SỐ ĐẶC BIỆT VĂN THƠ NHẠC TÁC GIẢ TÁC PHẨM THỜI DANH THÁNG HAI 2021

SỐ ĐẶC BIỆT VĂN THƠ NHẠC TÁC GIẢ TÁC PHẨM THỜI DANH
                               THÁNG HAI 2021
                                       ***
       *KỲ NÀY CHƯƠNG TRÌNH THẬT ĐA DẠNG PHONG PHÚ
VỚI SỰ GÓP MẶT CỦA QUÝ VĂN NGHỆ SĨ CƠ SỞ VĂN THƠ LẠC VIỆT
       *KÍNH MỜI QUÝ VỊ THƯỠNG LÃM & CHUYỂN TIẾP*ChucGif 9c9b38666562e9b59941f654fc55e5bf

                                      *MỤC LỤC:
1-CHÚC TẾT 2-SLIDE BIẾM HỌA 3-THIỆP CHÚC XUÂN
4-CLIPS VIDEO TẾT 5- GIỚI THIỆU TÀI LIỆU *
6-SLIDE HÌNH ĐẶC BIỆT 7-NHẠC XUÂN 8-LỄ TÌNH NHÂN
9-NHẠC HAY 10-DIỄN NGÂM 11-THƠ TẾT-XUÂN
12-HỒI KÝ 13 TRUYỆN NGẮN 14-XƯỚNG HỌA
15-BIÊN KHẢO
                                             **Dghion Nammoi1

*BIẾM-MINH HỌA NGÀN LỜI:

*SLIDER: THIỆP CHÚC TẾT CỦA QUÝ TỔ CHỨC & VĂN THI SĨ:

*QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG*THCSVSQTĐ*LLĐB*CĐVNBỈ*
*VĂN THƠ LẠC VIỆT*LĐBCND*LÊ NGỌC CHÂU*LÊ TUẤN* *LƯU VŨ*
*NGUYỄN VĂN TẤN*MẠC PHƯƠNG ĐÌNH*NHƯ THƯƠNG*
*ĐẶNG HOÀNG SƠN*DUY HÂN*TRẦN TRỌNG NHÂN*Ý NGA*

*KÍNH MỜI XEM:
         *CHÀO CỜ VN*SỚ TÁO QUÂN*CHÚC TẾT TÂN SỬU*
                                     *TUYẾT RƠI*

                                  ***
                 *GIỚI THIỆU WEBS,-SÁCH, BÁO GIÁ TRỊ

* LM NGUYỄN VĂN LÝ: “Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền”
* VĂN NGUYÊN DƯỠNG: TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR
*CƠ SỞ VĂN THƠ LẠC VIỆT với TÂN CT LÊ VĂN HẢI
* BÁO XUÂN TÂN SỬU (Chicago Việt Báo – Giai Phẩm Xuân 2021)
*VŨ NGỌC ĐĨNH: CA DAO THỜI CS
*ĐỖ QUANG VINH: TIẾNG VIỆT TUYỆT VỜI
*ĐÀO VĂN: Sách Thơ văn ,Tử vi,Dịch học, Phong thủy, Lý số
*NGUYỄN NGỌC HOA Giới thiệu:
*Báo Xuân “Việt Văn Mới: Văn học Nghệ thuật Việt nam”
*TẬP TRUYỆN I đến VI của nhà văn NGUYỄN NGỌC HOA
*NGUYỄN THỊ MINH NGỌC “Xuân Tin Yêu” của Jimmy Show
*Tác phẩm rất giá trị mới xuất bản về TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM và CUỘC CHIẾN OAN KHIÊN

                              ***
       *GIỚI THIỆU TRANH THƠ LỊCH của KTS & HỌA SĨ
                            TRẦN QUANG MINH

                               ***
                    *SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TRANG ĐẶC BIỆT:
              TÁC GIẢ TÁC PHẨM THỜI DANH VĂN THƠ NHẠC

      *QUÝ VĂN NGHỆ SĨ THỜI DANH GÓP MẶT TRONG SỐ NÀY:

                        *NHẠC XUÂN: QUÝ NHẠC SĨ:
           *NGÔ THỤY MIÊN*VÕ TÁ HÂN*YÊN SƠN*
          *NGUYỄN TUẤN*DUY QUANG*CHÚC LINH*
                                          ***
                      *LỄ TÌNH NHÂN VỚI QUÝ THI SĨ:
                 *TRẦM VÂN *LÊ TUẤN *NHƯ THƯƠNG*
    *NHẤT HÙNG *ĐỖ CÔNG LUẬN*ĐẶNG QUANG CHÍNH
* MY VALENTINE . . . Martina Mcbride and Jim Brickman ( with Lyrics )

                                           ***
            *KÍNH MỜI THƯỞNG THỨC NHẠC của quý VĂN NGHỆ SĨ:

*MƠ VỀ NƠI XA LẮM, Nhạc: Phú Quang Thơ: Thái Thăng Long
                       Tiếng Hát: PHÙNG THỊ HẠNH.       
* D.C. NGAY BUON, SANG TAC: THIEN PHUONG, CS: LONG VU
* THƠ MẠC PHƯƠNG ĐÌNH NHAC ĐÀO NGUYÊN TIẾNG HÁT DUY LINH
* Mời thưởng thức ngón đàn Hawaiian tuyệt vời của Ns Phạm Mạnh Đạt.
* Ngày Tháng Nào Yêu Em NS Thanh Trang sáng tác; Song ca:
                         Đèo V. Sách & Kim Phụng
* Nhạc Nguyễn Văn Thành phổ thơ Ý Nga: Xé Lụa An Minh trình bày
* Thơ: Nguyễn Lập Phổ nhạc: Hòang Lan Đệm nhạc: Nguyễn Hải Trình bày: Ca sĩ Hà Lan Phương
* CHÚC CHO NHAU NGHÌN DANH VỌNG SƯƠNG MÙ!
        Thơ SA CHI LỆ – Tiếng Hát Quốc Duy.

                  *Thay đổi hương vị thưởng thức, mời nghe:

            *VÂN KHÁNH & HOÀNG KHAI NHAN diễn ngâm.

                                                 ***
                           *TRANG THƠ QUÝ THI SĨ:

*PHẠM THIÊN THƯ*TRẦM QUỐC BẢO*TRẦM VÂN*
*NGÔ NGUYÊN NGHIỄM* VĂN NGUYÊN DƯỠNG* LÊ TUẤN*
*THANH THANH*HOÀNG NGỌC QUỲNH GIAO*QUỐC NAM*
*MẠC PHƯƠNG ĐÌNH*ĐẶNG HOÀNG SƠN*HOANG MAI NHẤT
*NHẤT HÙNG*LÊ HUY TRỨ*DƯ THỊ DIẾM BUỒN* Ý NGA*
*TÍM*ĐỖ CÔNG LUẬN*BỬU TRUYỀN*NGUYỄN VĂN LẬP*
*NGUYỄN HỮU TÂN*NGÔ MINH HẰNG* Ó BIỂN*
*HỒ CÔNG TÂM*THY AN*ĐẶNG QUANG CHÍNH*
*THÍCH TÁNH TUỆ*TRÚC LĂNG*NGUYỄN THỊ AN*
*NGỌC PHƯỢNG*ĐỨC HÙNG*VIỆT ĐIỂU*
*TRƯỜNG GIANG*KIỀU PHONG*DUY ANH*SA CHI LỆ*

                                       ***
*TRANG HỒI KÝ-TRUYỆN NGẮN-BÚT KÝ-BIÊN KHẢO:
                       *QUÝ NHÀ VĂN GÓP MẶT:
*NGUYỄN KIM DẦN * VĂN NGUYÊN DƯỠNG*TRÀM CÀ MAU*
*TIỂU TỬ*PHẠM TÍN AN NINH*LÊ TUẤN*LÊ XUÂN NHUẬN*
*HOÀNG MAI NHẤT*NGUYỄN NGỌC HOA*CHINH NGUYÊN*
*LÊ VĂN HẢI*DƯ THỊ DIỄM BUỒN*CHU TẤN*ĐINH TẤN SƠN*
                   *HCP*BS CHÂU NGỌC DIỆP*
                                           ***
Bang Tho Xuan Xuong Hoa Capture Copy Copy   *Thi Sĩ & Dịch Giả TRẦN QUỐC BẢO Kính Mời Quý Thân Hữu
                            KHAI XUÂN XƯỚNG HỌA:
* Kính thưa Quí Thân Hữu, Đón chào Tân Sửu, trong mùa Đại dịch Covid, chúng ta chúc mừng và trao nhau những vần Thơ Khai Xuân Xướng Họa – một cách Nghinh Xuân thanh lịch tao nhã của những tâm hồn yêu Thơ quí Bạn. Xin cám ơn các Bằng Hữu đã hưởng ứng cuộc Vui Xuân. Mời đọc Khai Xuân Xướng Họa của các tác giả:

*TRẦN QUỐC BẢO*NGUYẾN PHÚ LONG*TÂM MINH*TRỊNH CƠ*
*NGUYỄN TÂM HÀN*OANH NGUYỄN*VĨNH THẢOHÀ LÊ*
*Y THY*THANH SONG KIM PHÚ*MINH THÚY*LÝ ĐỨC QUỲNH*
*TÍM*CHUNG VĂN*DUY ANH*MAI LỘC*CAO MINH PHƯƠNG*
*ĐTT*KT*TRẦN QUỐC*VÕ NGÔ*TL*NGUYÊN TRẦN*
*NGỌC PHƯỢNG*VIỆT NỮ KIẾM*THÁI HUY*PHƯƠNG HOA*TL*
*THANH TRƯƠNG*CAO MỴ NHÂN*SÔNG THU*CHUNG PHAM*
*QUANG NGUYỄN*SONG QUANG*SÔNG THU*PHƯƠNG HOA*
*LÊ TUẤN*HỒ THANH HÀ*TRƯỜNG GIANG*
                                        ***
           *TRANG BIÊN KHẢO-TẢN MẠN*THAM KHẢO:

          *LÊ TUẤN * PHẠM TRẦN ANH * VƯƠNG ĐẰNG *
         *LÊ NGỌC CHÂU * LÊ HUY TRỨ * TUỆ UYỂN *
                                      ***
*BIẾM-MINH HỌA NGÀN LỜI:

***
SLIDER: THIỆP CHÚC TẾT CỦA QUÝ TỔ CHỨC & VĂN THI SĨ:

*QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG*THCSVSQTĐ*LLĐB*CĐVNBỈ*
*VĂN THƠ LẠC VIỆT*LĐBCND*LÊ NGỌC CHÂU*LÊ TUẤN* *LƯU VŨ*
*NGUYỄN VĂN TẤN*MẠC PHƯƠNG ĐÌNH*NHƯ THƯƠNG*
*ĐẶNG HOÀNG SƠN*DUY HÂN*TRẦN TRỌNG NHÂN*Ý NGA*

*KÍNH MỜI XEM:
         *CHÀO CỜ VN*SỚ TÁO QUÂN*CHÚC TẾT TÂN SỬU*
                                     *TUYẾT RƠI*
Chào cờ Việt Nam – Đoàn Trống La San


***
*Sớ Táo Quân Lâm Viên*
TaoquanlvHăm ba tháng chạp
Táo đang ngồi ngáp
Chẳng muốn làm gì
Chỉ muốn quên đi
Một năm xáo trộn
Quá nhiều lộn xộn
Nhưng ông chủ bút
Đặc San Lâm Viên
Nhắc Táo chớ quên
Viết bài báo cáo
Trình thưa bẩm báo
Cùng với Ngọc Hoàng
Chuyện dưới trần gian
Trong năm Canh Tí
Đành phải chiều ý
Mở còm-piu-tơ
Viết một bài sớ
Kể chuyện trần gian
Để cho Ngọc Hoàng
Đầu đuôi rõ chuyện
Khởi đầu tai biến
Cuối năm con heo
Bệnh dịch hiểm nghèo
Do lũ ác ôn
Tàu cộng Vũ Hán
Chúng đem phát tán
Khắp cả trần gian
Covid lan tràn
Giết người vô số
Ai cũng hoảng sợ
Phố xá lặng yên
Nhà cửa im lìm
Ra đường bịt mặt
Khi có chuyện gấp
Mới dám ra đường
Trẻ không đến trường
Kinh tế trì trệ
Một chuyện rất tệ
Đáng tiếc xảy ra
Mi-Nê-Sô-Ta
Một anh cảnh sát
Trong lúc đè bắt
Một kẻ gian manh
Nhưng rủi cho anh
Cái tên George Floyd
Vì bị nghẹt hơi
Nên đã tắt thở
Dịp may hiếm có
Các chính trị gia
Tuyên truyền ba hoa
Khích động bạo loạn
Khởi đầu là đám
Black Lives Matter
Lợi dụng thời cơ
Đốt tiệm cướp của
Cảnh sát đứng ngó
Không dám cản ngăn
Vì họ sợ rằng
Chống lũ ăn cướp
Phải dùng vũ lực
Sẽ gây kết cuộc
Như chuyện George Floyd
Dân Chủ xu thời
Xúi dân bạo loạn
Dân lành hoang mang
Quân gian làm càn
Chiếm cứ khu phố
Làm thành một chỗ
Để chúng tụ họp
Gọi tên là CHOP
Côn đồ một lũ
Lấy chuyện xưa cũ
Mấy thế kỷ rồi
Nô lệ từ thời
Hoa Kỳ lập quốc
Từ thời lệ thuộc
Đến thời phân tranh
Gây chuyện bạo hành
Phá đài đập tượng
Khiến người dân tưởng
Cộng sản vùng lên
Tước đoạt chính quyền
Huỷ diệt văn hoá
Rồi tiếp theo đó
Chuyện người Việt ta
Chia bảy xẻ ba
Vì chuyện bầu cử
Người phe Dân Chủ
Người phe Cộng Hoà
Cùng nhau vác loa
Chửi nhau túi bụi
Để rồi phút cuối
Bên thắng, bên thua
Đều là thất bại
Những kẻ hưởng lợi
Là đám Việt gian
Cùng với cộng sản
Người Việt tị nạn
Cộng đồng nát tan
Đồng hương, tình bạn
Không hờn cũng oán
Không vỡ cũng rạn
Kẻ thắng hả hê
Người thua chưa chán
Cùng nhau lập toán
Náo loạn D.C.
Chẳng làm được gì
Chỉ gây thêm chuyện
Và chuyện thưa kiện
Bầu cử gian manh
Thôi thế cũng đành
Để mà xếp xó
Mười năm sau đó
Nếu có mở ra
Sự thật sáng tỏ
Thì cũng chẳng bõ
Nước chảy qua cầu
Có trở lại đâu
Việc đời là thế
Nhất là chính trị
Bẩn thỉu vô cùng
Khiến cho người dân
Lắc đầu ngán ngẫm
Truyền thông hướng dẫn
Chỉ có một chiều
Họ phò bên nào
Thì bên ấy thắng
Thật là cay đắng
Cho đám dân đen
Dẫu chẳng thấp hèn
Cũng đành chịu trận
Có người ôm hận
Có người tỉnh bơ
Có người ngồi chờ
Đến hai năm tới
Bầu Quốc Hội mới
Mong cuộc đổi thay
Nhưng trong lúc này
Còn nhiều lo lắng
Đảng Dân Chủ thắng
Cộng sản vùng lên
Tàu cộng tăng thêm
Biển Đông dậy sóng
Tàu cho lệnh bắn
Thuyền cá của dân
Dám tiến lại gần
Đảo chúng chiếm đóng
Lại còn trách mắng
Tàu Mỹ tuần hành
Để ngăn chiến tranh
Của Tàu xâm lược
Nói sao hết được
Chuyện ở trần gian
Mới qua một năm
Mà đã như thế
Đó là chưa kể
Covid đợt hai
Vừa lan ra ngoài
Gây thêm sợ hãi
Dịch cũ chưa qua
Dịch mới đã lại
Nguy hiểm bộn kề
Chuyện là như thế
Ngọc Hoàng tính sao?
Vì ngồi trên cao
Nên không biết rõ
Hay là cũng sợ
Nên chỉ ngồi ngó
Chắc sợ chúng nó
Đốt phá nhà thờ
Phá chùa đập miếu?
Thôi thần xin kiếu
Dù chuyện còn dài
Thần tạm bái-bai
Năm tới kể tiếp.

Táo Lâm Viên
(Bùi Phạm Thành – sao y bản chánh)
***

            *Chúc Tết Tân Sửu 2021 – VTLV Chúc Mừng Năm Mới


***
“Tombe la neige”, Salvatore Adamo, with lyrics


                                                ***
                 *GIỚI THIỆU WEBS,-SÁCH, BÁO GIÁ TRỊ:

Lm Ng V Ly*Tác Phẩm LM Nguyễn Văn Lý.
Kính chào quý vị.
Xin mời quý vị click vào link dưới để đọc và biết “Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền” của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, và những các tác phẩm khác của Chinh Nguyên
Chinh Nguyen
https://vantholacviet.com/lm-nguyen-van-ly/
***
*VĂN THI SĨ VĂN NGUYÊN DƯỠNG VỚI TÁC PHẨM ĐỂ ĐỜI.Van Nguyen DuongTRAGEDY OF THE VIETNAM WAR: A South Vietnamese Officer’s Analysis Paperback – Illustrated, September 19, 2008
by Van Nguyen Duong (Author)

TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR: A South Vietnamese Officer’s Analysis: Van Nguyen Duong: 9780786432851: Amazon.com:

The Vietnam War actually began in December 1946 with a struggle between the communists and the French for possession of the country. Vietnam’s strategic position in southeast Asia along with veiled economic concerns and a political agenda led to the involvement of other countries, including the United States. Written by an officer in the Republic of Vietnam Armed Forces, this poignant memoir seeks to clarify the nuances of South Vietnam’s defeat. From the age of 12, Van Nguyen Duong watched as the conflict affected his home, family, village and friends. He discusses not only the day-to-day hardships he endured from forced relocation and eventual imprisonment but also the anguish caused by the illusive reality of Vietnamese independence. The various political forces at work in Vietnam, the hardships suffered by RVNAF soldiers after the 1975 U.S. withdrawal from Saigon, and the effect of reunification on the Vietnamese people are also discussed. An appendix contains a summary of the Eleven Point Program Accords of January 1962.

*Van Nguyen Duong <van.nguyenduong18@gmail.com> wrote:
https://www.amazon.com/TRAGEDY-VIETNAM-WAR-Vietnamese-Officers/dp/0786432853
*TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR: A South Vietnamese Officer’s Analysis: Van Nguyen Duong: 9780786432851: Amazon.com
TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR: A South Vietnamese Officer’s Analysis Paperback – Illustrated, September 19, 2008
by Van Nguyen Duong (Author)
5.0 out of 5 stars 3 ratings
________________________________________
See all formats and editions
• Kindle
$11.94 Read with Our Free App
• Paperback
$29.95
9 Used from $16.90 6 New from $25.95
***
        *BTT CHÚNG TÔI TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU ÔNG TÂN CT CƠ SỞ

VĂN THƠ LẠC VIỆT
 & NHỮNG TÁC PHẨM GIÁ TRỊ ĐÃ PHÁT HÀNH.

                      * XIN CHÚC MỪNG CHỦ TỊCH MỚI CỦA VTLV ANH LÊ VĂN HẢI,
                            Nhà báo, và chủ nhiệm báo THẰNG MÕ SAN JOSE.Kq Le V Hai Ct1*CHÚC MỪNG TÂN CHỦ TỊCH LÊ VĂN HẢI
KÍNH MỪNG chủ tịch một chùm hoa
ANH HẢI giờ đây trụ cột nhà
LẠC VIỆT tưng bừng cùng nhạc kịch
VĂN THƠ rộn rã với thi ca
ĐẦU NĂM kính chúc tài vào cửa
TÂN SỬU mong cầu phúc đáo gia
TOÀN HỘI bảo tồn Văn Hoá Việt
CÔNG THÀNH danh toại tiếng vang xa

Phương Hoa – JAN 16th 2021
https://vantholacviet.com/

*ĐẶC SAN XUÂN TÂN SỬU
Đsxuan Tan Suuhttps://vantholacviet.com/dac-san-xuan-tan-suu/

***
Sách ebook: Nợ Em Một Đời
Xin quý vị click vào link dưới để đọc trọn bộ Truyện Ngắn :
Nợ Em Một Đời của Chinh Nguyen.
https://vantholacviet.com/no-em-mot-doi/Tuyen Tap Truyen Ngan Chinh NguyenTác Phẩm: Mẹ Tôi
Xin mời quý vị click vào link dưới để đọc tác phẩm Mẹ Tôi trọn bộ bằng ebook.
https://vantholacviet.com/me-toi/

Chinh Nguyen
***
*VĂN THƠ LẠC VIỆT
*TUYỂN TẬP QUÊ HƯƠNG & NỔI NHỚ
Van Tho Lac Viet Tuyen Tap Que Huong Va Noi Nho***
*Tập thơ Sen Già Nở Muộn

Xin chia sẻ cùng quý vị văn thi hữu Tập Thơ Sen Già Nở Muộn trên trang Website VTLV
Trân trọng giới thiệu
Lê Tuấn
Sen Già Nở Muộn
Sen Gia Book 699x1024https://vantholacviet.com/sen-gia-no-muon/
***

Chúc Mừng anh HẢI

Trong sinh hoạt, Hải là người khiêm tốn
Biết yêu thương, luôn giúp đỡ mọi người
Chẳng keo kiệt, tấm lòng luôn rộng mở
Nên cuộc đời như những đoá hoa tuơi…
Tờ báo Mõ khởi đầu cho sự nghiệp
Tiếng Việt ta trang chảy giữa quê người
Với ý thức bảo tồn Văn hoá Việt
Tình quê hương thao thức mãi khôn nguôi
Giờ tiếp nối vào Văn Thơ Lạc Việt
Mang hương thơm Văn hóa tặng cho Đời

Mpd

Khai Bút Đầu năm
Đầu năm khai bút viết vần thơ
Đất trời rực rỡ đẹp như mơ
Hồn xuân phơi phới già mặc kệ
Sức khoẻ bình an, tình vẫn chờ.

Chúc mừng bạn hữu ở gần xa
Rộn rã niềm vui tiếng xuân ca
Thảnh thơi thơ phú, vui ngày Tết
Vạn Sự Bình An, đến mọi nhà.

Sức khoẻ tuổi già đẹp lão ra
Xuân về dạo khúc nhạc tình ca
Đón chào năm mới, tình xuân mới
Vui với nàng thơ, tuổi không già.

Lê Tuấn
***

*Thủy Lâm Synh Giới Thiệu: BÁO XUÂN TÂN SỬU (Chicago Việt Báo
*Giai Phẩm Xuân 2021)
*Chicago Việt Báo-Giai Phẩm Xuân Tân Sửu (dragged)
***
*SÁCH GIA TRỊ CA DAO THỜI CS
NHÀ VĂN VŨ NGỌC ĐĨNHCover Ca Dao Thoi Cong San

QUYỂN 1 (413 TRANG)
https://online.flipbuilder.com/hycf/mxsi/
Ca Dao Thời Cộng Sản.
Mời quý vị vào web site Văn Thơ Lạc Việt đọc Ca Dao Thời Cộng Sản qua link dưới.
Ca Dao Thời Cộng Sản là một tác phẩm được ghi lại những câu ca dao trong thời Cộng Sản cưỡng chiếm miền nam từ năm 1975
tới nay do nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh biên soan và Chinh Nguyên edit thêm những Phần đã bị bỏ lại sau khi nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh
qua đời năm 2012.
https://online.flipbuilder.com/hycf/mxsi/ (Quyễn Một).
Trân trọng.
Chinh Nguyên
***
*Xin mời đọc TIẾNG VIỆT TUYỆT VỜI
…Về thơ lục bát, để chứng-minh vẻ đẹp độc-đáo của ngôn-ngữ Mẹ Việt, chúng tôi có đề-xuất lối đọc xuôi đọc ngược này trong hai tác-phẩm Tiếng Việt Tuyệt-Vời và Về nguồn. Ngay cả lục bát gián thất, chúng tôi cũng khám phá lối đọc xuôi đọc ngược này, thường thấy trong các thiệp xuân mỗi năm của chúng tôi gửi đến các thân-hữu.
chương 8, tiết §2- HỒN NƯỚC TRONG THƠ VIỆT nơi link =>
http://doquangvinhvenguon.com/ti7871ng-vi7879t-tuy7879t-v7901i.html
  Đỗ Quang Vinh
(ngày 23 tháng Chạp, năm Tân Sửu (04-2-2021)
***
*NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOANg Ngoc HoaMời quý thân hữu năm mới, nằm nhà đọc báo Xuân “Việt Văn Mới:

Văn học Nghệ thuật Việt nam”:
http://vietvanmoi.fr/index.html
Năm mới mời đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Hoa:
Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa I đến VI

Nhân dịp năm mới 2021 và Tân Sửu, mời quý thân hữu đọc (hay đọc lại) những truyện ngắn trong Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa I đến VI dưới dạng Flipbook. Những truyện ngắn này đã phổ biến và ấn hành từ đầu năm 2013 đến nay. Lợi thế đặc biệt nhất của Flipbook là ta chỉ cần có cái link đã thiết lập sẵn là có thể đọc nguyên cả cuốn sách, không cần download hay lưu trữ bất cứ hồ sơ nào; muốn chuyển cho người khác đọc, ta cũng chỉ cần chuyển cái link đó là xong; và có thể dùng như bản di động đọc trên iPhone. Sau đây là links Flipbooks:

LINKS Đọc FLIPBOOKS
Tập VI – Loạt truyện “Đời Phiêu Ngụ”:
Flipbook * Không Bỏ Bạn Lại – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa VI (2020)
Tập V – Loạt truyện “Bước Đổi Đời”:
Flipbook * Những Tích Tắc của Số Phận – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa V (2019)
Tập IV – Loạt truyện “Tuổi Trưởng Thành”:
Flipbook * Nhìn Từ Trong Tháp Ngà – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa (2018)
Tập III – Loạt truyện “Dạo Vào Đời”:
Flipbook * Thà Làm Đứa Con Bất Hiếu – Tập Truyện Nguyễn Ngoc Hoa III (2017)
Tập II – Loạt truyện “Thuở Học Trò”:
Flipbook * Bùn Đỏ Bụi Hồng – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa II (2016)
Tập I – Loạt truyện “Thời Thơ Ấu”:
Flipbook * Cơn Giận Con, Nỗi Đau Mẹ – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa I (2016)
Ngoài ra, các thân hữu đã quen thuộc với các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa post lên mạng dưới dạng .pdf trước đây, có thể vào link sau đây để download từng truyện hay từng tập sách để lưu trữ:
LINKS DownLoad Bản .pdf
Tập VI – Loạt truyện “Đời Phiêu Ngụ”:
Bản .pdf * Không Bỏ Bạn Lại – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa VI (2020)
Tập V – Loạt truyện “Bước Đổi Đời”:
Bản .pdf * Những Tích Tắc của Số Phận – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa V (2019)
Tập IV – Loạt truyện “Tuổi Trưởng Thành”:
Bản .pdf * Nhìn Từ Trong Tháp Ngà – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa IV (2018)
Tập III – Loạt truyện “Dạo Vào Đời”:
Bản .pdf * Thà Làm Đứa Con Bất Hiếu – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa III (2017)
Tập II – Loạt truyện “Thuở Học Trò”:
Bản .pdf * Bùn Đỏ Bụi Hồng – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa II (2016)
Tập I – Loạt truyện “Thời Thơ Ấu”:
Bản .pdf * Cơn Giận Con, Nỗi Đau Mẹ – Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa I (2016)
Xin chúc quý thân hữu và quý quyến một năm mới hạnh phúc 2021 và Tân Sửu dồi dào sức khỏe và mọi sự an lành.
Hoa Nguyen <hoavnguyen47@gmail.com>
***
*Xin giới thiệu Xuân Tin Yêu của Jimmy ShowXuan Tin Yeu

