Đó không phải là một người khách, mà là một gia đình gồm ba người. Hai vợ chồng đã qua tuổi trung niên, và một cô thiếu nữ chắc vẫn cỏn trong độ tuổi hai mươi. Vinh cố lục lạo trí nhớ của mình để nhớ ra người quen nhưng vẫn không nhận ra được khách là ai?

Vinh mời khách ngồi, nhã nhặn:
– Xin lỗi, tôi có thể giúp gì được cho quý vị?

Người đàn ông mở lời, giọng Saigon rất thân quen:
– Thưa bác sĩ, chúng tôi từ Ý đưa bé Biển đến thăm bác sĩ, và để cảm ơn bác sĩ đã lo cho mẹ con cháu chu đáo trên biển đông năm xưa.

Vinh tròn mắt ngạc nhiên:
– Ô, anh chị ngày xưa trên con thuyền vượt biển tháng 6 năm 1979 từ Long Hải, Vũng Tàu.

Ngưởi đàn bà cười tươi tiếp lời bằng giọng Huế nhẹ nhàng:
– Thưa đúng rồi, bác sĩ còn nhớ chúng tôi?

– Không những chỉ nhớ mà còn phục sự can đảm chịu đựng của chị năm xưa khi sanh con đầu lòng trên sàn tàu vượt biển không có ánh sáng, không có thuốc men, không có cả dụng cụ.

Đó là lần hội ngộ với một bệnh nhân cũ bất ngờ, cảm động nhất của Vinh.

*Từ chiếc tàu buôn của Ý năm xưa, 68 thuyền nhân, cộng với “công dân của đại dương”, bé Biển, được đưa về trại tỵ nạn Pulau Bidong của Malaysia. Từ đó, họ đi định cư ở nhiều nước khác nhau. Vinh định cư ở Mỹ.. Gia đình nhỏ ba người của bé Biển đi Ý vì cảm kích lòng tử tế của thủy thủy đoàn trên thương thuyền của Ý, và vì bé Biển mang quốc tịch Ý.

Từ đó, bận rộn với cuộc sống mới với một khởi đầu mới ở quê người, Vinh không còn dịp liên lạc với bất cứ một thuyền nhân nào trên chuyến tàu vượt biển năm xưa.

Gia đình bé Biển đến Ý, ổn định cuộc sống. Họ làm hôn thú cho mình và khai sinh cho con ở Ý. Trên khai sinh, tên của bé Biển là Nguyễn Thị Đại Dương. Và như một kỷ niệm suốt đời mang theo, sợi dây chuyền với chiếc mỏ neo bằng vàng luôn nằm trên cổ em từ lúc chỉ mới vài ngày tuổi. Vài năm sau, họ có thêm một cậu con trai sinh ở Rome, vẫn có cái tên Việt Nam là Nguyễn Thái Bình, tên Ý là Grato (nghĩa là cảm ơn). Đó là cách để họ nhớ đến Thái bình dương với ân tình từ rất nhiều người cả Việt Nam lẫn Ý.

Cho đến một ngày nọ, tin tức địa phương từ một tờ báo về chuyện một ngưởi thuyền trưởng tài ba, nhân từ về hưu sau hơn 30 năm lênh đênh trên các đại dương, giúp họ tìm ra vị thuyền trưởng đã cứu vớt con tàu nhỏ bé năm xưa của những người Việt Nam tỵ nạn. Họ tìm đến gặp ông, và lần này đã có thể nghe ông kể lại câu chuyện và tâm trạng của ông năm xưa bằng tiếng Ý. Sau đó, họ được ông tặng tấm hình chụp con tàu tỵ nạn dạo nào, trên đó có họ gầy yếu xanh xao, có đứa con đầu lòng, bé Biển hãy còn đỏ hỏn, không có sữa uống, được nuôi bằng nước cháo.

Tấm hình được họ mang đến tiệm, nhờ chuyển qua dạng một cái plaque treo tường. Họ làm cho mình một, và một plaque thứ hai để dành tặng cho ông bác sĩ trẻ năm xưa giúp bé Biển chào đời an toàn trên sàn tàu vượt biên.

Bước vào thế kỷ 21, khoa học phát triển, google search giúp họ tìm ra bác sĩ Vinh. Vì ngày xưa trước lúc rời trại tỵ nạn, họ có hỏi thăm tên họ của Vinh. Nhờ một người bạn ở San Jose giúp đỡ thêm, họ đưa bé Biển, đã là một Bác sĩ sản khoa ở Ý, qua Mỹ thăm Vinh.

Cô bác sĩ trẻ người Ý gốc Việt nói với ông bác sĩ đã qua tuổi trung niên người Mỹ gốc Việt, bằng tiếng Việt rõ ràng, khúc chiết với giọng Huế pha Saigon:
– Thưa bác, con cảm ơn bác đã giúp cho con chào đời an toàn trên biển. Nghe ba mẹ con kể lại, và nhớ ơn bác năm xưa, con đã học sản khoa. Có lẽ suốt đời con không có cơ duyên đặc biệt như bác đã làm ngày con ra đời. Nhưng con nhớ hoài chuyện đó và vẫn kể cho bệnh nhân của con nghe khi họ sắp chuyển dạ để giúp họ thêm can đảm… Con cảm ơn bác rất nhiều.

*Thay cho lời kết:

Năm 2011, trong một lần đến họp và tập hát chuẩn bị cho hội ngộ cựu học sinh Ngô Quyền toàn thế giới lần thứ 2, ở phòng mạch của bác sĩ HQM, một đàn anh Ngô Quyền, chúng tôi thấy một plaque hình thuyền vượt biển khá đẹp, và được nghe kể lại một chuyện cảm động trên tàu thời đó.

Tấm plaque treo tường với chiếc ghe nhỏ bé chơ vơ giữa biển xanh đã thu hút sự chú ý của chúng tôi, một cựu thuyền nhân. Có những tình cờ trong cuộc sống để lại một dấu ấn suốt đời mang theo.
Xin được ghi lại vài nét của một trong những chuyện không bao giờ quên trong lịch sử thuyền nhân. Hy vọng đời sống luôn có những người trọng tình nghĩa như những nhân vật trong chuyện, và những hạnh ngộ bất ngờ luôn luôn làm cho đời sống đẹp hơn.

(Viết từ một bức hình ở phòng mạch của BS Huỳnh Quang Minh. Thung lũng hoa vàng- đầu mùa xuân 2015)

*Nguyễn Trần Diệu Hương

  •                  PHỐ MƯA

                    Sài Gòn Cô Nương

    Trời Sài Gòn đang nắng đổ lửa, nóng tươm dầu, chảy mỡ nhưng xe cộ vẫn tấp nập ngược  xuôi như đèn cù. Trước kia chỉ xe máy đã đủ kẹt xe, huống hồ nay lại thêm ô tô nên đường xá  ngày càng nghẹt cứng. Năm 2018, SG có hơn 7,8 triệu xe máy và hơn 750 ngàn xe ô tô. Xe của dân nội tỉnh, ngoại tỉnh. Hiếm thấy xe đời cũ mà toàn xe đời mới, nào là Future, Wave, Lead, SH, Vision… Rồi xe ô tô nhà, xe buýt, xe bán tải, xe taxi… Chưa kể một số xe ô tô nhà chạy theo kiểu grab car.

    Xe ba gác bán dạo không được đẩy trên những con đường chính gần trung tâm thành phố, nhưng ở các đường ngang thì vô số, mùa nào thức nấy, chỉ cần bắc ghế ngồi trước cửa là có thể thưởng thức các mùa lần lượt trôi qua. Giờ này đang là mùa na, cam, nhãn, thanh long… rồi thêm hồng từ Bắc đi xe lửa vào Nam, cả xe bán cà rem cây, xe rau củ bán bắp cải, cà rốt, bó xôi… xe nghêu sò ốc hến…

    Ông đi qua, bà đi lại, lúc nào đường phố cũng đông nghẹt. Chị bán gánh bột lọc ghé vào hàng hiên nghỉ chân, tán gẫu với anh thợ sửa đồng hồ. Cuộc sống hối hả nuốt chửng cứ như chậm lại một chút thì không còn kịp sống nữa. Xe gắn máy phóng ào ào, chỉ có giới sửa xe là thêm công, thêm việc, nên con đường dài chưa tói ba trăm mét mà co đến hai tiệm sửa xe, ba điểm sửa xe lề đường và một chỗ rửa xe.

    Trời bỗng râm, nắng nhạt hẳn đi vàng hoe hoe. Kinh nghiệm của dân địa phương là cứ nhìn bên bờ sông, mây đen kịt phía ấy là thế nào cũng mưa, Siêu đẳng nhất là dân cá độ mưa, chỉ cần đứng thong dong giữa cầu, ngước mặt lên ngắm trời, nghe gió, tuy không hô phong hoán vũ được như các đạo sĩ, phù thủy trong… truyện đời xưa, nhưng cũng có thể “dự đoán thời tiết” được trời sẽ mưa hay không, mưa nhiều hay ít, mưa bao nhiêu mi-li-mét chính xác vô vùng, khỏi phải tốn cơm áo của gia đình, mài quần trên ghế đại học bốn năm tu luyện với gió tín phong, mấy tích, mây ti… khỏi xài dụng cụ quan trắc cho cho hao ngân sách lại thêm phần rắc rối, dụng cụ duy nhất cần thiết chỉ là một cái cóng hay cái ly hứng nước dưới mái nhà là quá đủ. Dân cá độ bị khép vô tội cờ bạc, bị hốt hoài chứ không thôi phải mời hết bọn họ vào làm việc cho sở Khí tượng thủy văn mới đúng.

    Trời tối xầm lại, mây đen vần vũ, gió thổi mạnh từng cơn làm lá điệp tây rào rào rụng xuống như mưa, gió lùa vào lao xao, ngả nghiêng trong tàng nhạc ngựa. Bã đậu là cây mau lớn, tàn rộng, chóng xum xuê, nên mấy năm trước được ưa chụông, trồng tràn lan khắp nơi, có điều loại cây này quá dòn, sau mỗi cơn giông, cành gẫy la liệt trên mặt đường, làm u đầu sứt trán khối người nên dần dần bị đốn hết, thay thế bằng cây bàng đến mùa lá rụng, lá bàng đổi sắc, có chiếc lá màu vàng chói lọi, chiếc đỏ rực lửa, bảng màu của thiên nhiên pha thật kỳ diệu, nhìn màu sắc của một chiếc lá bàng rơi mới thật hiểu nào là Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri thu…

Xe cộ lao vun vút hòng vượt cơn mưa, hàng quán lề đường táo tác như bầy gà bi rượt. Tiệm bán đồ điện vội vàng kéo nguyên mấy cái giá chưng bóng đèn vào nhà tránh mưa. Bà bán bún riêu chồng mấy chiếc ghế đẩu lên, kẹp cái bàn xếp lại, tong tả chạy tuốt tận đâu cất đồ, bàn vé số cũng mau lẹ thu dọn đồ đạc hô biến. Trong chốc lát, lề đường bộn bề tấp nập đã được dọn dẹp quang quẽ, gọn gàng, khách bộ hành rảo bước tránh những hạt mưa bắt đầu lác đác.

 

Không mưa thì lúc nào lề đường cũng lôi thôi bận bịu, mạnh ai nấy chiếm khoảnh đất từ trước nhà xuống ven đường làm lãnh thổ riêng của mình, thành thử vỉa hè như hàm răng khấp khểnh. Mỗi khúc vỉa hè tượng trưng cho bộ mặt của chủ nhà, phô bày trình độ thẩm mỹ và khả năng tài chánh, thôi thì đủ màu, đủ kiểu; cái cao, cái thấp, cái dốc, cái phẳng, cái lót gạch bông khía màu vàng, cái lát đá sỏi trắng, chỗ gạch céramic xanh, chỗ khác lại xi măng lâu ngày vỡ loang lổ, bãi đậu xe và đủ thứ hàng quán đua nhau chiếm giữ lề đường, thành thử người đi bộ bị đẩy xuống xài chung lòng đường với xe cộ.

Nhà mặt phố còn “té” ra bạc nữa chứ chơi sao, ai muốn ngồi buôn bán trên lề đường phải trả tiền thuê chỗ, tiền điện cho chủ nhà sở hữu lề đường đó, không kể các thứ lệ phí khác, cho nên bà cơm tấm chẳng những tận dụng toàn bộ vỉa hè cho khách ngồi ngồi xơi cơm thoải mái mà còn hạ cái bếp than yên vị xuống lòng đường, quạt sườn nướng xông khói bay mù mịt thơm lừng điếc mũi hàng xóm. Ông hàng phở cũng tỏ ra không thua kém, xe phở phải đẩy ra trước cửa và thực khách chen chúc bên ngoài chứ nhất định không chịu vào trong nhà dù rộng rãi, sạch sẽ hơn. Lề đường trăng thanh gió mát, ăn xong còn ngồi rung đùi, xỉa răng cọp, ngắm phong cảnh đường phố chắc chắn phải vui mắt vui tai rõ ràng.

Hạt mưa xiên xiên theo chiều gió bắt đầu quất mạnh, trời càng lúc càng tối sầm, mưa mỗi lúc càng to càng nặng hạt, mưa rào rào rồi sầm sập, sấm nổ ì ầm, thỉnh thoảng ánh chớp lòa lên soi rõ con đường giờ đã vắng ngắt, một hai chiếc xe gắn máy hay xe hơi lao quan làm nước bắn tung tóe. Thật lẹ làng, mấy cây sào bán áo mưa từ đâu mọc ra nhanh chóng quá vậy, cắm chốt xỉa ra lòng đường, áo mưa treo đầy sặc sỡ đủ màu trong màn mưa trắng xóa. Quán nhậu kéo mái hiên di động ra hết cỡ. Bàn nhậu vẫn bình thản, vừa nhâm nhi trò chuyện vừa nghe mua ào ào, giọt nước từ máng xối dột rơi xuống chiêc thau nhôm hứng dưới đất kêu tí tách. Một bài hát quen thuộc từ ngày xưa, cứ mỗi khi trời mưa lại vọng lên trong đầu: Hạt mưa trên poncho. Nhớ những đêm anh em vỗ tay reo cười. Điệu mưa nguồn, nằm trong poncho ngỡ trên nệm gấm. Nào ai đang say sưa, hẹn nhau đi trong mưa, góp chiến công đem ghi khắc trong lời thề. Ngày trở về, niềm gian lao tan biến trong lời thề… Mưa, mưa mãi, thấm lòng người trai xa nhà. Hạt mưa vui như lời vỗ tay reo ca…

Vài người lỡ độ đường tấp vào hàng hiên ngắm trời đất. À quên, ngắm nước chứ, vì nước cuồn cuộn đã từ miệng cống ứ lên. Con đường bắt đầu ngập, đám choai choai kéo nhau ra giữa lộ đá banh, reo hò om xòm. Xe cộ đi từ đầu đường vào một trăm mét là tớí chỗ ngập, lỡ trớn khó quay ta, thôi kệ cứ chạy ào qua, xui xẻo thì chịu chết máy. Con nít ở trần, vừa tắm mưa, vừa tắm “sông”, í ới la hét đùa giỡn, mưa càng to, nước càng ngập cao, chơi càng hào hứng. Cuộc đời thiếu tiết mục đá banh trong mưa, tắm mưa ngoài đường thì quả thật đã mất đi một trong nhưng niềm vui thú lớn của thời thơ ấu vậy.

Đâu có cần đi xa xôi mới hay cảnh ngập ra sao. Ở thành phố cũng biết thế nào là Thủy Tinh thị uy, mấy căn nhà nền thấp phải dùng bao tải chặn bực của ngăn rác trôi vào nhà, nhưng vậy hãy còn là hạnh phúc lắm đó, chứ ở khu vực thấp giữa đường thì chẳng lâu la gì, nhà đã biến thành cái ao. Từ lúc mưa bắt đầu nặng hạt là chủ nhà đã lo nhặt guốc dép, xách ngay cả thùng rác, khiêng xống chén… tìm chỗ cao tỵ nạn. Chứ để mưa to, nước dâng lên quá nhanh chạy đồ đạc không kịp, tới lúc đó cái giường gỗ kê trên mấy cục gạch trôi lềnh bềnh, đá mấy chếc ghế chổng kềnh chặn lại không thì tủ lạnh và xe gắn máy ngả nghiêng cũng muốn đổ ụp luôn. Khiêng hai cái bàn chồng lên nhau, trên bàn là bao gạo, trên bao gạo là sách báo, chai lọ… Con nít hí hửng ngồi trên bậc cầu thang dùng que khều rác, nồi niêu xoong chảo thớt tự do ngao du đó đây, thật ra cũng có cái hay là vài ba món đồ tưởng lọt khe mất tiêu, giờ lại thấy lênh đênh hiện ra. Cá mú thì không có vì chắc chẳng lọt qua được miệng cống, nên không thể thả vó buông câu được, nhưng dăm ba con lươn, con lịch thì sẵn sàng có mặt lượn chơi tung tăng trong nhà. Đằng ngoài xe bột chiên, khách ăn đã phải gác chân lên ghế, còn cô chủ thì quần xắn móng lợn, vẫn thản nhiên thoăn thoắt chiên xào nấu nướng như không hề có biến cố gì xảy ra chung quanh. Mọi sinh hoạt vẫn rộn ràng mặc cho “phố bỗng là giòng sông uốn quanh”.

Thế nhưng cơn mưa tuy gấp gáp và ồn ào lại không kéo dài lâu. Mưa nhẹ hạt, sấm chớp im bặt không còn ầm oàng nữa, trời dần dần quang đãng, trong trẻo, cây cối mới tắm gội hân hoan tươi tỉnh, mỗi cơn gió qua lại rũ nước rào rào xuống. Các cửa được mở hết để chủ nhà ngước nhìn ước lượng xem trời còn nặng bao nhiêu, ngó xuống đất coi ngập cỡ nào. Mưa lất phất rồi dừng hẳn. Tạnh rồi! Từ các con hẻm ngập nước, người này, người nọ lội ra lội vào lõm bõm, mái hiên di động được cuốn vào để hứng gió. Nước rút khỏi vỉa hè, ông thợ sửa xe nhanh nhẩu vác đồ nghề ra đường để đón chực lau bu-gi cho những chiếc xe bị ngập ống pô, những cây sào bán áo mưa biến mất tiêu cũng mau lẹ như lúc xuất hiện, bàn xổ số trương ngay tấm bảng đen ghi kết quả “vé số chiều xổ”, kịp tụ tập liền một đám đông bu lại dò số. Bà bún riêu lại cắp bàn ghế ra, bày biện đàng hoàng.

Nước trên lòng đường rút từ từ, dòng nước chảy xoắn hút vào miệng cống, con nít ngồi bên vệ đường thả thuyền giấy trôi băng băng, nhưng trong hẻm vẫn nghe tiếng nhà nào tát nước oàm oạp, mỗi lần ngập nước như vậy, tha hồ mỏi tay xách nước lau cọ ná thở luôn vì bùn sình và rác đọng trên sàn nhà và đồ đạc. Cứ mưa lớn là ngập chứ đâu phải đợi lâu lâu Thủy Tinh mới gây sự một lần. Bà chủ tiệm chạp phô méo mặt vì quên khuấy bịch đường, muối dưới gầm nên giờ đành giơ cao mấy bao ướt mem lên ngẩn tò te nhìn. Sáng mai trời nắng, ai nấy tha hồ phơi phóng các thứ đầu rau rế rách.

Xe cá viên chiên, bắp Mỹ luộc nóng, bò bía… lại lũ lượt diễu hành qua lại. Chị bán bánh chuối hạ thúng xuống, ngồi xổm thụp ngay bậc hè đong đong gói gói, người trú mưa hàng hiên vội vã bước đi. Các khung cửa lại mở toang, xe cộ không biết từ hóc kẹt nào lại ùn ùn  túa ra. Nắng ửng vàng trên mặt đường loang loáng nước, nhịp sống mau chóng trở lại bình thường như chưa từng bị ngắt quãng bởi cơn mưa. Thật đúng như Nguyên Sa đã tả trong hai câu thơ dễ thương:

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết

Trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì sao

               *Sài Gòn Cô Nương

**

  • PHAN XUÂN SINH

*ĐỌC ĐỂ NHỚ LẠI NHỮNG THÁNG NGÀY TRONG  TÙ CS

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.

 Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.

Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.

 ” Anh yêu quý,

 Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.

Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.

 Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.

 Vợ anh

 Lê Thị Hồng”

 Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.

Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.

Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.

 Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.

 Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.

 “Hồng em,

 Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.

 Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.

 Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.

 Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.

 Chồng em

 Nguyễn Hữu”

 Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.

 Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”

 Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất. “

 “Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”

Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”

 Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”

 Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”

 Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.

 Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.

 Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.

 Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.

Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.

 Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.

 Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.

Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.

 Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.

 Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.

 Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên hệ với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện..

Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.

Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

 *Phan Xuân Sinh

Nguồn SAULYHUONG2

*

  • Người con nào thì cũng thương mẹ…

Tác Giả : Thái Phương

Tôi đậu cử nhân Luật năm 1971. Ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư khá nổi tiếng bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Ðình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật. Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận luật sư chính thức, cho phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.

Chưa đầy một năm sau thì tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến, chúng tôi dịch phụ. Tiền bạc trung tâm tính toán rất tốt nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.

May sao thời kỳ mở cửa, nhờ chút ngoại ngữ tôi nộp đơn xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng. Tôi giữ chân tiếp đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ muốn dùng, báo cho nhà bếp biết rồi các cô tiếp viên bưng ra. Tiền lương đỡ lắm, đã vậy mà mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.

Một hôm ông giám đốc khách sạn cho người gọi tôi lên văn phòng ở trên lầu. Ông chỉ chiếc ghế trước mặt trong căn phòng lạnh bảo tôi ngồi rồi cầm gói thuốc ba số năm trên bàn mời tôi hút:

  • Anh quản lý nói anh biết nói tiếng Nhật ?
  • Vâng. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ vài năm, giao dịch cũng đỡ nhưng bỏ lâu không xài nên đã quên nhiều.
  • Bây giờ còn sử dụng được chứ ?
  • Vâng, có lẽ tạm được.
  • Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ…

Ông ngắt ngang câu chuyện, với tay lên chiếc giá ở phía bên cạnh lấy hai chiếc cốc cao cẳng bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đặt trước mặt tôi một ly: Mời anh !

  • Xin cám ơn ông giám đốc.
  • Cứ uống đi mà.. Chúng ta làm hết chai này, vừa uống vừa nói chuyện…

Ông này là tay sành sỏi, điệu nghệ. Bây giờ ông mới mở cái món bài tủ là rút trong ngăn kéo ra một gói Dunhill ‘black label’ mới tinh còn nguyên xi chưa bóc giấy bóng, gỡ giấy kiếng, bảo tôi dụi điếu thuốc ‘ba số’ vào chiếc gạt tàn rồi lịch sự cầm cả gói chìa về phía tôi, mời tôi hút.

  • Champagne Pháp phải đi đôi với thuốc Ăng-lê mới tốt !
  • Vâng, thưa ông giám đốc.
  • Nào, mời anh !
  • Không dám, mời ông giám đốc.

Chúng tôi nâng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù loại ‘chính hiệu’ của Pháp hoặc thuốc lá Dunhill ‘black label’ đi nữa đối với một luật sư như tôi cũng đâu có lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột! Nhưng cũng sờ sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới ‘ưu ái’ với tôi đến thế !

  • Bên công ty du lịch họ báo cho chúng ta biết khách sạn chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng về các máy móc điện tử hay chế tạo linh kiện điện tử gì đó tôi không biết rõ. Họ nhờ chúng ta… Nói thật ra là họ chỉ thị chúng ta phải biệt đãi với khách. Phải dùng mọi cách làm thế nào khách được vừa lòng.
  • Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi hết sức lịch sự vói mọi khách hàng.
  • Ðúng thế, tôi hiểu. Nhưng theo tôi biết, ông giám đốc này hình như hơi già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo ông ta chỉ dùng tiếng Nhật, không dùng bất cứ một thứ tiếng nào khác. Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi tác, tính nết ông ta cố chấp, khắc khổ, không thích giao thiệp với mọi người.

Xương sống lưng tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc khách sạn đang muốn đề cập chuyện gì. Quả nhiên, ông ta kết luận: – Tôi đã bàn tính với ông quản lý. Trường hợp này ta phải dùng tới một người tương đối lớn tuổi, có căn bản học vấn – nghĩa là dùng người trí thức đàng hoàng chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc vài nhân viên thông dịch tiếng Anh tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ ?

Ðồng ý cái khỉ khô! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với không đồng ý.

  • Thưa ông giám đốc, tôi nghĩ cũng đúng.
  • Xét trong khách sạn, anh phù hợp với các điều kiện đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác mới giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn có hoa hồng riêng cho anh mà bên đầu tư cũng có phần thưởng. Họ hứa như vậy. Còn nếu không tranh thủ được…

Ông ta bỏ lửng song tôi hiểu. Có thưởng thì phải có phạt. Nếu tôi loạng quạng, không làm nên cơm cháo sẽ bị mất việc, ở nhà nấu cho vợ dễ như chơi. Tình hình như vậy, biết nói cách nào bây giờ ?

  • Thưa ông giám đốc, tôi không giám nghĩ tới việc được thưởng nhưng sợ tiếng Nhật lâu không xài, tôi quên mất nhiều…
  • Ðược, nhớ tới đâu dùng tới đó. Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân trông coi việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện, kể cả tài xế và nhân viên khuân vác hành lý cho khách nếu cần. Dứt khoác chúng ta phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.
  • Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.

Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, lục các giấy tờ trên bàn: – À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms… Quái, cái giấy tôi bỏ đâu mất rồi?.. À đây… Anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, sẵn sàng hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp. Anh đã có đồ vét, cravát… chưa nhỉ ?

  • Thưa có.
  • Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán bảo cô thủ quỹ tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Ðây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính vào tiền thưởng.
  • Vâng, cám ơn ông giám đốc.

Tôi đi, tay cầm mảnh giấy. Kỳ lạ, tại sao ông ta lại tên Kwann Tae Palms, chẳng giống với Nhật chẳng giống với Tàu? – Riêng cái họ – Palms – thì giống với Mỹ. Theo tôi hiểu, người Nhật tên họ thường là Watanabe, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki .v.v… Ngay đến cái tên cũng khó hiểu thế chẳng trách ông ta già, khó tính, lẩm cẩm, cố chấp, chỉ nói tiếng Nhật, không thèm nói tiếng Anh tiếng Pháp. Ôi, tôi mất việc dễ như chơi!

Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng mới tinh gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Ðây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi chỉ được đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.

Sau cái liếc mắt ‘ra hiệu ngầm’ của cô tiếp viên phi cảng, tôi sửng sốt: ông giám đốc Nhật trông còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, nét mặt già dặn có thể nói là rất có duyên, nước da ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông nhanh nhẹn tháo vát chứ không ‘một mí’ như mắt người Nhật hay người Ðại Hàn. Ðặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu khách du lịch, áo sơ mi ca rô sọc chìm, quần jean, áo bỏ trong quần với sợi dây xanh tuya to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Chà chà, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già lão, ‘khó tính’ một chút nào hết.

Anh phụ tá đỡ giùm chiếc va ly trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là cứng đong đong như khúc gỗ bị bẻ gẫy, chắp tay trước ngực và cố ‘nặn’ ra từng tiếng Nhật: – Kôn ni chi wa, y ô ku i ras shai ma shi ta. Hi ji ma shi te ? (Xin kính chào ngài, chúng tôi rất vui mừng được tiếp đón ngài. Thưa ngài đi đường bình an chứ ạ?)

Ông ta ngớ người nhìn tôi, nhíu mày suy nghĩ như cố nhớ lại điều gì. Sau đó ông ta nhún vai, quyết định trao chiếc cặp Xăm-xô-nai cho cô tiếp viên xách giúp, rồi cũng chắp tay, cúi đầu thật thấp chào lại: – Kônnichiwa! Yôku irasshaima****a! (Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp gỡ ông!)

Giọng ông ta nhanh và mạnh, tất nhiên thông thạo như… tiếng mẹ đẻ chứ không ỳ ạch như tôi. Tôi đoán rằng tôi nói ‘hay’ quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái ‘nặn’ tiếp và tự giới thiệu: – Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y… y a dô zo yo ro shi ku! (Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y… rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài !)

Nét mặt ông giám đốc Nhật vui hẳn lên, ông mỉm cười nhìn tôi sau đó cũng tự giới thiệu: Watashi wa ‘Kwann’ desu, dôzoyoroshiku! (Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông)

Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ ‘tôi’ và ‘chúng tôi’ nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như ‘irasshaima****a’ và ‘yoroshiku’ vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa là gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ có phải là một VIP nào đâu mà ông ta nói rất sung sướng được ‘cử’ đến đây ‘gặp’ tôi? Ngoài ra tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều… bắt chước tôi y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?

Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có ‘người của ta’ xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác, tôi đưa tay lễ phép: Kô chi ra e dô zô! (Xin mời ngài đi lối này!) Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ: – Arigatô, zogaimasu! (Vâng, xin cám ơn)

A, bây giờ thì ông ta không ‘bắt chước’ tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta.. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua, khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.

Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với tài xế, sau đó xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.
Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo ‘vĩ đại’ có vẻ suy nghĩ.. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà lớn hiện đang xây cất ở hai bên đường Nam kỳ khởi nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó thế nào so với bên Nhật.

Tôi nhẹ nhàng lấy gói ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang dấu hiệu Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách:- Ip pon i ka ga de su ka ? (Xin kính mời ngài hút thuốc ?)

Ông ta giựt mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu: – Kekhô desu, arigatô! (Không, tôi không muốn hút, xin cám ơn!) Ðoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm gói thuốc, ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:- Do you usually smoke this kind of Three Fives cigarette?

Ôi chao, vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá bèn khẽ lắc đầu, buột miệng nói như cái máy: – Oh no, sir, we don’t.

Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp ‘because… ‘rồi cũng chẳng biết because… như thế nào nữa, bèn trả lời thành thật:- Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary, out of our ability.

Vị khách bật cười, rồi tự nhiên ông ta cười lớn khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta: ‘Ồ, ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?’. Tôi lắc đầu: ‘Không, tôi không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc’. Vị khách trẻ gật đầu lia lịa:

‘Vâng, vâng, tôi hiểu. Tôi cũng có một vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông.. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang tặng họ’.

Chà, tay này được quá, người Nhật mà biết hoàn cảnh của người Việt Nam, thỉnh thoảng gửi tiền sang tặng, thật đúng kẻ có lòng.

Xe chạy ngang qua cửa Nhà khách Thống Nhất, bên trái là Nhà thờ Ðức Bà. Vị khách ngắm nghía ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ vừa lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi tôi: ‘Tôi đoán trước năm bảy lăm ông bạn là một luật sư?’. Tôi giật mình kinh ngạc: ‘Vâng, trước đây tôi theo ngành luật. Nhưng tại sao ngài lại biết điều đó?’. Ông ta cười trả lời: ‘Tôi biết những điều người khác không biết’.

Xe về tới đường Ðồng Khởi và từ từ táp vào lề trước khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Ðích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị quý khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất, sang trọng.

Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng nán lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi: – Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách bám sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi, tốt đẹp tôi sẽ trích số tiền hoa hồng thưởng cho cậu và cả bên công ty đầu tư nữa. Tôi không quên đâu.

  • Vâng, xin cám ơn ông giám đốc.

Kể từ hôm ấy, tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi, ông ta cũng có chút biệt đãi. Mỗi lần tới công ty đầu tư hoặc thăm các cơ sở, máy móc thiết bị của người Nhật, gặp gỡ ban giám đốc các cơ quan, lẽ ra tôi phải ngồi phía sau lưng như một thông dịch viên, ông ta giới thiệu tôi là một người bạn luật sư, bảo tôi ngồi bên cạnh và luôn luôn xem xét, bàn bạc với tôi. Người nước ngoài họ khôn lắm, dưới con mắt của một luật sư, tôi thấy rõ có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực họ nhường một bước để nhảy một trăm bước. Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói rằng họ dại nhưng tôi nói họ lanh. Lanh một cách khôn ngoan vặt, tiến một bước theo kiểu ‘thắng lợi tinh thần’ trong A.Q. Chính Truyện của Lỗ Tấn, sau này sẽ thiệt một trăm bước hay nhiều hơn. Toàn những ông thầy dùi cấp dưới, láu cá vặt mà cứ tưởng mình thông minh làm ‘cố vấn’ mà thôi. Quan hệ quốc tế không thể dùng các bộ óc láu cá vặt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ. Nếu không, được lợi về sợi dây thong thì sẽ mất cả con trâu. Gặp trường hợp đó tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến. Tất cả đều biết tôi chỉ là anh bồi khách sạn, nể khách nên họ cho tôi được ngồi cùng bàn một cách khiêm tốn, tất nhiên không được quyền góp ý kiến.

Một lần thấy họ ‘khôn ngoan’ quá, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí – một tác phẩm cổ điển lớn của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam: Tào Tháo dàn gần một triệu quân trên sông Trường Giang định chiếm Ðông Ngô. Chu Du, đại tướng Ðông Ngô muốn dùng hỏa công để phá quân Tào nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào rời rạc, chạy kịp, đốt không hết được; bèn nhờ Bàng Thống xúi cho thuyền Tào kết lại với nhau. Giữa lúc ấy, quân Tào không quen thủy thổ, say sóng. Tào Tháo hỏi kế. Bàng Thống ‘xúi khôn’ là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại từng mảng, lót ván bên trên người ngựa đi được, quân sẽ hết bệnh. Tháo mừng lắm, nghe lời. Ra tới bờ sông, Thống bị một người nắm áo giữ lại: ‘À anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta hết người không ai biết mưu kế của anh hay sao?’ Bàng Thống giựt mình nhìn lên, thấy đó là Từ Thứ. Rồi tôi kết luận: – Ðất nào cũng có kẻ sĩ. nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua chúng tôi không được sử dụng phù hợp khả năng như bên các ông. Xin ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.

Ông ta nhíu mày: Có, tôi hiểu. Và tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn. Chúng tôi muốn làm ăn một cách cân xứng, không muốn ‘đốt’ ai cả. Nhưng quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt thì họ phải chịu.

Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.

Một lần khác, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko five giá bốn mươi lăm đô, tức gần năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi cười nói đùa: – Ðây là ‘phần thưởng’ cho sự im lặng của tôi?

Ông ta cũng cười, lắc đầu: – Không đúng. Dù không thưởng thì các ông vẫn đứng ngoài rìa, giữ vai trò của người im lặng, không cần phải thưởng.

  • Vậy thì tôi đã có đồng hồ của tôi rồi.
  • Nó đã cũ, nên dùng đồng hồ mới. Hãy tặng chiếc cũ cho một người bạn nào nghèo của ông nếu họ cần tới.
  • Vâng, xin cám ơn, tôi sẽ làm như vậy.

Công việc ký kết hợp đồng tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì ‘ứng trước’ do ông giám đốc khách sạn trao.. Ông bảo tiền hoa hồng dành cho tôi khá hơn, tính theo ngoại tệ, ông ứng trước một phần để tôi xây xài. Trên nguyên tắc, nếu chúng tôi giới thiệu được khách cho khách sạn thì được hưởng năm phần trăm, kêu là tiền huê hồng, tính theo tổng số tiền phòng các ngày khách đã ở trong khách sạn. Ðằng này tôi không giới thiệu nhưng ông giám đốc cũng tính theo tỷ lệ đó, coi như tiền thưởng. Làm ở những chỗ có đô la ra vô thì sướng thế đấy, toàn những món bất ngờ mà mình được hưởng chứ tôi có công gì đâu. Ðồng thời ông cũng cho tôi, biết còn hai ngày nữa, tức sáng thứ Hai, ông khách sẽ lên máy bay về nước.

Hôm đó là chiều thứ Bảy, một buổi chiều thành phố thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ và bảo tôi:

  • Ông bạn luật sư thân mến – ông vẫn nói tiếng Anh, không dùng tiếng Nhật – Tôi sắp về nước. Tôi nghe nói người Việt Nam có món ‘thịt cầy’ (dog meat) ngon lắm. Nếu ông bạn vui lòng hướng dẫn tôi đi thưởng thức được thì tôi rất lấy làm sung sướng.

Tôi ngạc nhiên trợn tròn mắt: – Dog meat? Theo.. theo ý ông nói, đó…đó là món..’Thịt của con chó ?’

Ông ta mỉm cười:- Ðúng vậy, ‘thịt của con chó’, nếu tôi không lầm.

Ðoạn, ông ta nói tiếp: – Theo tôi hiểu, nhà văn Trung Quốc Lin Yuyang (Lâm Ngữ Ðường) có lẽ cũng thích món ‘thịt của con chó’ nên ông ta viết một truyện ngắn rất nổi tiếng lấy tên ‘Tướng Quân Thịt Chó’, tôi có đọc qua.

Ối giời ơi, thế này thì chết. Tôi như từ trên trời rơi xuống đất. Mặc dầu gốc dân Thái bình Thái lọ, rất khoái cái món ‘nai đồng quê’ nhưng tôi giải thích cho ông khách oái oăm biết rằng thường thường các quán ‘nai đồng quê’ không phải là những nhà hàng sang trọng, nếu chúng tôi dẫn khách đến đấy, lỡ có chuyện gì xảy ra thì sẽ bị cho nghỉ việc.

  • Tất nhiên, ngoài món ‘dog meat’, chúng tôi còn có các đặc sản khác như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn v.v… rất ngon, chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn.

Ông ta gật đầu: – Cũng được. Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi. Và tôi lái xe.

Ối giời đất ơi, lại nguy hiểm nữa. Tôi báo cáo với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu lè lưỡi: – Chết, ông ấy có biết đường đâu mà lái ? Người nước ngoài mà lái xe trên đường phố Sài Gòn thì coi như tiêu luôn sinh mạng. Thôi, ông Trình cố nói kheo khéo giành lấy tay lái.

Tôi lái xe. Ông giám đốc Nhật ngồi bên cạnh cứ tủm tỉm cười vì nghe tôi kể lại những lời của ông quản lý. Chúng tôi tới quán Thanh Sơn ở đường Nguyễn Cư Trinh. Ðây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước đây thường rất nổi tiếng với món la-de đặc – la-de ướp lạnh đến mức tự nó đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai cho chảy ra, không phải bỏ đá – và những món đặc biệt miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.

Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn gật đầu tấm tắc khen ngon thì bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số nghe tiếng nước ngoài bèn bu lại mời mua. Ông ta lấy một gói ‘ba số’ và đưa tờ năm đô la.

  • Nô, nô, cái này năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, hổng đủ tiền thối !

Ông ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ ‘thánh kiu’ rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia phần bèn để cả xấp vé trước mặt ông, tý tay như nằm nửa người trên bàn mời mua bằng được. Ông lắc đầu.

  • Ông này sắp về nước không mua vé số đâu em ạ.

Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm đi ngang bèn ‘bợp’ nhẹ cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Ối cha, lúc nó đứng dậy, khuỷu tay loạng quạng thế nào đụng phải đĩa lươn um, hất ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng nhưng bẩn. Nhòe nhoẹt. Tôi bực quá đâm gắt:

  • Thấy mẹ người ta..Ðã bảo mà ! Làm thế nào bây giờ ?

Nhà hàng đem thau nước ra lau giùm. Xong, ông khách mỉm cười, im lặng ngồi hút thuốc lá. Cái mặt tôi lúc đó chắc ‘dễ thương’ quá. Ông hỏi:

  • Bạn vừa mới nói ‘th-ay me’ (thấy mẹ). Vậy ‘th-ay me’ là gì ? Một tiếng lóng hay một câu chửi ?

Trời đất, đang bực, đến bố tôi cũng không biết ‘thấy mẹ’ là một tiếng lóng hay một câu chửi. Tôi trả lời đại ‘thấy mẹ’ là… ‘see mother !

Ông ta lắc đầu: – No, it isn’t. In Vietnamese, ‘thấy mẹ’, it means…

Tôi giật mình. Hai tiếng ‘thấy mẹ’ ông ta phát âm tiếng Việt rất chuẩn… y như người Việt. Tôi ngạc nhiên: – Do you understand Vietnamese ?

Ông ta mỉm cười, gật đầu: – Yes, I know very well. Because…

Rồi như không nín cười được nữa, ông ta bỗng cười sằng sặc và… tuôn ra một tràng tiếng Việt pha lẫn tiếng chửi:

  • Bởi vì tao là một thằng người Việt trăm phần trăm không có tí ti máu nước ngoài nào hết. Cái thằng ngốc ! Tao với mày học với nhau hằng bao nhiêu năm ở Chu Văn An mà máy không nhận ra tao. Rõ thật !…

Một tia sáng chợt thoáng qua trong óc tôi:

  • Cậu… cậu là thằng Quân đen ?
  • Chứ còn đứa nào vào đây nữa!
  • Hèn chi…
  • Hèn chi cái gì ?
  • Tớ hơi ngờ ngợ, trông cậu quen quá, ngay từ lúc đầu mới gặp cậu ở chân cầu thang máy bay.Thì ra…
  • Thì ra ‘cố nhơn’ phải không? Còn tớ, vừa trông thấy cậu tớ nhận được liền.
  • Xin lỗi, tại tớ yên trí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên Kwann Tae Palms…
  • Dễ lắm, cậu nhớ tên tớ là gì không ? – Phạm Thế Quân. Lúc nhập quốc tịch Mỹ tớ đùa nghịch đổi cái tên Quân Thế Phạm thành Kwann Tae Palms chơi chơi cho vui, chỉ có vậy thôi không có gì khó.
  • Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật ?
  • Ừ. Vợ tớ người Nhật.

Quân kể cho tôi nghe: Hồi đó học xong Kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm kỹ sư công chánh tại một tỉnh miền Trung xa lắc. Ngày 30 tháng 4, gặp tàu, hắn nhảy sang Mỹ, vừa đi làm vừa cố gắng học về ngành điện tử. Trong trường hắn học có một cô nữ sinh viên người Nhật, hai bên quen nhau, thương nhau, sau khi tốt nghiệp bèn làm đám cưới. Hắn leo dần lên được chức phó giám đốc của một công ty Mỹ. Vợ chồng hắn có đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư giục thu xếp đem con về chơi bên Nhật. Té ra bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn có nhiều chi nhánh ở Nhật cũng chuyên về điện tử. Bây giờ vợ chồng hắn đã có đứa con thứ hai – con trai – rất xinh và hiện hắn đang làm giám đốc một công ty chi nhánh cũng nằm dưới quyền ông già…

  • Ông bố vợ tớ lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam nhưng lại sợ tớ người Việt, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ông ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng ‘ông giám đốc’ đã già nên rất khó tánh.
  • Tớ hiểu. Người nước ngoài họ vẫn thận trọng như vậy.

Hắn cười hề hề:- Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này gặp cậu, tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm, hai thằng chó chết tụi mình gặp nhau…

  • Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là một thằng chó chết.
  • Chó chết chứ sao lại không chó chết ? Một đời du tử…

Gương mặt hắn hơi buồn. Hắn khẽ thở dài:Tớ xin lỗi cậu về việc làm mặt xa lạ, bữa nay mới bày chuyện ‘dog meat’ để gặp riêng cậu. Từ hôm gặp cậu tớ rất mừng, đinh ninh thế nào cũng sẽ nhờ cậu một việc…

  • Chuyện gì ? Tớ sẵn lòng.
  • Như cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, đôi mắt đã lòa, ở với ông anh cả tớ ở Nam Ðịnh ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm.
  • Có, tớ hiểu. Làm con thì ai cũng thương cha mẹ.
  • Cám ơn cậu. Ngày trước gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, lai xai lưới xưới buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo hiếu gì được, đến lúc hữu sự thì lại nhảy đi sống lấy một mình không biết gì đến mẹ. Ðiều đó tớ rất ân hận. Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh cả tớ. Từ đấy tớ luôn gửi quà và tiền về để gia đình ông anh có phương tiện phụng dưỡng mẹ tớ. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là một chuyện khác..
  • Cậu nghĩ rất đúng. Rồi sao nữa ?
  • Tớ định nhờ cậu đem một món tiền khá lớn ra Bắc đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường khang trang đẹp đẽ theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ.
  • Ðược.
  • Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy ra sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc rất đồng ý. Việc đó rất dễ, với con mắt một luật sư cậu chỉ liếc qua là biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Rồi cậu sẽ liên lạc với tớ sau. Nhưng chuyện chính là về Nam Ðịnh, tớ giữ kín không cho ai biết. Khoảng chín giờ sáng mai tớ đem tiền đến nhà cậu, ở chơi một ngày, tụi mình chuyện trò thật kỹ. Cậu nắm vững mọi việc rồi là sáng thứ Hai tớ lên máy bay về Nhật. Bà cụ cậu vẫn khỏe chứ ?
  • Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ bên Mỹ.
  • Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào chào cụ một chút rồi mai tớ đến. Cậu vẫn ở Tân Ðịnh?
  • Ừ.

Hôm sau hắn tới. Buổi chiều, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu:

  • Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật… À này, Trình, cậu còn nhớ bài ‘Du tử ngâm’ của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Ðệ thất Ðệ lục ở Chu Văn An không nhỉ ?

Tôi cười: – Nhớ chứ ! Không thuộc, không viết ra chữ, cụ mắng muốn chết. Ðứa nào mà chẳng nhớ…

Tay hắn đang cầm cây que. Hắn gõ nhè nhẹ lên chiếc song sắt trên thành lan can và đọc khe khẽ:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy

(Sợi chỉ trong tay mẹ hiền
May thành chiếc áo trên thân người con du tử
Lúc con ra đi mẹ khâu thật kỹ
Vì sợ lâu ngày con chậm trở về
Nào ai dám nói một tấc lòng của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân ?)

Mỗi lần nhớ tới bài thơ ấy tớ lại ứa nước mắt, cậu ạ.

  • Chuyện, thơ Ðường. Ngay đến cụ Nguyễn Du cũng còn phải mượn ý viết thành câu thơ trong truyện Kiều: ‘Dám đem tấc cỏ báo đền ba xuân’ huống chi tụi mình !