Kính mời xem chương trình Xuân này như lời chúc Năm Mới
sức khỏe và hạnh phúc:

https://www.youtube.com/watch?v=GyCiQH93HNM&t=9s
Jimmy là một MC trẻ, chuyện giới thiệu các nhạc sĩ và ca sĩ trước 1975. Thỉnh thoảng Minh Ngọc có tư vấn giúp Jimmy vài lời bình. Riêng chương trình này, Minh Ngọc đặt tựa “Xuân Tin Yêu” với ý nghĩa:

Một năm bắt đầu bằng Mùa Xuân, một đời bắt đầu bằng Tuổi trẻ. Nhưng Tin Yêu là hành trình ta nên mang suốt cả cuộc đời và năm tháng nếu muốn sức xuân và tinh thần trẻ khỏe luôn luôn dâng trào như Suối Nguồn Vĩnh Cửu trong ta. Có Niềm TIN, khó khăn ngút trời như đại dịch rồi cũng vượt qua. Tay nắm tay, dòng giống Tiên Rồng ta tựa vào nhau trong những cơn tai ương hoạn nạn, để các chữ Việt Nam & Cộng Đồng Việt Hải Ngoại thành những tấm gương tỏa sáng mà toàn cầu phải soi theo. Có Tình YÊU, xa mấy cũng hóa gần, quê nhà chưa về nhưng vẫn ấm áp quanh ta tình nghĩa đồng bào cùng giữ gìn giềng mối gia đình và linh hồn con cháu Việt.
Cám ơn mọi người quan tâm,
Nguyễn thị Minh Ngọc
***
*KGT TÁC PHẨM RẤT GIÁ TRỊ VỀ TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM và CUỘC CHIẾN VN TRƯỚC 1975 – THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIET NAM WAR
V Pham <vpham08@gmail.com>41ofseur6jl. Sx348 Bo1,204,203,200 Xin giới thiệu tác phẩm rất giá trị mới xuất bản về TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM và CUỘC CHIẾN OAN KHIÊN trước biến cố 30/4/1975:
THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIET NAM WAR
Tác phẩm vừa mới in ấn và phát hành bởi AMAZON 28/12/2020.
Sách viết bởi 6 tác giả trong đó Dr. Nguyễn Cao Đàm là thủ khoa khóa 14 của Trường Võ Bị Quốc Gia là Ông Chú mà tôi rất quý trọng.
Cuốn sách viết cho 3 đối tượng: tuổi trẻ VN sống ở Mỹ, sĩ quan Mỹ gốc Việt và các nhà khảo sử nên hơi có tính cách giáo khoa một chút.
https://www.amazon.com/Vietnamese-National-Military-Academy-Vi%C3%AA%CC%A3t/dp/B08RR7S6C1
Kính,
KV
***
                          *THƯ KÊU GỌI
THƯA QUÝ ĐỘC GIẢ

Nhằm mục đích giải độc giới trẻ khỏi tư tưởng THIÊN TẢ đã và đang bị nhồi nhét trong các trường đại học Mỹ, Canada và trên thế giới; Ý Nga đang tìm những links tài liệu hoặc sách báo viết về chiến tranh VN, QUỐC HẬN, TỴ NẠN CHÍNH TRỊ, NGƯỜI LÍNH VNCH, THUYỀN NHÂN, CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA..v.v…, nói chung là bất cứ những gì viết để vinh danh Người Việt Quốc Gia, với ý chí chống Cộng sắt đá, bằng tiếng Anh, để gửi cho các em đọc.

Kính xin quý Độc Giả ủng hộ chương trình này và giúp giùm Ý Nga một tay nhé.

Đa số sinh viên đều rất nghèo nên nếu có links sẵn trên internet sẽ là điều tốt nhất cho các em đọc ngoài giờ học vất vả

Xin liên lạc về:
Ý Nga
yngacalgary@aol.com

Đa tạ và kính chúc Quý Vị đón Xuân an lành.
***
*MỜI XEM TRANH THƠ LỊCH của KTS & HỌA SĨ
                                  TRẦN QUANG MINH

***
*TRANG ĐẶC BIỆT VĂN THƠ NHẠC TÁC GIẢ TÁC PHẢM* Phao

Café VnchEzgif 1 A6dbd16e0b4d CopyBaydi Copy (2)                          *GỬI HƯƠNG THEO GIÓ MÂY NGÀN BAY…Nhac“Tình Khúc Mùa Xuân” Sáng Tác: Ngô Thụy Miên-Huy Linh;
Đèo Văn Sách trình bày


***
Đón Mùa Xuân Thắm – Nhạc & Lời: Yên Sơn – Ca sĩ: Thu Phong – proshow: Tony Phước

***
MẤY XUÂN EM CHỜ, thơ: Duy Quang – Nhạc:Thiện Lý – Hoà âm: Võ công Diên, ca sĩ trình bày : Thùy Dương

***
Xuân Xa Quê – Nguyễn Tuấn – Ngọc Quy – Demo

***
XUÂN NƠI ĐÂY – Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Dư Thị Diễm Buồn – Ca sĩ Bảo Yến

***
XUÂN AN LẠC || Nhạc và lời: Chúc Linh – Trình bày: Quang Dũng.


***
    *KÍNH MỜI QUÝ VỊ THƯỞNG THỨC THƠ NHẠC VALENTINE
ValentineThương Về Ngày Lễ Tình Nhân                                                ***
LÊ TUẤN

Ngày Tình NhânLe Tuan ValentineValentine ngày tình nhân muôn thuở
Nối tơ vương anh viết tặng vần thơ
Tình rực rỡ một đời còn hương phấn
Ngất ngây yêu tình vẫn đẹp như mơ.

Gửi tặng em bó hồng ngày yêu thương
Bóng thời gian tàn úa cõi vô thường
Thơ vẫn ướt, như ngày xưa bỡ ngỡ
Để hồn thơ mang đậm nét vấn vương.

Nhạt bóng chiều, tình như còn say đắm
Giấc mơ đời gắn bó mối tình thân
Ta yêu nhau dù xa vẫn thấy gần
Còn yêu mãi ngàn năm bóng giai nhân.

Anh bên em đi nốt về đoạn cuối
Tìm về thời con gái tuổi biết yêu
Nụ hôn đầu ngất ngây tình đắm đuối
Thật nồng nàn thương mãi tuổi đôi mươi.

Lê Tuấn
Viết cho ngày lễ tình yêu “Valentine Day”
***
THI SĨ NHẤT HÙNGChúc Valentines Day*DUYÊN KỲ NGỘ
(Bài Thơ Tặng Vợ Valentines 2021)

Yêu em từ phút gặp đầu tiên
Thương vẻ ngây thơ mến nét hiền
Mắt biếc long lanh ngời rạng rỡ
Môi hồng chúm chím tỏa hồn nhiên
Mày thanh má lúm, lòng ưng quá
Mình hạc vóc mai, dạ mết liền
Người lạ kẻ xa mà hạnh ngộ
Duyên này tác hợp hẳn do Thiên

Nhất Hùng
***
TRÁI TIM NGOÀI CỬA
Trái tim để ở cửa ngoài
Cài then khóa chốt tìm hoài… em đâu?
Chữ Tình là chữ nhiệm mầu
Hay là cũng chỉ bên cầu dừng chân
Bước giang hồ chợt phân vân
Tìm em không gặp! Em gần hay xa
Vói tay níu lại tưởng là…
Có em. Ân sủng ngọc ngà riêng anh
Trăm năm thôi đã mong manh
Màu son em nhạt, ngõ quanh cúi đầu
Vừng ơi, mở cửa mau mau…
Kẻo mai bóng xế lạc nhau suốt đời
Muộn rồi bóng đổ chiều rơi
Em theo … say đắm những lời ái ân
Tóc mai, son phấn thật gần
Hoàng hôn quỳ xuống một lần nợ duyên

Như Thương
(Valentine’s Day 2021)
***
*Valentine

Em có biết anh yêu em từ thuở đó
Thuở hồng hoang khi ấy chỉ có hai người
Thuở xa xưa khi cả hai còn rất nhỏ
Thuở yêu đương cả hai hòa làm một

Nhịp tim đời mấy ai đo đếm được
Tim thổn thức mấy người cảm thông trọn vẹn
Niềm thương yêu ai cảm được cứ trao nhau
Anh và em yêu nhau … cứ yêu nhau mãi

Tình trai gái, tình cảm yêu thương miên viễn
Còn loài người tình yêu cứ còn mãi mãi
Ngày Va-len-tin em có biết không em …?
Ta yêu nhau … ngày đó là gì cũng được.

Đặng Quang Chính
***
*THI SĨ ĐỖ CÔNG LUẬN
Le Tinh Nhan Đcl***
MY VALENTINE . . . Martina Mcbride and Jim Brickman ( with Lyrics )


***

Nhac CopyNghe Nhac XuanTIẾP THEO HƯƠNG NỒNG ẤM CỦA LỄ TÌNH NHÂN…
*KÍNH MỜI THƯỞNG THỨC DÒNG NHẠC TRỮ TÌNH BÀNG BẠC MỘT THỜI KHÓ QUÊN…
…Nàng bước vào đời ta ôm thiên đường bất trắc
Bởi tình yêu không mặc áo nhân gian
Tà áo xuân khiêu vũ dấu chân chim
Sao nốt nhạc ngập ngừng bay trong gió…
        Sa chi lệ 2021
06e05f56541c65e6a31b922fd963b61bMƠ VỀ NƠI XA LẮM Phùng Thị Hạnh Nhạc: Phú Quang
Thơ: Thái Thăng Long

Tiếng Hát: PHÙNG THỊ HẠNH DAHA PRODUCTIONS 2021


***
D.C. NGAY BUON, SANG TAC: THIEN PHUONG, CS: LONG VU
Xin chia sẻ Ca Khúc mới nhất của Nhạc Sĩ Thiên Phương, nhạc sĩ Thiên Phương đã gửi gắm suy tư của chính mình về tình hình chính trị tại Hoa Kỳ, và những biến động xảy ra tại Washington DC. Mộ ca khúc hay và video minh hoạ rất xúc tích hình ảnh đẹp.
Cám ơn Nhạc Sĩ Thiên Phương đã chia sẻ.
Trân Trọng
Lê Tuấn

***
THƠ MẠC PHƯƠNG ĐÌNH NHẠC ĐÀO NGUYÊN TIẾNG HÁT DUY LINH

**
KHÓ HIỂU MẠC PHƯƠNG ĐÌNH ĐÀO NGUYÊN DUY LINH – KESSELERLE
THƠ MẠC PHƯƠNG ĐÌNH NHẠC ĐÀO NGUYÊN TIẾNG HÁT DUY LINH

Sài Gòn Nỗi Nhớ
Sai gon noi nho -Mac Phuong Dinh- Mai Dang- Phuong Anh- New Version

**
Thu vạn cổ sầu
Le ThuThơ: Nguyễn Lập Phổ nhạc: Hòang Lan Đệm nhạc: Nguyễn Hải
Trình bầy: Ca sĩ Hà Lan Phương


***
Thân mời quý vị thưởng thức ngón đàn Hawaiian tuyệt vời của Ns Phạm Mạnh Đạt:

OUR WAY BACK HOME (1989)
February 1, 2021
Xin mời vào website
www.phammanhdat.com
https://vantholacviet.com/our-way-back-home-1989/
***
Ngày Tháng Nào Yêu Em” NS Thanh Trang sáng tác;
Song ca: Đèo V. Sách & Kim Phụng


***
Nhạc Nguyễn Văn Thành phổ thơ Ý Nga:
Xé Lụa An Minh trình bày

***
CHÚC CHO NHAU NGHÌN DANH VỌNG SƯƠNG MÙ!
*Tiếng hát Quốc Duy * Thơ Sa Chi Lệ * Nhạc & Hòa âm Đỗ Hải

    *TRANG ĐẶC BIỆT DÒNG THƠ LƯU XỨ QUÝ THI SĨ GÓP MẶT:
Tho CopySachile Gioi Thieu21 Copy Copy CopyE9b8ad97653d84723ef257f2961ce0df

*THI SĨ ĐA TÀI PHẠM THIÊN THƯ Phmthienthu2HÁT RU VIỆT SỬ THI

Hát ru cho mạnh Dưỡng sinh
Vào câu vô thức cho tình ngàn thu
À! Ơi! Cho cháu lời ru
Cất từ cái thuở sương mù cha ông
Chim Hồng, chim Lạc qua sông
Bay theo Việt sử từng dòng là thơ
Đêm đêm nhịp võng trăng mờ
Trăng soi câu hát ru hờ con tim
Tay bà hóa cánh chim lên
Nhẹ đưa nhịp võng ru-thuyền tương lai
Lòng bà thành chiếc võng đay
Hồn quê thơm điệu ru này à ơi!
Mai sau khôn lớn làm người
Đi lên thêm bước tuyệt vời mênh mông!

HUYỀN NGÔN XANH

Có kẻ trèo đèo lội suối-để tìm một tổ mật thơm.
Chẳng ai mất công lặn lội rừng sâu-để tìm
một tổ chứa toàn hoa nhụy.
Sự kết tinh, sáng hóa mới là cao quý hơn!

Trong một giọt mật thơm óng ánh
như hổ phách-gồm bao nhiêu tinh hoa của núi rừng.
Một câu nói Thiện hữu-là sự rung động, tim óc, bao
thế hệ cha ông.
Rất nên, gieo một hạt lành, gửi gấm
cho một khu vườn mai hậu.

PHẠM THIÊN THƯ
***
*THI SĨ & DỊCH GIẢ TRẦN QUỐC BẢO
Tran Q Bao

Nguyên Nhật
Lê Cảnh Tuân (*)

元 日
旅 館 客 仍 在
去 年 春 復 來
歸 期 何 日 是
老 盡 故 園 梅

黎 景 詢

Nguyên Nhật

Lữ quán khách nhưng tại,
Khứ niên xuân phục lai.
Quy kỳ hà nhật thị ?
Lão tận cố viên mai!

Lê Cảnh Tuân

Bản dịch Ngũ Ngôn, của Trần Quốc Bảo.

Ngày Đầu Năm

Quán trọ khách dừng chân
Năm qua, lại đón Xuân
Ngày về quê chửa biết
Vườn cũ, mai tàn dần!

Bản dịch Lục Bát, của Trần Quốc Bảo.

Ngày Đầu Năm

Quán bên đường, khách dừng chân
Năm cùng tháng tận, đón Tân Xuân vể
Biết bao giờ trở lại quê?
Nhớ mai vườn cũ, lòng tê tái buồn!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
(*) Lê Cảnh Tuân (1350-1416) quê làng Lão Lạt, huyện Thống Bình, trấn Thanh Đô (nay là huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1381. Gặp lúc quân nhà Minh bên Tầu sang xâm lấn Nước ta. Ông viết “Vạn Ngôn Thư” (Bức thư một vạn chữ) trao cho bạn là, Bùi Bá Kỳ, ngầm tính chuyện “diệt Minh, phục Quốc”. Việc bại lộ, ông và người con là Lê Thái Điền bị quân Minh bắt giải về Yên Kinh (Bắc Kinh- Trung Quốc).
Vua nhà Minh hỏi ông rằng: “Nhà ngươi khuyên Bá Kỳ âm mưu làm phản. Vì sao vậy?”. Ông khảng khái nói: – “Người Nam thì hết lòng gìn giữ nước Nam. Chó ông Trích thì cắn người không phải chủ nó. Hỏi làm gì !”
Vua Minh tức giận, nhưng trọng ông là một Nhà Ái Quốc trung thành dũng liệt , không xử tử hình, chỉ truyền giam cha con ông vào ngục Kim Lăng, 5 năm sau, (1416, tức năm Bính Thân) cả hai cha con đều chết trong ngục thất.
***
Richmond Bão Tuyết Thơ Trần Quốc Bảo
1trqbRichmond Bão Tuyết
Mịt mù ! Trắng xóa! …
Tuyết ! tuyết !!!
Mấy bữa rầy, thời tiết rét căm căm!
Tân Sửu khai Xuân, đổ cơn tuyết đầu năm
Trời đất chuyển mùa, nổi cơn bão dữ!

Tối thị “Bích Môn Thành” hảo xứ
最 是 碧 門 城 好 處
Tuyệt thăng phong tuyết mãn thành đô (*)
絕 勝 風 雪 滿 城 都
2trqbHọa thiên tai, mà cảnh đẹp như tô
Cả trời đất, phủ áo nàng Bạch Tuyết
Bao ô uế cõi trần, bỗng nhiên biến hết
Hạ giới trắng tinh, như một cõi Bồng lai

Bông tuyết đầy trời, tản mạn phất phơ bay
Như sao sa, như Thiên Đàng hạ giới
Ôi, tuyệt diễm! bút thơ nào tả nổi
Cảnh thiên nhiên, tay Tạo Hóa vẽ vời!
3trqbTuyết rơi hoài … Tuyết vẫn rơi … rơi …
Cả thành phố Richmond, tràn ngập tuyết!
Tuyết đẹp quá! … Đẹp não nùng da diết !!!
Tuyết còn rơi… Tuyết vẫn đang rơi …

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
**
Chúc Thọ Thi Huynh
Niên Trưởng Công Trần Lão Mã Sơn
đạt tuổi Thọ 99
*Thơ Trần Quốc Bảo

Con Tran LÃo MÃ SƠnNhân sinh cung mệnh bởi Trời,
Cao Thiên còn độ, thì đời còn Xuân!
Chúc mừng Đại Lão Công Trần,
Tuổi vàng đức trọng, hồng ân cao vời!

Năm nay chín chín (99) tuổi rồi (*)
Sang năm, đuốc thọ sáng ngời bách niên!
Hứng thơ, hạ bút viết liền,
Tình người, thân quí bạn hiền bốn phương.

Trái tim chan chứa tình thương,
Tấm lòng, dâng trọn Quê Hương đồng bào.
Chức quyền đã trải thấp cao,
Công danh sự nghiệp, buông vào hư vô.

Trọn đời, còn lại túi thơ,
Với lưng bầu rượu, bên bờ tha hương.
Tâm tư chiến mã xa trường,
“Lão Mã Sơn” vẫn phương cường hiên ngang!

*
Ngày Xuân, cung kính đôi hàng,
Chúc Trần Huynh Trưởng, tuổi vàng tăng thêm.
Một vòng Giáp nữa êm đềm,
Phòng văn, thi phú vẫn rền tiếng ngâm!

Hữu bằng tình nghĩa uyên thâm,
Trọn niềm quí mến, thành tâm chúc mừng!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
(*)Trong Làng Thơ Miền Đông Hoa kỳ (có thể là cả Hải ngoại) Công Trần là Nhà Thơ lớn tuổi nhất. – Ông tên thật: Trần Văn Công, bút hiệu: Công-Trẩn Lão-Mã-Sơn (một biệt hiệu khác: Trần Gò Công) . Tuổi Quí-Hợi, 1923 . Tính theo vòng Can-chi Âm-lịch, thì năm nay Tân-Sửu, Tiên sinh đã đạt 99 niên đại-thọ.
Thi sĩ Công-Trần thuở xưa là Sĩ quan Hiến binh Quốc gia, sau là Trung tá Cảnh sát QG. Trong binh nghiệp, ông đọat nhiều huy chương cao quý, như: Bảo Quốc Huân Chương, Chương Mỹ Bội Tinh .v.v…
Về văn nghiệp, ông là một Nhà thơ cựu trào, thành danh. Đa phần thơ thuộc loại cổ phong ; Lời thơ phóng khoáng, đôn hậu ; Tâm ý luôn hướng về Quê hương Đất nước và Dân tộc Việt Nam.
Đại-lão Thi-Huynh Công-Trần là một Nhà Thơ Ái Quốc.
**
TUYẾT VỀ RICHMOND Thơ Trần Quốc BảoTrqb 1Tuyết về Richmond

Vắng nhau suốt một năm rồi!
Hôm nay Em đến… đầy trời hoa bay.
Richmond trắng xóa, đẹp thay,
Tuyệt vời phong cảnh, chốn này Thiên Thai!

Từ trời hạ cánh xuống đây,
“Tuyết Tiên Nương” phấp phới bay dịu dàng.
Giữa sân, tôi đứng đón Nàng,
“Hoa Trinh Nữ”, đậu nhẹ nhàng trên tay.
2 Tren TayMới lung linh, nét đắm say,
Ô hay! sao đã tan ngay vội vàng?
Lạnh tay, sương đọng mơ màng,
Phải chăng giọt lệ, của Nàng luyến lưu?

Từng làn gió nhẹ hiu hiu,
Cánh hoa lả lướt, dập diù đong đưa.
Đôi khi Tuyết xuống như mưa,
Phủ lên thảm cỏ, đã vừa gang tay.

3 Gang TayTuyết bay, Tuyết vẫn bay bay…
Phố phường yên vắng, chìm say giấc nồng.
Cành cao, hoa trắng như bông,
Có con sóc trắng, nhìn không ra hình.

Richmond Tuyết phủ lung linh,
Cả thành phố, một bức tranh, tuyệt vời!
Nhà ai tỏa khói lên trời?
Gia đình hạnh phúc… Tuyết rơi bên ngoài!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
***
*VĂN THI SĨ & DƯỢC SĨ, NHÀ BIÊN KHẢO NGÔ NGUYÊN NGHIỄMNgo Nguyen Nghiem2CÙNG THIỀN SƯ ÐỒNG HÀNH VỀ QUÁN TRỌ
ÐỘNG LÒNG CẢM TÁC MỘT MÌNH

Con chim xanh mửa máu trong chiều
Bên cành tường vi thánh thót
Cặm cụi đứng bên sườn thế kỷ
Ngậm ngùi đường cũ trăng rơi

Tay sắc không đánh vật với đời
Muôn nẻo vẫn phù bình sinh tử
Hoa nở rộ tràn lan núi cổ
Hiu hắt hồn ai như cố nhân

Mãn canh vạc lẻ chập chờn
Gọi thức cơn say quái dị
Cây thiên tuế xuất hoa đỏ ối
Khác thường, vì sắp cạn trăm năm

Bóng thiền sư trải kín thái dương
Phơi lộng lẫy màu cúc vàng hoang dã
Dạo nhẹ hẫng trên tinh hoa của đá
Ðá đã cô đặc càn khôn

Cuốn hút trong lỗ hở thiên nhiên
Chợt thấy mùi quỷ hương đằm thắm
Từ hàng triệu quang niên lạc lõng
Bay lạc xuống áo thư sinh
Gió vô thường thổi nhẹ thanh xuân
Ồ tóc bạc vỗ về người lữ thứ
Chợp mắt đứng bên bờ núi
Hay là đá đã hóa thân

Lộn về vô lượng kiếp nguyên sinh
Nhân tướng trải dài hồ điệp
Lóng lánh gương soi xuất tiết
Muôn hình vạn trạng nắng mưa bay

Ròng rả chim xanh hót lẻ loi
Cành trúc ngày xưa ẩn trong làn khói
Quá giang, khúc sông đã đổi
Mù sương phả mặt sông dài

Bàng hoàng như sóng vỗ chân mày
Trời tam giới rơi vào đáy mắt
Nín thở để nghe lời cỏ dạy
Tâm đầy bình bát ngọ về

Chất ngất trên vai thúng nắng rực vàng
Móng sắc rơi từ thuở nhỏ
Áo sa di mấy phen cổ độ
Che suốt hoàng hôn hương hỏa nhiêu khê

Ðộng lòng chợt nhớ bâng quơ
Gậy trúc mái tranh lãng đãng
Phù thế lòng vẫn buồn vô hạn
Ngẫm nghĩ mình như hạt sương mai

Về đây, núi vẫn đứng trong mơ
Ðá chất nặng chân người lữ khách
Ðãy dị thảo trên lưng tách bạch
Tiếng dế gáy rân suốt nẻo hồi hương

Về đây, áo bụi phết lưng
Dĩ vãng mộ phần đầu ngõ
Hoa dâm bụt hằng hà trí nhớ
Ðỏ bừng thiên địa ấu thơ

Nhắc lên tay từng phiến đá linh hồn
Ðá hát lạnh màu trời biên giới
Trong sắc đá có chút gì bối rối
Tiền nhân bùng bóng sát na

Chữ Nôm nghiêng trên mộ cổ, ha
Quá khứ chạy dài nét bút
Bỗng chợt thấy khói hương hoa tóc
Vàng son đậm nhạt sương pha

Con chim xanh mửa máu sau hè
Lăn lóc quả trứng vàng quá khứ
Cặm cụi đứng suốt sườn thế kỷ
Ngậm ngùi đường cũ trăng lên.
5.1998
NGÔ NGUYÊN NGHIỄM
***
*THI SĨ TRẦM VÂN
Chào Xuân Tân Sửu Khai Bút Đầu Xuân Tân Sửu Một Hôm... Nhân Ngày Vía Thần Tài NhỚ XƯa Tram Van Trong Nỗi Đợi Chờ (1) Xuân Chờ Xuân Về Nhớ Mái Trường Yêu***
*VĂN THI SĨ VĂN NGUYÊN DƯỠNGVannguyenduong PicTân Xuân VND khai bút

THIÊN CỔ SẦU

Đêm Ba Mươi, vào cung, Chị Hằng thẹn, lẫn vào mây trốn mất.
Sáng Mồng Một, ra đường, Chú Nhật cười, rãi nắng sớm đùa hoa.
Ồ Xuân!
Vắng mỹ nhân, còn mỹ tữu…
Còn ta.
Tri kỷ không người, Thơ thành hoa chớm nụ,
Cũng đón Tân Xuân, chung cúc tữu mềm môi.
Em cứ đi đi…
Cho khắp biển cùng trời,
Ta ở lại
Ôm nửa bầu trái đất…
Biến thi, tửu, thành người;
Vỗ tay cười ngất.
Anh hùng quên trận mạc,
Giai nhân nan tái đắc!
Hỏi trời cao hay hỏi đất sâu
Ta có chi mà ta thấy đau,
Đời có chi mà thiên cổ sầu?!.