Hắn thở dài:

  • Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại miên man nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất sớm hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một thân một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ (chắc cậu đã biết), lúc ấy hãy còn nhỏ mới lên bốn; còn tớ lên sáu. Khổ lắm.. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp đệ thất trường Chu Văn An là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không phải bữa đói bữa no vậy mà như cậu thấy, trong túi tụi mình hàng ngày đi học chẳng có đứa nào có lấy một xu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho một đồng thì hai đứa mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa…
  • Có, tớ biết. Hôm ông anh cả vào chơi đón cụ ra Bắc, tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé tàu hỏa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Ðịnh. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế cứng mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không được nhúc nhích, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại…

Quân chớp mắt, hắn cúi mặt như cố che giấu một cái gì đó đang dâng lên trong cổ họng, sau khẽ thở dài nói nhỏ với tôi:

  • Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về, cậu ạ. Ra ngoài ấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy, xin cụ tha thứ cho tớ và nói, năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ, càng sớm càng tốt.
  • Ðược, cậu cứ yên tâm.
  • Ðược ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà để riêng ra đĩa, tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa…

Thế rồi sáng thứ Hai, hắn lên máy bay về Nhật thì sáng thứ Ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi quen tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Hải Vân , đèo Ngang, đầu óc tôi cứ vương mang nghĩ tới hình ảnh lúc hắn lên máy bay.

Chúng tôi đưa tiễn, hắn giơ tay chào tạm biệt ‘Sayônara !’. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ gật đầu cho hắn yên tâm và giơ tay chào tạm biệt: ‘Sayônara!’. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra Bắc, cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y…
Người con nào thì cũng thương mẹ. Tôi yêu bài thơ đó lắm.

**

               Vũ thư Hiên : Bạn cũ!

Vũ Thư Hiên nổi tiếng qua “Đêm Giữa Ban Ngày”, một tác phẩm lột tả nhiều thủ đoạn tàn độc của chế độ CSVN. Sống ban ngày mà luôn có cảm giác ban đêm do lo sợ những rình rập, hãm hại và tinh thần bị khủng bố.

“Bạn cũ” một truyện ngắn đặc sắc, lưu hành đã vài năm, Vũ Thư Hiên lại cho chúng ta thấy rõ hơn những con người “cách mạng vô sản” ngày nay.

Tất cả cũng đều chỉ là chủ thuyết suông, những bánh vẽ khổng lồ.

 Quả là phải đã từng “sống lâu trong Chăn mới biết Chăn có nhiều Rận” như vậy.

Một chuyện kể sống động, hay. Người đọc thấy ngay những phũ phàng giữa Trắng và Đen...

  • Vũ thư Hiên : Bạn cũ!

Nhân vụ Hồ sơ Panama ồn ào, đưa lên đây một truyện cũ để thấy người Việt ta không cần đi tới tận đó để gửi tiền.

Giữa đêm khuya, một hồi chuông réo lên inh ỏi, phang thẳng vào hộp sọ. Như một cú đấm. Tôi bật dậy, đầu óc mụ mị, tôi không biết mình đang ở đâu, có chuyện gì xảy ra. Đến lúc hiểu ra rằng đó chỉ là cái điện thoại cổ lỗ đang rống, tôi mới sờ soạng tìm ống nói.

– Ai đó?

– Hề hề. Tớ đây, tớ đây! – từ đầu dây đàng kia vẳng tới một tràng cười khoái trá và một giọng nói ồ ề – Đang ngủ hả?

– Ngủ.

– Tỉnh dậy đi. Hề hề, cuối cùng rồi tớ cũng vẫn cứ tóm được cậu. Hề hề, đéo nhận ra hả?

– Nhưng “tớ” là ai mới được chứ? – tôi tuyệt vọng gắt lên.

Trên tường, một dẻo sáng hình bình hành. Đó là ánh đèn của căn phòng đối diện, ở tầng thấp hơn, chỗ ở của hai sinh viên người Ả Rập. Văng vẳng một điệu nhạc vùng sa mạc. Họ bao giờ cũng thức khuya.

– Cậu không nhận ra giọng tớ thật? Hay cậu giả vờ?

Tôi tỉnh hẳn. Tôi nổi quạu. Có những người như vậy đấy. Họ tưởng tượng, họ còn đinh ninh nữa kia, rằng họ là người rất quan trọng, rất quý hoá, và thiên hạ ắt phải nhận ra họ từ xa, trong đám đông, phải nhận ra tiếng họ trong điện thoại, và tất nhiên, phải cảm thấy sung sướng và tự hào được họ hân hạnh cho bắt tay.

– Này này, bắt cái đầu lười biếng của cậu làm việc tí đi – giọng ồ ề nọ lại cất lên, không ngớt vui vẻ, nó vang lên trong đêm như ở một ngã ba hoang vắng – Chẳng có lẽ cậu hoàn toàn không nhận ra thằng bạn năm xửa năm xưa là tớ?

Tôi muốn dập mạnh ống nói xuống cho cái anh chàng quan trọng nhưng bất lịch sự bên kia nghe thấy. Mà hắn có nghe thấy không nhỉ? Có lẽ không. Tôi phải làm gì cho hắn hiểu tôi bực đến thế nào. Hắn đang đợi câu trả lời cho câu đố. Tôi thì cóc cần bất cứ câu đố nào được ra cho tôi vào lúc đêm hôm khuya khoắt này.

– Thì nói ngay đi: “tớ” thằng chó nào? – tôi gắt.

Một tràng cười rộ lên ở bên kia đầu dây.

– Cậu đoán đúng rồi đấy – tớ là thằng có tên hiệu của loài chó, nhưng lại từng là bạn của cậu. Bây giờ cậu chỉ còn có việc gọi tên nó ra thôi.

– Này ông bạn vớ vẩn – tôi rên lên trong tuyệt vọng – Kết thúc ngay lập tức cái chuyện ba lăng nhăng chi khươn của ông đi! Tôi đang ngủ. Tôi muốn ngủ. Tôi cần được ngủ. Tôi nhắc lại: tôi không biết ông là ai, tôi cũng cóc cần nhận ra ông là ai. Chấm hết.

Cuối cùng thì anh chàng đùa dai cũng thôi cười. Giọng trịnh trọng, trầm hẳn xuống, hắn tuyên bố:

– Tôtô đây!

– Tôtô?!

Tôi sửng sốt kêu lên.

Tôi tỉnh ngủ hẳn. Ai kia thì có thể, chứ Tôtô? Lẽ nào lại là Tôtô? Tôi thấy hiển hiện trước mặt mình, trong bóng đêm, anh chàng đồng sự gày gò, mặt quắt (như hai ngón tay chéo, theo cách người ta thường nói), da đen xạm, đôi gò má cao, xương xẩu và hàm răng cải mả, một thời sống cùng tôi trong nhà tập thể với những dây phơi quần áo trên mỗi ban công.

Lại một tràng cười nữa, rất giòn giã. Như từ một thế giới khác.

– Nhận ra nhau rồi, hả? Tốt.

Tiếp theo là một câu nói chắc nịch, giống như một mệnh lệnh:

– Nghe đây, tớ đang ở Paris. Phải, ở giữa Paris của cậu. Tớ bận, tớ không có nhiều thời giờ, nhưng tớ rất muốn được gặp cậu, ông bạn thông minh ạ. Hỏi thăm mãi mới có được số điện thoại của cậu đấy. Ngày mai ta gặp nhau, hả?

– Tất nhiên rồi. – tôi vui vẻ – Cậu sang đây từ bao giờ? Và đang ở đâu, Tôtô?

Tôtô nói tên một khách sạn sang, rất sang. Tên của nó ai ở Paris cũng từng nghe. Tôi không có lý do gì để lui tới một khách sạn mà tiền phòng một đêm ở đó đủ cho tôi ăn một tháng, tôi chưa điên. Tôi cũng chưa từng tới đó để gặp ai. Tôi không có, và chắc chẳng bao giờ có bạn giàu như thế.

– Tớ sẽ rảnh vào buổi chiều, từ 5 hoặc 6 giờ – Tôtô nói – Cậu biết chỗ khách sạn rồi chứ? Tớ sẽ chờ cậu trên phòng.

Tôi OK, nhẹ nhàng đặt ống nói xuống, nhưng không ngủ lại được nữa.

Cái sảnh của khách sạn to bằng nửa sân bóng đá, sàn hoa cương bóng loáng, không khí sực mùi các thứ nước hoa, từ Chanel số 5 thơm phức cho tới Poison ngọt lợ, tỏa ra từ những vị khách lịch sự mang cặp da và giày da bóng loáng, những cặp chân thon dài của các tiểu thư và các phu nhân đẹp như người mẫu, cộng với cái nhìn đầy cảnh giác của người gác cửa có màu da Sadam Hussein và bộ ria Iosif Stalin làm tôi cảm thấy rất không thoải mái. May, khi nghe tôi hỏi tên Tôtô thì cô tiếp tân tóc vàng, trắng như bột mì Hà Lan, rất xinh xẻo, mỉm cười dịu dàng với tôi:

– Ồ, ông là bạn ông ấy? Ông ấy là khách quen của chúng tôi. Xin ông vui lòng ngồi đợi.

Và cúi xuống bấm số gọi lên phòng.

Cách mạng thực vĩ đại. Nó chứa rặt những điều bất ngờ. Nó, và chỉ có nó, mới tạo ra sự đổi đời thật sự, làm lộn tùng phèo tất tần tật mọi thứ. Thằng thành ông. Ông thành thằng. Một ông tiến sĩ luật tốt nghiệp ở Pháp khúm núm trước một anh cựu lơ xe chưa học xong bậc tiểu học. Tên ăn cắp vặt ở chợ Đồng Xuân ký quyết định bỏ tù một nhà văn hoá lớn. Tôi đã trông thấy những cảnh như thế bằng mắt mình, và không phải chỉ một lần.

Quên chưa nói: Tôtô là biệt hiệu của ông bạn tôi. Tên thật của hắn là Tô, Nguyễn Văn Tô. Hồi trẻ, chúng tôi có thói quen đặt biệt hiệu cho nhau và rất khoái làm chuyện đó. Phần lớn biệt hiệu được đặt căn cứ vào đặc điểm hoặc tính cách của người. Nhưng cũng có những trường hợp chỉ là do vui miệng. Trước khi mang biệt hiệu Tôtô, hắn có một biệt hiệu khác là Titô, tên tổng thống Nam Tư, do liên tưởng đơn thuần về âm vị, chứ chẳng bao hàm ý nghĩa nào. Nó bị Tô phản đối kịch liệt. Titô lúc bấy giờ là “tên trùm xét lại, tên tay sai đế quốc, tên phản bội đê hèn”, theo cách gọi trong các tài liệu tuyên văn giáo huấn. Thì ra trong con người hắn vẫn sống mãnh liệt một công dân được dạy dỗ chu đáo về chính trị. Khốn nỗi, khi có ai trịnh trọng gọi hắn bằng “anh Tô” thì lại xảy ra phạm huý, vì “anh Tô” lại là bí danh của đương kim thủ tướng, mà thủ tướng lại là bạn của thủ trưởng chúng tôi. Ông này luôn miệng nhắc tới “anh Tô” trong mọi trò chuyện bằng giọng thân mật pha chút suồng sã. Đương kim thủ trưởng không cho phép có một “anh Tô” khác bên cạnh một “anh Tô” đáng kính, bạn ông.

Thế là cái tên Titô nhục nhã ấy được bỏ đi, được đổi thành Tôtô. Ai là người nghĩ ra cái biệt hiệu ấy tôi không nhớ, nhưng nó là một biệt hiệu xấu. Tôtô và Kiki là hai cái tên rất phổ biến được đặt cho những con chó. Những tưởng Tô sẽ lại phản đối, ít nhất thì cũng ngang bằng khi hắn bị gọi bằng Titô, nhưng thật lạ, hắn lẳng lặng chấp nhận.

“Một thằng mang tên loài chó, nhưng từng là bạn cậu”. Hắn vừa nói thế mà.

Tôi uống rất chậm một ly cà phê, thay đổi cách vắt chân mấy lần, mới thấy Tôtô đĩnh đạc bước ra khỏi thang máy. Không thể nào nhận ra người đàn ông phương phi và bóng nhẫy, bộ mặt phì nộn, vận quần áo đúng mốt, đang bệ vệ đi về phía tôi là hắn, là Tôtô. Nhưng đúng là Tôtô, không thể nào trật, chính hắn, với đôi mắt lồi, cặp lưỡng quyền cao, cái miệng cá ngão, cái yết hầu nhô ra thụt vào liên tục cùng với mỗi tiếng nói, cho dù mặt hắn giờ đây có bạnh ra gấp đôi trong sự no đủ. Hồi chúng tôi chơi với nhau, trong thời đại các loại tem phiếu và các thứ tiêu chuẩn trong các thứ bìa ở các thứ cửa hàng, chưa bao giờ hắn béo tốt bằng một phần ba bây giờ.

Tôi đứng lên. Tôtô bước tới. Nhìn nhau trân trân. Cười tươi. Tuy vui mừng là thế, nhưng chúng tôi chỉ ôm lấy nhau vừa đủ chặt như hai quan chức thuộc hai quốc gia không thù hằn mà cũng chẳng thân thiện, trong một nghi thức ngoại giao cứng đờ. Tôi không hình dung cuộc gặp gỡ của hai chúng tôi sẽ diễn ra như thế.

Về phía tôi, quả là tôi có một chút thận trọng, có thể không cần thiết, nhưng tôi nghĩ mình không nên ôm ông bạn năm xưa quá chặt, quá thân thiết, khi chưa biết được sau bao nhiêu nước chảy qua cầu hắn sẽ chọn cách đối xử với mình thế nào. Mà đúng vậy, tôi thấy cái ôm đáp lại của hắn cũng chặt vừa phải, nếu không nói là khá lỏng lẻo.

– Chú được tự do từ giờ đến đêm – ấy là Tô nói với một chàng trai cắp cặp đi theo sau hắn, im lặng như một cái bóng – Nếu cần, tôi sẽ gọi

Chàng trai gày còm, da mai mái, lí nhí vâng dạ, liếc tôi một cái nhanh như chớp giật, rồi lập tức quay gót, đầu cúi thấp. Tôi không thấy cần phải chào hắn ta. Tôi hiểu rằng hắn đã đánh giá đúng tôi, cho nên đã không chào tôi. Tôtô ôm tôi không chặt là phải. Đàng sau Tôtô là thuộc cấp của hắn, mà có thể là những kẻ khác nữa, đang chăm chú theo dõi và xét nét đánh giá những mối quan hệ của hắn.

Dáng đường bệ của Tôtô cho tôi ấn tượng về một quan cách mạng, to tới mức nào tôi không biết, nhưng chắc chắn to. Trong khi tôi nghĩ về Tôtô như thế thì hắn cũng bận bịu với sự đo lường để phỏng đoán về vị trí xã hội cũng như túi tiền của tôi.

– Cậu đói bụng chưa? – giọng ân cần, Tôtô hỏi tôi – Tối nay chúng mình ăn với nhau nhé.

– Chưa đến bữa tối mà. Cậu muốn ăn?

– Ta đi dạo một lát, rồi kiếm cái chén.

Khách sạn của Tô nhìn ra Champs Élysée, đại lộ lớn nhất của Paris, chạy suốt từ cổng chào Kháng chiến cho tới Khải hoàn môn. Ra khỏi cánh cửa quay bằng kính dày để xuống hè, Tôtô đi những bước thoải mái giữa đám khách thập phương, tươi cười như thể Paris hiện nằm dưới quyền uỷ trị của hắn theo một nghị quyết của Liên hiệp quốc.

– Cậu chỉ già đi chứ đéo thay đổi mấy. – Tôtô nhận xét bằng giọng dửng dưng – Tớ có biết tin cậu đi dạy ở Algérie rồi khi về qua Pháp thì tụt lại, xin tị nạn…

– Ờ… – tôi xác nhận.

– Tại sao cậu lại làm như thế nhỉ? Ở trong nước người ta có đối xử tệ hại với cậu đâu. Tớ nghe nhiều tin đồn về cậu lắm. Có cả tin cậu được CIA bảo trợ để … hề hề… để làm công việc cho nó, hề hề, bằng… chuyên môn của cậu. Hoá ra đéo phải, láo toét hết.

– Hừm – tôi nhếch mép cười.

– Mà hình như ở đây cậu đéo … làm ăn được gì – Tôtô nói – Có khi còn gặp khó khăn nữa, phải không?

Tôtô đánh giá không sai. Chỉ cần nhìn bộ quần áo tầu tầu không được giặt ủi thường xuyên hắn cũng thấy tôi thuộc tầng lớp nào. Trong cái nhìn của hắn tôi thấy có ánh thương hại. Tôi thấy cần phải ra ngay lập tức một bản tuyên bố. Cho nó rõ. Cho hết mọi ngộ nhận.

– Tớ sống bình thường – tôi lạnh lùng nói – Dễ chịu. Cậu đã biết tính tớ. Vẫn như trước, tớ là thằng không đòi hỏi nhiều, vì thế không vất vả trong lựa chọn. Tớ có con đường của tớ. Nó khác con đường của cậu. Là lẽ thường. Cảm ơn cậu đã không gọi tớ là tên phản bội. Có phải ở trong nước người ta gọi những thằng bỏ đi như tớ bằng cái tên ấy không? Vậy thì cậu hãy nghe cho rõ: tớ chẳng mang ơn thằng nào thì tớ không thể phản bội thằng nào. Tớ xin đủ tất cả những bản khai lý lịch, những cuộc cật vấn ở phòng tổ chức về tam đại nhà mình, về tư tưởng xét lại, về quan hệ với bọn “Nhân văn – Giai phẩm” …

Tôtô lơ đãng nhìn phố phường, bình thản nghe tôi nói.

– Chuyện xưa rồi. Xưa lắm rồi. Tớ không tìm cậu để nói những chuyện đó – hắn đặt tay lên vai tôi, cười to – Cậu hoàn toàn lạc hậu với tình hình trong nước. Rất lạc hậu. Tất cả đã khác rồi. Bây giờ là một thời đại mới. Mới hoàn toàn. Cậu không tin hả?

Tôi ân hận vì đã nói với hắn bằng giọng hơi nhiều gay gắt.

– Bây giờ người ta đéo có thời giờ để hỏi cậu những câu lẩm cẩm về giáo điều hay xét lại nữa – hắn nói tiếp bằng giọng giảng giải – Cậu muốn giáo điều mấy cũng được, muốn xét lại bao nhiêu cũng xong. Người ta chỉ quan tâm tới cậu nếu như cậu có ý định làm lung lay cái địa vị của họ mà thôi. Ngoài ra họ mặc. Nếu như có ai đó trong bộ máy hỏi cậu câu nào thì tớ dám chắc nó chỉ hỏi cậu có bao nhiêu đô la, cậu từ nước ngoài về mà. Nó hỏi thế không phải để chôm của cậu đâu, tiền của cậu liệu được mấy nả? Việt kiều rách bỏ mẹ, so thế nào được với các đại gia trong nước. Nếu người ta có chút quan tâm thì phải hiểu là người ta muốn xét xem cậu có xứng đáng được giao thiệp với họ không? Thế thôi. Thật đấy, đéo có xã hội nào thoáng bằng Việt Nam bây giờ, ngay cả mấy anh đế quốc già nua như Pháp, Đức. Cậu cứ nhìn vào tớ đây này, tớ vẫn sống được, còn sống phây phây nữa, sống đẹp nữa là đằng khác, hề hề…

Hắn nói không sai. Tất cả đã khác. Bằng chứng là hắn đang nện gót giày cồm cộp bên cạnh tôi, giữa “kinh thành ánh sáng”, như chúng tôi thường gọi Paris trong những mộng mơ một thời trai trẻ.

Hắn đưa mắt nhìn ra cái cột đá Ai Cập thẳng đuột ở quảng trường Concorde.

– Cậu nói tiếng Tây nhờ ai đó bấm cho mấy pô cậu với tớ làm kỷ niệm. Đừng để ý thái độ của tớ khi có mặt mấy thằng dưới quyền. Đi với chúng nó tớ vẫn cứ phải giữ ý. Đéo tin được chúng nó đâu.. Mình mà ngã xuống là chúng nó dẫm lên xác ngay. Cậu là bạn tớ, với bạn, tớ có thể sống thật…

Tôtô nói bằng giọng tâm sự. Tôi tin hắn nói thật.

Tôi như ở trong một giấc mơ quái quỷ, chẳng có gì đang diễn ra giống thật. Tôi sẵn sàng tin ở cuộc gặp gỡ với bất kỳ ai, trừ Tôtô.

– Cậu cũng đã khác – tôi nói – Khác lắm.

Tôtô ngửa mặt lên trời mà cười:

– Hề hề… Tớ vẫn là tớ thôi. Khác là khác cái bề ngoài. Cậu cũng không khác. Cậu vẫn i xì là cậu ngày trước. Cậu là một thằng lãng mạn cốc đế. Cậu chẳng bao giờ sống với thực tế. Cậu sống với nó, nhưng lại không thừa nhận nó. Cho nên cậu luôn luôn thất vọng. Và thất bại. Cậu luôn luôn cho rằng cuộc đời phải thế này thế nọ như cậu hình dung ra, không phải theo sách này thì sách khác. Cậu đã thích chủ nghĩa cộng sản, đúng không nào? Vì cậu thèm khát một xã hội công bằng, đầy ắp tự do. Thế rồi cậu chán nó vì thấy nó trong thực tế đếch phải như cậu hình dung.

Hắn quở quang tôi một chặp. Với những câu chữ của một người cảm thấy mình có toàn quyền làm chuyện đó.

– Tớ muốn sống thật, như mình tin tưởng sẽ được sống như thế – tôi nói, ngậm ngùi nhớ lại một thời đã qua. Không biết hắn kiếm đâu ra ngần ấy khôn ngoan trong thời gian chúng tôi xa nhau? – Đúng là tớ lý tưởng hoá cuộc sống. Tớ lộn mửa khi nghe chúng nó xưng chúng nó chiến đấu vì hạnh phúc của đồng loại, trong khi chúng tự đặt mình lên trên đồng loại để vớt hết váng sữa mà đồng loại chỉ được phép đứng nhìn…

– Ha ha! – Tôtô cười vang – Lãng mạn chửa? Cậu hãy chỉ cho tớ một thằng sống vì người khác coi. Tớ dám chắc cậu chẳng chỉ ra được lấy một thằng. Một nửa thằng cũng không. Ở đời này, cậu ơi, thằng đéo nào cũng chỉ sống vì nó hết. Cậu tưởng mấy ông lãnh tụ của chúng ta tuyên bố họ chiến đấu vì chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ là họ nói thật sao? Đừng hòng. Đéo có cái ấy đâu, nói thật cho cậu biết, đéo có là đéo có.

Tôi nhớ ngày đầu tiên gặp Tôtô. Hắn từ Nghệ An ra, đen đủi, gày còm, bộ mặt chất phác, giọng nói nhỏ nhẹ. Bây giờ hắn là một người Hà Nội, nhưng là người Hà Nội hiện đại, bằng chứng là hắn đéo liên tục, trong mỗi câu nói. Điều tôi còn thắc mắc là trong cái sự đổi đời đang diễn ra ở quê hương, cơ hội vàng nào đã làm cho hắn trở thành một ông lớn như bây giờ?

Tôi bảo:

– Tớ hiểu cậu chứ. Từ ngày ấy kìa. Cậu là thằng giỏi. Cậu giỏi ở chỗ biết thích nghi hơn bất cứ đứa nào trong tụi mình. Ngay từ hồi ấy cậu đã chứng tỏ khả năng thích nghi với mọi thể chế, mọi thời đại. Cậu có thể sống ung dung bên Stalin, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, thậm chí cả Hitler…

– Hề hề… Lại đá xéo tớ rồi.

– Tớ còn nhớ chuyện cậu đã hăng hái thế nào trong vụ bắn ông chú ruột trong cải cách ruộng đất, chính cậu kể tớ nghe mà. Lại cũng cậu xung phong đi sửa sai hăng hái thế nào nữa… ở một vùng khác. Cái ảnh Fidel Castro vẫn còn treo trong phòng đấy chứ?

 – Hề hề… Cậu có một trí nhớ kinh hoàng. Bây giờ tớ có một ngôi nhà lớn nhiều phòng, và trong phòng ngủ của tớ toàn treo tranh gái đẹp- – Gu bây giờ khác.

Tôi muốn bỏ về. Nhưng tôi không bỏ về. “Tha hương ngộ cố tri”, nỗi nhớ quê hương, hay là những kỷ niệm quá khứ giữ tôi lại với hắn, tôi không biết. Tôi nhớ đến những năm chúng tôi cùng công tác tại một viện nghiên cứu vật lý hạt nhân. Hai thằng tôi làm việc chung một phòng. Cả hai đều là những đứa làm việc chăm chỉ. Hắn còn là một đứa hay giúp đỡ mọi người. Ai gặp khó cũng có thể tìm được ở hắn người đỡ đần. Cấp trên quý hắn, vì ngoài công tác khoa học với trình độ không xoàng, hắn có thể chữa đồ điện cho gia đình họ, hắn biết cả nghề mộc để chữa bàn ghế, biết thông cống cho nhà họ, biết đi xếp hàng từ sáng sớm để mua giúp họ một món hàng hiếm. Cũng chính hắn được thủ trưởng giao việc viết dự án chế tạo bom hạt nhân cho Việt Nam, theo một chỉ thị riêng của tổng bí thư đảng.

Tôi không được như hắn. Tôi là thằng không có ích cho các thứ cấp trên, trưởng phòng hay giám đốc. Đã thế, tôi lại có cái tật mê văn chương, thích đọc sách, thích giao du với văn nghệ sĩ. Lĩnh vực hạt nhân là bí mật quốc gia cho nên cơ quan chúng tôi được nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngoài nhân viên bảo vệ chính thức còn có nhan nhản công an mật dưới mọi vỏ bọc không cần thiết. Chúng tôi đều biết thừa cô văn thư, hay anh tổ chức kia là ai, bởi vì nếu chúng tôi quá ngu thì họ cũng úp mở cho chúng tôi biết họ là ai.

Điều tôi hoàn toàn không ngờ là những quan hệ cá nhân của những cán bộ quèn như tôi mà cũng bị đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đảng. Kiểm soát ngầm, nhưng là kiểm soát. Anh bạn tôi yêu cô con gái một nhà tư sản, lập tức được phòng tổ chức gọi lên góp ý. Góp ý rồi, anh ta cứ yêu, thế là bị thuyên chuyển công tác, tất nhiên là một công tác không ra gì, ở một nơi không ra gì. Nhà thơ Xuân Diệu hay nhà văn Nguyễn Khải đến chơi với tôi thì chẳng ai nói. Nhưng chỉ cần một lần tôi mời ông Trần Dần với ông Phùng Quán tới phòng tôi ăn cơm, rồi vì rượu say hai ông lăn ra ngủ lại, thế là mọi sự lộn tùng phèo. Phòng tổ chức gọi tôi lên kiểm điểm vì tội quan hệ với những phần tử phản động. May mà tôi có ông anh con chú con bác làm trên bộ bảo lãnh nên mới lọt lưới trong đợt nhà nước tuyển cán bộ đi Algérie dạy học.

– Đừng cãi nhau với tớ. Đúng là tớ thích nghi được với mọi chế độ. Mà tại sao lại không thích nghi? Thích nghi là tốt chứ. Chúng ta là người, mà con người là động vật đặc biệt, nó duy nhất thích nghi được với mọi hoàn cảnh. Có con đéo nào được như thế? – Tôtô trích dẫn Dostoevsky – Mà thích nghi có gì khó?

Tôi nhún vai. Tôi bận tìm một tính từ chính xác cho loại người như Tôtô. Hình như người ta thường dùng cụm từ “khuyển nho”. Cứ nhập đại từ cinic của thế giới mà hay. Viết cinic hay xi ních cũng được. Thói quen sẽ khẳng định chỗ đứng cho nó.

Trời tối dần. Đã lâu rồi tôi không có dịp ngắm cảnh Paris khi chiều xuống. Nó thật đẹp trong sự hoà trộn giữa ráng chiều và ánh đèn. Thành phố như được mạ vàng mười. Hoặc bằng giấy trang kim, nếu nhìn bằng con mắt yếm thế.

Tôtô dẫn tôi vào một nhà hàng sang trọng. Chúng tôi kiếm một bàn trong góc khuất. Người bồi già hình như đã quen với Tôtô, lập tức xuất hiện, nụ cười thật tươi:

– Thưa ông dùng gì ạ?

– Như mọi khi. Một chai vang tốt, anh chọn cho tôi. Nếu không có gì hay hơn thì Margaux Cru Bourgeois. Và đừng quên patê gan ngỗng. Anh biết chọn loại nào mà.

– Có ngay, thưa ông.

Trong bữa ăn, Tôtô hỏi tôi:

– Cái nhà của ông cụ cậu ở phố Huế, cậu tính sao?

Ngôi nhà lớn của gia đình tôi bị trưng dụng hồi cuộc chiến tranh Việt-Pháp kết thúc, tôi đã quên phứt. Không quên cũng chẳng được. Ông cụ bà cụ mất, tôi là người thừa kế duy nhất.

Chính quyền cách mạng trưng thu ngôi nhà, cho tôi một căn phòng ở khu tập thể cơ quan. Căn phòng ở đầu hồi khá rộng, có hai cửa sổ ở hai cạnh, đến nỗi nhiều bạn đồng sự phát ghen. Ông thủ trưởng sáng suốt bèn ghép thêm một người vào ở cùng để tránh mâu thuẫn nội bộ. Người ở cùng tôi là Tôtô.

– Tớ quên nó rồi.

– Ơ hay, sao lại quên? Nhà nước bây giờ có chủ trương trả lại các nhà đã trưng thu hoặc trưng dụng đấy. Giấy tờ còn cả chứ?

– Còn. Để ở Hà Nội.

– Cậu nên đòi lại.

– Đòi sao được?

– Cậu làm cái giấy uỷ quyền. Tớ sẽ đòi cho cậu.

Tôi ngừng nhai, nhìn Tôtô. Hắn xắn miếng gan ngỗng ngọt như xắn một lát bơ tươi.

– Nhưng lấy lại làm gì? Tớ đâu có định về.

– Cậu dại bỏ mẹ. Cậu có biết bây giờ giá trị nó là bao nhiêu không?

Hắn nói một con số khủng khiếp, quy ra vàng và đô la.

– Đã có bao nhiêu hộ đang ở đó. Đòi lại bây giờ để lấy tiền cho thuê à? Cậu có nhớ nhiều người đã phải xin hiến nhà để khỏi phải sửa chữa vì tiền cho thuê không đủ để sửa chữa không?

– Lại cũng xưa rồi. Cậu sẽ lấy lại được nhà bằng một bài toán. Bao nhiêu sẽ cho các hộ phải ra đi? Bao nhiêu để bôi trơn bộ máy, từ dưới lên trên? Bao nhiêu cho khâu trung gian? Còn lại là của cậu. Tối thiểu cũng còn lại vài trăm ngàn đô. Không ít đâu. Coi như của từ trên trời rơi xuống.

Tôi nhìn Tôtô. Hình như chữ trưởng thành không đủ để nói về hắn.

– Cậu ở khâu nào?

Hắn nhìn lại tôi bằng cặp mắt ráo hoảnh:

– Tất nhiên, ở khâu trung gian. Mặc dầu cậu là bạn, nhưng thời đại mới, khác xưa rồi, đéo có thằng nào làm không cho thằng nào.

– Tớ sẽ nghĩ về chuyện này.

Tôtô có vẻ không bằng lòng.

– Còn phải nghĩ gì nữa? Cậu may mắn có tớ là bạn.

Tôi không dám chắc như thế. Nhưng tôi không nói ra.

Lúc ăn tráng miệng, Tôtô lờ đờ nhìn tôi:

– Giấy uỷ quyền cậu nhớ phải lấy dấu công chứng hẳn hoi mới được đấy nhá. Công chứng ta, ở lãnh sự quán, không phải công chứng Tây để phải công chứng bản dịch, lằng nhằng. Tớ sẽ giúp cậu giải quyết cái nhà. Giúp là chính, chứ chuyện đòi nhà lủng củng vô cùng, mất thời giờ vô cùng. Được cái tớ đông quân, tớ sai chúng nó chạy. Tớ sẽ lấy giấy uỷ quyền vào lần sau, hả?

– Cậu hay qua Paris lắm à?

– Như cơm bữa. Tớ đi khắp. Thuỵ Sĩ, Đức, Tiệp, Ba Lan, Nga…

– Để làm gì?

Hắn nháy mắt với tôi:

– Biết nhiều thì chóng già. Hồi trước tớ phải nằm chết dí ở Lausanne và Genève. Buồn như chấu cắn. Bây giờ thì phải đi cả Nga. Moskva, Petersburg, Kiev, Minsk, Riga… Ở Nga bây giờ hỗn loạn. Nhiều bố già, không biết nên tin thằng nào, thằng nào là quan trọng. Không như ở ta. Thế mà trước kia là nước xã hội chủ nghĩa anh cả đấy. Nhưng việc cần đi thì phải đi.

– Đi làm gì?

Tôtô cúi xuống mặt bàn, thì thào:

– Làm việc với các ngân hàng. Gửi mỗi nơi một ít.

Tôi trợn mắt nhìn Tôtô. Một lần nữa hắn làm tôi ngạc nhiên. Không lẽ bây giờ, mới có một ít năm, mà hắn đã kịp giàu đến thế?

Tôtô đọc được ý nghĩ trong mắt tôi. Hắn lấy khăn chùi mép và nói:

– Cậu ngây thơ lắm. Tớ không giàu đến thế đâu. Nhưng có những người giàu cần đến tớ. Và tớ đã dây máu thì tớ ăn phần.

– Gửi cả ở những ngân hàng không chắc chắn?

Hắn nheo mắt cười tôi:

– Bố khỉ. Tây nó đã dậy: trứng không nên để trong một giỏ. Có thế mà không biết.

Chúng tôi đứng lên. Tôtô cho bồi tiền bo bằng một bữa ăn đàng hoàng cho tôi. Người bồi rạp mình chào hắn.

Lúc chia tay, Tôtô khuyên tôi:

– Hãy chấp nhận thực tế như nó có. Đừng nghĩ tới những khái niệm trừu tượng. Dân chủ, tự do là cái khỉ khô gì. Vô ích. Chiến tranh qua rồi. Cậu lại muốn một cuộc chiến tranh mới hay sao? Cho dù là để lập một trật tự mới theo ý cậu, và những thằng dở hơi nào đó. Tớ thì tớ đéo muốn. tớ chỉ muốn làm tiền. Cậu dằn vặt mình mãi làm gì? Tại sao cậu không thể coi đảng cộng sản như một triều đình phong kiến? Và Bộ Chính trị như một ông vua, hoặc một hoàng đế, với một tổng bí thư là cái đầu, số còn lại là tứ chi, còn các uỷ viên trung ương là hoàng tộc. Cậu cứ nghĩ như thế đi thì mọi sự sẽ trở thành đơn giản. Đất nước ta có bao nhiêu năm do vua chúa cai trị? Có chết ai đâu. Các cụ nhà ta vẫn sống, vẫn sinh con đẻ cái, hề hề, mới có chúng ta ngày nay chứ. Nếu cậu ở lại với triều đình, cậu cũng vẫn có một chức quan, không to lắm thì cũng to vừa đấy. Nếu có phải hô “Thánh thượng vạn tuế!” thì ta hô, mất gì của bọ?

Tôi nín lặng. Tôi còn biết nói gì?

Tôtô ôm chặt tôi, hắn còn hôn lên hai má tôi nữa. Có lẽ hắn yêu tôi thật. Tại sao lại cứ phải nghĩ rằng hắn tìm tôi chỉ vì ngôi nhà ở phố Huế?

“À demain”, hắn nói.

“À demain” tôi đáp. Ờ thì hẹn gặp lại, ngày mai. Nhưng ngày mai nào? Chẳng lẽ ngày mai sẽ lại vẫn như hôm nay?

Vũ Thư Hiên

You received this message because you are subscribed to the Google Groups “DiendanTuoiHac” group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to xomnhala_yamaha+unsubscribe@googlegroups.com.
To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/xomnhala_yamaha/CAEuWwbg2p84wi3xXZLfgzazOk95_%2BdPM2JVYwTwZzPNEEf1zew%40mail.gmail.com.

       

  L Bui <buiducly@comcast.net>

To:Anthony T. Le

Cc:Hội Kỷ Sư Xây Dựng Trẻ Việt Nam,Ban Biên Tập tgphanoi-org,Bầu Bí Tương Thân Hội,Việt Nam Thời Báo (IJAVN),Báo tuổi trẻ

Oct. 5 at 1:51 p.m.

Đau thật  !!

Toàn là kẻ tầm thường theo voi đớp bả mía. Gió chiều nào, bịt tai, che mặt, quên cả lương tri .

Khuyến dụ kẻ tham lam mất lý trí.

Nếu phải đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai . (NBH)

On October 5, 2019 at 9:11 AM “Anthony T. Le” <12dedication@gmail.com> wrote:

Bạn, 

Bạn cũ!

———- Forwarded message ———
From: T P
Date: Fri, Oct 4, 2019, 4:58 PM
Subject:  Bạn cũ!

Vũ thư Hiên : Bạn cũ!

Vũ Thư Hiên nổi tiếng qua “Đêm Giữa Ban Ngày”, một tác phẩm lột tả nhiều thủ đoạn tàn độc của chế độ CSVN. Sống ban ngày mà luôn có cảm giác ban đêm do lo sợ những rình rập, hãm hại và tinh thần bị khủng bố.

“Bạn cũ” một truyện ngắn đặc sắc, lưu hành đã vài năm, Vũ Thư Hiên lại cho chúng ta thấy rõ hơn những con người “cách mạng vô sản” ngày nay.

Tất cả cũng đều chỉ là chủ thuyết suông, những bánh vẽ khổng lồ.

Quả là phải đã từng “sống lâu trong Chăn mới biết Chăn có nhiều Rận” như vậy.

Một chuyện kể sống động, hay. Người đọc thấy ngay những phũ phàng giữa Trắng và Đen…

Vũ thư Hiên : Bạn cũ!

Nhân vụ Hồ sơ Panama ồn ào, đưa lên đây một truyện cũ để thấy người Việt ta không cần đi tới tận đó để gửi tiền.

 

Giữa đêm khuya, một hồi chuông réo lên inh ỏi, phang thẳng vào hộp sọ. Như một cú đấm. Tôi bật dậy, đầu óc mụ mị, tôi không biết mình đang ở đâu, có chuyện gì xảy ra. Đến lúc hiểu ra rằng đó chỉ là cái điện thoại cổ lỗ đang rống, tôi mới sờ soạng tìm ống nói.

– Ai đó?

– Hề hề. Tớ đây, tớ đây! – từ đầu dây đàng kia vẳng tới một tràng cười khoái trá và một giọng nói ồ ề – Đang ngủ hả?

– Ngủ.

– Tỉnh dậy đi. Hề hề, cuối cùng rồi tớ cũng vẫn cứ tóm được cậu. Hề hề, đéo nhận ra hả?

– Nhưng “tớ” là ai mới được chứ? – tôi tuyệt vọng gắt lên.

Trên tường, một dẻo sáng hình bình hành. Đó là ánh đèn của căn phòng đối diện, ở tầng thấp hơn, chỗ ở của hai sinh viên người Ả Rập. Văng vẳng một điệu nhạc vùng sa mạc. Họ bao giờ cũng thức khuya.

– Cậu không nhận ra giọng tớ thật? Hay cậu giả vờ?

Tôi tỉnh hẳn. Tôi nổi quạu. Có những người như vậy đấy. Họ tưởng tượng, họ còn đinh ninh nữa kia, rằng họ là người rất quan trọng, rất quý hoá, và thiên hạ ắt phải nhận ra họ từ xa, trong đám đông, phải nhận ra tiếng họ trong điện thoại, và tất nhiên, phải cảm thấy sung sướng và tự hào được họ hân hạnh cho bắt tay.

– Này này, bắt cái đầu lười biếng của cậu làm việc tí đi – giọng ồ ề nọ lại cất lên, không ngớt vui vẻ, nó vang lên trong đêm như ở một ngã ba hoang vắng – Chẳng có lẽ cậu hoàn toàn không nhận ra thằng bạn năm xửa năm xưa là tớ?

Tôi muốn dập mạnh ống nói xuống cho cái anh chàng quan trọng nhưng bất lịch sự bên kia nghe thấy. Mà hắn có nghe thấy không nhỉ? Có lẽ không. Tôi phải làm gì cho hắn hiểu tôi bực đến thế nào. Hắn đang đợi câu trả lời cho câu đố. Tôi thì cóc cần bất cứ câu đố nào được ra cho tôi vào lúc đêm hôm khuya khoắt này.

– Thì nói ngay đi: “tớ” thằng chó nào? – tôi gắt.

Một tràng cười rộ lên ở bên kia đầu dây.

– Cậu đoán đúng rồi đấy – tớ là thằng có tên hiệu của loài chó, nhưng lại từng là bạn của cậu. Bây giờ cậu chỉ còn có việc gọi tên nó ra thôi.

– Này ông bạn vớ vẩn – tôi rên lên trong tuyệt vọng – Kết thúc ngay lập tức cái chuyện ba lăng nhăng chi khươn của ông đi! Tôi đang ngủ. Tôi muốn ngủ. Tôi cần được ngủ. Tôi nhắc lại: tôi không biết ông là ai, tôi cũng cóc cần nhận ra ông là ai. Chấm hết.

Cuối cùng thì anh chàng đùa dai cũng thôi cười. Giọng trịnh trọng, trầm hẳn xuống, hắn tuyên bố:

– Tôtô đây!

– Tôtô?!

Tôi sửng sốt kêu lên.

Tôi tỉnh ngủ hẳn. Ai kia thì có thể, chứ Tôtô? Lẽ nào lại là Tôtô? Tôi thấy hiển hiện trước mặt mình, trong bóng đêm, anh chàng đồng sự gày gò, mặt quắt (như hai ngón tay chéo, theo cách người ta thường nói), da đen xạm, đôi gò má cao, xương xẩu và hàm răng cải mả, một thời sống cùng tôi trong nhà tập thể với những dây phơi quần áo trên mỗi ban công.

Lại một tràng cười nữa, rất giòn giã. Như từ một thế giới khác.

– Nhận ra nhau rồi, hả? Tốt.

Tiếp theo là một câu nói chắc nịch, giống như một mệnh lệnh:

– Nghe đây, tớ đang ở Paris. Phải, ở giữa Paris của cậu. Tớ bận, tớ không có nhiều thời giờ, nhưng tớ rất muốn được gặp cậu, ông bạn thông minh ạ. Hỏi thăm mãi mới có được số điện thoại của cậu đấy. Ngày mai ta gặp nhau, hả?

– Tất nhiên rồi. – tôi vui vẻ – Cậu sang đây từ bao giờ? Và đang ở đâu, Tôtô?

Tôtô nói tên một khách sạn sang, rất sang. Tên của nó ai ở Paris cũng từng nghe. Tôi không có lý do gì để lui tới một khách sạn mà tiền phòng một đêm ở đó đủ cho tôi ăn một tháng, tôi chưa điên. Tôi cũng chưa từng tới đó để gặp ai. Tôi không có, và chắc chẳng bao giờ có bạn giàu như thế.

– Tớ sẽ rảnh vào buổi chiều, từ 5 hoặc 6 giờ – Tôtô nói – Cậu biết chỗ khách sạn rồi chứ? Tớ sẽ chờ cậu trên phòng.

Tôi OK, nhẹ nhàng đặt ống nói xuống, nhưng không ngủ lại được nữa.

Cái sảnh của khách sạn to bằng nửa sân bóng đá, sàn hoa cương bóng loáng, không khí sực mùi các thứ nước hoa, từ Chanel số 5 thơm phức cho tới Poison ngọt lợ, tỏa ra từ những vị khách lịch sự mang cặp da và giày da bóng loáng, những cặp chân thon dài của các tiểu thư và các phu nhân đẹp như người mẫu, cộng với cái nhìn đầy cảnh giác của người gác cửa có màu da Sadam Hussein và bộ ria Iosif Stalin làm tôi cảm thấy rất không thoải mái. May, khi nghe tôi hỏi tên Tôtô thì cô tiếp tân tóc vàng, trắng như bột mì Hà Lan, rất xinh xẻo, mỉm cười dịu dàng với tôi:

– Ồ, ông là bạn ông ấy? Ông ấy là khách quen của chúng tôi. Xin ông vui lòng ngồi đợi.

Và cúi xuống bấm số gọi lên phòng.

Cách mạng thực vĩ đại. Nó chứa rặt những điều bất ngờ. Nó, và chỉ có nó, mới tạo ra sự đổi đời thật sự, làm lộn tùng phèo tất tần tật mọi thứ. Thằng thành ông. Ông thành thằng. Một ông tiến sĩ luật tốt nghiệp ở Pháp khúm núm trước một anh cựu lơ xe chưa học xong bậc tiểu học. Tên ăn cắp vặt ở chợ Đồng Xuân ký quyết định bỏ tù một nhà văn hoá lớn. Tôi đã trông thấy những cảnh như thế bằng mắt mình, và không phải chỉ một lần.

Quên chưa nói: Tôtô là biệt hiệu của ông bạn tôi. Tên thật của hắn là Tô, Nguyễn Văn Tô. Hồi trẻ, chúng tôi có thói quen đặt biệt hiệu cho nhau và rất khoái làm chuyện đó. Phần lớn biệt hiệu được đặt căn cứ vào đặc điểm hoặc tính cách của người. Nhưng cũng có những trường hợp chỉ là do vui miệng. Trước khi mang biệt hiệu Tôtô, hắn có một biệt hiệu khác là Titô, tên tổng thống Nam Tư, do liên tưởng đơn thuần về âm vị, chứ chẳng bao hàm ý nghĩa nào. Nó bị Tô phản đối kịch liệt. Titô lúc bấy giờ là “tên trùm xét lại, tên tay sai đế quốc, tên phản bội đê hèn”, theo cách gọi trong các tài liệu tuyên văn giáo huấn. Thì ra trong con người hắn vẫn sống mãnh liệt một công dân được dạy dỗ chu đáo về chính trị. Khốn nỗi, khi có ai trịnh trọng gọi hắn bằng “anh Tô” thì lại xảy ra phạm huý, vì “anh Tô” lại là bí danh của đương kim thủ tướng, mà thủ tướng lại là bạn của thủ trưởng chúng tôi. Ông này luôn miệng nhắc tới “anh Tô” trong mọi trò chuyện bằng giọng thân mật pha chút suồng sã. Đương kim thủ trưởng không cho phép có một “anh Tô” khác bên cạnh một “anh Tô” đáng kính, bạn ông.

Thế là cái tên Titô nhục nhã ấy được bỏ đi, được đổi thành Tôtô. Ai là người nghĩ ra cái biệt hiệu ấy tôi không nhớ, nhưng nó là một biệt hiệu xấu. Tôtô và Kiki là hai cái tên rất phổ biến được đặt cho những con chó. Những tưởng Tô sẽ lại phản đối, ít nhất thì cũng ngang bằng khi hắn bị gọi bằng Titô, nhưng thật lạ, hắn lẳng lặng chấp nhận.