VĂN NGUYÊN DƯỠNG
Mồng Một
Tết Tân Sữu 2021

Một bài thơ Tết
của VĂN NGUYÊN DƯỠNG
Viết gởi Vợ, DS LÊ KIM HOÀNG

GIÓ TRẮNG

Tết giữa mùa Đông hoa tuyết bay,
Căm căm gió trắng lạnh đầy tay…
Em đến hay không chiều vẫn đợi,
Phòng không sợ giá buốt đêm nay!

Mà thôi em đến để làm chi,
Cái thuở xa xưa đã lỡ thì.
Lỡ bỏ thuyền tình trên bến mộng;
Cành buồn thoáng một cánh chim di.

Đất bạc không vì đất bạc màu,
Vì lòng không biết được nông sâu!
Kẻ đến người đi trên bến cũ
Chưa hẵn quên rồi cuộc biển dâu…

Không hẵn quên ta như chiếc áo,
Một đêm nào bỏ lại chiến hào.
Bỏ tuyến ta về…như ước hẹn
Giữ lời thề trên bến trăng sao.

Trăng lỡ chìm trong đôi mắt nhung,
Ánh sao xa tận cõi vô cùng,
Yêu em đến độ không còn nhớ
Chiến trường xưa ôm mộng kiếm
cung!..

Trận vỡ cho lòng ta giá băng,
Sóng đỏ cuồng dâng ngập đất bằng.
Lớp lớp lê dân tràn mọi nẻo,
Phố cũ thành xưa mây phủ tang.

Số phận không là số phận chung,
Bốn phương trời đất rộng vô cùng…
Kẻ cuối chân trời người góc biển;
Em đi rồi bỏ cuộc thủy chung!

Ta trở về đêm đã tàn canh,
Con én vườn xưa cũng chuyển cành.
Đông lạnh hoa tàn trên luống cỏ,
Ta về… hiu quạnh đến vây quanh…

Rồi một ngày ra cũng ly hương,
Mỗi Tết đêm Đông lạnh phố phường
Chẳng biết nơi nào em có ngủ,
Phòng không ta thức trắng đêm
suông.

Ta nhớ em, hay ta nhớ quê?
Em đã sang sông chẳng trở về…
Ta nhớ đường quê rơi nước mắt,
Giao thừa bông tuyết đổ lê thê!..

Độc ẩm hình như chưa đủ say,
Căm căm gió trắng lạnh đầy tay…
Em hẵn không về… sao vẫn đợi,
Phòng không sợ giá buốt đêm nay!..

VĂN NGUYÊN DƯỠNG
Đất Hạ, 14/2/2021
Mồng Ba, Tết Nguyên đán Tân Sữu
***
*THI SĨ ĐA TÀI THANH THANH & HOÀNG NGỌC QUỲNH GIAO
ThanhthanhlacvietHoang Ngoc Quynh Giao TtLỐI VỀ

Người về đâu trong chiều xuân hoa nắng
Tiếng nhạc lòng hò hẹn những thanh âm
Sao bước chân vẫn lặng lẽ âm thầm
Và đôi mắt chao ôi! Buồn xa vắng..

Người về đâu trong thoáng chiều gió hạ?
Mà cung đàn trầm lặng nét phôi pha
Những bước chân tìm đâu bóng quê nhà
Ôi đôi mắt! u uẩn buồn xa lạ..

Người về đâu trong chiều thu vàng võ?
Cung khúc buồn dìu cánh lá vàng khô
Này người ơi còn đây nỗi mong chờ
Xin mắt biếc thôi vương sầu lệ nhỏ

Người về đâu trong chiều đông tuyết phủ?
Nhạc lưng trời thoáng ước hẹn nghìn thu
Kìa dáng ai trong sương tuyết mịt mù
Bước ngập ngừng.. mắt tìm về lối cũ

HOÀNG NGỌC QUỲNH GIAO
(Bruxelles, Belgium)

THE FORMER WAY

Where are you going in the evening of sunny spring
While the soul song is expected for you to sing?
Why your footsteps are still silent, solitary;
And your eyes, oh! What sadness away to carry…

Where are you going in the evening of windy summer
While the music sounds serene, as a mummer?
Where would your footsteps search for home?
Oh! Your eyes look like melancholy at far foam…

Where are you going in the evening of pallid fall
As mild melody sees off dry yellow leaves after all?
Hey! there still is here the longing for your return;
Please! your eyes, cease shedding tears of concern.

Where are you going in the evening of snowy winter
As the sky resounds with promised faith to disinter?
Look! Whose figure is appearing in the frost grey
With steps halting, eyes looking for the former way…

Translation by THANH-THANH
Thanh-Thanh.com
***
NHỚ MẸ

Kính dâng hương-hồn Mẹ,
cụ-bà Lê Văn Tập, Đà-Nẵng.

Mẹ ơi! Lại một năm gần hết!
Lại một Tết gần tới nữa rồi!
Không thể lời trao, không chữ viết,
Con nhờ mây gió nhắn lời thôi!
Lâu nay Mẹ có được bình-an?
Con+cháu về thăm? thư hỏi-han?
Lợi-tức có còn cho Mẹ sống?
Tuổi cao, Mẹ sống có thư-nhàn?
Phần con: vẫn tội không toà xử!
Vẫn khổ-sai tù chẳng án tuyên!
Nhưng vẫn nhẫn-nhường qua hạn dữ
Đúng như lời Mẹ vẫn từng khuyên.
Nhớ khi chưa có chuyện chua cay:
Con đến hầu thăm Mẹ mỗi ngày,
An-ủi phần nào niềm quạnh-quẽ,
Thân đơn, nhà rộng, gió sương dày .
Con đưa Chị Cả thường-xuyên lại
Cùng Mẹ chơi bài để giải-khuây .
Con giúp nhang đèn, dâng lễ bái;
Con lo khách-khứa, đãi ăn đầy …
Mẹ ra nghiã-địa viếng mồ Ba:
Con lái xe-hơi chở Mẹ ra .
Mẹ muốn lên chùa hay xuống chợ,
Qua nhà bè-bạn: con đưa qua …
Con vui có Mẹ mà hầu phục
Vì mẫu-thân con đã mãn-phần.
Mẹ cũng thương con như cốt-nhục
Vì con trai Mẹ đã từ-thân!
Mẹ coi con tựa đứa con thơ:
Có bữa cơm trưa Mẹ vẫn chờ.
Mẹ cất cam nho trong tủ lạnh,
Chờ con tới mới lấy ra đưa …
Thế rồi tất cả không còn nữa!
Con bị lưu đày ở trại xa;
Mẹ lại mai chiều ngồi tựa cửa:
Lầu cao, thềm rộng, một thân già .
Năm xưa, Mẹ đã chín mươi tròn,
Lọm-khọm đi tìm thăm viếng con;
Mẹ đã khóc oà khi gặp mặt
Làm con đau điếng cả tim non.
Tấm tình qúy-hiếm cao sâu ấy:
Lòng Mẹ vô-biên như biển trời!
Con biết làm sao đền đáp lấy
Dù trong muôn một, Mẹ hiền ơi!
Đền ơn, con chỉ biết mong cầu
Cho Mẹ bình-an, Mẹ sống lâu;
Mẹ sống chờ ngày con trở lại:
Con săn-sóc Mẹ, Mẹ vơi sầu …
Mẹ ơi! đã mấy năm biền-biệt,
Chúng cấm thư-từ, cấm viếng thăm.
Mẹ có bề nào: con chẳng biết!
Con càng nhớ Mẹ, con càng căm!
Bây giờ Chị Cả đã qua đời,
Con+cháu thì là người mỗi nơi!
Chú ấy làm to mà cuốc bộ,
Về thăm – lý-thuyết chỉ hoài hơi!
Phố lầu: căn cúng, căn người quỵt!
Két cạn: nhà băng hết gửi tiền!
Hết hẳn lên chùa! Thôi thết tiệc!
(Qua-loa vài món giỗ gia-tiên!)
Mẹ đi nghiã-địa: ai đưa đi ?
Mà mộ Ba còn, hay đã “quy”?*
Ai tới chơi bài mà giải-trí ?
Trưa: còn tủ lạnh? tối: ti-vi ?

*VC dẹp hết nghiã-trang của dân Miền Nam,
bắt dồn (quy) mả tới những địa-điểm mới,
xa, và tồi-tệ hơn.

Lạy Trời! Nếu Mẹ quy-tiên trước:
Con hết hôn tay, vuốt mắt Người!
Con hết tiễn đưa giây phút chót
Về nơi Mẹ nghỉ giấc muôn đời!

Nhưng, con còn sống, con còn lo
Cho các con con được Tự Do,
Cho các cháu con, như Mẹ muốn,
Có hoài tủ lạnh với cam nho …

Con còn báo-phục cho đời Mẹ:
Tuổi trẻ cần-lao, tuổi xế nhàn;
Có nghiã, có tình trong tộc-hệ;
Có Trời, có Phật độ giang-san…

Con còn nghiã-vụ với xung quanh:
Phải diệt cuồng-xâm, thắng bạo-hành,
Để sống đời đời trong hạnh-phúc:
Mỗi ngày: Tết nhất, tháng: xuân xanh…

Hôm nay sắp-sửa vào Xuân mới:
Con: tuổi tù tăng, Mẹ: tuổi đời …
Mượn gió nhờ mây, con gửi tới
Lòng con thương nhớ – Mẹ hiền ơi!

THANH-THANH
Nhà Trắng (Thôn 5) Tiên-Lãnh 1980
***
*THI SĨ QUỐC NAM
THUNG LŨNG HOA VÀNG

Đã tám mùa xuân trên lũng thấp,
Âm thầm theo những bước chân qua.
Hồn tôi chừng mỏi trăm vùi lấp,
Có thấy bao giờ một dáng xưa (?)

Tôi đi giữa phố phường lưu lạc,
Thung lũng Hoa Vàng xanh bóng mây.
Bỗng gặp mùa xuân trong khóe mắt
Cô em ngơ ngác đến nơi này.

Đã mấy năm qua tôi bỏ quên
Trái tim bên dốc đá ưu phiền.
Nắng lên cho đẹp lời âu yếm,
Mỏi mắt ươm tình, say đắm thêm.

Em mang dáng dấp xưa thần thoại,
Chìm đắm trong hương sắc tuyệt vời.
Sóng tóc, tôi mơ miền luyến ái,
Xuân sang len lén giấc yêu người.

Giao thừa tôi có em yêu dấu,
Trong phút linh thiêng của đất trời.
Kỷ niệm đầu năm thành bất tử,
Mong em khỏa lấp một trùng khơi.

Xin tạ ơn em, xõa tóc huyền,
Cho tôi sống lại tuổi xuân êm.
Chợt lòng hoa nở vàng như nắng,
Thung lũng cũng hồng nhân dáng em.

QUỐC NAM

THE YELLOW FLOWERS VALLEY

Multiple years had elapsed in this valley.
I silently pursued the past steps in each alley,
But tired of countless buffetings in my soul
I had never seen any figure in the old role.

While I was drifting in the Yellow Flowers Town
Under the blue sky with clouds at its crown,
Suddenly I met a whole spring in the eyes
Of a beauty wandering herein at her own guise.

For such a sad long time I had forgot and left
My heart somewhere about the steep crag’s cleft.
Now that the sun did rise beautifying the caress,
Lips & peepers sowed love, more passion to bless.

You manifest the manner of a legendary star
To drown me in the wonderful glamour by far.
On your wavy hair I dream of a loving place
In the springtime to ignite the flame of grace.

I have got you, my beloved, this new year’s eve
In the sacred hour that sky and earth conceive.
The souvenir of this prime has become immortal;
Please fill up an entire empty ocean with a chortle.

I wish to thank you, darling, for your black hair
That helps me relive my peaceful youth so fair.
My inner flowers then blossom in the amber sun,
And the valley blushes too as you do – So fun!

Translation by THANH-THANH
Thanh-Thanh.com
LeXuanNhuan.com
***
*THI VĂN SĨ LÊ TUẤN
Mua Xuan Va Thi Nhan Le Tuan2 Copy
Lê Tuấn, Thơ, Văn Thơ
Những Bài Thơ Viết Cho Mùa Xuân
February 10, 2021

Ngày Xuân Đi Chợ Tết
Nắng đùa trên mái tóc
Gió đùa vạt áo bay
Em cười vui trong nắng
Cánh hoa hồng trên tay.
Năm nay em mười tám
Tuổi trăng rằm ngây thơ
Mẹ hỏi em có muốn
Lấy chồng sớm hay chờ.
Em còn đang dệt mộng
Trong lứa tuổi xuân thì
Mẹ hỏi em kỳ quá
Lấy chồng sớm làm gì.
Mỗi lần em ra phố
Nhiều chàng trai đứng chờ
Trên đường đi rất ngượng
Em đang tuổi mộng mơ.
Ngày xuân đi chợ Tết
Em gặp chuyện bất ngờ
Một chàng trai tuấn tú
Tặng em một bài thơ.
Bài thơ vần lục bát
Ôm ấp một tình yêu
Lời thơ như gợi nhớ
Kim Trọng gặp Thúy Kiều.
Từ dạo đó em nhớ
Ngồi ngắm mình trong gương
Tô thêm bờ môi đỏ
Em vẫn đợi người thương.
Một hôm Mẹ lại hỏi
Bao giờ cô lấy chồng
Em thẹn thùng ấp úng
Trời đã vào cuối đông.
Gia đình chàng đến hỏi
Em đứng nép bên thềm
Mẹ gật đầu ưng thuận
Em thao thức thâu đêm.
Cuối năm làm đám cưới
Em một lòng thủy chung
Chồng em người lính chiến
Lính Việt Nam Cộng Hòa.
Lê Tuấn

Gái Xuân

Hỡi cô con gái trăng đôi tám
Em có nằm mơ lễ hội xuân
Có ra đứng đợi ai đầu ngõ
Nhớ thương nào che giấu bâng khuâng.
Tuổi xuân phơi phới vẫn tình không
Con gái hay mơ chuyện vợ chồng
Mỗi lần người ấy về qua ngõ
Người vẫn nhìn em má ửng hồng.
Xuân đã tàn phai tuổi dậy thì
Thơ ngây e ấp mối tình si
Hoài niệm thời gian hình bóng cũ
Chỉ tiếc ngày xưa chưa nói gì.
Vẫn biết thời gian chẳng đợi chờ
Sao còn vơ vẩn viết bài thơ
Vần gieo lạc điệu thơ cạn ý
Ra khỏi tầm tay những ước mơ.
Cảnh vật mơ hồ bóng chiều xuân
Một đóa hồng phai sắc úa tàn
Tuổi xuân như bóng câu qua cửa
Tím cả chiều xuân giấc mơ tan.
Lê Tuấn
(Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Viết vần thơ cảm nhận một ngày xuân)

Ngắm Hoa Xuân

Hoa nở bên trời sương khói bay
Mưa bay lất phất ý xuân đầy
Ngàn hoa rực rỡ xuân vừa đến
Em có về đây, đón xuân này.
Rượu uống say rồi nhớ cố nhân
Hôm nay trời đất bỗng xoay vần
Người ở xa vời bao cách trở
Có về thung lũng ngắm hoa xuân.

Lê Tuấn
Mùa xuân trên thung lũng hoa vàng
San Jose, California Xuân Tân Sửu 2021)

Cơn Say

Ta choáng váng hồn nghiêng theo đáy cốc
Lòng xôn xao nghe tiếng vọng trong đời
Ta gõ nhịp vào thành chai ca hát
Ngả nghiêng cười một thoáng chốc vui chơi.

Đừng nghĩ rằng cuộc đời sao lận đận
Bạn bè ta đi mãi vẫn chưa về
Lịch sử ngơi rất nhiều theo biến động
Mà sao hồn, vẫn tìm lại cơn mê.

Rót thêm nữa mừng cho đời hoan lạc
Mừng tóc ta nhuộm trắng tuổi thần tiên
Tiếng kêu thân phận, ầm vang thiên cổ
Cát loạn ngàn trùng xóa dấu hoa niên.

Thêm chén nữa cho ta say túy lúy
Nghe đất gào, rạo rực dưới bước đi
Ai đang đứng trông trời mây nước đó
Trăm năm buồn râu tóc đã bạc phơ.

Ta uống cạn hồn ta trong đáy chén
Cho vội vàng thêm hương sắc cuối mùa
Em độc thoại lời kinh là huyền diệu.
Thanh thản lòng mình, giây phút vui đùa.

Lê Tuấn
Chỉ mình ta say
Mùa xuân tân Sửu 2021

Những Bài Thơ Viết Cho Mùa Xuân (vantholacviet.com)
Ta Về Nghe Nặng Cơn Đau – Đi Tù Biệt Xứ – Thơ Lê TuấnDap Tan Xich Xieng

Ta Về Nghe Nặng Cơn Đau – Đi Tù Biệt Xứ – Thơ Lê Tuấn
Chia sẻ cảm nhận sau tám năm tù đầy từ miền Bắc vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, và các trại tù cải tạo. Tôi đã trở về như một con người đã bị (Thất Lạc Cõi Người)

Ta Về Nghe Nặng Cơn Đau

Ta về ngơ ngác trên đường phố
Đổi thay nhiều, mất dấu hôm nay
Phố thân quen bỗng thành xa lạ
Tám năm tù, cát bụi gió bay.

Ta về như dạng người thiên cổ
Từ rừng hoang, gặp lại cõi người
Hỏi sao không ngẩn ngơ mất hướng
Nghe tàn phai, nấc nghẹn tiếng đời.

Ta bật khóc nhìn đời thay đổi
Bước chân buồn, một bóng đơn côi
Tám năm rừng rú, tù biệt xứ
Tâm thức còn buồn chốn xa xôi

Ta cúi mặt cõi lòng câm nín
Đời quanh đây nghe nặng lòng đau
Tám năm Sài Gòn như cơn sốt
Tìm tự do, thiên hạ rủ nhau

Cuối phố lá me bay nỗi nhớ
Tám năm rồi gặp lại nơi đây
Em vội vã bước đi hướng khác
Cuộc tình tan theo gió mây bay.

Ta về như lá thu vàng úa
Nghe tiếng tàn phai vọng cuối mùa
Ai gọi ngoài kia, chiều phố vắng
Dừng chân nhìn lại ngọn gió lùa.

Chỉ còn lại đất trời câm nín
Một mình ta ôm chọn chia ly
Phù suy, phù thịnh, tình nhân thế
Đổi thay, vô thường, mấy ai ghi

Lịch sử có thêm trang cải tạo
Xin hãy viết thêm một chữ tù
Tám năm chết dấp nơi rừng rú
Thân phận còn đau nhói hận thù.

Ta về giữa phố người xa lạ
Nghe hồn nặng trĩu nỗi xót xa
Tám năm biệt xứ, ngày trở lại
Tàn tạ kiếp người trận phong ba.

Ta về, Mẹ mừng rơi nước mắt
Em thì ngơ ngác nhận không ra.
Đêm nay bếp ấm khơi thêm lửa
Chó ánh hồng lên sáng cả nhà.

AET. Lê Tuấn
(Sau 8 năm tù trở về năm 1983)

Đi Tù Biệt Xứ

Một lần định mệnh, xô về vô định
Chuyến xe đi, chở chật cứng tù binh
Ra bến cảng, đoàn tàu chờ đợi sẵn
Nhốt hết xuống hầm, đầy đọa nhục hình.

Nêm chật cứng người lính vừa buông súng
Tăm tối mịt mù, chẳng rõ mặt người
Ta gọi nơi đây cõi đời thất lạc
Hồn ai đó, nấc nghẹn tiếng không lời.

Tàu rẽ sóng ra khơi trời hừng sáng
Qua khe hở ghi nhớ phút giây này
Lênh đênh con tàu trên biển lớn
Cuộn cuộn sóng gào, nôn mửa cơn say.

Ta sống chết với điêu tàn đất nước
Nhắm mắt mù nhìn khoảng trống tối đen
Một lần gục ngã, gồng mình đứng dậy
Không bao giờ cúi mặt sống đê hèn.

Gót chân ta đạp sao ngàn viễn xứ
Bước chân đi rừng núi phải cúi đầu
Hòn đá cuội mấy ngàn năm vẫn thế
Hồn ta đau vì sông núi đổi màu.

Thân xác này đã quen trời sương gió
Mặc những đốt xương va đụng nhói đau
Ngày mai chỉ là con đường vô vọng
Ta đã hóa thành loài khỉ rừng sâu.

Nhìn hun hút trong điêu tàn lịch sử
Dòng sông Hồng máu lệ chảy xuyên ngang
Bến Ô Lâu đường đi vào Nghĩa Lộ
Hoàng Liên Sơn, trại giam khắp núi ngàn

Vĩnh biệt người trên đoạn trường uất hận
Tháng năm buồn vuốt mặt nuốt đau thương
Chốn hoang sơ loài người không nhìn thấy
Những con người vất vưởng sống tha hương.

Ta nuốt dòng lệ đắng, sao còn nghẹn
Lòng ta ơi! Ghi lại những đoạn trường
Thời đại mới, vỡ tung từng mảng lớn
Ta bước đi trong dấu tích hoang đường.

Đời sống vẫn mỉm cười theo số phận
Ta vẫn trôi theo dòng nước thượng nguồn
Vùng đất lạ nửa đời ta còn lại
Trên xứ người, chợt nhớ đến chuyện buồn.

AET. Lê Tuấn

“Chứng nhân của một giai đoạn tù tập trung cải tạo.
Năm 1975, sau ngày miền nam rơi vào tay cộng sản
Tôi đã bị lưu đầy đến vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn,
và trải qua nhiều trại tù trên đất bắc”

Tình Yêu Như Cánh Chim Trời

Lt Ty Nhu Canh Chim TroiTình Yêu Như Chim Trời
1
Tình yêu như cánh chim trời
Chơi vơi cánh mỏng diệu vời đường mây
Tay ôm vò rượu đêm say
Tình riêng trong cõi mộng này gần nhau
2
Tiếng đêm vỡ vụn nỗi sầu
Đêm khuya nức nở cơn đau khóc thầm
Lên non ngậm ngải tìm trầm
Xuống thôn hái đóa sen đầm hóa duyên
3
Trên cành tiếng hót chim uyên
Em nghiêng tay với, cười duyên một mình
Chợt nhìn dáng đứng rất xinh
Lòng anh như đã, sinh tình nở hoa
4
Trao nhau khăn lụa nhạt nhòa
Dùng dằng giữ lại khóc òa trên tay
Xót thương cho cõi mộng này
Mai sau xin nhớ đến ngày hội đêm
5
Gió lay hoa rụng bên thềm
Nhớ nhau giọt lệ, dài thêm nỗi buồn
Tình lên cơn sốt điên cuồng
Cũng xin nhớ lấy cội nguồn yêu thương.
6
Tay em thánh hóa thiên đường
Nụ hôn thơm đóa đào hương tuyệt vời
Một lần hoa nở trong đời
Dịu dàng hoa nở cho người tương tư.
7
Nơi nào là chốn chân như
Lời em mở cánh đại từ hiến dâng
Ngón chân em bước ngại ngần
Hỏi sao tiên bỏ xuống trần dạo chơi.
8
Lụa hồng khoác áo hương đời
Ngờ đâu tiền kiếp cõi người gặp nhau
Gió lay rụng trắng hoa cau
Lá trầu xanh thắm chuyển màu đỏ tươi.
9
Em là tiên nữ làm người
Anh là lãng tử giữa trời mê say
Tiếng đêm ấm áp vòng tay
Mưa đêm ướt sũng tuôn đầy lòng hoa.
10
Bình minh hừng sáng phương xa
Cổng làng văng vẳng tiếng gà sớm mai
Giọt sương đọng cánh hoa mai
Long lanh hạt ngọc hoa cài tóc mây.
11
Đường xuân mờ bóng sương bay
Ngả nghiêng gót nguyệt dáng gầy liễu buông
Vàng mai rơi rụng bên đường
Chơi xuân có kẻ còn buồn chớm thu.
12
Một mai nếu vụng đường tu
Tình riêng vẫn thế cho dù sắc không
Trời xanh gợn áng mây hồng
Con đò buông lái bến sông đợi chờ.
13
Gặp nhau đừng quá hững hờ
Để dòng lệ ướt vần thơ ngại ngùng
Tìm trong ngôn ngữ tình chung
Chữ duyên một bóng, chân dung bạn tình
14
Cõi lòng sao vẫn lặng thinh
Chuyện đời còn đó hành trình bước đi
Ngày xưa một mối tình si
Nhớ nhau chung gối ôm ghì cơn mê.
15
Em xưa còn giữ câu thề
Lối xưa quen bước đường về đêm xuân
Trăng rằm soi sáng bước chân
Lụa là phảng phất cho ngần dáng thơm.
16
Con chim tha cọng vàng rơm
Bay về tổ ấm mà đơm lưới tình
Em đi nhớ mãi hành trình
Em về thương lấy bóng mình đơn côi
17
Đôi chim uyên thoáng bay rồi
Tiếng kêu vang vọng vùng trời hừng đông
Nửa đêm đắp tấm chăn bông
Thoáng cơn gió lạnh ngoài đồng thổi qua.
18
Áo em khép mở đôi tà
Dáng em vui bước thướt tha nhẹ nhàng
Hoa xuân e ấp hai hàng
Mưa xuân lất phất ngút ngàn chân mây.
19
Ta buồn gửi gió phương tây
Tình riêng giữ lại đợi ngày ra hoa
Trời Nam giọt lệ nhạt nhòa
Đợi ngày hội lớn, thái hòa yêu thương.
20
Em về đỉnh núi mù sương
Chênh vênh gót nguyệt vấn vương dáng gầy
Nào ngờ gặp gỡ nơi đây
Nhớ nhau tay nắm thương hoài hương xưa
21
Ơn trời tình vẫn đẩy đưa
Người từ xa đến vẫn chưa thẹn lòng
Lương duyên, dệt mối tơ hồng
Chẻ đôi sợi nhớ chia dòng lệ rơi.
22
Mùa xuân ta mãi rong chơi
Nghe chim vui hót gọi đời tặng hoa
Mượn cành mai nở làm quà
Ghé thăm bạn cũ uống trà móc câu.
23
Cuối sông lại nhớ giang đầu
Con thuyền buông lái bên cầu đợi ai
Vui xuân rơi mất chiếc hài
Để cho Hoàng Tử, ướm hoài chân em.
24
Vén màn ta bước vào xem
Em nằm gối mộng không thèm điểm trang
Đèn khuya lửa hắt hiu vàng
Đôi chân ngọc duỗi, hai hàng động hoa.
25
Đời buồn theo bóng chiều tà
Bóng trăng tĩnh mịch hiên nhà nhớ thương
Bước đi trong những cung đường
Tình yêu trong cõi vô thường có nhau.