“Một thằng mang tên loài chó, nhưng từng là bạn cậu”. Hắn vừa nói thế mà.

Tôi uống rất chậm một ly cà phê, thay đổi cách vắt chân mấy lần, mới thấy Tôtô đĩnh đạc bước ra khỏi thang máy. Không thể nào nhận ra người đàn ông phương phi và bóng nhẫy, bộ mặt phì nộn, vận quần áo đúng mốt, đang bệ vệ đi về phía tôi là hắn, là Tôtô. Nhưng đúng là Tôtô, không thể nào trật, chính hắn, với đôi mắt lồi, cặp lưỡng quyền cao, cái miệng cá ngão, cái yết hầu nhô ra thụt vào liên tục cùng với mỗi tiếng nói, cho dù mặt hắn giờ đây có bạnh ra gấp đôi trong sự no đủ. Hồi chúng tôi chơi với nhau, trong thời đại các loại tem phiếu và các thứ tiêu chuẩn trong các thứ bìa ở các thứ cửa hàng, chưa bao giờ hắn béo tốt bằng một phần ba bây giờ.

Tôi đứng lên. Tôtô bước tới. Nhìn nhau trân trân. Cười tươi. Tuy vui mừng là thế, nhưng chúng tôi chỉ ôm lấy nhau vừa đủ chặt như hai quan chức thuộc hai quốc gia không thù hằn mà cũng chẳng thân thiện, trong một nghi thức ngoại giao cứng đờ. Tôi không hình dung cuộc gặp gỡ của hai chúng tôi sẽ diễn ra như thế.

Về phía tôi, quả là tôi có một chút thận trọng, có thể không cần thiết, nhưng tôi nghĩ mình không nên ôm ông bạn năm xưa quá chặt, quá thân thiết, khi chưa biết được sau bao nhiêu nước chảy qua cầu hắn sẽ chọn cách đối xử với mình thế nào. Mà đúng vậy, tôi thấy cái ôm đáp lại của hắn cũng chặt vừa phải, nếu không nói là khá lỏng lẻo.

– Chú được tự do từ giờ đến đêm – ấy là Tô nói với một chàng trai cắp cặp đi theo sau hắn, im lặng như một cái bóng – Nếu cần, tôi sẽ gọi

Chàng trai gày còm, da mai mái, lí nhí vâng dạ, liếc tôi một cái nhanh như chớp giật, rồi lập tức quay gót, đầu cúi thấp. Tôi không thấy cần phải chào hắn ta. Tôi hiểu rằng hắn đã đánh giá đúng tôi, cho nên đã không chào tôi. Tôtô ôm tôi không chặt là phải. Đàng sau Tôtô là thuộc cấp của hắn, mà có thể là những kẻ khác nữa, đang chăm chú theo dõi và xét nét đánh giá những mối quan hệ của hắn.

Dáng đường bệ của Tôtô cho tôi ấn tượng về một quan cách mạng, to tới mức nào tôi không biết, nhưng chắc chắn to. Trong khi tôi nghĩ về Tôtô như thế thì hắn cũng bận bịu với sự đo lường để phỏng đoán về vị trí xã hội cũng như túi tiền của tôi.

– Cậu đói bụng chưa? – giọng ân cần, Tôtô hỏi tôi – Tối nay chúng mình ăn với nhau nhé.

– Chưa đến bữa tối mà. Cậu muốn ăn?

– Ta đi dạo một lát, rồi kiếm cái chén.

Khách sạn của Tô nhìn ra Champs Élysée, đại lộ lớn nhất của Paris, chạy suốt từ cổng chào Kháng chiến cho tới Khải hoàn môn. Ra khỏi cánh cửa quay bằng kính dày để xuống hè, Tôtô đi những bước thoải mái giữa đám khách thập phương, tươi cười như thể Paris hiện nằm dưới quyền uỷ trị của hắn theo một nghị quyết của Liên hiệp quốc.

– Cậu chỉ già đi chứ đéo thay đổi mấy. – Tôtô nhận xét bằng giọng dửng dưng – Tớ có biết tin cậu đi dạy ở Algérie rồi khi về qua Pháp thì tụt lại, xin tị nạn…

– Ờ… – tôi xác nhận.

– Tại sao cậu lại làm như thế nhỉ? Ở trong nước người ta có đối xử tệ hại với cậu đâu. Tớ nghe nhiều tin đồn về cậu lắm. Có cả tin cậu được CIA bảo trợ để … hề hề… để làm công việc cho nó, hề hề, bằng… chuyên môn của cậu. Hoá ra đéo phải, láo toét hết.

– Hừm – tôi nhếch mép cười.

– Mà hình như ở đây cậu đéo … làm ăn được gì – Tôtô nói – Có khi còn gặp khó khăn nữa, phải không?

Tôtô đánh giá không sai. Chỉ cần nhìn bộ quần áo tầu tầu không được giặt ủi thường xuyên hắn cũng thấy tôi thuộc tầng lớp nào. Trong cái nhìn của hắn tôi thấy có ánh thương hại. Tôi thấy cần phải ra ngay lập tức một bản tuyên bố. Cho nó rõ. Cho hết mọi ngộ nhận.

– Tớ sống bình thường – tôi lạnh lùng nói – Dễ chịu. Cậu đã biết tính tớ. Vẫn như trước, tớ là thằng không đòi hỏi nhiều, vì thế không vất vả trong lựa chọn. Tớ có con đường của tớ. Nó khác con đường của cậu. Là lẽ thường. Cảm ơn cậu đã không gọi tớ là tên phản bội. Có phải ở trong nước người ta gọi những thằng bỏ đi như tớ bằng cái tên ấy không? Vậy thì cậu hãy nghe cho rõ: tớ chẳng mang ơn thằng nào thì tớ không thể phản bội thằng nào. Tớ xin đủ tất cả những bản khai lý lịch, những cuộc cật vấn ở phòng tổ chức về tam đại nhà mình, về tư tưởng xét lại, về quan hệ với bọn “Nhân văn – Giai phẩm” …

Tôtô lơ đãng nhìn phố phường, bình thản nghe tôi nói.

– Chuyện xưa rồi. Xưa lắm rồi. Tớ không tìm cậu để nói những chuyện đó – hắn đặt tay lên vai tôi, cười to – Cậu hoàn toàn lạc hậu với tình hình trong nước. Rất lạc hậu. Tất cả đã khác rồi. Bây giờ là một thời đại mới. Mới hoàn toàn. Cậu không tin hả?

Tôi ân hận vì đã nói với hắn bằng giọng hơi nhiều gay gắt.

– Bây giờ người ta đéo có thời giờ để hỏi cậu những câu lẩm cẩm về giáo điều hay xét lại nữa – hắn nói tiếp bằng giọng giảng giải – Cậu muốn giáo điều mấy cũng được, muốn xét lại bao nhiêu cũng xong. Người ta chỉ quan tâm tới cậu nếu như cậu có ý định làm lung lay cái địa vị của họ mà thôi. Ngoài ra họ mặc. Nếu như có ai đó trong bộ máy hỏi cậu câu nào thì tớ dám chắc nó chỉ hỏi cậu có bao nhiêu đô la, cậu từ nước ngoài về mà. Nó hỏi thế không phải để chôm của cậu đâu, tiền của cậu liệu được mấy nả? Việt kiều rách bỏ mẹ, so thế nào được với các đại gia trong nước. Nếu người ta có chút quan tâm thì phải hiểu là người ta muốn xét xem cậu có xứng đáng được giao thiệp với họ không? Thế thôi. Thật đấy, đéo có xã hội nào thoáng bằng Việt Nam bây giờ, ngay cả mấy anh đế quốc già nua như Pháp, Đức. Cậu cứ nhìn vào tớ đây này, tớ vẫn sống được, còn sống phây phây nữa, sống đẹp nữa là đằng khác, hề hề…

Hắn nói không sai. Tất cả đã khác. Bằng chứng là hắn đang nện gót giày cồm cộp bên cạnh tôi, giữa “kinh thành ánh sáng”, như chúng tôi thường gọi Paris trong những mộng mơ một thời trai trẻ.

Hắn đưa mắt nhìn ra cái cột đá Ai Cập thẳng đuột ở quảng trường Concorde.

– Cậu nói tiếng Tây nhờ ai đó bấm cho mấy pô cậu với tớ làm kỷ niệm. Đừng để ý thái độ của tớ khi có mặt mấy thằng dưới quyền. Đi với chúng nó tớ vẫn cứ phải giữ ý. Đéo tin được chúng nó đâu.. Mình mà ngã xuống là chúng nó dẫm lên xác ngay. Cậu là bạn tớ, với bạn, tớ có thể sống thật…

Tôtô nói bằng giọng tâm sự. Tôi tin hắn nói thật.

Tôi như ở trong một giấc mơ quái quỷ, chẳng có gì đang diễn ra giống thật. Tôi sẵn sàng tin ở cuộc gặp gỡ với bất kỳ ai, trừ Tôtô.

– Cậu cũng đã khác – tôi nói – Khác lắm.

Tôtô ngửa mặt lên trời mà cười:

– Hề hề… Tớ vẫn là tớ thôi. Khác là khác cái bề ngoài. Cậu cũng không khác. Cậu vẫn i xì là cậu ngày trước. Cậu là một thằng lãng mạn cốc đế. Cậu chẳng bao giờ sống với thực tế. Cậu sống với nó, nhưng lại không thừa nhận nó. Cho nên cậu luôn luôn thất vọng. Và thất bại. Cậu luôn luôn cho rằng cuộc đời phải thế này thế nọ như cậu hình dung ra, không phải theo sách này thì sách khác. Cậu đã thích chủ nghĩa cộng sản, đúng không nào? Vì cậu thèm khát một xã hội công bằng, đầy ắp tự do. Thế rồi cậu chán nó vì thấy nó trong thực tế đếch phải như cậu hình dung.

Hắn quở quang tôi một chặp. Với những câu chữ của một người cảm thấy mình có toàn quyền làm chuyện đó.

– Tớ muốn sống thật, như mình tin tưởng sẽ được sống như thế – tôi nói, ngậm ngùi nhớ lại một thời đã qua. Không biết hắn kiếm đâu ra ngần ấy khôn ngoan trong thời gian chúng tôi xa nhau? – Đúng là tớ lý tưởng hoá cuộc sống. Tớ lộn mửa khi nghe chúng nó xưng chúng nó chiến đấu vì hạnh phúc của đồng loại, trong khi chúng tự đặt mình lên trên đồng loại để vớt hết váng sữa mà đồng loại chỉ được phép đứng nhìn…

– Ha ha! – Tôtô cười vang – Lãng mạn chửa? Cậu hãy chỉ cho tớ một thằng sống vì người khác coi. Tớ dám chắc cậu chẳng chỉ ra được lấy một thằng. Một nửa thằng cũng không. Ở đời này, cậu ơi, thằng đéo nào cũng chỉ sống vì nó hết. Cậu tưởng mấy ông lãnh tụ của chúng ta tuyên bố họ chiến đấu vì chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ là họ nói thật sao? Đừng hòng. Đéo có cái ấy đâu, nói thật cho cậu biết, đéo có là đéo có.

Tôi nhớ ngày đầu tiên gặp Tôtô. Hắn từ Nghệ An ra, đen đủi, gày còm, bộ mặt chất phác, giọng nói nhỏ nhẹ. Bây giờ hắn là một người Hà Nội, nhưng là người Hà Nội hiện đại, bằng chứng là hắn đéo liên tục, trong mỗi câu nói. Điều tôi còn thắc mắc là trong cái sự đổi đời đang diễn ra ở quê hương, cơ hội vàng nào đã làm cho hắn trở thành một ông lớn như bây giờ?

Tôi bảo:

– Tớ hiểu cậu chứ. Từ ngày ấy kìa. Cậu là thằng giỏi. Cậu giỏi ở chỗ biết thích nghi hơn bất cứ đứa nào trong tụi mình. Ngay từ hồi ấy cậu đã chứng tỏ khả năng thích nghi với mọi thể chế, mọi thời đại. Cậu có thể sống ung dung bên Stalin, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, thậm chí cả Hitler…

– Hề hề… Lại đá xéo tớ rồi.

– Tớ còn nhớ chuyện cậu đã hăng hái thế nào trong vụ bắn ông chú ruột trong cải cách ruộng đất, chính cậu kể tớ nghe mà. Lại cũng cậu xung phong đi sửa sai hăng hái thế nào nữa… ở một vùng khác. Cái ảnh Fidel Castro vẫn còn treo trong phòng đấy chứ?

 – Hề hề… Cậu có một trí nhớ kinh hoàng. Bây giờ tớ có một ngôi nhà lớn nhiều phòng, và trong phòng ngủ của tớ toàn treo tranh gái đẹp- – Gu bây giờ khác.

Tôi muốn bỏ về. Nhưng tôi không bỏ về. “Tha hương ngộ cố tri”, nỗi nhớ quê hương, hay là những kỷ niệm quá khứ giữ tôi lại với hắn, tôi không biết. Tôi nhớ đến những năm chúng tôi cùng công tác tại một viện nghiên cứu vật lý hạt nhân. Hai thằng tôi làm việc chung một phòng. Cả hai đều là những đứa làm việc chăm chỉ. Hắn còn là một đứa hay giúp đỡ mọi người. Ai gặp khó cũng có thể tìm được ở hắn người đỡ đần. Cấp trên quý hắn, vì ngoài công tác khoa học với trình độ không xoàng, hắn có thể chữa đồ điện cho gia đình họ, hắn biết cả nghề mộc để chữa bàn ghế, biết thông cống cho nhà họ, biết đi xếp hàng từ sáng sớm để mua giúp họ một món hàng hiếm. Cũng chính hắn được thủ trưởng giao việc viết dự án chế tạo bom hạt nhân cho Việt Nam, theo một chỉ thị riêng của tổng bí thư đảng.

Tôi không được như hắn. Tôi là thằng không có ích cho các thứ cấp trên, trưởng phòng hay giám đốc. Đã thế, tôi lại có cái tật mê văn chương, thích đọc sách, thích giao du với văn nghệ sĩ. Lĩnh vực hạt nhân là bí mật quốc gia cho nên cơ quan chúng tôi được nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngoài nhân viên bảo vệ chính thức còn có nhan nhản công an mật dưới mọi vỏ bọc không cần thiết. Chúng tôi đều biết thừa cô văn thư, hay anh tổ chức kia là ai, bởi vì nếu chúng tôi quá ngu thì họ cũng úp mở cho chúng tôi biết họ là ai.

Điều tôi hoàn toàn không ngờ là những quan hệ cá nhân của những cán bộ quèn như tôi mà cũng bị đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đảng. Kiểm soát ngầm, nhưng là kiểm soát. Anh bạn tôi yêu cô con gái một nhà tư sản, lập tức được phòng tổ chức gọi lên góp ý. Góp ý rồi, anh ta cứ yêu, thế là bị thuyên chuyển công tác, tất nhiên là một công tác không ra gì, ở một nơi không ra gì. Nhà thơ Xuân Diệu hay nhà văn Nguyễn Khải đến chơi với tôi thì chẳng ai nói. Nhưng chỉ cần một lần tôi mời ông Trần Dần với ông Phùng Quán tới phòng tôi ăn cơm, rồi vì rượu say hai ông lăn ra ngủ lại, thế là mọi sự lộn tùng phèo. Phòng tổ chức gọi tôi lên kiểm điểm vì tội quan hệ với những phần tử phản động. May mà tôi có ông anh con chú con bác làm trên bộ bảo lãnh nên mới lọt lưới trong đợt nhà nước tuyển cán bộ đi Algérie dạy học.

– Đừng cãi nhau với tớ. Đúng là tớ thích nghi được với mọi chế độ. Mà tại sao lại không thích nghi? Thích nghi là tốt chứ. Chúng ta là người, mà con người là động vật đặc biệt, nó duy nhất thích nghi được với mọi hoàn cảnh. Có con đéo nào được như thế? – Tôtô trích dẫn Dostoevsky – Mà thích nghi có gì khó?

Tôi nhún vai. Tôi bận tìm một tính từ chính xác cho loại người như Tôtô. Hình như người ta thường dùng cụm từ “khuyển nho”. Cứ nhập đại từ cinic của thế giới mà hay. Viết cinic hay xi ních cũng được. Thói quen sẽ khẳng định chỗ đứng cho nó.

Trời tối dần. Đã lâu rồi tôi không có dịp ngắm cảnh Paris khi chiều xuống. Nó thật đẹp trong sự hoà trộn giữa ráng chiều và ánh đèn. Thành phố như được mạ vàng mười. Hoặc bằng giấy trang kim, nếu nhìn bằng con mắt yếm thế.

Tôtô dẫn tôi vào một nhà hàng sang trọng. Chúng tôi kiếm một bàn trong góc khuất. Người bồi già hình như đã quen với Tôtô, lập tức xuất hiện, nụ cười thật tươi:

– Thưa ông dùng gì ạ?

– Như mọi khi. Một chai vang tốt, anh chọn cho tôi. Nếu không có gì hay hơn thì Margaux Cru Bourgeois. Và đừng quên patê gan ngỗng. Anh biết chọn loại nào mà.

– Có ngay, thưa ông.

Trong bữa ăn, Tôtô hỏi tôi:

– Cái nhà của ông cụ cậu ở phố Huế, cậu tính sao?

Ngôi nhà lớn của gia đình tôi bị trưng dụng hồi cuộc chiến tranh Việt-Pháp kết thúc, tôi đã quên phứt. Không quên cũng chẳng được. Ông cụ bà cụ mất, tôi là người thừa kế duy nhất.

Chính quyền cách mạng trưng thu ngôi nhà, cho tôi một căn phòng ở khu tập thể cơ quan. Căn phòng ở đầu hồi khá rộng, có hai cửa sổ ở hai cạnh, đến nỗi nhiều bạn đồng sự phát ghen. Ông thủ trưởng sáng suốt bèn ghép thêm một người vào ở cùng để tránh mâu thuẫn nội bộ. Người ở cùng tôi là Tôtô.

– Tớ quên nó rồi.

– Ơ hay, sao lại quên? Nhà nước bây giờ có chủ trương trả lại các nhà đã trưng thu hoặc trưng dụng đấy. Giấy tờ còn cả chứ?

– Còn. Để ở Hà Nội.

– Cậu nên đòi lại.

– Đòi sao được?

– Cậu làm cái giấy uỷ quyền. Tớ sẽ đòi cho cậu.

Tôi ngừng nhai, nhìn Tôtô. Hắn xắn miếng gan ngỗng ngọt như xắn một lát bơ tươi.

– Nhưng lấy lại làm gì? Tớ đâu có định về.

– Cậu dại bỏ mẹ. Cậu có biết bây giờ giá trị nó là bao nhiêu không?

Hắn nói một con số khủng khiếp, quy ra vàng và đô la.

– Đã có bao nhiêu hộ đang ở đó. Đòi lại bây giờ để lấy tiền cho thuê à? Cậu có nhớ nhiều người đã phải xin hiến nhà để khỏi phải sửa chữa vì tiền cho thuê không đủ để sửa chữa không?

– Lại cũng xưa rồi. Cậu sẽ lấy lại được nhà bằng một bài toán. Bao nhiêu sẽ cho các hộ phải ra đi? Bao nhiêu để bôi trơn bộ máy, từ dưới lên trên? Bao nhiêu cho khâu trung gian? Còn lại là của cậu. Tối thiểu cũng còn lại vài trăm ngàn đô. Không ít đâu. Coi như của từ trên trời rơi xuống.

Tôi nhìn Tôtô. Hình như chữ trưởng thành không đủ để nói về hắn.

– Cậu ở khâu nào?

Hắn nhìn lại tôi bằng cặp mắt ráo hoảnh:

– Tất nhiên, ở khâu trung gian. Mặc dầu cậu là bạn, nhưng thời đại mới, khác xưa rồi, đéo có thằng nào làm không cho thằng nào.

– Tớ sẽ nghĩ về chuyện này.

Tôtô có vẻ không bằng lòng.

– Còn phải nghĩ gì nữa? Cậu may mắn có tớ là bạn.

Tôi không dám chắc như thế. Nhưng tôi không nói ra.

Lúc ăn tráng miệng, Tôtô lờ đờ nhìn tôi:

– Giấy uỷ quyền cậu nhớ phải lấy dấu công chứng hẳn hoi mới được đấy nhá. Công chứng ta, ở lãnh sự quán, không phải công chứng Tây để phải công chứng bản dịch, lằng nhằng. Tớ sẽ giúp cậu giải quyết cái nhà. Giúp là chính, chứ chuyện đòi nhà lủng củng vô cùng, mất thời giờ vô cùng. Được cái tớ đông quân, tớ sai chúng nó chạy. Tớ sẽ lấy giấy uỷ quyền vào lần sau, hả?

– Cậu hay qua Paris lắm à?

– Như cơm bữa. Tớ đi khắp. Thuỵ Sĩ, Đức, Tiệp, Ba Lan, Nga…

– Để làm gì?

Hắn nháy mắt với tôi:

– Biết nhiều thì chóng già. Hồi trước tớ phải nằm chết dí ở Lausanne và Genève. Buồn như chấu cắn. Bây giờ thì phải đi cả Nga. Moskva, Petersburg, Kiev, Minsk, Riga… Ở Nga bây giờ hỗn loạn. Nhiều bố già, không biết nên tin thằng nào, thằng nào là quan trọng. Không như ở ta. Thế mà trước kia là nước xã hội chủ nghĩa anh cả đấy. Nhưng việc cần đi thì phải đi.

– Đi làm gì?

Tôtô cúi xuống mặt bàn, thì thào:

– Làm việc với các ngân hàng. Gửi mỗi nơi một ít.

Tôi trợn mắt nhìn Tôtô. Một lần nữa hắn làm tôi ngạc nhiên. Không lẽ bây giờ, mới có một ít năm, mà hắn đã kịp giàu đến thế?

Tôtô đọc được ý nghĩ trong mắt tôi. Hắn lấy khăn chùi mép và nói:

– Cậu ngây thơ lắm. Tớ không giàu đến thế đâu. Nhưng có những người giàu cần đến tớ. Và tớ đã dây máu thì tớ ăn phần.

– Gửi cả ở những ngân hàng không chắc chắn?

Hắn nheo mắt cười tôi:

– Bố khỉ. Tây nó đã dậy: trứng không nên để trong một giỏ. Có thế mà không biết.

Chúng tôi đứng lên. Tôtô cho bồi tiền bo bằng một bữa ăn đàng hoàng cho tôi. Người bồi rạp mình chào hắn.

Lúc chia tay, Tôtô khuyên tôi:

– Hãy chấp nhận thực tế như nó có. Đừng nghĩ tới những khái niệm trừu tượng. Dân chủ, tự do là cái khỉ khô gì. Vô ích. Chiến tranh qua rồi. Cậu lại muốn một cuộc chiến tranh mới hay sao? Cho dù là để lập một trật tự mới theo ý cậu, và những thằng dở hơi nào đó. Tớ thì tớ đéo muốn. tớ chỉ muốn làm tiền. Cậu dằn vặt mình mãi làm gì? Tại sao cậu không thể coi đảng cộng sản như một triều đình phong kiến? Và Bộ Chính trị như một ông vua, hoặc một hoàng đế, với một tổng bí thư là cái đầu, số còn lại là tứ chi, còn các uỷ viên trung ương là hoàng tộc. Cậu cứ nghĩ như thế đi thì mọi sự sẽ trở thành đơn giản. Đất nước ta có bao nhiêu năm do vua chúa cai trị? Có chết ai đâu. Các cụ nhà ta vẫn sống, vẫn sinh con đẻ cái, hề hề, mới có chúng ta ngày nay chứ. Nếu cậu ở lại với triều đình, cậu cũng vẫn có một chức quan, không to lắm thì cũng to vừa đấy. Nếu có phải hô “Thánh thượng vạn tuế!” thì ta hô, mất gì của bọ?