AET. Lê Tuấn
“Ngưới nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng,
thả hồn vào thơ, viết 100 câu lục bát cho tình yêu thăng hoa.”

https://cuocsongthica.blogspot.com/2021/02/ta-ve-nghe-nang-con-au-i-tu-biet-xu-tho.html
Lê Tuấn
Hoa Xuân – Đêm Xuân
https://cuocsongthica.blogspot.com/2021/01/hoa-xuan-bai-tho-5-chu.html
Tiễn Chuột Đón Trâu – Cảm Xúc Đầu Xuân – Chào Xuân – Chào Nguyên Xuân – Lê Văn Hải – Phương Hoa – Minh Thuý – Lê Tuấn
https://cuocsongthica.blogspot.com/2021/01/tien-chuot-on-trau-cam-xuc-au-xuan-chao.html
Vui Xuân tân Sửu 2021
https://cuocsongthica.blogspot.com/2021/01/vui-xuan-tan-suu-2021.html
Lục Bát Mùa Xuân
https://cuocsongthica.blogspot.com/2021/01/luc-bat-mua-xuan.html
Em Là Thần Nữ – Gái Bờ Mương – Thi Sĩ Bùi Giáng và Thơ Lê Tuấn
https://cuocsongthica.blogspot.com/2021/01/em-la-than-nu-tho-le-tuan.html

https://www.youtube.com/watch?v=AEDU_wnAIEU&feature=youtu.be
***
THI SĨ MẠC PHƯƠNG ĐÌNH
Mac Phuong Dinh

DÁNG HOA
Mạc Phương Đình

Thôi thì em, giả từ xưa bóng nhớ
Thôi thì em, mây nước cũng giang hồ
Đêm khép lại, gối đầy trong mộng ước
Dấu cuộc tình trả lại sóng hư vô.

Thôi thì em, chuyện mười năm đã mỏi
Đường em đi, nhưng gót nhỏ chưa mòn
Ngày khuyết tật, vỏ vàng theo sợi nhớ
Mùa trăng qua, sầu rụng mảnh trăng non.

Dẫu đường đời đẩy mây cuồng bão nổi
Người xa người, ngày tháng có ngừng đâu
Dẫu lòng mình, lời chia tay có vội
Dòng tâm tư vẫn đậm sóng tình đầu.

Nghe mùa xuân mịt mù như kỷ niệm
Ngày hạ hồng lay lắt ngõ hương sen
Đêm bàng bạc mây trời thu bạc tóc
Nụ hôn trôi đông giạt những hoa đèn.

Nghe chăng em, gió ngân lời tuổi nhỏ
Dấu yêu kia thôi đành tặng cho người
Trong tịch mịch mở hồn thao thức cũ
Dáng trầm thơm còn đọng nét hoa vui.

Mạc Phương Đình
***
THI SĨ ĐẶNG HOÀNG SƠNDang H Son2DÁNG HOA
Đặng Hoàng Sơn cảm tác.

Thôi em nhé, con đường xưa bóng nhớ
Chỉ là mây, là gió bước giang hồ
Đêm đã hết anh vẫn còn mộng ước
Dù tình mình như bọt nước hư vô.

Thôi em nhé, chuyện tình xưa mòn mỏi
Gót chân son, mười năm bước đã mòn
Em vội đi để mình anh sầu nhớ
Trăng chưa tròn, tình là mảnh trăng non.

Xin em nhớ, đường đời đầy bão nổi
Chia tay rồi là dang dỡ đời nhau
Em ra đi trong phút giây rất vội
Nhưng tim anh vẫn đậm mối tình đầu.

Xin em nhớ, tình Xuân đầy kỷ niệm
Nụ hôn đầu, mùa Hạ ngáy hương sen
Đêm ân ái, Thu thề nguyền bạc tóc
Mặc Đông sang, mờ nhạt ánh hoa đèn.

Xin em nhớ, cuộc tình đầu tuổi nhỏ
Dẫu chia xa anh giữ mãi trong đời
Xin chúc em thuyền tình vui bến mới
Mặc đời anh như dòng nước trôi xuôi.

Đặng Hoàng Sơn Râu.
***
*THI SĨ HOÀNG MAI NHẤT
TUYẾT RƠI…. XUÂN VỀ

Mỗi năm Đông đến mệt đời
Trần gian đón nhận tả tơi lệ trời
Cao xanh cắc cớ trêu người
Sợ rằng không tuyết dễ lơi nỗi buồn
Thế nên tuyết đổ, mưa tuôn
Tuyết mưa…mưa tuyết để vương thêm sầu
Từng chùm bông tuyết một màu
Trắng phao cành đọng như Đào trổ hoa
Hay là Mai Bạch quê nhà
Cùng nhau đua nở ngợi ca Xuân về
Xứ người Đông lạnh tái tê
Mùa Xuân trở lại bên lề lưu vong
Đón Xuân bên những cành thông
Đậm tình chiến hữu /bằng hữu/ ấm lòng tha nhân

Hoàng Mai Nhất

CŨNG LÀ MÙA XUÂN
Dù cho xa cách quê hương
Cũng hoa, cũng bánh, cũng hương, cũng trà
Cũng đi mừng tuổi ông bà
Cũng phong bao đỏ, cũng quà trao nhau
Cũng bao lời chúc ngọt ngào
Cũng bao bận rộn đón chào Chúa Xuân
Cũng lòng cảm thấy bâng khuâng
Cũng nghe xao–xuyến mỗi lần Xuân sang

Xuân sang lòng vẫn ngổn ngang
Vẫn nghe như nhớ Xuân đang năm nào
Nhớ đêm chợ Tết làm sao
Mình cùng dạo phố sắm bao nhiêu quà
Nắm tay đi giữa chợ hoa
Rừng Mai chen lẫn rừng Hoa, rừng Đào
Người đi nhiệt náo xôn-xao
Chợ đêm hâm chín năm nao nhớ hoài….

Tết này cũng có cành mai
Cũng phong bao đỏ, cũng vài bánh chưng
Cũng là một dĩa mứt gừng
Cũng cam, cũng quít, thơm lừng trà xanh
Cũng là em ở bên anh
Mà sao như thiếu trong nhau chút gì
Thời gian dừng lại, qua đi
Thiên niên kỷ mới, Xuân đi Xuân về….

VƯỜN XUÂN

Vườn Xuân rộ nở hương thơm ngát
Mỗi mỗi loài hoa một vẻ kiều:
— Thanh tao thoát tục nhành Mai trắng
Một góc cội già gội nắng mưa
— Trắng, Đỏ, Vàng, Xanh cành Mai ghép
— Lộc phúc đầy nhà đóa Thanh Mai
— Trời xuân rực rỡ Mai Vàng cánh
Rạng vẻ uy nghi nét vương triều
— Tứ Quý bốn mùa hoa luôn nở
Giữ mãi thời gian nét xuân thì
— Hướng Dương trực chỉ đời khinh bạc
Ngạo nghễ ngẩng nhìn đón nắng xuân
— Bàn tay năm ngón: hoa Phật Thủ
Nhắn nhủ ai người giữ đạo Tâm
— Mừng xuân trải thảm mâm xôi Cúc
Uốn lượn muôn màu dải hoa đăng
— Điểm xuyến không gian nhành Đào Đỏ
— Rực thắm trời xuân đóa Nhung Hồng
— Đào Trắng đầy cành sương tuyết đọng
Gợi cả trời thơ cảnh sương mờ
— Sống lâu trăm tuổi hoa Vạn Thọ
Ca ngợi mùa xuân đẹp cuộc đời
— Sống Đời bền chặt duyên tơ tóc
Hạnh phúc trao nhau đến bạc đầu
— Layơn, Thược Dược dường chực nở
Đọ sắc hương đua Mãng Đình Hồng
— Huệ Trắng tượng trưng lòng trong sạch
Mười phương dâng cúng Đấng Chí Tôn
— Mẫu Đơn từng đóa hoa kiêu hãnh
Riêng một góc trời đẫm hương thơm
— Tỉ Muội dịu dàng đầy e ấp
Chẳng muốn đua chen chỉ thẹn thùng…

Phong Lan nào chịu phần thua kém:
— Này nhé! Lan Hài nhẹ gót son
— Vũ Nữ uốn mình cơn gió động
— Vực sâu Thạch Nhũ Lan đeo bám
Nghiêng mình thách đố trước phong ba
— Tỏa ngát hương thơm Lan Ngọc Điểm
— Trường Kiếm vươn dài ánh thép loang
— Kiêu sa đài các Lan Vương Nữ
— Thuộc dòng hoàng tộc giống Hoàng Lan
— Vểnh đuôi vằn vện Lan Bọ Cạp
— Hợp cùng Lan Đất đón xuân sang

— Quít, Tắc đầy cành sai trĩu quả
Tạo hình Tượng, Phụng với Long, Lân

Hoa, Trái vì đâu mà đơm kết
Mật ngọt tranh phân sắc hương cùng
Trong cảnh mùa xuân nghìn hoa thắm
Còn có hoa xuân của ái tình:
“những cô thiếu nữ trăng tròn lẻ,
mười tám, đôi mươi tuổi ước thầm
dạo gót vườn Xuân bao kiều diễm
đố biết hoa nào vượt trội hơn”
Người đi thích cánh chen vai bước
Trước là thưởng thức hoa Xuân nở
Sau nữa đi tìm dáng Xuân yêu!
Ái tình muôn thuở hoa tô điểm
Thử hỏi ai người dễ thoát ra…
Biết đâu trong cảnh vui Xuân ấy
Cũng kết được duyên mấy khối tinh

Hoàng Mai Nhất

NGẪM XUÂN

Cây trụi lá, giàn nho đã hết trái
Nước trong bồn đong đá tự đêm qua
Mấy con cá nằm yên trong gọp đá
Đông nơi này đẹp quá phải vậy không?!
Đêm qua tuyết phủ lên thông
Sáng nay nắng bảo tuyết không được làm
Tuyết chừng mắc cở tan ra
Thành sương lóng lánh như là kim cương

Cuộc đời quả thật vô lường
Như sương buổi sớm, nắng thường ghé thăm
Trăm năm thoáng chốc trăm năm
Tuyết tan thành nước dầm qua sương mờ
Ngày đêm dường cũng hững hờ
Làm sao tách biệt đôi bờ phân chia…
Trời khuất núi, chiều rơi xuống phố
Mây trầm buồn, sáng cố ngoi lên
Mùa Đông sau quá buồn tênh
Chim bay về tổ…chênh vênh nổi sầu
Ta đón Xuân giữa mùa Đông rét mướt
Lạnh thật nhiều nghe buốt giá từ tâm
Xuân năm này có khác đâu năm trước
Thêm một lần…Xuân về trên đất lạ
Để Xuân về buồn lại cứ nhân thêm

Hoàng Mai Nhất

                                                  Lê Anh Thượng
***
*THI SĨ NHÂT HÙNGNhathung1nh 2 2nh Tet Dat Khach Chúc Mừng Năm Mới Chúc Xuân Hạnh Phúc đến Muôn Nhà... Chúc Xuân 1(1) Mam Com Nh Nh Tet Nh Thu Gui Ban Nhathung TetNhathung Tet Ta HtĐ***
*THI SĨ LÊ HUY TRỨ
NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN .

Những giọt nước mắt cho những người lính VNCH cùng vợ con.

“Đau khổ thay không ai nhan khói
Hồn bơ vơ khe suối rừng xanh
Nay sa trường sẩy bước tử thương
Sinh tử quan kẻ trước người sau
Kiếp người oan nghiệt khác nhau
Hồn xiêu phách tán biết bờ bến đâu?

Hồn trốn nơi bờ ngang bụi dọc
Hay nương nhờ khe suối chân mây
Ẩn nơi bụi cỏ bóng cây
Hoặc nơi quán nọ tiệm này cô đơn
Hay là nơi nhà thờ, Phật tự
Hoặc là nơi xó chợ đầu đường
Hay là trốn tại đồng hoang
Hồn nơi gò đống hay đầm lau tre
Sống đã gian nan trong “cố gắng”
Chết héo mòn da rét căm xương
Dãi dầu ngang dọc bao năm
Trên trời dưới đất chết chìm biển sâu
Đài tưởng niệm lữa thiêng lấp lánh
Kính dâng hồn bát cháo nén nhang
Gọi là tổ quốc tri ơn

Lê Huy Trứ

https://youtu.be/0wW1JLmZtSU
***
*THI SĨ ĐỖ CÔNG LUẬN
Đcl Le T Nhan Moi Su Van Lanh Xuan La Mai Mai***
*NỮ SĨ Ý NGA
YngaTet Y Nga Tinh Yeu Dich Thich Ynga TĨnhuanyTho A Nghi Nhac Nvt Xuan Ynga Ynga Đau Nam Yngathuongb***
*NỮ SĨ TÍM
KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Khai bút đầu năm khẩn nguyện rằng
Cầu, bơm, vú sửa, đủ, dừa, măng (*)
Tam tòng bảnh tỏn hong ai sánh j/k
Tứ đức ngon lành chẳng kẻ bằng j/k
Chiếc bóng bay đi, …. vơi dử tợn n/j
Cô đơn biến mất bớt, hung hăng n/j
Gặp hoàng tử lấy chồng, TÂN SỬU
Hạnh phúc BỀN LÂU đến vĩnh hằng

Tím Feb/12/2021
(*)
THIỆN TÂM

Thế thái nhơn tình thiệt “oái oăm”
Tiền vàng lợi lộc bụng tham thầm
Bần cư náo thị không người viếng ?!
Phú ngụ sơn lâm …… lắm kẻ thăm ?!
Giàu chặt cây to … nhiều đứa kiếm ?!
Nghèo cưa cổ thụ chẳng thằng tầm ?!
Trường đời lố bịch ……… nhìn mà ớn
Bạc núi thèm giành, mất THIỆN TÂM

Tím Feb/06/2021

CẮN MÔI

Tấm thân tuyệt mỹ (*) đẹp, trời ơi
Bạch nhựt thanh thiên lỏa thể mời
Lúc trẽ hồn nhiên ….. thời nẫy lộc
Khi thơ thánh thiện tuổi đâm chồi
Nhá hình lắm mợ ghen ….. cay mắt
Bẹo dạng nhiều thầy thích cắn môi
Rững mỡ nình ông thèm nhỏ “rãi”
Bốc tem, bắt bướm ẳm bồng chơi

Tím Feb/05/2021
***
*THI SĨ BỬU TRUYỀN1buutruyenCù lao Phố một đóa Hồng Dung

Hò:
Cù lao Phố con tim, nhịp thở
Của Biên Hòa, của xứ bưởi Đồng Nai
Hồng Dung một đóa trang đài
Nắng mai thắm cánh, trăng soi nhụy vàng.

Quê em một cõi đất trời xanh
Sông nước, đò ngang, bưởi ngọt thanh
Một mảnh vườn hồng ông ngoại quý
Nhưng ông thích nhứt đóa hồng dung.

Ngoại ơi! Chỉ có hoa phù dung
Sớm nở khoe hương, sắc tối tàn
Mưa nắng, hôm mai, hồng vẫn thắm
Kiếp duyên con gái, phận hồng nhan.

Đã biết đời con qua dáng hoa
Có hương, có sắc, nét hài hòa
Phù dung cánh trắng, pha hồng đỏ
Chữ mệnh chữ tài tương đố nhau!

Theo cha, xa ngoại qua Biên Hòa
Phượng vĩ Minh Tân mấy độ hoa
Chuông mõ Bửu Phong vang Thạch Động
Đạo ca em tấu đàn guitare.
(Tay em độc tấu đàn guitare)

Tiếng hò, tiếng hát em thanh trong
Giọng nữ ngọt ngào giữa quãng trung
Chơn chất phù sa nhan sắc mẹ
Liêu trai hương bưởi vị sông Đồng.

Theo con nước nổi giữa mùa trăng
Xa xứ cù lao tình mặn nồng
Bến nước, con đò còn quyến luyến
Cánh hoa hương sắc đóa Hồng Dung.

Hò ơ!
Nửa đêm nghe giọng em hò,
Tiếng đàn em lướt ngọt ngào mênh mông!
Thương em một đóa Hồng Dung
Xứ Cù lao Phố nở/trôi giữa dòng Đồng Nai.

BỬU TRUYỀN
Đêm Pleiku

Pleiku
nhiều đường lên, dốc xuống
Thấy em đi về
anh cũng muốn về theo
Ngã ba biên giới lắm đèo
Làm sao anh biết
phải leo bao nhiêu thác ghềnh?!

Pleiku phố ngủ về đêm
Sao mai chưa mọc,
sao hôm còn chờ
Trăng treo lơ lửng Biển Hồ
Thuyền anh độc mộc
ước mơ có nàng!

Pleiku
ru đêm bên mái nhà rông
Rượu cần nhấm nháp
bập bùng lửa reo
Cồng chiêng em múa anh theo
Tình ca sơn cước
đời nghèo thong dong.

Pleiku
đêm về phố núi mù sương
Mưa rơi rả rích
tóc vương đầu trần
Bâng khuâng
qua mõm Hàm Rồng
Dấu chân trên cỏ
bóng trăng nõn nường.

Pleiku qua đêm yêu đương
Hương trà ngon ngót
ấm lòng cà phê
Qua sông gió nóng
mát về
Cô đơn tan biến
đam mê phố tình.

Pleiku đêm sáng mông mênh
Gió thở lời mẹ
núi rừng vi vu.
Lời cha men rượu Pleiku
Ðại ngàn phiên khúc
em Pleiku nồng nàn!

BỬU TRUYỀN

Pleiku, Tình trăng Biển Hồ

Pleiku ngày mộng đêm mơ
Có sông trên núi, có hồ trên mây
Rượu cần uống ít sợ say
Chiều lên mây xuống mang đầy hơi sương.

Biển Hồ lóng lánh tấm gương
Sáng chiều Công Chúa tô son Hàm Rồng.
Pleiku mắt ngọc long lanh
Ngày xanh nước biếc, đêm vàng khuôn trăng.

Pleiku lảng đảng mong manh
Dáng rung sóng nước bức tranh diễm huyền.
Áo em thổ cẩm hoa tiên
Tay chèo độc mộc con thuyền vào sương.

Pleiku, tia nắng nõn nường
Tô má em thắm, tô hường môi em.
Chiêng cồng trống dội rừng đêm
Bập bùng nhịp đập gọi tên bồi hồi.

Này em Pleiku ới ơi!
Phuợng Hoàng hai đứa giữa trời tung bay.
Lệ Kim thác đổ trên tay
Hòa ca điệp khúc ngất ngây môi nàng.

Pleiku bát ngát dã quỳ vàng
Gót chân em bước giữa hàng sóng xao.
Dưới trăng trải dãi lụa đào
Màu áo em mặc ngày nào mới quen

Dường như đêm đó say mèm
Say rượu thì ít, say em thì nhiều!
Dường như anh chớm biết yêu
Pleiku tha thiết, Pleiku mặn nồng!

Pleiku cao nguyên giai nhân
Mắt mơ xuân thắm, tim nhuần hương thu!
Gương Biển Hồ, em Pleiku
Trăng còn đứng ảnh, huống hồ chi anh!

BỬU TRUYỀN
***
*THI SĨ NGUYỄN VĂN LẬP
Ng V LapIhơ nhạc viết tặng cho Lệ Thu.Thu Vạn Cổ Sầu Rumba 1 Thu Vạn Cổ Sầu Valse 2
Lập Dallas

Thu Vạn Cổ Sầu
Nắng nghiêng vàng bước chân ngày
Gió hiu hiu những đêm dài phương đông
Lá rơi trên ngọn thu phong
Hồn theo nổi nhớ, sầu trông héo người
Nằm nghe mưa đổ xuống đời
Len vào song cửa, bên ngoài gió lay
Lá vàng rụng xuống chưa thay
Lá xanh hiu hắt, sương mai lạnh lùng
Thu sao buồn đến não nùng
Dưới chân lá cỏ úa từng nổi đau
Trăng thu viển xứ cổ sầu
Hồn thu thổn thức trên lầu nghinh phong
Thu xưa tím cả nổi lòng
Bao lần đưa tiễn, không mong, lại về
Nghìn trùng vạn lý sơn khê
Thiên thu vọng nguyệt, tứ bề vấn vương
Ta xin đời có vô thường
Vì ai tấu khúc đoạn trường, nhớ quê.(NVL)

   ***
* DƯ THỊ DIỄM BUỒN
NHỚ ĐÊM GIAO THỪA

DTDB

Đêm nay chùa đón giao thừa
Tuyết rơi khắp nẻo từ trưa đến chiều
Gió đông giá lạnh đìu hiu
Chạnh lòng viễn khách nhớ nhiều quê xưa

Làng em có miễu, đình, chùa…
Mái cong, rêu phủ bao mùa nắng mưa
Hàng sao bến nước lưa thưa
Bên ngôi Thổ Địa, hàng dừa liếp cau

Quanh co một dải sông đào
Vườn sai trái ngọt, trong rào trúc mai
Tết về trẩy hội gái trai
Vui xuân quên những tháng ngày tối tăm

Đêm Ba Mươi, vắng chị hằng
Đèn sao lấp lánh, hương trầm bay xa
Cùng đi lễ Tết với bà
Lâm râm em nguyện cả nhà an vui

Thẹn thùng bắt gặp nụ cười
Còn nheo mắt nữa! “Ấy người vô duyên!”
Em ra hái lộc ngoài hiên
Giao Thừa giây phút thiêng liêng đất trời

Tết sau em được đôi mươi
Mùng Hai khách khứa vui cười chúc nhau
Trời trong trải ánh nắng đào
Gió xuân phảng phất hương cau sau nhà

Em nghe tiếng gọi của bà
Bước vào mẹ bảo: “Rót trà bưng lên”
Trong nhà không khí trang nghiêm
Vén màng mẹ dạy: “Con nghiêng đầu chào”

Thẹn thùng ửng nóng má đào
Tách trà sóng sánh, lao đao cả người!
Ai kia nheo mắt mỉm cười!
Phải chăng Tết trước!“Cái người vô duyên?”

Năm sau tách bến chung thuyền
Buồn vui, mặn ngọt thề nguyền có nhau
Trải qua gió lốc, sóng trào…
Bây giờ hai mái tóc màu sương pha

Bao lần đón Tết xứ xa
Tìm đâu hương vị mặn mà xuân xưa
Dù cho bão tuyết giao thừa
Em cùng “Người ấy” đến chùa đón xuân

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Email: dtdbuon@hotmail.com
CHÁU VỀ THĂM NGOẠI
ĐÊM BA MƯƠI

DTDB

Tối Ba Mươi cháu “gọi” vể thăm ngoại
Ngoại nghẹn ngào bậc khóc ở đầu dây!
Cháu bên nầy cũng bâng khuâng tê tái
Hụt hẫng lời thăm… mắt lệ dâng đầy!

Tết đến rồi, ngoại có vui không ngoại?
Ngoại còn nguyện cầu trước bàn Ông Thiên?
Trà sen, thèo lèo, hoa tươi, bánh, trái…
Dáng ngoại trầm ngâm, đôi mắt dịu hiền

Huỳnh anh từng chùm hoa nhiều hơn lá
Nắng xuân hồng tươi bông cúc, bông trang
Miễu Thổ Thần trong hàng rào xây đá
Vách bám xanh rêu kế cội mai vàng

Hai mươi tảo mộ, trước đưa Ông Táo
Cam, quít, mận, xoài, cây mãn cầu tơ…
Năm tháng mỏi mòn ngóng trông ngoại bảo:
“Chờ đợi người đi tai kém, mắt mờ…”

Cháu nhớ mãi thanh âm, hương vị Tết
Cây niêu, dây pháo, đàn én lượn bay…
Thịt kho, cơm rượu… thơm nồng căn bếp
Tự thuở xưa còn bền giữ tới nay

Ngoại mặc Tết, áo dài the bông ép
Chuông mỏ chùa rền vọng sáng tinh sương
Bao thiếu nữ diện áo quần, giầy, dép…
Tím, vàng, xanh… là lượt khắp nẻo đường

Trước sân đình, ngọn cây cao gió lốc
Lá phướn dài, uốn lượn phấp phới bay
Bà cháu mình giao thừa đi hái lộc
Mong gia đình hạnh phúc trọn năm dài

Cháu nhớ ngoại là nhớ về cố quán!
Cứ mỗi lần gió bấc chuyển mùa sang
Nhớ quá ngoại ơi, tuổi hồng Nguyên Đán
“Năm Mới về chúc ngoại được bình an”

Nơi xứ lạ cháu là người tị nạn!
Hãnh diện chăng kẻ bỏ nước ra đi?
Về thăm lại? Quê hương còn Cộng sản!
Xuân ơi xuân, xuân đến có vui gì!

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Email: dtdbuon@hotmail.com
XUÂN NẦY
BẠN CÓ VUI KHÔNG

DTDB

Đón Xuân ai cũng vui lắm mà
Xóm buồn chẳng có kẻ lại qua
Bão nổi gãy cành rơi hoa trái
Thịt cá ê hề… nhà lạ xa

Ác dịch có ai chẳng ngại lo
Những người bán hàng ngồi buồn so
Vo ve ruồi nhặng vờn bánh mứt
Chẳng hỏi bán mua chẳng chuyện trò

Nhà không dĩa: “cầu, dừa, đủ, xoài”
Chẳng cắm bình sứ cành hoa mai
Cúc vàng chen thắm hồng đào nở…
Dưa hấu, nem, bì… chẳng rượu chai

Tết thế làm sao vui trọn đây!
Nhà ai nấy ở chẳng sum vầy
Bến xe, chợ búa, đò vắng khách
Chẳng khoe quần áo mẹ mới may

Điện thoại thăm rồi báo tin buồn
Chú Ba, bác Bảy… nằm nhà thương
Người đi, kẻ mất… trong thầm lặng
Dù không ruột rà cũng đồng hương!

Tân Sửu đón xuân trên Diễn Đàn
Quyến thuộc bạn bè mỗi tiểu bang
Đồng điệu, đồng hương… trên thế giới
Thơ, nhạc… trên đài trổi vang vang

Tân Sửu xuân về bạn vui không?
Gợi nhớ trong tôi nỗi thương lòng!
Làm sao vui được xuân xa xứ!
Xuân thuở Cộng Hòa vẫn hoài mong

Mùng Một Tết Tân Sửu (12 tháng 2 năm 2021)

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
TRONG TÙ
KHÔNG CÓ XUÂN

“Viết theo tâm sự cựu Tr/Tá Dù
Hoàng Ngọc Liên” DTDB

Gió đông lạnh buốt thổi
Mây trắng từng cụm bay
Cây lá hoa cằn cỗi
Bướm cợt đùa nắng mai

Trắng, hồng, xanh, hoàng yến
Hoa thắm nở ven rừng
Mới biết mùa xuân đến
Cõi lòng, ôi bâng khuâng!

“…Nhớ mùa xuân năm đó
Chiều ba mươi dừng quân
Đình chùa vang trống mõ
Rước ông bà, đón xuân…

Chuông giáo đường lồng lộng
Đêm giao thừa tưng bừng
Không gian như ngừng động
Xuân ơi đẹp vô cùng

Bàn thờ nhang nghi ngút
Thoang thoảng tỏa hương trầm
Hoa đào cắm bình lục
Mứt, bánh, trà… đầy mâm

Dưa hấu hồng xuân mới
Ngày Tết khách viếng thăm
Họ hàng, con cháu tới
Chúc hạnh phúc tròn năm…”

Nay giữa rừng giá lạnh
Tết chỉ là dư âm…
Và cõi lòng hiu quạnh!
Rai rức nhớ thương thầm

Trại tù rào kín mít
Toàn bằng loại tre gay
Cành nhánh đương chằng chịt
Thành tường lũy chạy dài

Tù nhân không buồn trốn
Bởi bao quanh rừng già
Núi chập chùng lởm chởm
Qua suối… máu rướm da

Vào rừng thiêng nước độc
Cọp, beo… chờ người qua
Vùng núi đồi hiểm hóc
Khó vẹn toàn đi ra…

Tù nhân không lành áo
Gió bấc cắt thịt da
Ơi mùa xuân áo nảo
Se thắt nỗi nhớ nhà!

Chén bo bo lạnh ngắt
Lũ ruồi nhặng bay rong
Hơi núi rừng hiu hắt
Không bằng nỗi lạnh lòng

Đè nặng lưng liềm búa
Đập đá hay phá rừng
Đào mì hay cấy lúa
Trong tù không có xuân

Lao dịch dưới bưng lãng
Mười mấy độ xuân tàn
Người tù không bản án
Ước mơ gì xuân sang!

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
***
*NỮ SĨ NHƯ THƯƠNGNhu Thuong2TRÀ MẠN GIAO THỪA

Khép hờ khung cửa lùa cơn gió
Chút lạnh cô phòng mới đêm qua
Đêm Ba Mươi Tết ngang qua ngõ
Tươm tất lòng mình khoác áo hoa

Có chồi xanh biếc từ tiền kiếp
Hội tụ về đây nở cánh vàng
Nhánh mở lòng ra chẳng hề tiếc
Dâng mình hoa thắm ngõ Xuân sang

Sâu thẳm lòng Ta mai vẫn nở
Một đóa hoa vàng hay cội mai?
Dẫu là Xuân đấy…dù đã lỡ
Hẹn với cuộc đời mộng hoài thai

Rồi sẽ quay hết vòng năm tháng
Như thể cuộc tình của nắng mưa
Một nén hương trầm, ly trà mạn
Ta với riêng Ta…đón Giao thừa!

Như Thương
(Giao thừa Xuân Tân Sửu 2021)
***
*THI NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU TÂN
Ns Ng H TanMỪNG TẾT CÓ THÊM TUỔI ĐỜI THĂM TƯƠI

MỪNG Xuân TÂN SỬU tỉa trăm hoa
TẾT đón Trâu về dọn ruộng ta
CÓ cánh mai vàng đơm nghĩa Mẹ
THÊM cành đào đỏ đượm tình Cha
TUỔI hồng phơn phớt gieo câu cú
ĐỜI mới rỡ ràng tấu khúc ca
THẮM nghĩa tao khang chung lối mộng
TƯƠI màu chung thủy chẳng phôi pha
Kính chúc quý thân băng quyến thuộc, quý bạn hữu
trên các diển đàn
Năm Mới an khang, hạnh phúc, muôn sự cát tường, vạn điều như ý
NGUYỄN HỮU TÂN
Feb.09/2021 (28 Tết)

RỘN LÒNG

MỪNG được bồ non tặng tá hoa

TẾT nay sướng lọa “rộn lòng” ta

CÓ vui đở khổ … thương quê mẹ

THÊM thích vơi buồn nhớ đất cha

TUỔI “ống chề” phòng không tự hát

ĐỜI cô quạnh chiếc bóng … mình ca

THẮM sâu tức, giận “ly hương” mãi

TƯƠI tắn hong còn “hận”, “tủi” pha

Tím Feb/09/2021
***
*NỮ SĨ NGÔ MINH HẰNGNgo Minh Hang1CHÚC XUÂN
Cho nước Mỹ, quê hương thứ hai vô cùng yêu dấu
của tôị Riêng tặng những người có trái tim đồng cảm.
Mùa Xuân năm Tân Sửu, 2021.

Lòng cũng muốn có đôi lời chúc tụng
Khi đất trời thức dậy báo xuân sang
Nhưng trận chiến dù không hề tiếng súng
Cũng làm Xuân tan nát cội mai vàng !
*
Làm mùa Xuân đau thương từng cánh én
Từng niềm vui, hy vọng cũng tan tiêu
Chỉ còn lại những mảnh lòng uất nghẹn
Nhìn tương lai trong dâu biển bọt bèo
*
Có nằm mộng cũng không hề nghĩ tới
Rằng một ngày miền đất hứa tan hoang
Đáy vực thẳm, non sông đang hấp hối
Và quanh bờ đầy ma qủy, sài lang …
*
Thương tiếc quá bao mùa Xuân năm cũ
Những xuân vàng, từng giọt nắng reo vui
Từ đây nhé, nếu loài người say ngủ
Thì thế gian bốn cõi sẽ đau vùi !…
*
Và thế giới sẽ chìm trong bụi đỏ
Trong đau buồn, trong hận tủi mênh mông
Tim, óc, lương tâm cũng nằm trong rọ
Trời bao la nhưng miệng bịt, chân còng !
*
Lòng cũng muốn có đôi lời chúc tụng
Khi ngoài sân hoa bướm nhởn nhơ cười
Nhưng chúc gì, nụ mai vàng đã rụng
Và quanh ta mây phủ kín mặt trời !!!…

Ngô Minh Hằng

***
*THI SĨ Ó BIỂNAnh O BienCHÚC TẾT 2021

Năm nay Trâu già về đây với ta
Chúc khắp mọi nơi êm vui thuận hoà
Chúc anh chúc chị gần xa
Chúc quý ông bà cô bác
Bình an hồn xác
Hạnh phúc dài lâu
Thắm tóc mượt râu
Đi câu bắt được nhiều cá
Ai đang ở giá
Cũng có người theo
Cuộc sống không hề bị nghèo
Công danh cứ trèo lên mãi
Về hưu rồi thì thoải mái
Vui chơi không phải lo âu
Mạnh khoẻ như Trâu
Nhưng không dãi dầu mưa gió
Muốn chi được đó
Từ giờ hết có sầu lo
Ăn chơi không có ki bo
Thích gì hưởng nấy
Trước sao sau vậy
Ấy thì cứ ấy đừng chần chờ chi
Cô Vít cô Vy cho đi theo chuột
Kính chúc mọi người hên suốt năm nay

Ó Biển 227 LC
Sửu 2021
***

*THI SĨ ĐẶNG QUANG CHÍNH
Tình thủy chung

Tôi ngậm vành môi em như thuở trước
Để tỏ tình thắm thiết em đã trao
Như đôi chim ríu rít ở bên nhau
Rồi cùng gánh những ngày trời mưa bão
Rồi cùng nhau chia xẻ những hiểm nguy
Chắp cánh cùng bay những ngày nắng ấm1613638345683blobRồi một ngày trong hai ta lìa thế
Kẻ sót thương ở lại cũng như không …!
Chim yến đó một con đà bức tử
Con chim kia tung gành đá đi theo
Xác khô máu nằm xác xơ vì bạn
Hai chúng ta chim uyên ương liền cánh
Chung thủy bên nhau đến hết cuộc đời …!

Đặng Quang Chính

Tự do và hạnh phúc

Tôi đã nghe “tự do hay là chết”
Nghe khó khăn biết lựa chọn ra sao
Muốn tự do phải chọn chết khó lòng
Thà không chết dù sống trong quản thúc

Sự lựa chọn xảy ra trong khoảng khắc
Dũng mãnh lên nhờ vậy sống làm người
Còn chết nhát sống cuộc đời tủi nhục
Chọn lựa tức thời làm rạng đời người …!

Tôi đã nghe “Tự do và hạnh phúc”
Nghe nhẹ nhàng hơn lựa chọn ở trên
Tự do kia, chim ngoài chuồng luôn hót
Có thể đói, có thể no, ai biết
ĐqchinhHạnh phúc trong lồng, chim kia cũng hót
Có khác là hót ca ngợi chủ nhà
Đẹp lòng người, những gì ông chủ muốn
Để trả công, ông vỗ béo đủ đầy

Chuyện cá nhân có khác chi đất nước
Thời nhà Trần cả nước chống quân Nguyên
Bọn giặc thù, gần bá chủ hoàn cầu
Dưới vó ngựa, chúng tóm thâu nhiều nước

Tiếng “Sát thát” dân quân đồng lòng hétt
Thế nước yếu “hy sinh” đồng lòng chết
Trong cái chết tìm ra con đường sống
Đất nước ta bền vững đến ngày nay …!

Ông cha ta tìm sống trong cái chết
Chết vì nước giành tự do hậu thế
Quyết chiến đấu không sống trong nô lệ
Quyết định đúng sai, hạnh phúc con người…!

Đặng Quang Chính
***
*THY SĨ THY AN
Nơi Ấy Bình Yên
Tuesday, February 02, 2021 ĐSLV , Thơ , thy an
Thy Annơi ấy là một miền thật đẹp
nắng mùa xuân nở hoa trong lòng
giấc mộng vẽ lên từ mái chùa hình cong
bước chân người thong dong lên đồi
nghe như truyền âm của đất thiêng lắng vào xương thịt

nơi ấy là tiếng hát của nhật nguyệt thơm tho
cám ơn trái tim con người còn biết thương yêu đồng loại
còn biết đập nhịp đập phút giây thần thoại
hòa tan thủy chung và trung thành
nguồn sáng vô tận
của những lữ hành trên đường tìm sen
hồn mênh mang nhẹ như gió sương

nơi ấy là một thành phố thật đẹp
với nhiều chậu hoa
chỉ nở theo tiếng từ tâm của những con bồ câu hiền
hoàng hôn rót lửa ấm vào những cội nguồn linh hiển
khu vườn ngày xưa có những quyển sách nằm yên
bụi mai hé nụ
ý nghĩ bay lên theo trang giấy
thơ trang điểm cho đời
và giọt mưa chiều thấm xuống đất êm

nơi ấy là nơi vô hình của bình yên
ngày tháng vuốt ve cuộc sống trên những hoang tàn và bạo lực
hoa và lá ôm chầm hình hài cổ nhân
hình như đã đi vào quên lãng
nụ cười mở ra trên những sinh tử coi như trò đùa
an ủi hạt bụi đừng bao giờ biến thành đau khổ

nơi ấy là đồng rộng như nghĩa trang mở lối
bia mộ của những hư không còn sót lại
đại dương của những sự thật
chỉ hiểu được trong chiều tà kiếp sống
phương đông hay phương tây
cỏ vẫn xanh mà tóc người đã bạc
vớt một cành hoa trên hồ nước thật trong
gắn lên áo mỏng màu xanh trên đồi
mưa gió mùa xa mỉm cười cùng Tuệ Sỹ

cuộc đời trôi nhẹ theo lời kinh
thì thầm những kỳ diệu với núi, rừng, sông, biển
nghe bình yên, bình yên từ cõi lạ muôn trùng…

thy an – viết lại
(Đặc San Lâm Viên)
***
*THI SĨ THÍCH TÁNH TUỆNhu Nhien Thich Tanh Tue3***
*THI SĨ TRÚC LĂNG
TÌNH ĐẦU XUÂN

Sao không là tình tự thuở trong mơ!
Để môi viết vần thơ Xuân ướt át ?
Chút thèm khát chưa bao giờ mất mát,
Hay mắt Em đôi ánh sáng mây bay,
Để Ta mơ năm tháng nhớ đêm ngày,
Từ áng mi cong quanh co tuyết phủ !

Từ khói thuốc mềm chiêm bao giấc ngủ ?
Nói đi Em ? Cho đôi môi chạm vào nhau !
Như hai vị sao lấp lánh vi lau ,
Bởi Xuân đến bị vắt chanh bỏ vỏ ?
Chế độ vốn lệ thuộc Hang Pắc Bó ,
Làm sao Dân phục Quốc thuở Quang Trung !

Hay dân Ta chưa đến độ kiêu hùng ?
Nên giặc tiếp tục tràn lan Đất Tổ !
Phải lật đổ quyết ra tay xóa sổ,
Dù xãy ra thế chiến có leo thang,
Phát lờ ngay ý nghĩ nhục đầu hàng,
Quyết triệt hết mọi con đường lẩn trốn !

Không thể sống với quân thù đảo lộn ?
Há quên ? Mùa Xuân không phải mùa Xuân !
Dân lầm than cay đáng lại xoay vần,
Hận Đất Nước mỏng hơn tờ giấy báo ?
Sao không đứng thẳng trở thành vũ bão,
Tư cách thìa cơm rõ thấy leo thang !

Không lẽ dân hóa thành lợn rừng hoang?
Tim chết cứng óc teo dần sắt thép !
Tóc tổ đỉa lại cúi đầu khép nép,
Phải đứng lên cho máu loạn lên đường !
Xuân có đi hay đến vẫn vô thường,
Xuân Đất Việt vẫn mùa Xuân chiến tháng !!!

TRÚC LĂNG OKC
***
*NỮ SĨ NGUYỄN THỊ AN
Ng Thi An***
*NỮ SĨ NGỌC PHƯỢNG

Hữu Sở Tư

Giáp tết nhưng lòng nặng nỗi riêng
Giao thừa giữa khoảnh khắc linh thiêng
Bời hồi gác lạnh vang lời gió
Khắc khoải đêm buồn vọng tiếng quyên
Thế tục bao người dư phước lộc
Dương phàm lắm kẻ thiếu cơ duyên
Cầu trời khấn phật dùm thương xót
Độ khắp hồng trần suốt tháng giêng

Ngọc Phượng
13 Feb 2021
*THI SĨ ĐỨC HÙNG
Duc Hung***
*THI SĨ VIỆT ĐIỂU

XUÂN VIỄN XỨ

Đất khách đêm xuân độc ẩm trà
Ngoài trời giá lạnh tuyết sương pha
Bồi hồi vận nước sầu quê mẹ
Khắc khoải đời dân chạnh nỗi nhà
Đó vẫn triền miên màu ảm đạm
Đây còn mải miết gót bôn ba
Bao giờ mới được nhìn sông núi
Dân chúng hò reo đuổi giặc tà

Việt Điểu
18 Feb 2021

*THI SĨ TRƯỜNG GIANG

NÉT XUÂN HỒNG

ĐÔNG QUA, XUÂN ĐÃ LẠI VỀ,
TOÀN DÂN CHÚC TỤNG LÀNG QUÊ DẠO NÀO.
ÔNG YÊU CON CHÁU XIẾT BAO,
TẶNG QUÀ NGÀY TẾT NAO NAO TẤC LÒNG.
HỌ HÀNG CHÚC THỌ LÁNG GIỀNG,
VUI CHƠI COI HÁT ĐÌNH LÀNG CHẬT GHÊ.
TUỔI ĐÒI ĐÃ VƯỢT HAM MÊ
VỆ SINH NHÀ CỬA BỐN BỀ LO TOAN.

FEBRUARY 2/2021 TRƯỜNG GIANG

***
*THI SĨ KIỀU PHONGKieu Phong1 Img 9896 Kieuphong

***
*THI SĨ DUY ANH

XUÂN ĐẤT KHÁCH

Bao năm vắng tiếng pháo giao thừa
Trừ tịch im lìm khác Tết xưa
Đất khách năm tàn, đêm lạnh giá
Quê người tháng lụn, tối buồn mưa
Nghênh Trâu ngoan đến, trà thơm đãi
Tống Chuột quậy đi, rượu đắng đưa
Khai bút tân niên mình tự hỏi
Xuân vui nước Việt tới hay chưa

DUY ANH
Xuân Tân Sửu 2021

***
*SA CHI LỆ2009scl06e05f56541c65e6a31b922fd963b61b CopyImage Border Editor: Https://www.tuxpi.com/photo Effects/borders***
*RELAX: MỜI NGHE DIỄN NGÂM
Van Khanh Dien NgamQUÉT LÁ PHONG TRẦN Thơ: Hoa Văn Trong thi phẩm: Hương Hoa Tình Thơ


***
Kiếp Sau | Thơ Cung Trầm Tưởng | Hoàng Khai Nhan diễn ngâm (4K) 20210122Hoang Khai Nhan Dien Ngam Copy


***
*TRANG HỒI KÝ-TRUYỆN NGẮN-BÚT KÝ-BIÊN KHẢO:Image Border Editor: Https://www.tuxpi.com/photo Effects/bordersGioithieunhavanSach Icon CopyVan Copy
                         *QUÝ NHÀ VĂN GÓP MẶT:
            *NGUYỄN KIM VẦN * VĂN NGUYÊN DƯỠNG*TRÀM CÀ MAU*
            *TIỂU TỬ*PHẠM TÍN AN NINH*LÊ TUẤN*LÊ XUÂN NHUẬN*
            *HOÀNG MAI NHẤT*NGUYỄN NGỌC HOA*CHINH NGUYÊN*
           *LÊ VĂN HẢI*DƯ THỊ DIỄM BUỒN*CHU TẤN*ĐINH TẤN SƠN*
                       *HCP*BS CHÂU NGỌC DIỆP*
***
*HỒI KÝ NGUYỄN KIM DẦN:Hoiky Ng Kim Dan1>Hồi ký của Nguyễn Kim Dần (bài 8)
                   Quận Giáo Đức (tỉnh Định Tường)