Tôi nín lặng. Tôi còn biết nói gì?

Tôtô ôm chặt tôi, hắn còn hôn lên hai má tôi nữa. Có lẽ hắn yêu tôi thật. Tại sao lại cứ phải nghĩ rằng hắn tìm tôi chỉ vì ngôi nhà ở phố Huế?

“À demain”, hắn nói.

“À demain” tôi đáp. Ờ thì hẹn gặp lại, ngày mai. Nhưng ngày mai nào? Chẳng lẽ ngày mai sẽ lại vẫn như hôm nay?

*Vũ Thư Hiên

**

Bẫy và Rọ – Trận Tái Chiếm Quảng Trị

*TRẦN TRUNG CHÍNH

*Người viết vừa nhận được quyển Quân Sử của Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) do cựu Thiếu Tá Phạm Cang – nguyên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 TQLC từ Iowa gửi tặng. Cựu Thiếu Tá Phạm Cang – Khóa 20 Võ Bị Đà Lạt là người tù cùng Trại Bình Điền với người viết và hiện nay (2017) ông là đương kim Chủ Tịch của Tổng Hội TQLC/VN tại Hoa Kỳ.

Trong bài viết này, người viết chú trọng đến phần chiến công của Sư Đoàn TQLC trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị vào năm 1972 để ghi nhận tài điều binh của các sĩ quan các cấp trong Sư Đoàn TQLC cũng như sự dũng cảm và hy sinh vô bờ bến của các quân nhân tham dự chiến dịch này. Nhưng quả là thiếu sót lớn nếu không đề cập đến các chiến công và nỗ lực cũng như hy sinh của các quân nhân các cấp trực thuộc các đơn vị khác như Sư Đoàn 3 Bộ Binh (BB), Sư Đoàn 1 BB, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, các Lữ Đoàn Dù, các Lữ Đoàn TQLC, các tiểu đoàn Pháo Binh, các chi đoàn chiến xa M41 và M48, Tiểu Khu Quảng Trị, các Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) thuộc Ty Cảnh Sát Thừa Thiên và Quảng Trị, các đơn vị Lôi Hổ và Lực Lượng Đặc Biệt, các chiến sĩ Không Quân và Hải Quân của QLVNCH…v…v…

Tài liệu của sĩ quan Lê Văn Trạch (Phòng 2 Sư Đoàn 3 BB) tiết lộ rằng Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn cũng như Phòng 2 của Sư Đoàn 3 BB và Phòng 2 của Quân Đoàn 1 bị quân đội Cộng sản Bắc Việt đánh lừa bằng cách tạo ra những mật lệnh truyền tin cũng như mở ra những cuộc tấn công hạn chế tại Quân Khu 2 khiến Tướng Vũ Văn Giai ra lệnh đổi quân vào đúng ngày 30

tháng 3 năm 1972 – là ngày cộng quân Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công toàn diện tại Quảng Trị. Lệnh đổi quân sẽ hoàn tất vào 6 giờ chiều cùng ngày, nhưng từ 12 giờ trưa, Tướng Vũ Văn Giai và Đại Tá Cố Vấn sẽ bay về Sài Gòn nghỉ lễ Phục Sinh cuối tuần (theo sách Easter Offensive của Đại Tá H. Turley).

Chiến trận Quảng Trị đã trôi qua 45 năm, nhiều tài liệu của 2 bên lâm chiến đã được công bố, nhưng những điều đã được công bố (có cả hình ảnh và thủ bút của những người tham dự chiến trận) thì không phải là những điều được người viết trình bày tại bài viết này. Cũng có thể độc giả đòi hỏi người viết phải trưng ra tài liệu để minh họa cho lập luận trình bày, xin trả lời là cá nhân người viết không có những tài liệu đó, vấn đề được trình bày ở đây thuộc về nhận xét riêng của người viết. Cũng không có vấn đề “ĐÚNG, SAI” đặt ra ở đây vì mục đích của bài viết là để chúng ta nên nhìn trận chiến Việt Nam qua nhiều vị trí quan sát khác nhau để thế hệ kế tiếp có dịp ngó lại các sự kiện lịch sử gần giống với thực tế đã từng xảy ra trước đó!

Trước tiên, hãy cùng ôn lại chút chuyện đầu thời Chiến Quốc. Khi đó, Tôn Tẫn, tương truyền là cháu của Tôn Tử – tác giả của Binh Pháp Tôn Tử, đã dùng diệu kế để giúp Đại Tướng Điền Kỵ của nước Tề thắng Tề Vương trong cuộc đua ngựa, với ba loại Giỏi, Thường, và Kém.  Vòng đầu cuộc đua, Tôn Tẫn đã cố vấn Điền Kỵ đưa ngựa kém ra đua với ngựa giỏi của Tề Vương. Kết quả: 0-1, phần thua về Điền Kỵ. Vòng hai, Điền Kỵ lấy ngựa giỏi ra đua với ngựa thường của Tề Vương: Kết quả: 1-1. Vòng ba, Điền Kỵ lấy ngựa thường ra đua với ngựa kém của Tề Vương. Sau 3 vòng đua, Điền Kỵ thắng Tề Vương với tỷ số 2-1.

Trở lại với chiến trận Quảng Trị, trái với nhận định của sĩ quan Lê Văn Trạch (phòng 2 của Sư Đoàn 3 BB), người viết cho rằng chính lực lượng xâm lăng của Cộng quân bị lừa vào BẪY và RỌ ngay tại vùng Quảng Trị giới tuyến để rồi chịu nhận một tổn thất sinh mạng quá lớn lao.

Diễn trình lọt vào BẪY và RỌ của quân Bắc Việt gần giống với cuộc đua ngựa do Tôn Tẫn bày mưu sắp xếp:

  1. Chỉ trong 48 giờ chiến đấu, Trung Tá Phạm Văn Đính của Trung Đoàn 56, Sư Đoàn 3 BB kéo cờ trắng đầu hàng quân Bắc Việt vào lúc 14:30 ngày 2 tháng 4 năm 1972. Gần một tháng sau, Tướng Vũ Văn Giai hạ lệnh Sư Đoàn 3 BB rút khỏi Quảng Trị, đó là ngày 1 tháng 5 năm 1972. Kết quả 1-0, phần thắng nghiêng về phía quân cộng sản.
  2. Đến 14:30 ngày 1 tháng 5 năm 1972, Lữ Đoàn 147 TQLC và Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh rút khỏi thành phố Quảng Trị. Tới ngày 2 tháng 5 năm 1972, phòng tuyến cuối cùng của QL/VNCH là sông Mỹ Chánh do 2 Lữ Đoàn TQLC, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù và 01 Liên Đoàn Biệt Động Quân trấn giữ và Cộng quân cũng bị chận đứng tại đây, không tiến thêm được bất cứ tấc đất nào nữa. Kết quả 1-1.
  3. Ngày 1 tháng 5 năm 1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn tỉnh Thừa Thiên và đưa ra 2 nhiệm vụ phải khẩn cấp thực hiện là phòng thủ Huế và tái chiếm Quảng Trị. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận kế hoạch tái chiếm Quảng Trị khởi đầu từ ngày 19 tháng 6 năm 1972 cho đến 19 tháng 9 năm 1972 (thời hạn 3 tháng). Tiểu Đoàn 5 TQLC do Thiếu Tá Phạm Văn Tiền chỉ huy đã cắm cờ VNCH tại Cổ Thành Quảng Trị vào ngày 16 tháng 9 năm 1972 – trước thời hạn ấn định 3 ngày. Kết quả 2-1 chung cuộc cho chiến trường Trị Thiên vào năm 1972, phần thắng nghiêng về phía VNCH.

 

Ghi chú của người viết:

Từ điển VN định nghĩa như sau:

BẪY:

(Danh từ):

a.    Dụng cụ thô sơ để lừa bắt, giết loài vật hoặc kẻ địch; thí dụ: bẫy chông, chim sa vào bẫy.

b.    Cái bố trí sẵn để lừa cho người ta mắc vào.

(Động từ):

a.    Bắt hoặc tiêu diệt bằng bẫy.

b.    Lừa cho mắc mưu để làm hại, thí dụ: bẫy người vào tròng.

RỌ 
(Danh từ): 

Đồ dùng đan bằng tre nứa, hình thuôn dài dùng để nhốt súc vật khi vận chuyển.


Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai sau
khi họp Bộ Tham Mưu Sư Đoàn 3 BB cùng các sĩ quan chỉ huy các lực lượng yểm trợ cho chiến trường Quảng Trị, đã tuyên bố rút quân khỏi Quảng Trị vào khoảng 3-4 giờ sáng ngày 01 tháng 5 năm 1972.  Các đơn vị đồn trú trong Cổ Thành Quảng Trị di chuyển theo hướng Tri Bưu, Quy Thiện, Hải Lăng; nhưng mãi đến trưa 3 chiếc trực thăng CH-54 mới bốc Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai và các cố vấn Mỹ bay vào Huế.

Tại Huế, Thiếu Tá Liên Thành, Trưởng Ty Cảnh Sát Huế – Thừa Thiên, hay tin Sư Đoàn 3 BB rút bỏ Quảng Trị từ 4 giờ sáng ngày 1 tháng 5 năm 1972; tin này do cố vấn trưởng của CSQG loan báo (ông này được người bạn đang là cố vấn trưởng cho Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai ngay tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 BB loan báo). Thiếu Tá Liên Thành liền thông báo ngay cho Thiếu Tá Hóa, lúc đó đang là tùy viên của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú – Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB. Thiếu Tá Hóa chưa hay biết gì cả, nhưng Thiếu Tá Liên Thành cho hay đây không phải là tin tình báo mà do chính cố vấn trưởng của CSQG sau khi nói chuyện qua điện thoại với cố vấn trưởng của Chuẩn Tướng Giai. Thiếu Tá Hóa nói sẽ gọi lại sau khi kiểm chứng.

Tới 6 giờ sáng, Thiếu Tá Hóa cho hay nguồn tin trên là đúng và xác nhận một số quân nhân và dân chúng Quảng Trị đã vào địa phận tỉnh Thừa Thiên. Ngay sau đó, Thiếu Tá Liên Thành phát động cuộc hành quân Cảnh Sát, bắt giữ toàn thể các phần tử thân Cộng và hoạt động cho Việt Cộng mà Ty CSQG Thừa Thiên đã thành lập danh sách đen từ trước. Con số bị bắt vượt quá 2,000 người chỉ trong 48 giờ thực hiện (đa số là các phật tử dưới trướng của nhà sư Thích Trí Quang và Giáo Hội Ấn Quang). Ông báo cáo thành quả này cho Tướng Nguyễn Khắc Bình và yêu cầu Bộ Tư Lệnh giúp đỡ. Chưa tới 10 ngày sau, Tướng Nguyễn Khắc Bình gửi ra Huế một chiếc hải vận hạm của Cục Quân Vận để chuyên chở hơn 2,000 người này ra đảo Côn Sơn, chịu trách nhiệm an ninh là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hải của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Tướng Nguyễn Khắc Bình nói đây là kế hoạch “bịt tai, bịt mắt, trói chân, trói tay“ của CSQG nhằm tránh thành phố Huế  bị “nội công – ngoại kích“ của Việt Cộng.

Điều đáng nói ở đây là Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1 từ trong Đà Nẵng không hay biết gì cả, chả thế mà từ trung tuần tháng 4 năm 1972,  tiếng nói của ông được phát thanh trên Đài Phát Thanh Huế có đoạn: “Quảng Trị vững như bàn thạch…”. Thiếu Tá Liên Thành nói với người viết: không ai cười Tướng Lãm về chuyện này cả vì công chức và dân chúng thì bận lo di tản vô Đà Nẵng, còn lính tráng và cảnh sát thì lo chống giữ quân Bắc Việt để chờ Sài Gòn… tiếp viện.

Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm – Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1 (trước tháng 5/1972)

 Hồ sơ trận liệt của Phòng 2, Sư Đoàn 3 BB cho hay trận chiến Quảng Trị năm 1972 rất quan trọng. Cho nên Quân Ủy Trung Ương Quân Đội Bắc Việt đã cho thành lập Đảng Ủy và Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Trị Thiên do Tướng Lê Trọng Tấn, phó Tổng Tham Mưu Trưởng, làm Tư Lệnh, Tướng Lê Quang Đạo, phó chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị làm Chính Ủy kiêm Bí Thư Đảng Ủy. Các Tướng Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Doãn Quế, Hồng Sơn, Lương Đệ, Anh Nhân làm Phó Tư Lệnh Chiến Dịch. Ngay cả Bí Thư Tỉnh Ủy Quảng Trị là Hồ Sĩ Thản cũng được tham gia vào Đảng Ủy Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch. Sau chót, Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, lúc bấy giờ là đương kim Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Bắc Việt, được cử làm đại diện của Quân Ủy Trung Ương trực tiếp chỉ đạo hướng chiến lược của Chiến Dịch quan trọng này.

Người viết không nêu chi tiết các đại đơn vị của Quân Đội Bắc Việt (độc giả nào cần biết chi tiết xin xem báo KBC Hải Ngoại cũng như các hồi ký của các vị chỉ huy của VNCH viết về trận chiến này). Về mặt tổng quát quân Bắc Việt có 6 Sư Đoàn BB chủ lực, 1 trung đoàn độc lập, 5 tiểu đoàn độc lập, 4 tiểu đoàn đặc công, 5 tiểu đoàn địa phương của Quảng Trị và Quảng Bình, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn cao xạ phòng không, 1 trung đoàn hỏa tiễn SAM, 2 trung đoàn thiết giáp, 2 trung đoàn công binh.

Phần trước người viết đã nhắc sơ về lực lượng trấn giữ chiến trường Quảng Trị, nhưng nếu so sánh với lực lượng Bắc Việt thì quyết định của Tướng Vũ Văn Giai rút quân ra khỏi Quảng Trị vào ngày 01 tháng 5 năm 1972 là quá hợp tình hợp lý. Hồ sơ trận liệt của Phòng 2 Sư Đoàn 3 BB được chuẩn bị kỹ càng như đã nêu, chả lẽ Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn không có kế hoạch đối phó? Theo nhận xét của người viết, Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn đã tham khảo với Ban Tham Mưu của Đại Tướng Creighton Abrams để giăng BẪY chiêu dụ đại quân của Bắc Việt sập bẫy tiến vào Quảng Trị.

Phía tình báo của quân Bắc Việt đã đánh giá thấp khả năng của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai và khả năng tác chiến của Sư Đoàn 3 BB qua các dữ kiện thu thập từ thực tế như sau:

  1. Đại Tá Vũ Văn Giai là sĩ quan xuất sắc cấp Trung Đoàn, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng (sau chiến dịch Lam Sơn 719 – tháng 2/ 1971) được đề cử làm Tư Lệnh Sư Đoàn 3 BB tân lập vào ngày 01 tháng 10 năm 1971, tuy nhiên ông chưa có thì giờ để được đi học Khóa Tham Mưu Cao Cấp điều binh cấp Sư Đoàn. Được tiếng là Tư Lệnh Chiến Trường Quảng Trị, nhưng ông không điều khiển được các Lữ Đoàn TQLC, các Lữ Đoàn Nhảy Dù, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, các Thiết Đoàn Kỵ Binh… bởi vì các đơn vị tăng phái cho ông đều tuân lệnh từ các cấp chỉ huy hàng dọc của đơn vị họ.

 Vì thành lập quá gấp gáp để đáp ứng cho nhu cầu chiến trường Quảng Trị, một số quân nhân của Sư Đoàn 3 BB được ân xá từ nhóm quân phạm và nhất là Lực Lượng Biên Phòng bị giải tán rồi chuyển qua Sư Đoàn 3 BB nên thiếu thành phần hạ sĩ quan và sĩ quan cấp trung đội và đại đội thiện chiến (trước đó họ quen việc trấn đóng phòng thủ tiền đồn biên giới nên chưa quen với công việc chiến đấu di động như các đơn vị bộ binh thuần túy).

Người viết cho rằng sự yếu kém của Sư Đoàn 3 BB khi trấn giữ mặt trận Quảng Trị là điều thực tế.  Nhưng vai trò của Sư Đoàn 3 BB vào thời điểm tháng 4/1972 là miếng mồi để dụ quân Bắc Việt tiến vào Quảng Trị (xin xem tiêu lệnh phân công và nhiệm vụ do chính Tướng Lê Trọng Tấn soạn thảo qua tài liệu được tìm thấy trong sổ tay của một số Tiểu Đoàn Trưởng quân Bắc Việt tử trận, và phòng 2 Sư Đoàn 3 BB và phòng 2 của Sư Đoàn TQLC cũng lưu giữ tài liệu này). Vì vậy khi thấy Sư Đoàn 3 BB không được tăng viện tương xứng, Trung Tá Phạm Văn Đính – Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 56 đã ra đầu hàng quân Bắc Việt: Trung Tá Đính không nghĩ tới trường hợp Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai được mật lệnh sẽ rút quân ra khỏi Quảng Trị để tránh bị tổn thất nhân mạng cho binh sĩ các cấp.

Tất cả những đơn vị rút lui ra khỏi Quảng Trị vào tháng 5/1972 đều được chỉnh đốn hàng ngũ, tái trang bị quân trang quân dụng để chờ ngày xuất phát tái chiếm Quảng Trị. Nhưng riêng Sư Đoàn 3 BB thì không, sau khi tập trung tái bổ xung nhân sự và quân trang vũ khí tại Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa, toàn thể Sư Đoàn 3 BB được vận chuyển vào Quảng Nam để nhận vùng trách nhiệm mới. Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh (gốc Thiết Giáp) được bổ nhiệm làm tân Tư Lệnh, dĩ nhiên phải thay đổi huy hiệu của Sư Đoàn vì khi trấn đóng tại Quảng Trị, huy hiệu cũ có 2 chữ BẾN HẢI. Để thay thế Sư Đoàn 3 BB, toàn thể Sư Đoàn TQLC cũng được chuyển ra Quảng Trị (ngoại trừ Trung Tâm Huấn Luyện Sóng Thần và Quân Y Viện Lê Hữu Sanh vẫn còn nằm lại Thủ Đức – Gia Định). Điều đó củng cố cho ý nghĩ của người viết là kế hoạch di tản Sư Đoàn 3 BB ra khỏi Quảng Trị cũng như tái phối trí và hoán chuyển 2 Sư Đoàn vừa nói trên đều nằm trong kế hoạch dự trù từ trước của Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn.

Sĩ quan Lê Văn Trạch của Phòng 2 Sư Đoàn 3 BB viết: “… Trước tình hình khẩn trương, có nguy cơ quân đội BV sẽ tấn công vào Thừa Thiên – Huế, trong khi Tướng Hoàng Xuân Lãm và Bộ Tham Mưu của ông không còn khả năng và uy tín để chỉ huy những đại đơn vị thuộc quyền và ứng phó với một chiến trường quá cỡ.“ (Hết trích)

Đại Tá Ngô Quang Trưởng khi đang là Lữ Đoàn Trưởng cuả Nhảy Dù đang hành quân tại vùng giáp ranh Quảng Trị – Thừa Thiên, tháng 6/1966 nhận được lệnh của Trung Tướng Nguyễn Hữu Có – Tổng Tham Mưu Trưởng QL/VNCH vào thành Mang Cá đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB thay thế Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Tướng Nhuận bị cất chức và chuyển giao vào Sài Gòn để ra Tòa Án Quân Sự vì dính dáng đến biến cố Bạo Loạn Miền Trung 1966.

Năm 1967, Đại Tá Ngô Quang Trưởng được thăng chức Chuẩn Tướng và nắm giữ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB. Trong vòng 4 năm từ 1966 đến 1970, ông cũng được thăng cấp Thiếu Tướng trong thời gian làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB. Khoảng cuối năm 1970 ông về nắm giữ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 và Quân Khu 4, ông được vinh thăng Trung Tướng trước khi trở ra miền Trung làm Tư Lệnh vùng 1.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng – Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1 (sau tháng 5/1972)


Điều chắc chắn không ai chối cãi là ông quá quen thuộc với địa hình vùng Quảng Trị – Thừa Thiên nhiều hơn Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai. Và cá nhân người viết còn đoan chắc là Tướng Ngô QuangTrưởng đã tham dự nhiều khóa huấn luyện của Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Liên Quân của Quân Lực Hoa Kỳ tại Fort Lavenworth. Sự thăng tiến trong kỹ thuật tác chiến của Tướng Trưởng nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan tình báo Bắc Việt, nên quân Bắc Việt đã phải trả giá rất đắt về nhân mạng trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị 1972. Tướng Trưởng cũng đã tốt nghiệp với ưu hạng của Văn Bằng Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Liên Quân Đồng Minh.

Cả đến hai mươi năm sau, trong quyển tiểu sử tự viết (autobiography) vào năm 1992, Đại Tướng Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh trong Chiến Tranh Vùng Vịnh – Gulf War, đã gọi Tướng Ngô Quang Trưởng là “vị chỉ huy chiến thuật xuất sắc nhất mà tôi đã từng được biết.” Sự ngưỡng mộ hết mực của Đại Tướng Schwarzkopf dành cho Tướng Ngô Quang Trưởng chính là vì ông đã chứng kiến tài phối hợp điều binh Liên Quân Đồng Minh của Tướng Trưởng trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị năm 1972 mà nhiều người đã lầm tưởng Đại Úy Schwarzkopf ngưỡng mộ Thiếu Tá Trưởng trong trận đánh tại Ia Drang vào năm 1965 khi Thiếu Tá Trưởng làm Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù.

Ngay khi ra vùng 1, Tướng Trưởng đã cho thiết lập Trung Tâm Truyền Tin để ông có thể ra lệnh trực tiếp cho các giới chức quân sự cao cấp như Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược B-52 tại căn cứ Utapao bên Thái Lan, Bộ Tư Lệnh Hải Đội của Hoa Kỳ tại vùng biển VN, các đơn vị Không Quân của Hải Quân đóng trên các Hàng Không Mẫu Hạm, Sư Đoàn TQLC/VN, Sư Đoàn Nhẩy Dù, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ, các tiểu đoàn Pháo Binh Diện Địa cũng như Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 101 của Pháo Binh 175 ly. (Chú thích của người viết: liệt kê dài dòng như vậy để cho thấy Trung Tướng Trưởng đang điều quân cấp liên Quân Đoàn của Liên Quân Đồng Minh).

Đại Tá Dư Quốc Đống giữ chức Tư Lệnh Nhảy Dù thay thế Thiếu Tướng Cao Văn Viên để giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 3 từ 1965, ông thăng chức Chuẩn Tướng vào năm 1966 (khi đó Đại Tá Ngô Quang Trưởng còn giữ chức Lữ Đoàn Trưởng của Nhẩy Dù). Ngay từ 19-6-1965, Tướng Lê Nguyên Khang đã nắm giữ Tư Lệnh Quân Đoàn kiêm nhiệm Tư Lệnh TQLC. Vì vậy khi ra miền Trung nắm giữ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Bộ Tổng Tham Mưu đã thay thế 2 ông Tướng có thâm niên công vụ cao hơn Tướng Trưởng để ông dễ chỉ huy 2 đại đơn vị Nhẩy Dù và TQLC. Sự thay thế đó là Đại Tá Lê Quang Lưỡng giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn Dù và Đại Tá Bùi Thế Lân giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC, cả 2 ông Tư Lệnh mới này đều tốt nghiệp Khóa 4 Trường Bộ Binh Thủ Đức và chưa có thâm niên công vụ cấp Tướng Lãnh.