Sau khoảng 1 năm 6 tháng tôi phục vụ tại quận Khiêm Hanh, tỉnh Tây Ninh (từ đầu năm 1964 đến giữa năm 1965). Tôi làm Phó Quận cho một Đại Úy Quận Trưởng rất giỏi về tình báo, nhờ đó tôi ý thức rất sớm kết qủa cuộc chiến : Miền Nam chỉ đi từ huề (hòa) tới thua. Ý định của tôi là tìm đường ra khỏi VN, tôi xin một học bổng đi Hoa Kỳ và tìm cách ở lại đó hoặc xin qua Canada cư ngụ vĩnh viễn. Tôi được gọi về học Anh văn ở hội Việt Mỹ 6 tháng để sẽ lên đường du học. Nhưng giờ chót bộ Quốc Phòng bác đơn xin du học của tôi…….Tôi rất chán nản và xin thuyên chuyển về Định Tường, vì tính ra thâm niên tôi đã đủ 2 năm (vì 6 tháng học Anh văn cũng được coi như nhân viên của tỉnh Tây Ninh). Về Định Tường tôi được bổ nhiệm đi làm phó quận Giáo Đức (1966), một quận xa nhất trong 7 quận tại Định Tường và nhiều người biết đến quận này vì có phà Bắc Mỹ Thuận. (cách tỉnh lỵ Mỹ Tho khoảng 60 cây số)
Tôi tới quận Giáo Đức để bàn giao công việc, người Phó Quận đang giữ chức vụ tên là Nguyễn Văn Khuê, ngạch trật rất thấp, ông ta chỉ là thư ký đánh máy. Khi gặp ông Khuê để ấn định ngày bàn giao thì tôi nhận thấy ông ta có thái độ khác thường, không chịu bàn giao và nói cứ đợi (nói theo ngôn ngữ bình dân thì ông Khuê lúng túng như gà mắc đẻ, thật tội nghiệp !)….Phải mất một tuần ông ta mới chịu bàn giao chức vụ…..Với kinh nghiệm hành chánh, khi đã bàn giao xong, đã ngồi vào ghế Phó Quận, công việc đầu tiên là tôi chỉ thị cho Trưởng Văn Phòng Quận (chức vụ lớn nhất trong văn phòng quận) đem trình tôi tập công điện lưu trữ gởi đi “MẬT” và tập công điện lưu trữ công điện nhận “MẬT”. Ngay khi mở ra tập công điện “Mật” gởi đi, tôi đọc ngay tờ đầu một công điện do ông Quận Trưởng ký với nội dung xin giữ lại ông Nguyễn Văn Khuê làm Phó Quận vì sợ ông Nguyễn Kim Dần chưa có kinh nghiệm !!! Tiếp theo tôi mở tập lưu công điện nhận “MẬT”, tôi đọc được công điện của ông Tỉnh Trưởng ký là không chấp nhận giữ lại ông Khuê và phải bàn giao gấp. Một thư ký đánh máy được giữ chức vụ Phó Quận là vì trong guồng máy HC lúc đó còn thiếu nhiều nhân viên có ngạch trật cao. Theo nguyên tắc HC, Phó Quận phải là cấp tham sự trở lên (tham sự phải có bằng tú tài 2 và học 1 năm ở HV/QGHC, hoặc phải là thư ký HC chánh ngạch, đã lên tới tột cùng (Plafond) sẽ được chuyển qua ngạch tham sự, còn đốc sự thì chức vụ chót là Phó Quận hay Trưởng Ty. Tuy nhiên đến năm 1974 thì HV/QGHC đào tạo đốc sự qúa nhiều (dư thừa) nên khi làm Phó Tỉnh Trưởng Phú Bổn tôi phải bổ nhiệm các đốc sự làm Chủ Sự (không tương xứng với cấp bằng của họ). Tất nhiên tôi suy luận là ông Quận Trưởng (tên Lưu Danh Rạng, cấp bậc Đại Úy, sau mấy tháng thì lên Thiếu Tá) vì do lời yêu cầu khẩn khoản của ông Khuê mà ký công điện giữ ông Khuê lại, theo tôi, ông Quận Trưởng cũng dư biết là có xin giữ ông Khuê lại cũng không được. Ông Đại Úy QT Lưu Danh Rạng là người có học (khóa 7 Võ Bị QG/Dalat tức là trên tướng Phạm Văn Phú một khóa), Đ/U Rạng gốc nhẩy dù nhưng là ngành truyền tin, vì tham gia đảo chánh với Nguyễn Chánh Thi (1960) và bị đi tù. Sau khi đảo chánh TT Ngô Đình Diệm (1/11/1963), Đ/U Rạng được ra tù, tôi cũng không rõ Đ/U Rạng làm Quận Trưởng từ năm nào ở quận Giáo Đức?
Theo thông lệ thì sau khi nhận việc tôi hay ngỏ ý với ông Quận Trưởng (QT) đến thăm xã giao bà QT, tuy nhiên sau mấy ngày, nghe nhân viên nói là quận trưởng phu nhân này “RẤT HÁCH” nghĩa là ỷ vào chức vụ của chồng, nghe như vậy tôi bỏ ý định là không gặp bà ta vì tôi làm việc với ông QT còn bà ta chẳng qua là thăm xã giao mà thôi….không thăm thì có sao đâu ???
Về tổ chức văn phòng quận thì như sau : Trưởng Văn Phòng là một thư ký phù động (flottant, chữ này là do Pháp để lại có nghiã là bị sa thải bất cứ lúc nào, nó như cái phao nổi đó, nhưng bất ngờ sẽ chìm) do ông Chín phụ trách, một người khoảng trên 30 tuổi khá đàng hoàng có vợ, con, dân địa phương. Trưởng Ban Hành Chánh là bà Nguyễn Thị Nê khoảng 35 tuổi, sắc đẹp vào loại khá, đặc biệt có đôi mắt xanh như người da trắng, bà ta là vợ của ông cựu Phó Quận Trưởng đã về hưu (có lẽ vợ cả chết nên lấy bà này và có 2 con gái khoảng 7,9 tuổi và 1 con trai khoảng 6 tuổi….). Theo những điều nhân viên thuật lại, thì bà này rất nguy hiểm, rất tham nhũng…..Bà chỉ là thư ký đánh máy công nhật. Tuy nhiên bà là người “tình hờ” của ông Lê Công Chất (ông Chất lúc đó là phụ tá HC cho tướng Đặng Văn Quang, vùng 4 chiến khuật, sau bãi bỏ chức vụ này ông Chất làm Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ rồi Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ). Bà Nê cũng là người “tình hờ” của ông Phó Tỉnh Trưởng Định Tường đang tại chức (Đốc Sự Lê Văn Hội). Bà Nê cũng là người “tình hờ” của bất cứ Cố Vấn Mỹ (Cố Vấn Trưởng) nào đến phục vụ tại quận Giáo Đức. Tôi xin nói rõ thế nào là người “tình hờ” tức là thỉnh thoảng gặp nhau và ăn ngủ với nhau. Điều này bà Nê nói công khai và không che dấu. Trưởng Ban Quân Vụ Nội An là Tám Lợi, một cán bộ của chi Thông Tin, rất tham nhũng. Trưởng Ban Tài Chánh là một cụ Phó Tổng Già được gọi về Quận làm Trưỏng Ban Tài Chánh, một người đàng hoàng rất giỏi về tài chánh..Đó là những ban chánh trong văn phòng quận. Trong văn phòng có độ 6 nữ thư ký và 5 nam thư ký.
Tôi biết trước là công việc của tôi rất khó vì do tiền lệ để lại, nghĩa là một văn phòng quận đầy tham nhũng. Làm được vài ngày ông QT Rạng cho mời tôi qua nói chuyện : Ông ta nói là trước đây ông Phó Khuê không viết nổi công văn nên có kêu Tám Lợi là cán bộ của chi Thông Tin vào làm Trưởng Ban Quân Vụ để viết công văn thay ông Phó Khuê khi cần, ông QT nói tiếp là nay có ông về dư sức viết một công văn nên hoàn Tám Lợi về chi Thông Tin. Tất nhiên tôi đồng ý với quyết định của ông QT, tôi biết ngay đây sẽ là việc ân oán đầu tiên để tôi sẽ lãnh những đơn nặc danh tố cáo…… Đồng thời từ nay bà Nê cũng mất quyền lợi vì không thể tham nhũng, làm tiền dân như đời ông Phó Khuê. Tôi không hề ra chỉ thị gì về vấn đề tham nhũng mà lấy chính cá nhân mình làm gương, giải quyết công việc mà không bao giờ đặt vấn đề tiền bạc, tôi phải chứng minh bằng hành động thanh liêm của mình… Tôi nhớ đến câu nói của anh Vũ Thiện Chi khi lên Tây Ninh nhận việc (1964), anh Chi là khóa 1 đầu tiên của trường HC từ lúc ở Dalat, anh chẳng giữ chức vụ gì cả mà tôi cũng không tìm hiểu lý do tại sao, trong khi Phó Tỉnh Trưởng HC Tây Ninh (đầu năm 1964) lại là người cùng khóa với anh Chi (Đốc Sự Lê Phú Nhạn). Anh Chi nói với tôi : Ra đời chén cơm của chúng đang có đầy thịt cá, nếu cậu về nhận việc nơi nào mà chén cơm của chúng nó bị bớt thịt cá đi hay không còn thịt cá nữa thì thể nào cậu cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Tôi làm việc với ông QT Rạng được vài tháng thì ông Rạng bị mất chức và được thay thế bằng một vị Đại Úy tên Nguyễn Văn Thà, Đại Úy Thà là người ít học nên có mặc cảm, ông Thà tính tình rất dễ thương, chắc khi về ông cũng đã điều tra về con người của tôi. Ông hoàn toàn tín nhiệm nơi khả năng và tư cách của tôi. Sau mấy tháng làm việc với ông Thà, được ông tín nhiệm tôi chỉ thị cho Trưởng Văn Phòng Quận và chi Thông Tin ra một thông cáo cho dân chúng rõ là quận sẽ có một buổi gặp gỡ dân (mượn 1 lớp học của trường trung học làm hội trường). Quận sẵn sàng giải đáp, nghe những thỉnh nguyện của đồng bào……
Đúng ngày giờ đã thông báo, chỉ có tôi và Trưởng Văn Phòng Quận tới lớp học (nơi làm hội trường), dân chúng đến khá đông. Tôi lên tiếng khai mạc bằng vài lời chào đón đồng bào…Tôi nghe rất rõ ràng vài tiếng nói của người dân đang tham dự “BẮC KỲ, BẮC KỲ” vì tôi nói giọng BẮC Hà Nội 100%. Tất nhiên tôi lờ đi như không nghe thấy gì.
Sau đó tôi nói đồng bào có thắc mắc hay có ý kiến gì thì tự do phát biểu. Một cụ già khoảng 60 tuổi đứng lên, với giọng nói chậm rãi, chững chạc : “Thưa ông Phó, tôi nộp đơn xin sửa nhà ở văn phòng quận, hồ sơ nộp đã nhiều tháng nay rồi mà chưa thấy trả lời . Người Trưởng Văn Phòng (Ông Chín) lên đưa cho tôi một miếng giấy nhỏ có mấy chữ ” Thưa ông Phó, bà Nê nhận hồ sơ của cụ Chỉnh xin sửa nhà đã nhiều tháng nay mà không chịu giải quyết”. Nhờ có người Trưởng Văn Phòng “nhắc tuồng” mà tôi nắm vững vấn đề; Tôi lên tiếng trả lời : ” Nội trong một tuần tôi sẽ cho cụ biết kết quả được sửa nhà hay không, nếu đơn bị bác sẽ nêu lý do bị bác.”
Ngoài câu hỏi chánh đó còn một số người nêu lên những vấn đề khác nữa, nhưng không quan trọng. Để chấm dứt buổi họp tôi nói : Nếu cần khiếu nại, oan ức, hãy tới văn phòng tôi, lúc nào cũng mở rộng cửa đón nhận ý kiến của đồng bào. Cuộc họp chấm dứt, tôi về văn phòng quận vừa vui vừa ưu tư :
1) Trước đây tôi thường nói là Phó Quận chỉ có 1 sứ mạng (trách nhiệm) là phục vụ đồng bào một cách lương thiện (tôi hay dùng chư MISSION).
Nhưng qua buổi họp vừa rồi, tôi thấy cá nhân tôi lại gánh thêm một MISSION thứ 2 nữa:
2) Phải chứng minh BẮC KỲ không phải là những người đáng ghê sợ (như lưu manh, gian dối, tham nhũng v.v.). Vì trong buổi họp như trên đã nói, tôi vừa cất tiếng nói, vài người ngồi dưới đã nói “Bắc Kỳ, Bắc Kỳ”, cái MISSION thứ 2 này chỉ một mình tôi biết và không hề tiết lộ cho ai rõ. Tất nhiên phải âm thầm thực hiện qua công việc hàng ngày. Đối với tôi, việc này qúa dễ. Tôi sẽ phục vụ dân chúng với lòng chân thành và sự thanh liêm.
Qua việc cụ Chỉnh xin sửa nhà mà bị bà Nê “ngâm” hồ sơ thì đây lại là một ân oán giang hồ nữa, mà nói theo như đàn anh Vũ Thiện Chi (ở Tây Ninh) là chén cơm của người ta làm bớt thịt cá hay không còn thịt cá sẽ gặp khó khăn vô cùng. Tôi chấp nhận chấp nhận khó khăn đó và sẵn sàng phải đối phó với những thư nặc danh tố cáo, dù chắc chắn đều là những điều bịa đặt.
Tôi tự tin vào những yếu tố sau đây : a) Tôi còn độc thân b) Tôi không bao giờ đụng tới vấn đề tiền bạc c) Tôi không dính vào những vấn đề trai gái. d) Tôi ở trong ngạch Đốc Sự. e) Tôi tự xét mình là người có khả năng….f) Tôi không chú trọng tới địa vị và tiền bạc .
Qủa nhiên điều tôi tiên liệu xẩy ra : Một hôm một xe công xa (loại du lịch) tới quận chở theo 2 người đàn ông; Họ tự giới thiệu là Thanh Tra Giám Sát Viện xuống quận làm việc (điều tra). Một người tên là Lê Đình Bửu, một người tên là Nguyễn Tử Khanh, 2 người về tuổi tác hơn tôi độ 6,7 tuổi. Hai người mượn một phòng của chi Cảnh Sát làm văn phòng để mời các nhân chứng tới điều tra, chẳng cần suy luận, tôi cũng biết là đây là cuộc điều tra tôi theo những thư NẶC DANH (nghĩa là không có tên người tố cáo).
Tôi cũng nói qua về tổ chức Giám Sát Viện lúc bấy giờ : Năm 1966, sau khi đảo chánh TT Diệm (1963) chế độ mới chưa có Hiến Pháp. Giám Sát Viện tuyển những người có bằng cử nhân luật làm Thanh Tra Giám Sát Viện đi thanh tra các vụ tham nhũng đặc biệt ngày đó dù là thư nặc danh (nghĩa là không có tên tác gỉa hay nói rõ hơn là thư không có tên, địa chỉ người đứng ra tố cáo cũng cho điều tra). Đến khi có Hiến Pháp thì Giám Sát Viện tổ chức như sau : a) Hành pháp chỉ định 6 giám sát viên. b) Lập pháp bầu hay chỉ định 6 giám sát viên. d) Tư pháp bầu hay chỉ định 6 giám sát viên, tổng cộng 18 vị giám sát viên có nhiệm vụ điều tra và xét sử những vụ tham nhũng…..
Hai vị Thanh Tra Giám Sát Viện (TT/GSV) làm việc đến chiều, tôi ngỏ ý là sẵn sàng lo chỗ ăn ngủ cho 2 người, nhưng 2 ông TT/GSV trả lời là sẽ qua Vĩnh Long (tỉnh lỵ) mướn khách sạn vì tỉnh lỵ Vĩnh Long cách quận Giáo Đức khoảng 15 cây số, kể cả đi qua phà chỉ mất khoảng một giờ.
Cuộc điều tra như vậy diễn ra độ 4, 5 ngày, buổi sáng, hai TT/GSV qua khoảng 9 giờ và làm việc tới 5 giờ chiều….TT/GSV đạt giấy mời các nhân chứng (do cảnh sát tống đạt) đến chi cảnh sát làm việc (coi như thẩm vấn, tìm hiểu xem những lời tố cáo trong thư nặc danh thực hư ra sao ?). Tôi tự tin là không có thể mắc vào bất cứ lời tố cáo nào.
Sau khi kết thúc cuộc điều tra, trước khi rời quận, hai TT/GSV có gặp tôi và nói: chúng tôi ngạc nhiên là khi hỏi các nhân chứng, người nào cũng ca tụng ông……Tôi có hỏi, hai ông đã hỏi được bao nhiêu người, một ông trả lời hỏi được độ 20 tới 30 người.
Qua sự tiết lộ của hai vị thanh tra, tôi có thể kết luận là tôi đã bị tố cáo rất nhiều điều (căn cứ vào số người được mời tới thẩm vấn để tìm tội lỗi của tôi theo như đơn nặc danh hại tôi. Suy luận thì tôi sẽ không có tội lỗi gì cả và cũng sẽ không nhận được bất cứ biện pháp gì, có lẽ hai vị TT/GSV chỉ báo cáo vắn tắt đến các cơ quan nhận được thư nặc danh (như phủ Thủ Tướng, bộ Nội Vụ, tỉnh Định Tường.v.v ) là sau khi điều tra Phó Quận Trưởng Giáo Đức không có một lỗi lầm gì cả. Tôi tiên đoán là như vậy, không rõ TT/GSV có đề nghị gì không ???
Qủa nhiên sau nhiều tháng trôi qua, tôi không nhận được bất cứ một lời khuyến cáo hay một biện pháp chế tài nào, coi như điều tôi tiên đoán là đúng. Tất nhiên khi hai TT/GSV đến quận điều tra tôi cũng đã đoán được những ai là tác giả thư nặc danh đó: Những người đó chính là bà Nguyễn Thị Nê, Trưởng Ban HC quận vì bà Nê không còn tham nhũng, ngâm hồ sơ làm tiền đồng bào như trước được nữa và Tám Lợi mất chức Trưởng Ban Quân Vụ. Tất nhiên trong khi TT/GSV điều tra, bà Nê tin tưởng là tôi bị lỗi sẽ bị thuyên chuyển đi một nơi khác…..Theo tôi, bà Nê muốn tôi rời khỏi quận bất cứ bằng cách nào, để tiếp tục tham nhũng.
Coi như thư nặc danh tố tôi không có kết qủa, bà Nê lại dùng con đường khác là mỗi lần đi qua Cần Thơ (nơi ông Lê Công Chất làm phụ tá HC vùng 4), khi trở về quận bà Nê có nói với tôi : Ông Phụ Tá có nhờ tôi (Bà Nê) nói với ông Phó là có cần gì thì ông Phụ Tá giúp đỡ (tức là đi làm Phó Tỉnh Trưởng). Tôi hiểu ngay là ý của bà Nê và ông Lê Công Chất. Ông Lê Công Chất là Phụ Tá HC Vùng, nhưng có quyền đề nghị cho ai làm Phó Tỉnh rất dễ, và ông Chất đã giúp nhiều người như vậy (có thể ông Chất được trả ơn bằng một số tiền do người được đi làm Phó Tỉnh Trưởng tặng ông, tức là hối lộ). Bà Nê thì chỉ muốn tôi rời quận để chén cơm của bà lại đầy thịt cá (ý của anh Vũ Thiện Chi, đàn anh của tôi ở Tây Ninh). Nhưng tôi đâu phải là một kẻ tầm thường, ham địa vị một cách hèn hạ, tôi tự nhủ tôi không thể đi làm Phó Tỉnh Trưởng nhờ bám vào gấu quần của một người đàn bà vô tư cách hay nói một cách nặng hơn : Tôi không thể đi làm Phó Tỉnh Trưởng nhờ vào cái “lá đa” bẩn thỉu. Tôi có trả lời bà Nê như sau : khi nào gặp ông Phụ Tá nói tôi cảm ơn lòng tốt của ông Phụ Tá, cuộc sống của tôi đầy đủ công việc bình thường nên thiết nghĩ không cần nhờ đến sự giúp đỡ của ông Phụ Tá. Nhưng chuyện không ngưng lại ở đây, không biết vì mục đích gì một hôm tôi nhận được một công điện “khác thường” nội dung là: Yêu cầu ông Phó Quận Trưởng qua văn phòng của ông Phụ Tá HC vùng 4 ở Cần Thơ để bàn về việc tổ chức văn phòng quận ? Tôi ngạc nhiên, nhưng đã là lệnh thì phải thi hành. Tôi lên đường đi Cần Thơ ngay ngày hôm sau. Khi tới văn phòng ông Phụ Tá thì nhân viên cho biết là ông Phụ Tá có dặn nhân viên là khi tôi tới văn phòng thì nói ông Phụ Tá xin lỗi là đã đi công tác. Đương nhiên là tôi trở về lại quận (Giáo Đức cách Cần Thơ khoảng 60 cây số), tôi suy luận là ông Phụ Tá Lê Công Chất muốn nói chuyện riêng gì với tôi, nhưng giờ chót ông Chất nghĩ là nếu nói với tôi việc gì đó sẽ không có lợi cho ông Chất nên ông Chất lánh mặt, sở dĩ nói giờ chót vì không kịp đánh công điện cho quận (qua Tỉnh) để tôi khỏi phải đi qua Cần Thơ.
Ông Lê Công Chất (nghe nói có bà vợ nhỏ ở tỉnh lỵ Mỹ Tho?) sáng Thứ Bẩy nào cũng đi thanh tra các quận hay xã nằm trên đường từ Cần Thơ về Mỹ Tho, ông Chất đi như vậy để về Mỹ Tho sớm vì ngày đó chỉ được nghỉ chiều Thứ Bẩy, tất nhiên quận và các xã của quận Giáo Đức hay được ông Chất đến thanh tra (nhiều quận, xã nằm trên quốc lộ 4 Mỹ Tho Cần Thơ cũng được ông Chất viếng thăm như vậy để ông về Mỹ Tho ngay sáng Thứ Bẩy), tôi với tư cách Phó Quận đón tiếp ông ta vì thế có nhiều dịp gặp ông Chất, mỗi lần gặp như vậy tôi hay đưa ra những đề nghị rất thực tế, thí dụ tôi nói với ông Chất : Văn thư của trung ương khuyến cáo các Quận Trưởng và Phó Quận phải đi thăm dân ở các xã ấp. Nhưng mỗi lần rời Văn phòng quận độ nửa ngày thì hồ sơ chờ Phó Quận về ký cao 1/2 thước nào là thị nhận chữ ký của viên chức hộ tịch xã như khai sanh, hôn thú.v.v mà Phó Quận cứ ký mà không có thời giờ kiểm soát vả lại người dân nhất là lính phải đợi chờ qúa lâu (lính được nghỉ phép tính theo giờ như 24 hay 48 giờ phép), tôi đề nghị là bỏ vấn đề thị nhận chữ ký của viên chức xã do Phó Quận ký….Qủa nhiên mấy tháng sau quận nhận được văn thư của Bộ Nội Vụ gởi tới các quận là từ nay các quận khỏi phải thị nhận chữ ký của các viên chức hộ tịch xã. Trừ những giấy tờ (khai sanh, hôn thú) dùng ở ngoại quốc thì bắt buộc phải có quận thị nhận chữ ký. Lại một lần nữa (cách vài tháng sau) tôi lại đón ông Chất đi thanh tra một xã trên đường về Mỹ Tho, nhân dịp này tôi nói với ông Chất : Làm việc mà cấp dưới lại điều tra cấp trên thì sao làm việc được ? Ông Chất nói với tôi : Dần cho một thí dụ cụ thể. Tôi đáp như sau : Phủ Thủ Tướng, bộ Nội Vụ, Tỉnh Trưởng nhận được những đơn tố cáo Quận Trưởng hay Phó Quận (toàn là nặc danh)….Các nơi nhận được thư tố cáo đều chuyển về tỉnh, tỉnh làm gì có cơ quan điều tra, tòa tỉnh chuyển cho ty Cảnh Sát (cấp tỉnh), ty Cảnh Sát chuyển cho chi Cảnh Sát (cấp quận) điều tra. Như vậy thì ông Trưởng Chi Cảnh Sát Quận điều tra ông Quận Trưởng hay Phó Quận Trưởng tức là cấp dưới điều tra cấp trên…..Ông Chất thấy tôi trình bầy rất đúng vì chính tôi đã bị nhiều lần bị Trưởng Chi Cảnh Sát điều tra. Ông Chất hứa là khi về văn phòng sẽ cứu xét vấn đề tôi đưa ra……Từ đó tôi không còn bị Trưởng Chi Cảnh Sát Quận điều tra nữa. Vì Ông Chất sáng thứ bẩy nào cũng đi thanh tra nên ông Chất đã tiếp xúc với nhiều Phó Quận và biết khả năng của từng Phó Quận (vùng 4)
Tuy sóng gió đã tạm yên nhưng tôi nghĩ là bà Nê còn tiếp tục tố tôi; Khi Thanh Tra Giám Sát Viện về điều tra thì cả văn phòng quận đều rõ, người bị điều tra là tôi (qua những nhân chứng sau khi gặp TT/GSV tiết lộ ra). Sau khi biết chắc chắn là tôi không có lỗi lầm gì sau cuộc điều tra, tôi có nói tại văn phòng quận mục đích cho bà Nê nghe : Súng đạn bắn chưa chắc gì tôi chết thì mấy cái thư nặc danh làm sao hại được tôi….
Thời gian qua mau lẹ, thấm thoát tới tết Mậu Thân, bên quận cũng như chi khu đều như đi phép tới 80%. Khi biến cố tết Mậu Thân xẩy ra tôi ở Saigon, nghe nói Đ/U Thà, Quận Trưởng cũng về Mỹ Tho ăn tết với gia đình, nhưng được trực thăng trở lại quận ngay ngày 1 tết.
Số lượng công chức ối đọng ở Saigon qúa nhiều vì đường bộ hầu như bị tê liệt. Bộ Nội Vụ do sự giúp đỡ của cơ quan Viện Trợ Mỹ đã ra thông cáo trên đài phát thanh và truyền hình là công chức hãy đến bộ Nội Vụ, bộ sẽ lo phương tiện cho về địa phương, tôi ra bộ Nội Vụ và được máy bay thả về Cần Thơ (tất nhiên rất nhiều người về Cần Thơ); Rồi tôi đi máy bay nhỏ chở 4 người về Vĩnh Long, từ Vĩnh Long tôi đi xe lambretta chở hành khách ra Bắc Mỹ Thuận, rồi Từ Bắc Mỹ Thuận tôi về quận Giáo Đức cũng bằng xe lambretta, tôi về đến quận khoảng ngày 8 Tết ta. May mắn là quận Giáo Đức không bị thiệt hại gì, nhưng Quốc Lộ 4 hoàn toàn mất an ninh coi như bị tê liệt, không di chuyển được. Vì quốc lộ 4 là đường huyết mạch nên quân đoàn 4 đã phải huy động các lực lượng quân sự hùng hậu để giải tỏa, nhưng cũng phải mất 2 tuần sau, tạm thời có an ninh tương đối….Tuy gọi là biến cố Tết Mậu Thân, CS đã đánh chiếm một số vị trí của VNCH, nhất là Huế và cổ thành Quảng Trị và kéo dài làm nhiều đợt chứ không phải chỉ xẩy ra trong vài ngày Tết. Khoảng 1 tháng sau Tết CSVN lại tấn công một lần thứ 2 sau khi củng cố lực lượng. Tuy nhiên CSVN đã bị thiệt hại rất nhiều, số tử vong của CS rất cao….Tuy nhiên nhóm phản chiến Mỹ cho là CSVN đã thắng lợi trong biến cố này vì lần đầu tiên CSVN đã tấn công tòa đại sứ Mỹ giữa trung tâm Saigon. Cũng nên nhắc lại là CSVN đã đồng ý hưu chiến trong mấy ngày Tết, nhưng CSVN đã không tôn trọng. Mặc dù phía VNCH coi như bỏ ngỏ các nơi nhưng CSVN đã không thành công như dự trù của chúng. Có 2 điều mà lịch sử sau này sẽ còn ghi nhớ mãi:
1) CSVN tin là khi nổ súng nhân dịp Tết Mậu Thân, dân chúng sẽ nổi lên ủng hộ chúng, nhưng kết qủa là chúng đã tính toán sai, không một nơi nào dân chúng nổi lên ủng hộ chúng.
2) Nhân dịp biến cố Tết Mậu Thân chúng đã giết trên 6.000 thường dân ở Huế (sau này chúng chối tội và nói do quân đội VNCH và Mỹ giết trên 6.000 người này)
Trong phạm vi quận Giáo Đức thì một biến cố xẩy ra trong đợt tấn công thứ 2 của CSVN là Đ/U Quận Trưởng Nguyễn Văn Thà trong khi truy kích địch cách quận độ 5 cây số đã bị thương nặng (một đầu đạn đã xuyên qua nách rồi vào ngực). Lúc xẩy ra tai nạn khoảng 6 giờ chiều, cũng may, lúc đó trực thăng của Cố Vấn Trưởng tỉnh Định Tường đang bay trong phạm vi trận chiến, Cố Vấn Mỹ ra lệnh phi công đáp xuống để chở Đ/U Thà đi bệnh viện, thay vì chở về Bệnh Viện 3 dã chiến Mỹ Tho, cố vấn Mỹ thấy ông Quận Trưởng vết thương qúa nặng nên ra lệnh trực thăng bay thẳng về bệnh viện Cộng Hòa ở Saigon. Chỉ một giờ sau khi hay tin, Trung Tá Trần Văn Phúc Tỉnh Trưởng Định Tường gởi một công điện “hỏa tốc” chỉ định tôi (Phó Quận Trưởng) xử lý thường vụ chức vụ Quận Trưởng, Thiếu tá Én thanh tra tiểu khu xử lý thường vụ chức vụ Chi Khu Trưởng (coi quân sự).
Khi nhận được công điện tôi thấy như vậy là phải mất một thời gian lâu tôi mới về thăm bà mẹ già đang sống tại Saigon, điều này làm tôi rất buồn, còn giữ chức Quận Trưởng đối với tôi không có gì khó khăn, nhất là tôi đã học lớp Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang từ năm 1963 vả lại chi khu đã do Thiếu Tá Én phụ trách. Ngay sáng ngày hôm sau Trung Tá Phúc Tỉnh Trưởng Định Tường dùng trực thăng bay xuống quận, nhân dịp này tôi có nói với Trung Tá Tỉnh Trưởng là giao cho Thiếu Tá Én xử lý thường vụ luôn chức vụ Quận Trưởng, Trung Tá Tỉnh Trưởng đã trả lời là không chấp thuận đề nghị của tôi; Rồi chỉ một tuần sau quận Cai Lậy (sát quận tôi) ông Quận Trưởng cũng bị thương và cũng chỉ định Phó Quận Trưởng, Anh Nguyến Thế Chu QGHC khóa 7 xử lý thường vụ chức vụ Quận Trưởng, chúng tôi không nói gì với nhau mà anh Chu cũng đề nghị vị Thiếu Tá chỉ huy chi khu xử lý chức vụ Quận Trưởng luôn cho tiện làm việc, Trung Tá Phúc, Tỉnh Trưởng trả lời : không được, sao giống Phó Quận Nguyễn Kim Dần ở Giáo Đức cũng đề nghị như vậy, nhưng đây là lệnh…..Thế là chúng tôi phải chấp hành. Theo tin tức nhận được thì Đ/U Thà phải nằm bệnh viện tối thiểu cũng mất 3 tháng. Tôi phải viết thư ngay cho mẹ tôi là tôi không thể về Saigon thường xuyên được để mẹ tôi khỏi trông đợi. Người cha của tôi thì đã mất năm 1967.
Trong 3 tháng xử lý thường vụ chức vụ Quận Trưởng, tôi có gặp một trường hợp đặc biệt là vào một buổi sáng một toán nghĩa quân báo cho quận là có một chiếc xe đò chở 28 người đi trên quốc lộ 4 cách quận khoảng 4 cây số bị giật mìn và 28 người đều chết. Đây là công việc bận rộn nhất của tôi : Tôi chỉ thị cho chi Cảnh Sát trưng dụng hết xe lambretta phối hợp với chi y tế và viên chức xã ấp chở 28 người đó về chi y tế, xã sẽ xuất tiền mua những bao nylon để bọc các xác chết và nhớ khai tử cho các nạn nhân, đồng thời ban Truyền Tin lấy giấy tờ của mỗi người dùng 2 hệ thống truyền tin của Cảnh Sát và của quận báo về tỉnh, tỉnh sẽ nhờ bưu điên thông báo cho các gia đình nạn nhân.
Tất nhiên Thiếu Tá Én Chi Khu Trưởng cũng qua hỏi tôi là có cần gì sự giúp đỡ của bên quân đội không ? (tôi và Thiếu Tá Én quen nhau đã lâu và lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên ông ta rất qúy mến tôi). Tôi trả lời là đã lo xong cả rồi, chỉ sau mấy ngày là các thân nhân đã đến lấy xác, chỉ duy nhất có 1 xác đợi 5 ngày cũng không có thân nhân tới lãnh, tôi chỉ thị chôn xác đó vì có mùi hôi thối, nhưng may mắn là chưa chôn thì thân nhân đến nhận kịp. Với kinh nghiệm, tôi cũng không ngạc nhiên gì về tai nạn này vì tôi đoán là xe đò này có thể chưa đóng thuế đầy đủ cho bọn thu thuế của CS. Sự kiện này xẩy ra làm cho tôi nhớ đến cái chết của vị Phó Tổng tên là Xuyến (thời gian trước khi Đ/U Thà bị thương. Cụ Phó Tổng Xuyến hàng ngày lên làm việc ở xã Mỹ Đức Tây (sáng đi ,chiều về) nhà của cụ Phó Tổng Xuyến cách chi Cảnh Sát là nơi tôi cư ngụ 300 thước. Vào một buổi sáng thân nhân của cụ Phó Tổng Xuyến lên báo cho quận là cụ Xuyến đã bị mấy du kích của CS vào cắt cổ bằng mã tấu đêm vừa qua……cái chết được mô tả rất là rùng rợn. Sau khi hay tin, Đ/U Thà nói với tôi là đại diện quận tới nhà chia buồn, tôi cho nhân viên tới báo trước với gia đình nạn nhân là tôi sẽ đến chia buồn vào buổi trưa.
Qua cái chết này chúng tôi cũng không có gì ngạc nhiên vì đối với CS, chúng dùng bạo lực một cách tối đa. Có thể CS giao cho cụ Phó Tổng một nhiệm vụ gì đó mà cụ Phó Tổng không thi hành nên chúng giết, vấn đề thông thường là như vậy……
Thời gian 3 tháng nằm bệnh viện của Đ/U Thà đã qua nhanh, Đ/U Thà trở lại quận làm việc một cách bình thường, tôi rất mừng là lại được thường xuyên về thăm bà mẹ già ở Saigon…
Tôi đã tiên liệu là sau cuộc điều tra lần đầu, tôi không bị một lỗi lầm nào thì bà Nê sẽ còn tiếp tục tố cáo tôi bằng những thư nặc danh khác nữa, vì bà Nê chỉ cần theo sát những việc làm của tôi và sẽ bịa đặt rồi tiếp tục gởi thư đi các nơi tố cáo, nhất là bà Nê lại là thư ký đánh máy (công nhật) nên thực hiện việc tố cáo bằng thư nặc danh rất dễ.
Quả nhiên chỉ vài tháng sau, ông Thanh Tra Giám Sát Viện Lê Đình Bửu lại đến quận để điều tra ( lần trước có cả ông Nguyễn Tử Khanh), ngay phút gặp đầu tiên ông TT/GSV Bửu có nói với tôi :” Không biết vì sao ông bị thư nặc danh tố cáo nhiều lần hết tháng này tới tháng khác, lần này tôi sẽ ăn ngủ với ông xem cuộc sống của ông ra sao mà bị tố nhiều lần như vậy”. Tôi trả lời là sẵn sàng đón tiếp ông Thanh Tra. Lại như lần trước TT/GSV Bửu mượn một phòng của chi Cảnh Sát, mời nhân chứng tới để tìm hiểu sự việc……Cuộc điều tra kết thúc sau 3 ngày làm việc, qủa thiệt ông TT/GSV ăn ngủ với tôi, tôi nói tôi chỉ có 2 đôi giầy để đi mấy bộ quần áo thay đổi, có một bộ đồ lớn khi cần tới.
Ông Bửu tối hôm cuối cùng có đưa cho tôi đọc toàn bộ 3 tờ đánh máy những điều tố cáo tôi, vừa nhìn chữ đánh máy tôi nhận ra ngay là chỉ có người có bằng đánh máy mới đánh đẹp như vậy (Tôi chắc 99% là bà Nê là tác giả) đọc chi tiết 3 trang đánh máy trong đó đã nêu lên 26 điểm lỗi lầm mà tôi vi phạm…(Vì toàn những chuyện bịa đặt nên rất dài nên tôi không nêu ra ở đây vì sẽ mất thời giờ của người đọc). Sau đó là lời phản công của tôi : Tôi hỏi ông TT/GSV Lê đình Bửu : Tôi bị tố cáo nhiều lần, nhưng không mắc vào bất cứ một lỗi lầm nào, vậy cấp trên của tôi hay chính ông có đề nghị tưởng thưởng cho tôi bằng cách thăng cho tôi mấy bậc trong ngạch đốc sự không ? Nếu không thì người bị tố cáo chỉ là nạn nhân, vì nay tôi có biết ai là tác giả điều bịa đặt để truy tố ra tòa ?
Tất nhiên làm sao ông TT/GSV Bửu trả lời được, ông Bửu chỉ chống chế một cách gượng gạo: “Nếu sau cuộc đều tra mà ông không có tội gì thì đã là điều hãnh diện cho ông”. Tôi phản bác liền : các ông có dùng hình thức nào để bảo vệ danh dự của tôi không ? Rút cuộc người công chức tận tụy phục vụ dân, khi bị vu cáo oan mà chánh quyền không bảo vệ họ, như vậy còn ai giám làm việc. ( Tôi hy vọng ông Nguyễn Tử Khanh hay ông Lê Đình Bửu đọc được email này, tôi sẵn sàng tranh luận công khai với 2 ông về chuyện qúa khứ vô lý này….,nhất là cho điều tra cả những thư nặc danh, mong lắm thay; tôi hy vọng các ông đang ở hải ngoại….).
Sau khi ông TT/GSV Bữu ra về, ông Trưởng Chi Y Tế Phạm Hữu Thuận có tìm gặp tôi và kể chuyện là có bị ông TT/GSV Lê Đình Bửu thẩm vấn. Câu chuyện như sau :
Độ vài tháng trước ngày ông TT/GSV Lê Đình Bửu đến quận thanh tra, trong phạm vi quận Giáo Đức có ông Đặng Văn Long (khoảng 40 tuổi) có một tiệm bán thuốc tây trong chợ An Hữu (xã quận lỵ) vì không có dược sĩ nên gọi theo tiếng Pháp là depot pharmacy. Ngoài tiệm bán thuốc ông Long còn chích thuốc chữa bệnh coi như y tá ở nông thôn (hành nghề bất hợp pháp). Ông Long chích thuốc cho một người và người đó bị chết ngay tại nhà (vùng kém an ninh), câu chuyện loan truyền trong dân chúng….Trong quận có ông Thuận là cán sự y tế (học lực cao nhất sau Phó Quận) nên tôi giao du với ông ta để ông ta săn sóc sức khỏe vả lại tuổi tác gần bằng nhau nên hay đi chơi, nói chuyện với nhau…..Sự việc xẩy ra (Ông Long chích chết người) tôi biết là cá nhân tôi không có trách nhiệm gì trong vụ này. Còn ông Thuận là Trưởng Chi Y Tế có nhiệm vụ khám tử thi rồi báo cáo về ty Y Tế Tỉnh. Người có trách nhiệm nặng nhất trong vụ này là Trưởng Chi Cảnh Sát.
Tôi tìm ông Thuận Trưởng Chi Y Tế (ngay ngày xẩy ra vụ chích thuốc chết người) và hỏi ông ta đã khám tử thi và báo cáo về ty Y Tế chưa ? Ông Thuận trả lời tôi là không rành luật lệ vả lại vùng đó mất an ninh ông ta không tới được.
Tôi cố vấn cho ông Thuận : Ông đánh ngay một công điện về ty Y Tế Tỉnh nội dung là có nghe nói ông Đặng Văn Long hành nghề chữa bệnh bất hợp pháp, ông Long đã chích thuốc cho một người và người đó chết liền tại nhà, nhưng vì nơi không có an ninh, tôi (Trưởng Chi Y Tế Quận không vào khám nghiệm tử thi được). Tôi có nói ông Thuận là nhớ gởi một bản sao công địên như vậy cho ông Quận Trưởng với cước chú “để kính tường”. Qủa nhiên khi gặp TT/GSV, Ông Thuận trình bầy là đã báo cáo về Trưởng Ty Y Tế (tỉnh) và trình cho ông Quận Trưởng, kết luận là ông Thuận vô tội. Tôi nghĩ ngay cũng do bà Nê tố vụ này, chắc bà ta tố cả tôi có liên hệ nhưng TT/GSV hiểu luật nên không hỏi gì tôi cả.
Về phía ông Trưởng Chi Cảnh Sát tên Viên, tôi nghĩ ông ta nhiều năm ở trong nghề nên rành về những trường hợp này phải làm những gì cần thiết. Sau khi TT/GSV kết thúc cuộc điều tra. Tôi hỏi ông Viên (Trưởng Chi Cảnh Sát Quận) có báo cáo về tỉnh không ? Ông Viên nói là không làm gì cả, tôi nói ngay là 100% Ông sẽ bị trừng phạt nặng, tôi suy luận là ông Viên chắc đã được ông Long hứa cho một số tiền lớn nên đã làm lơ không báo cáo lên cấp trên (Trưởng Ty Cảnh Sát và Biện Lý). Qủa nhiên chỉ khoảng 1 tháng sau ông Viên mất chức Trưởng Chi Cảnh Sát Quận và thuyên chuyển lên làm nhân viên thường tại ty Cảnh Sát tỉnh Quảng Đức (Một tỉnh nhỏ nhất VN, vì dân số khoảng 30.000 người mà hầu hết là đồng bào thượng) ngoài ra không biết có bị hình phạt nào nữa không (như xuống 2,3 bậc trong ngạch).
Tính ra tôi đã ở quận Giáo Đức được trên 2 năm, tôi sẽ nộp đơn thuyên chuyển vì coi như đã tổ chức được “guồng máy” HC cấp quận đã chạy tốt đẹp, vì ở một nơi qúa lâu sẽ không còn sáng kiến nữa. Đồng thời quận cũng nhận được công văn từ phủ Thủ Tướng là kể từ nay không còn cứu xét những thư tố cáo nặc danh nữa, theo tôi văn thư này đã ban hành qúa chậm.
Một tuần sau tôi nộp đơn xin thuyên chuyển đi một nhiệm khác với lý do là đã đủ thâm niên công vụ. Tính ra tôi nộp đơn thuyên chuyển trễ vì được trên 2 năm rồi nhưng nếu tôi nộp sớm thì bà Nê sẽ cho là thua cuộc nên tôi phải đợi thời điểm thích hợp. A) Sau 2 lần thanh tra tôi không có lỗi lầm gì. B) Kể từ nay không có tình trạng tố cáo bừa bãi nửa. Tóm lại thời gian thích hợp để tôi rời quận trong danh dự. Bà Nê thì nhục nhã vì ai cũng biết bà ta là tác giả những thư nặc danh.
Tôi cứ trông chờ sụ vụ lệnh thuyên chuyển, nhưng cả mấy tháng trời rồi mà không có tin tức gì, tôi quyết định về bộ Nội Vụ hỏi xem lý do tại sao không giải quyết vấn đề xin thuyên chuyển của tôi. Vào một ngày làm việc (không phải là thứ bẩy hay chúa nhật), vào buổi chiều tôi nói với Đ/U Thà (Quận Trưởng) là sáng ngày mai tôi sẽ đi Saigon để lo công việc riêng. Tất nhiên Đ/U Thà đồng ý, sáng hôm sau khỏang 7 giờ 30 tôi lên văn phòng quận để giải quyết hết những công việc còn tồn đọng trước khi về Saigon vài ngày, khi tôi lên văn phòng quận thì đã thấy Đ/U Thà đang đứng ở sân quận, ông Thà nói với tôi : Hôm qua tôi quên là chiều nay đãi Thiếu Tá Cố Vấn Trưởng về Mỹ, vậy ông ở lại dự rồi mai hãy đi. Tôi trả lời Đ/U Thà: khi tôi đã quyết định gì thì không thay đổi được. Tôi tự lái xe jeep của quận rời Quận khoảng 8 giờ 30. Tôi ở lại Saigon độ 3 ngày. Khi về tới quận tôi nghe thuật lại một sự việc mà tôi thấy rất kinh ngạc:
Câu đầu tiên một nhân viên nói : “bà Nê đã chết rồi”, sau đó nhân viên mới kể chi tiết:
Ông Phó rời quận độ 15 phút thì CS pháo kích vào văn phòng quận và chi khu (hai văn phòng cách nhau khảo 70 thước) bằng súng cối 82 ly, bà Nê lúc đó vừa rời căn nhà ở của cố vấn Mỹ trên đường về văn phòng quận, đi tới giữa sân, một trái 82 ly nổ cách bà Nê khoảng 10 thước, bà Nê ngã xuống đất, một miếng đạn nhỏ cắm sâu vào ngực (có lẽ trúng tim) bà Nê không chẩy máu gì, Thiếu Tá Cố Vấn Trưởng vội vàng chạy ra và chở bà Nê bằng xe jeep tới chi Y Tế, khi tới chi Y Tế thì bà Nê tắt thở và Thiếu Tá Cố Vấn Mỹ khóc rất nhiều….. Sau này tìm hiểu là bà Nê sang gặp Thiếu Tá Cố Vấn để trao đổi địa chỉ gặp nhau ở Saigon (trước khi viên Thiếu Tá về Mỹ) vì vậy mà bà Nê đã bị chết. Như trên đã viết bà Nê là “Người Tình Hờ” của bất cứ Cố Vấn Trưởng nào.
Vào văn phòng làm việc của tôi, nhìn lên mái nhà tôi thấy một chuôi đạn 82 ly còn lủng lẳng ở trên đầu, nhân viên cho biết mái nhà trên văn phòng tôi làm việc hư hại rất nhiều, phải thay ngói mới, nhưng đặc biệt, Đ/U Quận Trưởng chỉ thị cho lính sửa mái mà để nguyên chỗ đuôi trái 82 ly để cho tôi coi khi về quận……Rồi nhân viên nói tiếp : cái bàn làm việc của ông Phó bị sập, kính 5 ly trên bàn bị bể tan nát, Đ/U Quận Trưởng chỉ thị đo kích thước bàn cũ của tôi và mẫu vải xanh phủ trên bàn qua Vĩnh Long mua một bàn mới, cố tình cho tôi không nhận ra bàn cũ đã bị phế thải.
Sau khi xem những công việc cần thiết cần giải quyết ngay, khoảng một giờ sau tôi tới nhà bà Nê để chia buồn với chồng bà Nê (lần đầu tiên tôi tới căn nhà này), sau đó tôi nói nhân viên dẫn ra mộ của bà Nê (ngay cổng quận), tôi thắp cho bà nén nhang và cầu nguyện cho bà ta……..
Một giới chức bộ Nội Vụ cho tôi biết là sau hai cuộc thanh tra , TT/GSV đã có lời đề nghị như sau trong bản phúc trình “Tuy ông Phó Quận Giáo Đức Nguyễn Kim Dần không phạm một lỗi nào, tuy nhiên gặp khó khăn nên đề nghị thuyên chuyển đương sự đi một nhiệm sở khác”.
Bộ Nội Vụ và Tỉnh đã thảo luận về đề nghị này và thấy đây là một điều cực kỳ vô lý vì như vậy là “thua” một thư nặc danh ? chính vì lý do đó Bộ Nội Vụ và tỉnh Định Tường tạm thời không cứu xét đơn thuyên chuyển của tôi……..
Tôi phải đợi thêm khỏang 6 tháng sau mới có sự vụ lệnh thuyên chuyển về tòa HC tỉnh (cuối năm 1969), tính ra tôi đã ở quận Giáo Đức trên 3 năm.. Tôi xin nghỉ phép 2 tuần trước khi nhận một chức vụ mới, mà cũng không rõ là chức vụ gì ?
Sau khi nghỉ phép tôi về tòa HC Định Tường, tôi được bổ nhiệm làm Phó Quận Bến Tranh, một quận nằm giữa ngã ba Trung Lương và tỉnh Long An, cách Saigon có 57 cây số, văn phòng quận nằm ngay trên quốc lộ…lý do tôi được bổ nhiệm lên quận đó rất là tình cờ ; Ông Phó Quận là một tham sự khoảng 50 tuổi tên Phú, ông Phú có chiếc Honda 2 bánh , thay vì bán xe thông thường cho một người nào đó, nhưng bán như vậy không được giá cao, ông Phú in ra vé số rồi bán ra như sổ số, việc làm của ông bị tố cáo. Tỉnh cho ông lựa chọn 1 trong 2 biện pháp chế tài: 1) Thuyên chuyển về tòa HC làm nhân viên thường. 2) Bị truy tố ra tòa. Tất nhiên ông Phú chọn giải pháp về tòa HC, đương nhiên tôi được bổ nhiệm lên thay thế ông Phú, đây là một nhiệm sở tốt nhất của tôi từ khi ra làm việc.
Tôi nhận việc (Phó Quận Bến Tranh) vào cuối năm 1969. Đến năm đầu năm 1971 tôi có công điên bổ nhiệm làm Phó Tỉnh Trưởng Phú Bổn.
Tôi là một Phó Quận không chạy chọt bằng tiền bạc hay quen biết khi được bổ nhiệm làm Phó Tỉnh Trưởng vì công điện gởi về tỉnh tôi mới được rõ. Hết
***
Tác Phẩm Đội Đập Đá Trại 6 Nghệ TĩnhLt Doi Dap Da

  Louis Tuấn Lê

Xin chia sẻ cùng quý vị tác phẩm, mới phổ biến trên trang Website VTLV. Hồi Ký Đội Đập Đá Trại 6 Nghệ Tĩnh.
Đội Đập Đá Trại Tù Số 6, Tỉnh Nghệ Tĩnh. Là một hồi kỳ viết về những giai đoạn mà người chiến sĩ QLVNCH đã trải qua những tháng năm tù tội, bị lưu đầy ngay trên quê hương Việt Nam. Đây là hồi ký viết lại theo trí nhớ, những nhân vật trong câu chuyện đều là thật, những tình huống xảy ra trong câu chuyện đều là thật, những địa danh nơi chốn cũng đều là sự thật, có thể thiếu sót vì trí nhớ đã bị phai mờ theo thời gian. Tôi đã cố gắng liên lạc với một số anh em bạn tù để hỏi thăm, mỗi người, mỗi nhân chứng nhớ một ít, rồi gom lại thành câu chuyện. Nếu có thiếu sót, chỉ vì người viết không nhớ hết, do đó có những chi tiết về thời gian, nơi chốn, không đúng lắm, mong quý đọc giả bỏ qua cho. Câu chuyện Đội Đập Đá. Là tiếng nấc nghẹn, là tiếng thở dài nói lên tâm trạng của người tù binh chiến tranh, đã không bị khuất phục trước sự thiếu thốn, đói rét cùng cực trong những năm tháng bị giam cầm, bị khủng bố tinh thần và đầy đọa thân xác. Mà ngược lại chính sự bạo tàn này, càng làm sáng tỏ những hào khí của người tù binh chiến tranh, không bao giờ khuất phục trước bạo tàn cộng sản.
Trân trọng
Lê Tuấn
*Xin mời click vào đường link Website VTLV “đính kèm”

https://vantholacviet.com/doi-dap-da/
***
                      *BỤI ÐẤT VÀ HƯ-VÔ

Trưa ngày 25 tháng 12 năm 1974, tôi đang cùng với bạn-bè dự một bữa ăn nhân dịp Nô-En tại nhà của một thuộc-viên thì được Sĩ-Quan Trực từ Phòng Tình-Hình gọi máy đến báo-cáo một tin-tức khác thường.
Vào khoảng 11g30 vừa rồi, có một chiếc trực-thăng đáp xuống cạnh Trường Tiểu-Học Xã Lộc-Mỹ, thuộc Quận Ðại-Lộc, Tỉnh Quảng-Nam. Từ trên phi-cơ bước xuống một thiếu-tướng và một trung-tá Việt-Nam Cộng-Hòa, cùng với một người đàn-ông và một người đàn-bà Hoa-Kỳ. Người đàn-ông có mang theo một cái hộp trên tay.
Viên trung-tá vào trường, dẫn bác Cai Trường ra, giới-thiệu với mấy người kia; rồi bác Cai Trường vào trong mang ra một cái xẻng, theo sự chỉ-dẫn của hai người Mỹ, đào một cái lỗ, ngay giữa hàng-rào phân chia khoảng sân bên hông trường ấy với con đường hương-lộ bên ngoài, chôn xuống đó cái hộp từ tay của người đàn-ông Hoa-Kỳ, lấp đất lại, rồi xóa sạch dấu đất mới, để chỗ đó trông giống bình-thường như không có việc gì xảy ra.
Xong, bốn người kia trở lên trực-thăng bay đi, và bác Cai Trường vào trường.
Mọi việc xảy ra mau lẹ như đã được sắp-đặt từ trước rồi.
Lúc chôn cái hộp là vào khoảng 12 giờ trưa.
*
Tôi đoán là có cái gì bí-mật, mà nhà chức-trách địa-phương giấu kín, hoặc không biết rõ nên Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam chỉ báo-cáo đơn-giản thế thôi. Cho nên, do tò-mò nghề-nghiệp, tôi về nhà sớm và bắt tay vào việc ngay.
Sau khi gọi điện-thoại hỏi Trung-Tâm Hành-Quân thuộc Sư-Ðoàn I Không-Quân và Văn-Phòng Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu I, tôi tổ-chức một chuyến đi vào Quảng-Nam quan-sát tại chỗ, đồng-thời tiếp-xúc với các mật-viên quanh vùng, để biết thêm chi-tiết về vụ này…
*
Bác Nam thanh-minh:
– Tôi cứ tưởng là chỉ cần báo-cáo những gì liên-can đến cộng-sản mà thôi, còn đây là vấn-đề tình-cảm cá-nhân mà các người trong cuộc đã yêu-cầu tôi giữ kín giùm…
Thiếu-Tá Sơn đỡ lời tôi:
– Không ai trách-móc bác đâu. Bác hãy kể chuyện về người Mỹ tên Sam đi.

Bác Nam kể:
– Ðầu năm 1971, Toán Dân-Sự-Vụ của Thủy-Quân Lục-Chiến Hoa-Kỳ hoạt-động tại Quận Ðại-Lộc thay đổi cấp chỉ-huy.
“Người mới đến là Đại-Úy Sam, một thanh-niên đẹp trai, hiền-lành, nhã-nhặn, bình-dân. Anh rất lanh-lợi và có nhiều sáng-kiến hay.
“Công-tác nổi bật đầu tiên là anh thành-lập một Hội Việt-Mỹ cho Quận Ðại-Lộc. Anh chịu khó đi thuyết-phục để mời vào Hội không những chỉ các viên-chức chính-quyền như Quận-Trưởng, Phó Quận-Trưởng, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực, Trưởng Chi Thông-Tin, Trưởng Phòng Văn-Hóa Giáo-Dục, Hiệu-Trưởng Trường Trung-Học, các sĩ-quan thuộc Chi-Khu, Xã-Trưởng, giáo-sư, giáo-viên, phụ-huynh học-sinh, học-sinh tiểu+trung-học, v.v… như thường-lệ, mà anh còn mời cả các thương-gia, nông-dân, tài-xa, tài-công, lâm-dân, ngư-dân, v.v… cùng với một số tu-sĩ Phật-Giáo trong vùng.
“Với Hội Việt-Mỹ của Sam, sinh-hoạt ở đây sinh-động hẳn lên. Hội-viên gồm mọi tầng-lớp xã-hội. Sách+ báo từ phía Hoa-Kỳ phân-phát, phổ-cập hầu như đến từng gia-đình. Hoạt-động không chỉ thu gọn trong các kỳ họp, mà còn thể-hiện qua bất-cứ cơ-hội nào có người Mỹ xuất-hiện trong làng xóm Việt-Nam.
“Sam đề-nghị, và được phía Việt-Nam đồng-ý, dùng phòng học của Lớp Năm trường tiểu-học Lộc Mỹ này làm nơi trao-đổi văn-hóa, dạy tiếng Anh vào buổi tối, vì nơi đây thuận-tiện cho sự đi lại của mọi người.
“Phòng này nằm ở đầu dãy, bên hông có một cửa sổ nhìn ra hàng-rào che khuất tầm mắt của người qua đường. Phía bên kia đường, các ông thấy đấy, có một cây đa cành lá sum-suê, rễ ở gốc cây cao hơn mặt đất, người nào vóc cao mà đứng lên trên đám rễ, tựa vào gốc cây nhìn vào cửa-sổ thì trông thấy mặt cô giáo rõ-ràng.
“Giáo-viên Lớp Năm là cô Diệu-Hương, hoa-khôi toàn Quận, năm ấy vào khoảng hai mươi, dịu-dàng, lễ-phép, đứng-đắn, siêng-năng.
“Phòng học Lớp Năm trước kia là nơi cô đến soạn bài, chấm bài cho học-sinh, và tự học thêm chương-trình đại-học vào các ngày nghỉ và mỗi buổi tối, thì nay còn là nơi cô đến làm công-việc của Hội với tư-cách thư-ký, học tiếng Anh, dạy tiếng Việt cho ngưới Mỹ, giúp chiếu phim, điều-khiển máy ghi-âm, v.v…
“Cha mẹ cô thuộc giới trung-nông, sùng Ðạo Phật và chịu ảnh-hưởng Ðạo Nho.
“Sự giao-tiếp giữa cô với Sam, trong khung-cảnh chung của sự tiếp-xúc giữa hai bên Việt-Mỹ, có bắt tay, có vỗ vai, nhất là giữa đàn-bà con-gái Việt Nam với đàn-ông Hoa-Kỳ, bề ngoài là chuyện tự-nhiên, nhưng cha+mẹ cô rất lo, nên đã nhờ tôi theo dõi, ngăn ngừa giùm, sợ đi quá xa.
“Tôi là Cai Trường, làm liên-lạc-viên của Hội, vừa sắp dọn rồi cất dẹp mọi thứ trước và sau mỗi buổi, vừa tham-dự học tiếng Anh và dạy tiếng Việt, nên tôi có mặt hầu hết mọi lần Sam và Diệu-Hương gặp nhau. Và tôi đã thấy ngay một mối tình trai+gái chớm nở giữa hai người, ngày càng sâu nặng hơn.
“Quả thật là tôi đã có đồng-lõa với hai người.
“Thứ nhất là vì tôi thấy Đại-Úy Sam thật tình yêu Diệu-Hương, muốn xây-dựng lâu dài. Anh đi lễ chùa vào rằm, mồng một âm-lịch, tìm hiểu Ðạo Phật, học hỏi phong-tục tập-quán Việt-Nam. Anh biếu quà và tham-gia mọi cuộc vui với trẻ em vào các dịp cuối tuần, nghỉ hè, Trung Thu. Anh đưa Y-Tế Mỹ đi săn-sóc từng cụ già, cứu-trợ từng nạn-nhân bị Việt-Cộng pháo-kích, giật mìn. Anh giúp lợp nhà, sửa đường, đào mương, tích-cực hơn cả cán-bộ của mình. Dân-chúng nhờ anh rất nhiều.
“Mà điều quan-trọng là anh trân-trọng người yêu, không hề sỗ-sàng bậy-bạ như đa-số người Mỹ khác. Sam nói riêng với tôi là anh sẽ xin chính-thức cưới Diệu-Hương. Tôi biết là có nhiều cô-gái Việt-Nam lấy chồng Mỹ đường-hoàng, nên tôi yên tâm.
“Thứ nữa là vì tôi nghĩ: nếu cho cha+mẹ cô biết thì chắc ông+bà sẽ cấm hẳn cô tới+lui với Hội Việt-Mỹ; mà không có cô thì Hội tất-nhiên sẽ tan, vì anh sẽ dời Hội đi nơi khác, tôi mất việc làm với đồng lương cao và tiền lời bán đồ giải-khát, bánh, kẹo, cháo, chè mỗi đêm.
“Mãi đến hôm nay, giữ đúng lời hứa với hai người trong cuộc, tôi vẫn chưa kể cho cha+mẹ cô biết về mối tình giữa hai người.
“Huống chi Đại-Úy Sam thì đã về nước từ sau Nô-En năm ấy, và cô Diệu-Hương thì cũng đã bỏ đi đâu biệt-tích từ sau Nô-En năm ngoái, 1973…”
– Từ khi Sam rời Việt-Nam, đến khi Diệu-Hương đi biệt, là hai năm trời, hai người có còn liên-lạc với nhau hay không? Ðời sống tình-cảm của cô thế nào?
– Anh vẫn gửi thư đều-đặn, hàng tháng, cho cô, qua tôi; tôi đều chuyển lại tận tay; nhưng cô nói là cô không trả lời. Tôi không được biết trong thư anh nói những gì.
“Có nhiều thanh-niên Việt-Nam cũng như vài ba người Mỹ có vẻ săn đón cô hơn, nhưng cô đối xử với họ bề ngoài tự-nhiên như đối với Sam trước kia, chứ không có gì khác hơn.
“Cuối năm 1972 thì cô đổi về dạy ở Tam-Kỳ, thuộc Tỉnh Quảng-Tín; cuối tuần về nhà thường ghé thăm tôi.
“Tôi hiểu là cô rất buồn, ít nói hơn, da xanh hơn…
“Ðây là bức thư của cô đã viết cho Sam vào dịp Nô-En năm ngoái. Cô không gửi nó qua Mỹ mà lại nhờ tôi cất giữ như một bằng-chứng hoặc một di-vật lưu lại cho Sam; tôi không mở xem. Cô đã dặn tôi: nếu đến hết ngày Nô-En năm nay, tức là 12 giờ khuya hôm nay, mà Sam vẫn không trở lại gặp cô, thì xin tôi hãy giải giùm lời thề, bằng cách đốt nó ở gốc cây đa, là nơi anh đã đứng đó nhiều lần hướng về cửa sổ say-đắm nhìn vào…”
*
Lộc-Mỹ, ngày 25/12/1973