Quyển sách Quân Sử của TQLC/VNCH cũng đề cập đến khả năng ghê gớm và hiệu quả của hải pháo đặt trên các tàu chiến tiếp cận bờ biển Quảng Trị đã bắn yểm trợ TQLC/VNCH. Đây là loại vũ khí mà các tướng lãnh của Bắc Việt không biết tới. Họ đã điều động nhiều súng phòng không để kiềm chế các máy bay của Không quân, nhiều đơn vị mang hỏa tiễn AT-3 để khống chế chiến xa của ta, dùng đại bác 130 ly tầm xa 32 km bắn cường tập vào mục tiêu để đè bẹp pháo binh ta. Nhưng không có đơn vị nào trang bị hỏa tiễn ĐỊA đối HẢI để đẩy lui các chiến hạm của Hoa Kỳ ngày đêm pháo kích vào các căn cứ của Cộng quân! Điều này cũng dễ hiểu vì quân đội Liên Xô và Trung Cộng không có kinh nghiệm nào về hải pháo và cũng chưa bao giờ tham chiến với mô thức chiến trận này. Suy ra, nếu có tác chiến trực tiếp với Hoa Kỳ thì bộ binh Trung Cộng hay bộ binh Liên Xô cũng sẽ chịu tổn thất nặng nề y như quân đội Bắc Việt vậy thôi.

Người viết gọi Cổ Thành Quảng Trị là cái RỌ, vì chiều tối 01 đại đội quân Bắc Việt vượt sông chui vào tăng cường cho quân trú phòng, nhưng không chịu nổi hỏa lực của hải pháo, nên sáng hôm sau phải rút ra. Làm một bài tính, khi vào khoảng hơn 100 người mà khi rút ra, đại đội chỉ còn khoảng 7-8. Nhà báo Huy Đức trong quyển Bên Thắng Cuộc tính nhẩm đã có hơn 10,000 chiến binh Bắc Việt bỏ mạng, bỏ xác tại Cổ Thành (thành phần này đa số là sinh viên học sinh của thành phố Hà Nội).

Chính phủ Nixon giúp chúng ta chiến thắng trận Quảng Trị năm 1972 là để “mua thời gian” không cho cộng quân chiếm VNCH trong năm 1972. Hoa Kỳ là một quốc gia lớn, có nhiều việc cần phải làm, Hoa Kỳ không thể bị sa lầy tại Việt Nam cho nên bỏ rơi VNCH cũng là cách làm cho chiến tranh Việt Nam phải chấm dứt.

Nhiều người VN, kể cả người viết bài, đều không hiểu đấu pháp của Tổng Thống Nixon. Và cũng vì vậy phía bên cộng sản VN đã chịu tổn thất nhân mạng lên tới 3 triệu tinh binh. Tháng 11/1968, cá nhân người viết cùng với người bạn chạy lên Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất xem diễn biến bầu cử giữa 2 ứng cử viên Humphrey của Đảng Dân Chủ và Nixon của Đảng Cộng Hòa. Chúng tôi thở phào khi ứng cử viên Nixon chiến thắng và lầm tưởng Chính Phủ Nixon sẽ yểm trợ VNCH chiến thắng Bắc Việt. Đó là một sự lầm lẫn to lớn vì sau này mới hiểu ra là Nixon cần chiến thắng ngôi vị Tổng Thống Hoa Kỳ để “rút quân về nước”.

Nixon ra lệnh cho Melvin Laird – Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng lập kế hoạch rút quân dưới cái tên Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Cuối năm 1971, toàn thể Lục Quân Hoa Kỳ trú đóng tại phần đất VNCH đã lên đường về nước. Cấp lãnh đạo Bắc Việt tưởng là ngon ăn nên phát động 3 mặt trận Trị – Thiên, Kontum và Bình Long – An Lộc nhưng thất bại cả 3 mặt trận. Lãnh đạo VC tưởng rằng nhân dân Hoa Kỳ sẽ không bỏ phiếu cho Nixon vì Kế Hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh thất bại. Thực tế, trong cuộc bầu cử 1972, Tổng Thống Nixon đạt được thắng lợi trên 49 tiểu bang vì ông chủ trương rút quân từ từ chứ ông không “bỏ chạy” như ứng cử viên Đảng Dân Chủ  là Thượng Nghị Sĩ Mc Govern chủ trương.

Người viết không có bất cứ lời than phiền nào đến các vị lãnh đạo của VNCH vì chúng ta bị Bắc Việt xâm lăng, chúng ta bắt buộc phải chiến đấu để bảo vệ đất nước của chúng ta, bảo vệ nhân dân và gia đình thân thuộc của chúng ta. Chính phủ Nixon giúp chúng ta chiến thắng trận Quảng Trị năm 1972 là để “mua thời gian” không cho cộng quân chiếm VNCH trong năm 1972. Hoa Kỳ là một quốc gia lớn, có nhiều việc cần phải làm, Hoa Kỳ không thể bị sa lầy tại Việt Nam cho nên bỏ rơi VNCH cũng là cách làm cho chiến tranh Việt Nam phải chấm dứt.

Viết xong tại San José, ngày chủ nhật 12 tháng 2 năm 2017

 *Trần Trung Chính

**

        ANH  MỚI  BIẾT  YÊU  LẦN  ĐẦU

  • Truyện của Phương Lan

  •       Năm 1954, khi hiệp định Geneve được ký kết để phân đôi Nam, Bắc thì tất cả các cơ sở, trường học của chính quyền Quốc gia đều được di chuyển  vào miền Nam.  Chính thời điểm này và tại mảnh đất hiền hoà của miền Nam thân thương này, là nơi đã nhen nhúm mối tình đầu thầm kín của tôi.

Niên khóa năm 1955 – 1956, tôi mới mười ba tuổi và học lớp đệ lục (tức lớp 6 ) trường Chu Văn An.  Trường tôi tuy là trường nam sinh, nhưng riêng các lớp lớn như đệ nhị, đệ nhất  thì học chung cả nam lẫn nữ sinh.  Nguyên do là vì bên trường Trưng Vuơng, cơ sở chưa tổ chức kịp nên chỉ thâu nhận học sinh đến lớp đệ tam.  Nữ sinh các lớp cao hơn, đặc biệt là các ban ban sinh ngữ – triết học, và ban khoa học thực nghiệm, phải qua học nhờ bên trường Chu Văn An.  Do đó nên mới khởi sinh ra những cuộc tình thơ mộng giữa học sinh hai trường, và mối thân tình giữa trường Chu Văn An và Trưng Vương cũng bắt đầu từ đấy, rồi quen lệ cứ tiếp diễn mãi, đến các thế hệ đàn em sau này.

Tôi được quen chị Kim, năm đó chị trạc độ mười tám, mười chín tuổi và đang học lớp đệ nhất. Tôi bắt đầu chú ý đến chị hôm nhà trường tổ chức văn nghệ vào dịp Tết nguyên đán.  Chị Kim ở trong ban ca múa, hôm đó chị hát bài “ Hướng về Hà Nội. ”  Giọng chị trong vắt, ngọt ngào, vút cao hoà với tiếng đàn.  Tiếng hát của chị làm rung động biết bao con tim của những kẻ tha hương, nhớ về thành phố cũ thân yêu, giờ đã cách xa nghìn trùng.

Tôi đứng im lặng, chiêm ngưỡng chị lộng lẫy trong áo dài màu vàng nhạt, trông thật là đẹp với mái tóc óng ả, đen như mun buông dài đến ngang lưng, một chút son hồng trên môi và nụ cười thật tươi…Tôi về, ngẩn ngơ hết cả buổi, và từ đó mỗi buổi sáng khi đứng xếp hàng chờ vô lớp, tôi thường say sưa ngắm chị xinh đẹp, tha thướt trong áo dài bằng tơ màu trắng.  Tôi về mộng mơ và tôi bắt đầu làm thơ, những trang vở học trò kín đầy những vần thơ yêu với lời lẽ ngây ngô, những lá thơ tình không bao giờ gởi.  Có những ngày chị Kim không đi học, thì suốt buổi hôm đó tôi cũng chẳng học hành gì được, đầu óc để tận đâu đâu, tôi thả hồn theo tưởng tuợng, băn khoăn tự hỏi giờ này chị đang làm gì nhỉ? chị đau ốm gì chăng?  Hay là..? tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp, hay là chị gặp tai nạn trên đường đi đến trường?  Ruột tôi thắt lại vì lo, đầu tôi quay cuồng với bao nhiêu câu hỏi, tôi chỉ mong chóng đến giờ tan học để chạy bay đến nhà chị.  Nhưng đứng trước cổng, tôi lại ngập ngừng không dám vào, không biết viện lý do gì để đến nhà chị, tôi đành đứng rình trước cổng, mong được thấy bóng chị ra vào để yên tâm. Chờ hoài chẳng thấy chị đâu, trời chợt đổ mưa tầm tã, tôi đành phải ra về, quần áo, tóc tai đều ướt nhẹp.  Hôm đó, tôi bị cha tôi đánh cho một trận nên thân, về tội tan học không về nhà, còn mải đi chơi.  Tuy đau, nhưng tôi không hề hối hận, và vẫn cho hành động của mình chẳng có gì sai trái.  Cha tôi làm sao hiểu được những ý nghĩ trong đầu tôi? 

Dạo này tôi thấy mình thay đổi khá nhiều, rõ ràng là đã qua thời kỳ trẻ con, tôi chán hết những trò đá dế, đánh banh, mà chỉ thích đọc sách.  Những tiểu thuyết tình làm tôi mơ mộng, thương nhớ vu vơ, tôi nghĩ về tình yêu và tôi nghĩ đến chị Kim… Bấy giờ đang là mùa mưa, Sài Gòn có những cơn mưa nhẹ nhưng dai dẳng triền miên, tưởng không bao giờ dứt, màn mưa che mờ cảnh vật, không gian như chìm lắng.  Mưa buồn lê thê, hay chỉ tại lòng tôi đang cô đơn?  Ngồi bên cửa sổ, ngắm những sợi nước nghiêng nghiêng như đan mành, chao qua, chao lại theo mỗi cơn gió, lòng chợt man mác một nỗi buồn không tên, cậu bé mười ba đã hết vô tư rồi.  Mưa vẫn rơi miên mang không ngừng, mưa rơi tí tách trên mái hiên, mưa nhỏ giọt trên cành lá đong đưa trước cửa sổ, nhìn những giọt mưa như những hạt ngọc trong vắt, bỗng dưng tôi liên tưởng đến đôi mắt của chị Kim cũng long lanh, ướt át, đẹp lạ lùng.  Tôi mê nhất đôi mắt của chị, vừa dịu dàng vừa tình tứ, tôi đọc thấy trong đó những tình cảm nồng nàn chị dành cho tôi, hay tôi tưởng thế?  Mỗi khi nghĩ đến chị Kim là lòng tôi lại xôn xao những cảm giác khó tả, tâm tư tôi đầy ắp hình ảnh của chị, bóng dáng chị ám ảnh tôi đêm ngày, ngay cả trong những giấc mơ. Tôi băn khoăn tự hỏi hay là mình đã biết yêu? chắc vậy, tôi chắc lòng mình đã yêu chị Kim mất rồi.

Chị Kim không biết có hiểu tình cảm của tôi không, nhưng mỗi khi bắt chợt tôi đang ngây người đứng ngắm chị, chị thường mỉm cười và đôi khi còn thưởng cho tôi mấy cái xoa đầu, hoặc vỗ nhẹ vào vai khiến tôi đỏ mặt, vừa sung sướng vừa mắc cở.  Xưa nay tôi chưa hề có cảm giác đó bao giờ, mẹ và các chị lớn thỉnh thoảng vẫn vuốt ve hoặc ôm tôi vào lòng, tôi chẳng thấy có gì khác lạ.  Thế mà không hiểu sao khi tay chị vừa chạm vào vai, tôi bỗng có cảm giác như một luồng điện vừa chạy qua khiến tôi rùng mình, tim đập như trống làng và người thì nóng bừng lên trong một cảm giác thích thú lạ lùng.  Tôi về sung sướng hết cả ngày hôm đó.  Nhà tôi ở khác phố với chị Kim, và tôi vẫn cuốc bộ tới trường, nếu đi lối tắt thì không xa lắm, nhưng tôi chẳng quản ngược đường, ngày nào đi học cũng đi vòng qua nhà chị. Tôi thường đi rất sớm để được núp sau một gốc cây, lén lút ngắm chị lúc chị dắt xe đạp ra khỏi cổng.  Buổi sáng, trông chị tươi mát trong áo dài lụa, tóc thề xõa ngang vai, làn da trắng mịn và đôi môi đỏ tự nhiên, tôi thấy chị đẹp như công chúa trong truyện cổ tích đời xưa, đẹp như tiên giáng thế…

Chị ra trễ cách mấy, tôi vẫn chờ và khi chị lên xe đạp đi rồi, tôi mới chạy vắt giò lên cổ cho kịp giờ vô lớp.  Có một lần thấy tôi tới trường vừa chạy vừa thở, mặt mũi đỏ nhừ, chị thương hại hỏi:

–         Sao hôm nào Phan cũng đi trễ để phải chạy toát mồ hôi vậy?

Tôi ấp úng nói dối:

–         Tại tối hôm qua em thức khuya học bài nên sáng nay dậy muộn.

Chị cười hiền hậu:

–         Những hôm nào trễ thì cứ ghé chị, chị chở đi học.

Tôi mừng như mở cờ trong bụng, thế là từ hôm đó ngày nào tôi cũng “ thức khuya, dậy trễ ” và như vậy ngày nào tôi cũng được chị Kim chở đi học.  Ngồi trên yên sau xe đạp của chị, tôi cố gắng không dám cử động mạnh sợ chạm vào người chị, nhưng tôi phồng mũi hít hương thơm từ tóc chị theo gió bay ngược lại.  Chị Kim không xức nước hoa, nhưng gội đầu bằng bồ kết pha với chanh nên tóc chị có mùi thơm là lạ.  Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ mùi hương đặc biệt không đâu có, không nước hoa nào sánh bằng, đó là mùi hương tóc của thiếu nữ Việt Nam.

Tôi hay tìm dịp đến nhà chị chơi, khi thì đem cho chị mượn vài cuốn truyện, khi thì nhờ chị giải đáp cho một bài toán khó, khi thì… chẳng có lý do gì cả.  Lúc nào chị cũng vui vẻ tiếp đón, có khi chúng tôi ngồi với nhau cả buổi, tỉ mẩn ngắt từng cái lá sâu của cây hồng tầm xuân ngoài vườn.  Chị Kim thích hoa lắm, mảnh sân phía sau là chỗ phơi quần áo, không rộng lắm, thế mà chị đã chừa ra hơn phân nửa đất để trồng toàn hồng.  Mùa hè, hồng trổ bông rực rỡ, chị thường ra vườn đứng ngắm cả giờ không chán, và trầm trồ khen ngợi:

–         Đẹp quá, ngắm hoa thấy mát dịu cả tâm hồn.

Tôi chẳng thấy mát dịu tí nào khi ở ngoài nắng như thế này, nhưng nhìn khuôn mặt rạng rỡ của chị, tôi cũng thấy sung sướng.  Vui theo niềm vui của chị, tôi hăng hái đi lấy thùng, xách nước tưới cây, hai chị em vừa làm việc, vừa nói chuyện vẩn vơ.  Một lần chị Kim hỏi:

–         Sau này lớn lên Phan sẽ làm nghề gì?

Bị hỏi bất chợt, tôi lúng túng:

–         Em… em cũng chưa biết, nhưng chị, chị sẽ làm gì?

–         Chị à? chị chỉ thích làm cô giáo thôi, vì chị yêu nghề dạy học.

Tôi vui vẻ nói liền:

–         Nếu vậy em sẽ làm học trò, học trò của chị.

Chị cười:

–         Bộ Phan muốn là học trò mãi sao?

Được dịp, tôi thố lộ:

–         Mãi mãi, nếu chị vẫn là cô giáo!

Mỉm cười, chị đập nhẹ vào vai tôi, mắng yêu:

–         Điên hay sao, Phan? Con trai phải học giỏi, phải đi du học ngoại quốc, phải trở thành bác sĩ, kỹ sư…

–         Em khác, em cũng muốn trở thành bác sĩ, kỹ sư. Nhưng…

–         Nhưng sao?

–         Nhưng… em không muốn xa chị! 

Thốt xong câu “ tỏ tình ”, tôi xấu hổ, mặt mũi đỏ bừng không dám nhìn chị mà giả vờ ngó đi chỗ khác.  Chị Kim cười hồn nhiên, lắc đầu không hiểu, có lẽ chị cho rằng tôi còn trẻ con hoặc dở hơi, chị đâu có ngờ hình ảnh của chị đã ghi sâu vào tâm hồn của cậu trai mới lớn ngay từ phút ban đầu.  Không biết  tỏ cùng ai, tôi đành gởi tâm sự qua tiếng đàn.

 Cuối niên học đó chị Kim thi đậu tú tài toàn phần.  Chị mừng lắm, nhưng tôi lại buồn vì lòng tôi ích kỷ, tôi chỉ mong chị rớt vì nếu đậu rồi, chị sẽ không còn học chung trường với tôi nữa.  Tôi bùi ngùi nhớ tiếc những ngày được chị đón đưa đến trường, lòng tôi quặn thắt, nhớ sao là nhớ, tiếc sao là tiếc… Trước khi bãi trường, các lớp đều tổ chức một buổi tiệc mãn khoá, trao quà kỷ niệm.  Nhân dịp này, tôi tặng chị Kim một bộ sưu tập tem thơ mà tôi quí nhất đời, tôi xin chị một tấm ảnh và yêu cầu chị viết vài trang vào tập “ lưu bút ngày xanh ” của tôi.  Chị Kim tặng lại tôi một quyển tập đầy những hoa ép khô rất khéo và mỹ thuật chị tự tay làm lấy, chị dơ lên cho tôi xem vài bông phượng đỏ mới ép, nói giọng buồn buồn:

–         Những bông phượng vĩ cuối cùng đời học trò của chị đấy!

Tim tôi nao lên, cảm thấy như sắp đánh mất một cái gì quí giá, tôi ngó chị lom lom:

–         Tại sao thế? chị thôi học luôn à? chị không học lên nữa sao?

–         Có lẽ không, hoàn cảnh của chị học như vậy tạm đủ rồi.  Chị nghĩ có lẽ chị phải đi tìm việc làm để phụ thêm với mẹ chị, còn Phan ở lại, cứ tiếp tục học cho giỏi nhé?

Tôi rụt dè:

–         Nhưng mà, chị Kim ơi! em… em nhớ chị lắm!

Chị vuốt tóc tôi:

–          Chị cũng vậy, thỉnh thoảng Phan cứ đến chơi, có ai cấm đâu nào?

Chị không cấm, nhưng tôi vẫn không giữ chị được lâu, vì chỉ một năm sau chị Kim đã có người yêu, đó là anh Thiện, một sinh viên năm thứ tư trường thuốc, chị quen anh ta trong dịp hai người cùng đi dự một đám cưới.  Anh Thiện hai mươi lăm tuổi, người cao lớn, vẻ hoạt hoạt bát trí thức, sánh với chị ai cũng bảo xứng đôi.  Nhưng tôi cảm thấy không ai đáng ghét hơn anh Thiện, bởi vì tôi yêu chị Kim nên tôi ghen, tôi tìm những khuyết điểm của anh Thiện để phóng đại lên gấp mười, tôi hỏi chị Kim:

–         Tại sao chị ưng anh Thiện? người gì cặp mắt lúc nào cũng nháy lia, trông gian lạ.

Chị hơi đỏ mặt:

–         Tại anh ấy cận thị, bỏ kính ra nó như vậy, chứ… đâu có…

Tôi tức mình xổ cho một tràng:

–         Phải, đối với chị, cái gì của anh Thiện mà chả đẹp? ngay cả hàm răng đứng trú mưa ba ngày không ướt của anh ấy, chắc cũng đẹp?

Chị Kim giận lắm, cau mặt mắng:

–         Chị cấm Phan khôngđược phê bình anh ấy kiểu đó.

–         Hừ! chị lú ruột rồi, động một tí là bênh.

Chị tức tới phát nghẹn không nói được, một lúc sau mới thở dài:

–         Phan bậy lắm, lần sau không được nói năng như vậy nữa, chị giận.

Thấy chị rơm rớm nước mắt, tôi hối hận và vội vàng xin lỗi chị.

Chị Kim yêu anh Thiện lắm, chỉ cần nhìn nét mặt rạng rỡ và đôi mắt long lanh tình tứ của chị mỗi khi nhìn anh ta, là tôi lại tức điên lên, nhưng không làm gì được, tôi chỉ biết đau khổ cho sự yếu thế của mình.

Niềm riêng dấu kín trong lòng, chẳng ai buồn để ý tìm hiểu tâm trạng của tôi, bởi vì đối với chị Kim, với anh Thiện, với tất cả mọi người, tôi chỉ là một thằng nhãi.  Anh Thiện trước kia yêu chị Kim say mê, nhưng không hiểu sao càng ngày anh càng lơ là dần, và chẳng bao giờ đề cập đến chuyện cưới xin.  Có lẽ anh cho rằng anh là một thanh niên có địa vị – một ông bác sĩ tương lai – lại con nhà danh giá, thiếu gì gái đẹp, nhà giàu chạy theo? còn chị Kim chỉ được cái nhan sắc, nhưng nhà nghèo, lại mồ côi cha…  Anh làm một con tính, suy xét thiệt hơn, anh thấy là anh dại và anh rút lui từ từ, thưa dần đi lại.  Có một lần anh hẹn, nhưng không đến, làm chị Kim thở ngắn, thở dài, đi ra đi vào, chốc chốc lại nhìn đồng hồ, sáu giờ, rồi bẩy giờ, anh vẫn không đến… Chị Kim nhìn mâm cơm thịnh soạn chị  mất công bỏ cả buổi chiều để trổ tài nấu nướng, bây giờ đã nguội ngắt, chị tủi thân, ứa nước mắt khóc. Tôi đau đớn nhưng đành nén lòng dỗ chị:

–         Chị đừng khóc nữa, chắc anh kẹt chuyện gì đó thôi.  Hay là… chị để em đi tìm, em thử đến nhà anh ấy xem sao nhé?

Chị Kim tươi ngay nét mặt:

–         Ừ, phải đấy! Phan đi giúp chị xem sao? chị là con gái, đến nhà anh ấy không tiện.

Thế là tôi bèn lấy xe đạp, cắm cúi đạp gần năm cây số mới đến nhà anh Thiện để bắt gặp anh ta đang tươi cười âu yếm với một cô gái khác.  Thấy tôi đến, anh ngạc nhiên:

–         Gì thế Phan? có chuyện gì vậy?

Tôi khều anh ra ngoài, nói nhỏ:

–         Anh quên là có hẹn với chị Kim sao? chị ấy đang đợi cơm anh ở nhà.

Anh Thiện à lên một tiếng rồi vỗ trán:

–         Ừ nhỉ, anh quên mất thiệt.

Nhưng rồi chợt liếc vào phòng khách có cô bạn đang ngồi, anh nói khẽ:

–         Nhưng anh kẹt rồi, anh lỡ hẹn sẽ đi coi xi nê với cô bạn kia.

Tôi giận lắm:

–         Anh coi thường chị Kim quá, anh có biết chị ấy đang khóc lóc? chị ấy chờ anh đã ba, bốn tiềng đồng hồ rồi…

Anh Thiện nghiêm ngay nét mặt:

–         Giữa anh và chị Kim đã có gì ràng buộc đâu? Anh chưa hứa hẹn  chi cả, anh coi Kim cũng như các cô bạn gái khác.

À ra thế, tôi chua xót nghĩ thầm và thương chị Kim vô hạn, chị đã yêu anh Thiện với tất cả say đắm của mối tình đầu, chị hy vọng được cùng anh xây dựng gia đình, chị mù quáng trong tình yêu vô vọng.  Chị không biết rằng anh ta là một người tính toán, anh theo đuổi chị, chỉ vì chị đẹp và tính anh thích đi chinh phục, nhưng cưới chị thì anh không cưới, chỉ vì chị nghèo.  Người vợ anh cưới phải đem lợi lộc đến cho anh, không thể là một cô gái trắng tay như chị Kim.  Tôi bẽ bàng ra về, quên cả chào, anh Thiện nói với theo:

–         Biểu với chị Kim tuần sau anh đến.

Tôi muốn nói thẳng vào mặt anh “ đừng đến nữa, chị tôi không thèm, chị tôi không cần cái bản mặt sở khanh của anh đâu. ”  Nhưng tôi đành im lặng, tôi không dám nói, tôi không đủ tư cách để nói, bởi vì chị Kim không chiếm một vị trí nhỏ nào trong tim anh cả.  Trở về nhà chị Kim, không nỡ để chị thất vọng, tôi phải nói dối rằng không gặp anh Thiện và người nhà nói rằng anh phải đi trực dùm cho một người bạn bị đau bất ngờ, chị Kim có vẻ yên lòng với lời giải thích ấy.  Nhưng lâu dần rồi chị cũng hiểu vì càng ngày anh càng tỏ ra lơ là, và đã mấy lần chị bắt gặp anh ta đang cặp tay dạo phố với một cô gái khá đẹp.  Chị Kim buồn, một cái buồn âm thầm nhưng da diết, chị không khóc, nhưng thường ngồi im lặng hàng giờ, mắt nhìn xa vắng. 

Mặc dù trong thâm tâm, tôi rất hả hê về sự rút lui của anh Thiện, nhưng thấy chị sầu não, tôi không đành lòng. Tôi lăng xăng bên cạnh chị, cố làm mọi cách cho chị vui, tôi đem đủ thứ chuyện ở trường ra kể cho chị nghe, từ chuyện ông giáo sư dạy toán, cận thị nặng, bị học trò dấu mất cặp kính, đến chuyện một tên học trò bị kêu lên trả bài trong lúc đang ăn vụng, chuyện một nữ giáo sư trẻ trong lúc đang giảng bài thì bị rơi mất hàm răng giả v..v.. Chị bật cười và quên buồn trong chốc lát.

Ngoài giờ phải đi học, chúng tôi quấn quít bên nhau suốt ngày, đó là thời kỳ tôi sung sướng nhất, vì chị Kim chẳng yêu ai, chị chỉ có một mình tôi.  Chị thường đến nhà để kèm cho tôi học, niên học đó tôi luôn luôn đứng đầu lớp.  Cha mẹ tôi mừng lắm, còn tôi, tôi ước ao sẽ chẳng bao giờ chị Kim đi lấy chồng và chúng tôi cứ sống bên nhau như thế này mãi, suốt đời… Ước mong của tôi chẳng bao giờ thành sự thật vì đến năm tôi lên đệ tứ, sắp sửa thi trung học thì chị Kim đi lấy chồng.  Cái ngày mà tôi lo sợ đã tới, chị Kim không thể sống mãi với mối tình tuyệt vọng, chị không thể yêu mãi một người không xứng đáng, chị sợ tuổi xuân qua đi nên bằng lòng làm vợ một thương gia đứng tuổi, do một đám mai mối.  Ông Hợp tuổi gần bốn mươi, giàu có, đứng đắn và chân thật, mới gặp chị Kim vài lần đã tính ngay đến việc cưới hỏi, đám cưới sẽ rước dâu về tận Rạch Giá. Thế là chị Kim đi lấy chồng, đột ngột và nhanh chóng tới nỗi tôi không kịp chuẩn bị tinh thần để hiểu rằng từ đây chị sẽ xa tôi vĩnh viễn.

Ngày chị lên xe hoa, tôi nằm nhà khóc xưng cả mắt.  Tôi buồn bã dở quyển

“ lưu bút ngày xanh ” đọc lại những dòng chị viết, ngắm lại mấy bông hoa phượng ép khô ngày trước.  Bao nhiêu kỷ niệm cũ hiện về, từ ngày quen biết đầu tiên, những buổi sáng đón đưa nhau tới trường, ba năm thân ái… tất cả đã đi vào dĩ vãng, tất cả sắp xóa mờ, sắp mất hết, chỉ vì chị Kim đi lấy chồng!  Tôi hờn dỗi gom những bông hoa khô thành một gói, đem đến nhà chị quăng trả, chị nhìn tôi ngạc nhiên:

–         Gói gì đó em?

–         Hoa phượng ngày xưa của chị đấy, em trả lại.

Chị lắc đầu:

–         Phan trẻ con quá!

Tôi giận dữ:

–         Em không trẻ con!  Chính chị, chị mới vô tình, chị không bao giờ hiểu được em đâu.

Chị chỉ lắc đầu không nói gì cả, nhưng nhìn mắt chị, tôi biết chị không hiểu thật, vì lúc nào chị cũng coi tôi như một đứa trẻ, những tình cảm chị dành cho tôi chỉ là tình cảm của một người chị đối với đứa em trai nhỏ, chỉ có thế… Chị đi lấy chồng, rồi đây sống cuộc đời bận rộn những bổn phận làm vợ, làm mẹ, liệu chị có còn thì giờ nghĩ đến tôi? một thằng bé dở hơi như chị vẫn thường nói.  Riêng tôi, tôi vẫn ấp ủ hoài những kỷ niệm thân thương ngày cũ, bóng dáng thân yêu của chị, và cả một quãng đời quá khứ êm đềm đã đi sâu vào ký ức, không bao phai mờ cả.

Mười năm sau tôi mới gặp lại chị Kim, bấy giờ chị đã có ba con, trông chị vẫn đẹp, nhưng già dặn hơn xưa, còn tôi đã là một thanh niên trưởng thành.  Nhắc lại những kỷ niệm cũ, chúng tôi đều bùi ngùi nhớ tiếc dĩ vãng, chị Kim bảo:

–         Chóng thật, mới dạo nào… Bây giờ Phan đã thành người lớn rồi.

Tôi muốn nói “ chị không biết ư? em đã thành người lớn từ lâu rồi, từ dạo ấy, nghĩa là từ ngày em biết yêu, em yêu chị… ” Nhưng tôi đã không nói, đừng nói thì đẹp hơn, chị Kim chưa bao giờ hiểu, mãi mãi không bao giờ hiểu.  Phải, chị hiểu thế nào được mối tình của cậu bé mười ba tuổi?

Mười năm sau nữa, tôi mới lấy vợ, một cô nữ sinh Trưng Vương rất đẹp và duyên dáng, kém tôi tới mười tuổi ( lại cũng con số mười định mệnh )

Những buổi tối êm đềm, bên ánh đèn ấm cúng, chúng tôi thường nói chuyện ngày xưa khi còn thơ ấu.  Tôi kể cho Tâm Đan nghe mối tình thuở học trò, nàng nghe xong không nói gì cả, nhưng nhân dịp hai vợ chồng đi ăn cưới một người bạn của tôi, một đại uý phi công hào hoa phong nhã, nhưng cứng rắn có tiếng, người đã từng anh dũng tuyên bố “ không bao giờ để mất tự do, nghĩa là không bao giờ để lọt vào ổ phục kích của các bà .”  Con người hiên ngang, cao gần thước tám, trên không tung hoành, coi trời bằng vung, không sợ ai hết, bây giờ trông khốn khổ trong khăn đóng áo dài, xì xụp lên bái, xuống bái trước bàn thờ gia tiên nhà vợ, chỉ cốt để xin được bàn tay ngọc của một người đẹp cũng dân Trưng Vương.  Tâm Đan mỉm cười, kề tai tôi nói nhỏ:

–         Thấy chưa? đứng trước nữ sinh Trưng Vương, anh hùng hào kiệt nào cũng đều xếp giáp qui hàng hết, làm rể Hai Bà đâu phải dễ?

Thấy tình cảnh của anh bạn, tôi bỗng chợt nhớ đến cái quá khứ chưa xa lắm, cái quá khứ vẫn làm cho vợ tôi kiêu hãnh, đó là thời kỳ tôi theo đuổi nàng, cũng cực khổ trần ai không kém, được dịp báo thù, tôi nghiến răng, xả hết nỗi uất ức:

–         Tưởng gì, các bà có điệu bộ cách mấy, rồi rút cục cũng bị chúng tôi xỏ mũi dắt đi.  Chiến đấu có gian khổ, thì chiến thắng mới vinh quang.  Bây giờ có phải giả dại qua ải thật đấy, nhưng sau cùng, người thắng cuộc vẫn là chúng tôi.

Tâm Đan vẫn cười, một nụ cười rất đẹp – ôi nụ cười, một võ khí ghê gớm của đàn bà, tự cổ xưa vẫn làm bao kẻ anh hùng phải xiêu hồn, lạc phách – Liếc nhanh mọi người chung quanh, thấy không có ai chú ý, nàng bèn êm ái nhéo cho tôi một cái đau điếng:

–         Chưa biết ai thắng, ai bại à nghe? người nào giả dại kiểu đó cũng thành dại thiệt.  Để coi!

Ấy, chỉ có thế mà má bầy trẻ bắt đầu tuyên chiến.  Tối hôm đó, nàng đem hết mùng mền, chăn gối của tôi ra phòng khách, bắt phải ngủ riêng:

–         Để xem ai cần ai cho biết!  Người chiến thắng không bao giờ phải cầu lụy đối phương, hễ van xin là thua cuộc.

A! thì ra bà ấy định chơi trò trường kỳ kháng chiến!  Chơi thì chơi sợ gì? tôi nhủ lòng nhất định không ngán.  Nhưng tôi chỉ làm gan được hai tuần, hai tuần mà sao lâu như hai thế kỷ?  Sau cùng, chịu hết nổi cuộc chiến tranh lạnh kéo dài tưởng như không bao giờ chấm dứt, trong lúc đó địch thủ của tôi vẫn phây phây ra vào, trông ngứa mắt không thể tả. Tôi bèn nén tự ái, hạ mình năn nỉ:

–         Thôi được, cho em thắng!

Tôi thua cuộc, nhưng trong lòng vẫn ấm ức, vì thật ra giải quyết vấn đề ai thắng ai như vậy không công bằng, nghĩa là trong thâm tâm, tôi vẫn không công nhận bà ấy thắng.  Nhưng thôi nhịn một tí cho vui cửa, vui nhà.  Khổ nỗi, nàng không biết tôi nhịn, nên vẫn kiêu hãnh với chiến công và vẫn tuyên bố rằng: việc cho giảng hoà là một “ việc thiện ” để ban ân, bố đức cho địch thủ.  Tôi tức ấm ách mà cứ phải làm thinh, rõ là đàn ông chỉ mạnh về sức vóc bề ngoài, chứ bên trong, lòng dạ ông nào cũng mềm yếu lắm, nhất là đối với phụ nữ.  Xét cho cùng, nhường nhịn vợ chưa chắc đã là dại,  bởi vì các bà chỉ muốn dành phần thắng, thì cứ cho các bà ấy thắng, mình thua nhưng có thiệt đâu? bởi vì mất cái này, thì sẽ được cái khác bù lại.  Sau mỗi lần giận nhau, cuộc làm hoà nào mà chẳng đưa đến kết cuộc vui vẻ?

Bây giờ, sau mấy chục năm sống chung, ngồi tính sổ đời, tôi phải công nhận rằng tôi đã ơn vợ tôi rất nhiều, vì những gì nàng đã cho tôi.  Trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, nàng vẫn sát cánh bên tôi, chia xẻ ngọt bùi, an ủi khi tôi sa cơ thất thế, nâng đỡ khi tôi vấp ngã, và… công ơn lớn nhất của nàng là đã sanh cho tôi những đứa con, trai gái đủ cả, đứa nào cũng thông minh, xinh đẹp và giống bố… Với đôi bàn tay nhỏ bé, yếu đuối, nàng đã góp sức với tôi cùng chèo lái, đưa con thuyền bé nhỏ vượt qua bao nhiêu sóng gió, đến bến bờ hạnh phúc bình yên.  Vợ tôi là dòng suối mát mùa hạ, là tình nồng ấm áp mùa đông, là người bạn đồng hành không thể thiếu, là tất cả những gì quí giá nhất trên thế gian này.  Biết nói gì đây để tạ tình em? người bạn đường yêu quí ơi! xin cám ơn em đã cho anh hạnh phúc lứa đôi, xin cám ơn em đã đi bên anh trong suốt cuộc đời.

 *PHƯƠNG – LAN

*

   THY SỸ LÀ MỘT NGƯỜI ĐIÊN

                         *SA CHI LỆ

*Định nghĩa thi sỹ là tự trét lọ lên mặt mình, một cách ngu xuẩn. Bẩn thỉu. Còn phê bình thơ lại càng khốn nạn hơn. Vì thi sỹ ẩn hiện trong đời sống như bóng ma,thần thánh, hay sương chập chờn, mộng mị liêu trai…Một trí thức VN đã có lần nói : -Anh không thể cảm thơ của người ta thì anh hãy im lặng…và chỉ có những người ca tụng thơ. Trong xã hội không có chỗ ngồi của thi sỹ.

*Người ta nhốt thy sĩ vào nhà thương điên phàm trần. Thy sĩ mỉm cười và cám ơn. Con người nông cạn đến thế! Nào biết siêu việt là gì ? Nào thấy ai cỡi được không gian và thời gian? Cứ lầm tưởng chấm than là hai chấm. Nhìn nước ra nước, mây ra mây, mỗi có một ý niệm thuần túy, khờ khệt. Con người làm sao hiểu được hư vô, tuyệt đối, cảm thông cỏ cây? Nghe được tiếng nói của côn trùng? Sai khiến đá sỏi? Hái cả bầu trời sao đang nhấp nháy? Biết bao chàng tuổi trẻ học đòi bắt chước, tập tành làm thy sỹ, nhưng vẫn bị một phản xạ cay độc quật ngả thảm thương.

*Thy sỹ mang một sứ mạng thiêng liêng cao cả, được sự ký thác của Thượng Đế. Trong tuyệt cùng đau đớn thảng thốt kêu:

-TRỜI SINH TA RA LÀM THY SỸ!

Âm vang cuồn cuộn trôi mãi về ngàn sau. Chỉ có chấp nhận mà không phủ nhận. Bất mãn chung thân. Đam mê cháy đỏ. Nổi loạn trong im lặng. Moi óc gan bày bán cho thiên hạ. Bồng bế khinh khi. Vuốt ve nhục nhã.

*TUỔI TRẺ VẪN KHOÁI LÀM THY SỸ. Anh thực sự là thy sỹ ngay trong lúc tượng hình trong lòng mẹ.

THY SỸ KHÔNG ĐEO BẰNG CẤP TRƯỚC NGỰC, SAU LƯNG. Không lai căng Tây, Mỹ. Thy sỹ tự chiếm một ngôi vị cao nhất trong lãnh vực nghệ thuật. TRĂM NGÀN BÀI THƠ ĐĂNG BÁO, CHƯA THỂ GỌI LÀ THY SỸ, ĐÚNG NGHĨA. Phải cưu mang một định mệnh bất hạnh nhất. Vật chất và thể xác vứt đi. Còn lại mỗi tâm hồn huyền bí. Thông suốt vũ trụ. Làm gạch nối liền giữa hiện hữu và hư vô. Lẫm liệt uy linh. Sống như chết. Chết giữa sự sống. Đảo lộn thần tiên. Hai là một. Một là năm, xa lạ, khác biệt, kỳ cục, nhờm tởm đối với mọi người. Niềm tin bị đục khoét. Cô đơn phãn nộ. Tuyệt vọng nổ tung : Tôi đi đứng và tôi la hét, gìữa mọi người nhốn nháo đảo điên. Thy sỹ cũng múa may tức giận trước cảnh huống cuộc đời, bởi con người đã hiện nguyên hình là con vật khốn kiếp nhất. Giết nhau dã man. Chỉ có thy sỹ mới biết mà kết tội, trừng trị. Ai nói thy sỹ đầu bạc sớm hơn ai, thì kẻ đó không hiểu gì về thy sỹ. Ý nghĩa ấy thật rộng và không có chút chiều sâu.

THY SỸ TRẺ MÃI VÀ BẤT TỬ!*Nhà thơ họ Vũ với linh dược: “Ta chờ em từ ba mươi năm” Người ta không khỏi bật cười trước cái điên được chứng minh như một đinh đề. Bi đát thay!Khi người ta mang danh trí thức.

Lúc đối diện hay ngẫu nhiên nhìn thy sỹ cho là lầm lỡ:

-Chúng không giống ai . Dân Việt mãi bất hạnh, khốn khổ, đói khát, tang chế, vật lộn giành giựt triền miên, vong bản, trên móc ruột kẻ dưới, nối tiếp nhau hoài hoài là vậy. Ngày đêm có biết bao người cầu khẩn, sớm quét sạch lũ quỉ đỏ, như tụng kinh…

*Tự do đeo mặt nạ. Trẻ thơ mếu máo gọi cha, vợ dật- dã trên mộ chồng, mẹ run rẩy không thành tiếng. Xã hội thản nhiên đi qua ,cóc cần biết đến. Chỉ có thy sỹ cặm cụi làm kẻ chứng nhân, thay thế, nói lên những tiếng nói cần thiết, ghi nhận đưa vào lịch sử. Thy sỹ là kẻ bất lực cũng là người nhạy bén trước mọi vấn đề. Lụn bại thần kinh, biến chứng độc tôn trong lâu đài vòi vọi bít bùng. Triết lý bị bầm nát. Ngôn ngữ của thy sỹ là ngôn ngữ của xác chết mà xã hội không nghe được. Mặc dầu nó tầm thường hơn hạt cát. Chỉ gió mây, trăng, nước, mới hiểu nỗi mà thôi.

 “Ta đã chết” một câu hết sức vô nghĩa của ý nghĩa. Nhưng có ai đã nói được. Từng chữ một biến hóa huyền ảo lung linh có thể đọc trong đó cả trăm ngàn thao thức của nhân loại. Một câu nói có sức mạnh làm triệu triệu tinh tú run sợ: “TA CẮN MẶT TRỜI CHO MẶT TRỜI CHẢY MÁU!”

Thy sỹ đứng ở đâu ? Dùng đôi mắt gì thấy? mà dám quả quyết: – Rõ ràng trăng cưỡng hiếp em! Rimbaud cũng đã cắt cổ mặt trời! Tin không các người? Các người bĩu môi à ? Xin nghiêm trọng nói :- Đó là điều có thật. Thật là gì ? Là giả, giả là vay mượn sự sống vậy. THY SỸ LÀ HIỆN THÂN CHO TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU QUÁI ĐẢN. Nguỵ trang trước

mọi người để che đậy phần nào tức giận, tìm lối thoát vinh quang.

*Đêm nát bấy trong miệng. Đắng nghét. Tôi thè lưỡi dài thườn thượt quấn chặt cây ăngten trên nóc nhà thờ. Tôi cụt một chân trên thượng tầng khí quyển. Tóc rối bù, hôi hám, nhiều chí rận chõng ngược đầu ngủ khò trên đó. Cơn thèm rượu đến vô cùng khốc liệt. Uạ mửa ồ ồ làm thức cả mọi người.Tiếng chửi đổng tục tằn như chó sủa.  

  Tôi cười hằn hặt khoái chí. Hàng triệu sâu men kéo biểu tình rầm rộ lên mặt, mũi, chúng đập phá tế bào mẹ, tế bào con, tạo cảnh chết chóc chưa từng có trong da thịt. Tôi nghẹt thở. Trái tim lồng lên, lộn xuống, kêu khình khịt như con trâu bị vặn cổ .

Trí óc xám xịt, sôi sùn sụt, sẵn sàng chẻ nát đầu những người chung quanh. Thằn lằn há hốc miệng kinh sợ. Những dán, những rệp cấu xé nhau trên giường. Mọt tụng kinh xám hối râm rang. Nhện giãy giụa thoi thóp rên rỉ. Bàn ghế bỗng nhiên đi lắc lư hung tợn như ác quỉ.

Tôi nghêng ngang chống chõi mãnh liệt bằng cách đấm ình ình lên ngực. Gãy dòn hai bộ xương sườn còm. Ruột gan lòi ra trắng phếu, máu phun vòi đen sì. Tôi chu miệng uống ừng ực no nê:

-TÔI MUỐN GIẾT LOÀI NGƯỜI VÀ ĐỐT CẢ VŨ TRỤ!

BÔI XÓA SỔ CUỘC ĐỜI. LÊN TRỜI RƯỢT THƯỢNG ĐẾ. . Tra khảo cỏ cây, ôm mặt trời múa hát. Đá tung bầy thiên thai và cuối cùng quỳ lạy.

Quỳ lạy thằng ăn trộm, con mãi dâm, thằng du đãng…thy sỹ vừa gào thét vừa chạy trốn như con chó điên, đáng thương nhất.

Là con vật cô đơn nhất. Luôn lang thang rong chơi trong thế giới của mình. Hãy móc họng cho câm. Đóng đinh lổ tai cho điếc. Đâm thủng mắt  cho mù. Đó! Thy sỹ đã triển lãm con người hôm nay thế đấy. Con người bù nhìn què quặt.

Đêm khuya, dòi đục nửa mãnh trăng ghẻ lở. Ung nhọt tình yêu.

Những con chim tuyệt vọng giật mình té xuống đất chết ngay đơ. Trái đất thối cuống rớt dính tòn teng trên đọt ảo ảnh. Đối tượng ghen tuông thần tượng. Tiền bạc gieo sự tự tử. Đàn bà gieo tai họa. Đàn ông gieo mầm móng chiến tranh và cô độc. Tao chẳng ra gì. Mầy chẳng ra gì và tất cả quay tít như chong chóng phản lực. Thiên đàng, địa ngục biến mất. Còn tôi đứng chơ vơ giữa mịt mù cõi không. Tôi nhai ngấu nghiến dục vọng. Thy sỹ lưng còng, lụm cụm chống gậy trúc, quẫy bầu rượu huỳnh-đào, lủng lẳng ống tiêu, đi chân không như tu sĩ tỳ kheo, mặc xiêm y ngũ sắc.

Thy sỹ cỡi mây chu du khắp ba nghìn thế giới ta bà .

*DƯỚI MẮT XÃ HỘI THY SỸ LÀ MỘT THẰNG ĐIÊN, DƯỚI MẮT THẰNG ĐIÊN THY SỸ LÀ THƯỢNG ĐẾ!

Các người có nghe chăng? Đó là những lời sấm vô cùng linh nghiệm, phải truyền nhật tụng. Để hãnh diện chúng ta mang tính chất con người đúng nghĩa.

THY SỸ KHÔNG AI XA LẠ, ĐÓ LÀ CHÚNG TA!

  • SA CHI LỆ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here