Anh Sam yêu-dấu,
Ðây là bức thư đầu tiên mà cũng là bức thư cuối cùng em gửi anh, người đàn-ông đầu tiên mà cũng là người đàn-ông cuối cùng trong đời em. Nội-dung chỉ là EM YÊU ANH. Nhưng vấn-đề không chỉ đơn-giản như ba tiếng “em yêu anh”.
Anh là người Mỹ học-thức, giàu-có, mạnh-khỏe, trẻ-trung, can-đảm, cần-cù, nhân-ái, vị-tha, hào-phòng, tự-do.
Những quân-nhân như anh, ngoài các cuộc hành-quân còn dành thêm tâm-trí, công-sức và thì-giờ để làm công-tác xã-hội giúp ích cho người xung quanh, thật là hiếm-hoi. Trong cương-vị của anh, anh xứng-đáng tiêu-biểu cho một dân-tộc hùng-cường, nghĩa-hiệp, vượt vạn dặm trùng-dương đến đây hy-sinh xương máu để bảo-vệ, kiến-thiết, và phát-triển Việt-Nam nghèo-yếu khổ-nạn quê-hương em.
Anh là một thanh-niên lịch-thiệp, nói theo các bạn em là “con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai”, yêu đời, yêu người, biết kính già quý trẻ, biết tôn-trọng những giá-trị tinh-thần, nhất là tôn-trọng người mình yêu.
Anh đã cho em biết thế nào là mãnh-lực ái-tình, thế nào là tình yêu không phân chia chủng-tộc, màu da. Anh vừa lãng-mạn phác-họa một cảnh gia-đình hạnh-phúc tràn-trề, vừa thực-tế dự-trù sau khi xuất-ngũ sẽ tiếp-tục học lấy bằng Master, lấy bằng Ph.D., dọn đường cho sự-nghiệp tương-lai. Anh đặt kế-hoạch cho tiền-đồ của cả hai chúng mình. “Anh đã cho em Niềm Tin trong Tình Yêu”…
Nhưng vì cha+mẹ em không chấp-nhận việc một người con-gái Việt-Nam lấy chồng người nước ngoài (em biết điều đó qua nhiều lần ông+bà phê-bình người khác trước mặt em, và qua lời ông+bà nói với bác Nam mà bác ấy kể lại với em), nên em đành phải giấu-giếm mọi người, trừ bác Nam mà em đã thú thật sau này.
Yêu nhau mà phải lén-lút, còn gì bực-bội và xấu-hổ bằng!
Hy-vọng duy-nhất của em là chờ đến ngày em hai mươi mốt tuổi, là tuổi hợp-pháp tự mình quyết-định hôn-nhân của mình; nhưng không phải là để tự-do làm giấy hôn-thú với anh, mà là để dễ thuyết-phục song-thân em chấp-nhận mối tình của chúng mình, vì em không thể làm một đứa con bất-hiếu – bất-hiếu vì làm trái ý cha+mẹ, bất-hiếu vì làm cha mẹ mất mặt với mọi người.
Nhưng, nếu ông+bà vẫn không đồng-ý thì sao? Ðó là điều mà em không dám giải đáp, vì chỉ nghĩ đến là em đã thấy sợ rồi.
Ðùng một cái, anh được lệnh hồi-hương. Một việc bình-thường mà thời-gian qua đắm chìm trong tình yêu em không nghĩ đến. Hết hạn tùng-quân thì phải về thôi!
Tuy thế, có lý nào chấm dứt mọi sự ngang đây sao anh?
Nhưng anh đã trấn-an em. Anh hứa là sẽ tìm đủ mọi cách trở lại Việt-Nam, dù với tư-cách quân-nhân hay nhân-viên dân-chính, thường-dân.
Qua năm 1972 thì Hội Việt-Mỹ dời đi nơi khác.
Em sống xa anh, lại không còn gần những cảnh sinh-hoạt thân quen do anh tạo nên và vẫn mang đậm dấu ấn của anh, nên em cảm thấy cuộc sống trống vắng, lạt-lẽo vô cùng, dù anh vẫn gửi thư về đều đều; nên qua Nô-En thì em đã xin thuyên-chuyển về dạy ở Tam-Kỳ.
Em về Tam-Kỳ để gần căn-cứ Chu-Lai, để được thấy các bạn anh nhiều hơn, để đỡ nhớ anh hơn, và để càng nhớ anh hơn.
Anh yêu! Cuộc đời không chiều lòng người. Nô-En 1972 anh chưa trở lại được, nhưng vẫn còn nhiều hy-vọng, vì chiến-tranh vẫn còn. Nô-En 1973 anh không trở lại được, thì đâu còn hy-vọng, vì chiến-tranh không còn. Phải chăng hy-vọng chỉ còn, tình yêu của chúng ta chỉ còn, khi vẫn còn chiến-tranh, cuộc chiến khốc-liệt mà chúng mình muốn sớm kết-thúc? Nhưng, kết-thúc như thế nào, có phải là trong chia-lìa, mất-mát, đổ-vỡ, đau-thương không anh?
Nô-En năm nay em có một quyết-định mới. Em bỏ gia-đình, em bỏ việc làm, em thử… tìm về Hư-Vô, một cõi sắc-không không-sắc – như anh đã có nghiên-cứu và nói là đã lĩnh-hội được rồi – vì cuộc đời quả là bể khổ, oái-oăm phi-lý quá, phải không anh? Cha+mẹ em ép buộc em phải kết-hôn với một người mà em không yêu. Thế là em đã có lý-do để thoát-ly gia-đình mà không làm cho ai đổ lỗi cho anh.
Thời-hạn ba năm của lời thề xưa vẫn còn. Anh còn một năm để giải lời thề trước cây đa làng cũ. Anh còn một năm để thử-thách lòng anh. Em đã cố tình không viết một dòng chữ nào cho anh từ hai năm qua, trừ lời nhắn miệng với các người bạn mà anh nhờ gặp, rằng em trọn đời yêu anh và sẽ trung-thành với anh, cốt để giúp anh trắc-nghiệm tình anh. Nếu anh trở lại được, thì anh đi tìm em được; Tình Yêu sẽ hướng-dẫn anh. Nếu anh không tìm ra em, mà anh vẫn muốn tìm em, thì đêm Nô-En 1974 em sẽ chờ anh ở Nhà Thờ năm xưa; chậm lắm là vào 12 giờ khuya ngày 25, phút cuối cùng của thời-gian thử-thách, em sẽ chờ anh ở gốc cây đa.
Ở gốc cây đa đó, em đã đón nhận nụ hôn đầu tiên của người khác phái, em đã trao anh nụ hôn đầu tiên của người con gái, là lần đầu tiên em ngây-ngất mê-ly, là lần đầu tiên em sẵn-sàng chết đi trong vòng tay siết chặt của người yêu. Ôi, nụ hôn ngọt-ngào như lời thề-nguyền buổi sáng mùa xuân cuộc đời, mà cũng là nụ hôn đắng-cay mùi vị chia-ly chúng mình dành cho nhau trước ngày anh xa em.
Anh không sợ ma, em không sợ ma, nhưng hầu hết những người dân làng ở đây đều sợ ma. Nhờ họ sợ ma nên họ để yên cho chúng mình gặp nhau giữa khuya bên gốc cây đa nhiều đêm. Những lần ấy, anh có biết đâu, em lo sợ vô cùng: không phải là sợ có người biết được mối tình mà chúng mình giữ kín, mà là sợ Việt-Cộng tìm cách ám-hại anh, vì chúng đã hơn một lần muốn nhờ tay em…
Bây giờ thì anh đã hiểu rồi đấy. Nụ hôn biểu-hiện lời thề. Ðời em chỉ hôn một người; người đó, trên đạo-lý, đã là chồng em.
Em còn nhớ mấy câu Kinh Thánh mà anh đã giảng cho em: “Không được thề dối!” và “Không được phạm tội ngoại-tình!”; và: “Hễ ai ly-dị vợ mà không phải vì cớ vợ mình gian-dâm thì tức là khiến cho nàng ngoại-tình!” (Matthew 5:33, 27, 32)…
Em không ngoại-tình, em không gian-dâm; em chỉ yêu một mình anh. Nếu không có anh thì em sẽ là hư-vô, vì đời trở nên hư-vô.
Ðây cũng là một cuộc thử-thách tối-trọng và tối-hậu về phần em: do nơi anh, và do lời hẹn của anh, em sẽ trở về sống với hạnh-phúc trần-gian, hay sẽ tiếp-tục và vĩnh-viễn trở thành sắc-không…

D.H.
*
– Và đây là mười hai bức thư của Sam; Diệu-Hương không ghé lấy từ mười hai tháng nay…
Trời đã xế chiều. Tôi tranh-thủ mở đọc bức thư mới nhất của người thanh-niên đã từng một thời là Đại-Úy Sam:

New York, December 1974
Diệu-Hương, người yêu duy-nhất của anh:
Cả ba năm nay em không viết thư cho anh. Anh chấp-nhận, vì đó là ý muốn của em mà em đã nói cho anh biết trước rồi; nhưng trong thâm-tâm anh bao giờ cũng mong ước và ngóng chờ thư em.
Vậy mà giờ đây thì anh không còn trông đợi thư em nữa, em biết vì sao không?
Ngay khi gặp em là anh yêu em. Ðồng-thời, sau khi đã ở Việt-Nam rồi, đã hiểu Việt-Nam rồi, là anh yêu luôn Ðất Nước và đồng-bào em.
Anh về Hoa-Kỳ không phải chỉ để vận-động trở lại Việt-Nam với em mà thôi, mà là còn để nói lên tiếng nói của lương-tri, chống lại phong-trào phản-chiến, kêu gọi tinh-thần khử-bạo phù-nguy vốn là truyền-thống cao-đẹp của dân-tộc Hoa-Kỳ.
Thế nhưng kết-quả ngược lại.
Ma-quỷ đang hồi cực mạnh; người ta không nghe tiếng nói thống-thiết của những con người chính-trực như anh, thậm-chí bác đơn thỉnh-cầu của anh xin được một lần trở lại Việt-Nam.
Và bây giờ thì nước Mỹ đã bỏ cuộc rồi.
Anh còn mặt-mũi nào sống trên đời này mà làm người thua cuộc, hả em? nhất là trong cuộc tình của chúng mình mà hạn chót của lời thề đã đến rồi.
Trong quá-khứ, nước Mỹ đã từng cứu Pháp, giúp Ðức, tiếp-trợ Âu-Tây, nâng Nhật-Bản, vớt Ðại-Hàn, che-chở Á-Ðông.
Trong tương-lai, nước Mỹ chắc-chắn sẽ còn hành-hiệp cái-thế độ-nhân.
Nhất-định mọi người sẽ phải xét lại thái-độ yếu hèn của ngày hôm nay.
Riêng đối với em, anh đã giữ tròn danh-tiết cho em.
Trong đêm cuối cùng, bên gốc cây đa, em đã lịm người trong vòng tay anh, phó mặc hoàn-toàn cho anh. Nhưng anh kính-trọng tinh-thần văn-hóa Ðông-Phương…
Anh sẽ không để cho ai biết gì về mối tình vô-vọng của chúng mình.
“Khối tình mang xuống tuyền-đài khôn tan…”
Nếu còn có thoáng chốc nào em nhớ đến anh, thì xin em hãy tin rằng, đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình, anh vẫn chỉ biết một lòng yêu em.
Tình Yêu ấy là sinh-khí cho hình-hài này, vốn là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất mà thôi.
Xin cho linh-hồn anh được thanh-thoát, làm một Romeo, một Trương Chi…

SAM
*
Thiếu-Tá Sơn, Chánh Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh sở-tại, nãy giờ ghé mắt cùng đọc theo tôi, phát-biểu:
– Như thế là cô Diệu-Hương đã tái xuất-hiện ở Nhà Thờ đêm qua, và sẽ có mặt ở gốc cây đa đêm nay…
Tôi nghĩ: “Ðoạn cuối câu chuyện không thuộc nhiệm-vụ của mình. Mình chỉ tìm biết xem cô là ai, lâu nay làm gì, ở đâu; thế thôi”.
Tôi bắt tay từ-giã Sơn:
– Tất cả thư-từ, và những việc gì xảy ra đêm nay, về sau, hoàn-toàn để tùy bác Nam giải-quyết. Bây giờ thì tôi phải về; còn nhờ anh Hòa trong Quảng-Ngãi, anh Song trong Quảng-Tín, và anh Ðảm ngoài Thừa-Thiên, dĩ-nhiên là cả anh nữa, tìm xem cô đang tu ở chùa nào…
*
Ðà Nẵng, ngày 25 tháng 12 năm 1974
PHIẾU TRÌNH
Kính trình…
tại SÀI-GÒN
Tiếp theo công-điện số…
Kính xác-nhận điện-trình sơ-khởi về việc…
Văn-Phòng Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu I xác-nhận chính Thiếu-Tướng Hoàng Văn Lạc, Phó Tư-Lệnh Quân-Khu I, thừa lệnh Cấp Trên, với sự hướng-dẫn của trung-tá Quận-Trưởng Quận Đại-Lộc, đã dùng trực-thăng đưa hai người Mỹ liên-hệ đến Xã Lộc-Mỹ trưa ngày hôm nay, 25-12-1974.
Hai người Mỹ ấy là đại-diện của một văn-phòng Chưởng-Khế Mỹ, thi-hành di-chúc của một người tên Sam.
Theo di-chúc của Ông Sam thì sau khi ông tự-tử chết đi, thi-hài được thiêu thành tro, đem đến chôn ở hàng-rào của trường tiểu-học Xã Lộc-Mỹ, thuộc Quận Ðại-Lộc, Tỉnh Quảng-Nam, Việt-Nam, ngay hướng mắt nhìn từ gốc cây đa vào khung cửa sổ Lớp Năm, giữa ngày Nô-En năm nay…
Chúng tôi đã đến tận nơi tìm hiểu, được biết:
Nguyên…
*

Sáng sau, tôi đang đọc lại bản lưu Phiếu Trình nói trên thì Sĩ-Quan Trực Phòng Tình-Hình báo-cáo rằng các Chánh Sở Ðặc-Cảnh các Tỉnh đã có mặt sẵn, đang chờ lệnh tôi trên máy điện-đàm.
Thiếu-Tá Thái Văn Hòa của Tỉnh Quảng-Ngãi được tôi hỏi trước, trả lời:
– Ở Tỉnh Quảng-Ngãi có chùa Thiên-Ấn và nhiều chùa khác, nhưng không có ni-cô nào giống với đối-tượng cần tìm…
Thiếu-Tá Ðặng Văn Song, Chánh-Sở của Tỉnh Quảng-Tín, báo-cáo là chưa tìm ra.
Chánh-Sở Trương Công Ðảm của Tỉnh Thừa-Thiên liền xin xác-nhận:
– Ngoài này chúng tôi đã tìm ra được cô rồi.
“Cô ở ngay Chùa Sư-Nữ nổi tiếng của Miền Trung. Tại đây, cô giấu lý-lịch; ngoại-trừ Sư-Bà trụ-trì, còn với người khác thì cô xưng một tên khác, nhưng thường chỉ dùng pháp-danh mà thôi. Cô không bao giờ tiếp-xúc với người ngoài chùa. Trước đây đã có nhiều người từ trong Ðại-Lộc ra tìm, nhiều lần mà không gặp được. Riêng ngày hôm kia, cô đã xin phép đi vào Quảng-Nam thăm nhà…”
Tôi cám ơn các anh, rồi hỏi Thiếu-Tá Lâm Minh Sơn của Tỉnh Quảng-Nam tình-hình đêm qua thế nào.
Sơn đáp:
– Ðêm qua, chúng tôi không thấy Diệu-Hương đến gốc cây đa. Có lẽ cô đã nấp kín, cũng gần đâu đó mà thôi. Nhưng không thấy Sam xuất-hiện thì cô đến đó làm gì!
“Còn bác Nam thì, vào lúc 12 giờ khuya, sau khi đốt xong bức thư của cô ở gốc cây đa, đã chôn luôn các bức thư của Sam vào chỗ đã chôn cái hộp mới được đưa đến từ nửa vòng trái đất bên kia…”

LÊ XUÂN NHUẬN
Thanh-Thanh
Bảy Mươi Năm Làm Thơ
Biến-Loạn Miền Trung
***
*KÍNH MỜI NGHE TRUYỆN KHỎI PHẢI MỎI MẮT ĐỌC CỦA 2 NHÀ VĂN:
                             TRÀM CÀ MAU & TIỂU TỬ

Nua Cuon Sach Cuoi (Tram Ca Mau_Nguyen Ha doc).mp3     4052

Nhung Ke Lang Phi Cua Troi Cho (Tram Ca Mau_Nguyen Ha doc).mp3 2319

Chi Tu U – Truyen Ngan Cua Tieu Tu – Nghe Truyen Xua .mp3    51169

Chiếc Khăn Mù Xoa (Tiểu Tử_Vân Ngọc).MP3

                                       ***
*NHÀ VĂN PHẠM TÍN AN NINH:Phamtinanninh                          Cái Bóng của Vị Thầy Tu
Dừng xe trước quán cà phê nằm bên triền núi, tôi kéo Lân vào ngồi bên chiếc bàn nhỏ, nằm riêng rẽ dưới bóng mấy cành thông. Ngày thường, quán vắng khách. Đã hơn bốn giờ chiều mà mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Mùa hè Bắc Âu ngày dài ra, có những ngày cuối tháng sáu, gần như không thấy bóng đêm. Trời nắng, nhưng không nóng lắm. Thỉnh thoảng có vài cơn gió làm lung lay những cành thông, như muốn khuấy động cái không gian tĩnh mịch và tạo thêm chút mát mẻ, thư thái cho khách nhàn du.
Đến đây đã nhiều lần, dần dà bọn tôi trở thành khách quen của ông chủ quán, người Na- Uy, vốn trước kia ở cùng xóm với tôi, nên đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi đặc biệt, thoải mái. Hơn nữa đã từng nghiên cứu về Đạo Phật, nên thấy Lân trong bộ áo thầy tu, ông chủ cũng tỏ ra ít nhiều tôn kính, có khi trao đổi đôi điều về Phật và Thiền học, mặc dù ông chưa hề biết quá khứ, nhất là cả một thời tuổi trẻ đầy sôi nổi, hào hùng và biến động của Lân.
Gần mười năm nay, sau khi về hưu, hằng năm, vào khoảng giữa tháng Mười, vợ chồng tôi thường sang Cali ở sáu tháng để trốn mùa Đông Bắc Âu, mà với tuổi già càng lúc cái lạnh như càng ngấm vào da thịt và cả trong lòng mình. Đến hè, mỗi lần trở lại Na- Uy, tôi thường ghé lại thăm Lân. Từ lúc nhận ra tuổi già qua nhanh quá, cái quỹ thời gian không còn nhiều, và một số bè bạn đã lần lượt ra đi, chúng tôi dành nhiều thì giờ cho nhau hơn. Lân về hưu trước tôi một năm, và anh đã chọn một hướng đi đặc biệt cho tuổi già: tu tại gia. Anh xuống tóc, ăn chay trường và mỗi ngày sống với kinh kệ như một vị thầy tu, mặc dù không đến chùa. Anh cho rằng cái khung cảnh và sinh hoạt ở một số chùa chiền bây giờ không thích hợp với anh. Hầu hết bạn bè và những người quen biết đều tôn trọng cái quyết định đó, cũng như rất mến mộ phong cách, đạo đức của anh. Thực ra, trước khi chọn con đường tu hành, anh cũng đã có đầy đủ tố chất của một vị chân tu rồi. Hiền lành, đạo hạnh, luôn chia sẻ tấm lòng với tha nhân, nhất là những người không may, gặp điều khốn khó, và với ai anh cũng luôn nở một nụ cười hiền hòa nhân ái. Lân dùng nguyên ngôi nhà ở sửa sang lại làm tịnh thất, nằm trong khu ngoại ô, bên bìa rừng yên tĩnh. Anh sống ẩn dật, chỉ tiếp vài ba người bạn chí thân. Tôi thường đến đây với Lân, có khi ở lại cả tuần, theo anh ngồi tĩnh tâm hay tập thiền, nhưng thỉnh thoảng Lân cũng chìu tôi, theo tôi ra ngồi ở cái quán cà phê bên vách núi yên tĩnh này. Tôi nghĩ đây là nơi lý tưởng để Lân còn nhìn thấy một chút “thế gian” và chúng tôi có thể ngồi hằng giờ tâm sự chuyện đời xưa, nhắc nhớ khoảng thời gian khá dài mà chúng tôi có cùng chung quá khứ.
Tháng sáu năm 1976, sau khi bị chuyển tù ra Bắc, đến Trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi gặp lại người bạn cũ, có thời ở cùng đơn vị. Anh ở khác lán với tôi, nhưng cùng tổ và nằm bên cạnh Lân. Qua anh bạn này, tôi quen biết Lân từ đó, để rồi sau này trở thành thân thiết. Điều đặc biệt là dù qua bao lần “biên chế”, bị chuyển đi nhiều trại, Lân và tôi đều được may mắn, đi chung với nhau cho đến ngày Lân ra tù, tháng 9 năm 1981.
Trước ngày miền Nam thất thủ, Lân là thiếu tá, làm việc ở Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (thuộc Bộ Tư lệnh Không Quân). Một công việc bất đắc dĩ, ngoài sở thích của Lân. Anh vốn là phi công trực thăng được chuyển về đây sau khi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa và được Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp vào loại 2, không thể phi hành hay chiến đấu được. Anh bị trọng thương trong một chuyến bay cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi trong trận chiến An Lộc.
Lớn hơn tôi một tuổi. Lân tình nguyện vào Không Quân và được sang Mỹ học ngành hoa tiêu trực thăng. Về nước được bổ sung cho Phi Đoàn Long Mã 219 ở Đà Nẵng, từ thời còn xử dụng trực thăng loại H- 34, về sau này được thay thế bằng UH- 1. Đây là một phi đoàn đặc biệt. Trên các máy bay sơn toàn màu đen, không vẽ quốc kỳ và bất cứ danh hiệu hay mã số nào, ngoài hình những lá bài “ách xì” cơ, rô, chuồn, bích. Phi Đoàn có nhiệm vụ thả và bốc các toán lôi hổ, biệt kích, hoạt động trong vùng đất địch. Lân nổi tiếng là một phi công tài giỏi, thông minh và can đảm.
Sau đó, được thuyên chuyển về một phi đoàn thuộc Vùng 3. Năm 1970, Lân cùng phi đoàn đã đóng góp nhiều chiến công trong các cuộc hành quân sang lãnh thổ Cam- Bốt. Năm 1972, tham dự trận chiến An Lộc, đổ quân, tản thương cho Liên Đoàn 81 BCND và một số đơn vị thiện chiến khác, Lân mấy lần bị thương nhẹ, được đặc cách thăng cấp thiếu tá. Khi đã có lệnh và đang chờ thuyên chuyển đến một phi đoàn khác để giữ chức vụ Phi Đoàn Phó, thì anh tình nguyện tham gia phi vụ cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi. Nhờ tài năng, lòng dũng cảm và nhất là tình đồng đội “không bỏ anh em không bỏ bạn bè”, anh đã bất chấp mọi hiểm nguy, cứu được 3 trong 4 người của một phi hành đoàn, khi phi cơ phải đáp khẩn cấp vì bị trúng đạn phát hỏa, người xạ thủ đã bị tử thương. Được bốn gunships yểm trợ, Lân đã lừa địch và bất ngờ đáp xuống trong màn lưới đạn, bốc ba người bạn đang bị Cộng quân truy bắt. Nhưng khi vừa bốc phi cơ lên, Lân bị trúng hai viên đạn, làm gãy xương cánh tay và ống chân trái. Sau này, trong một dịp tình cờ, tôi gặp anh co- pilot trong phi vụ này, kể lại chuyến bay rescue vô cùng hiểm nguy với tất cả lòng thán phục Lân. Anh bảo, nếu không có Lân hôm ấy, chắc chắn việc cấp cứu đã không thành và ba người bạn cùng phi đoàn đã bị địch quân giết hay bắt sống.
Khi ở trại Nghĩa Lộ, tôi được sắp xếp cùng tổ với Lân. Chúng tôi thuộc đội phát rừng (vào mùa Đông) và tăng gia (vào mùa Hè, vì mùa Đông, ở vùng này rất lạnh, không trồng rau được). Tù ăn uống thiếu thốn và lao động cực khổ, nhưng Lân rất khỏe mạnh. Có lẽ nhờ vào khả năng mưu sinh. Phải nói đây là một sở trường đặc biệt của Lân mà bạn tù ai cũng nể phục. Anh có thể bắt tôm, cá bằng tay không, khi đứng giữa một dòng suối hay con sông. Nhìn dấu chân các loài vật anh biết ngay đó là con vật gì. Chỉ cần một nhánh cây anh có thể “sáng chế” thành một cái bẫy để bắt các loại chim, chồn, và cả thỏ rừng. Nhờ vậy mà anh nuôi sống cả một tổ tù, đặc biệt cứu vài người bị đau bệnh, kiệt sức. Anh còn biết cả thuốc Nam, các loại lá, vỏ cây trị bệnh. Một lần đi rừng chặt nứa, tôi bị một con ong đất chích vào tay, sưng vù lên và tím cả một vùng da. Lân cho biết nọc loài ong này rất độc, có thể làm chết người. Anh dùng dây rừng cột chặt cánh tay tôi lại, đi tìm một loại lá và vỏ cây gì đó đắp lên. Chỉ sau một giờ đồng hồ vết sưng biến mất. Một buổi trưa nhân ngày lễ, được nghỉ lao động, anh đã câu được gần ba mươi con ếch ngay trong trại, dưới các rãnh mương thoát nước. Chính tay trưởng trại đã đi theo xem và phục tài của Lân. Tất cả ếch câu được đều giao cho nhà bếp “hậu cần” để có thêm chất thịt cho anh em. Lân cho biết là chỉ cần nghe tiếng ếch kêu đêm hôm trước là anh biết có khoảng bao nhiêu con và đang trốn ở đâu. Cần câu chỉ là một thanh tre và một sợi chỉ từ cái bao cát được Lân xe lại, và mồi câu chỉ bằng một miếng bông gòn nhỏ. Tối hôm ấy, tôi khuyên Lân nên chấm dứt chuyện câu ếch và cần phải giấu kín cái tài mưu sinh, vì có thể bị bọn cai tù nghi ngờ, “ra tay” trước đề phòng khả năng anh trốn trại. Tôi cũng ngạc nhiên, khi Lân là một phi công “hào hoa”, nhưng khả năng mưu sinh thoát hiểm rất tuyệt vời. Lân cho biết, khi còn nhỏ, nhờ cả thời tuổi thơ sống bên quê ngoại, một vùng quê ở Tây Ninh, anh đã theo đám bạn bè và cả những người nông dân lớn tuổi, học được rất nhiều điều như thế.
Điều làm tôi nể phục hơn, ngoài mưu trí, lanh lẹ, Lân còn là một con người gan dạ, liều lĩnh và chí tình với bạn bè. Một lần trải qua một trận kiết lỵ kéo dài, thuốc men không có, tôi chỉ còn khoảng ba mươi ký, kiệt sức đứng không vững. Lơi dụng lúc đi lấy “phân xanh” (loại lá cây để ủ thành phân bón), không có vệ binh canh giữ, Lân đã lén vào trại heo của Hợp Tác Xã (cách trại khoảng vài trăm mét, mà trước đó đám tù bọn tôi có đến vài lần làm chuồng cho họ) bắt một chú heo con (heo sữa) mang về giấu ngoài khu vực tăng gia (nằm sát bên hông trại), để hôm sau vùi vào hầm lửa ( do tù đào và dùng các gốc cây đốt lửa sưởi ấm) cho tôi ăn dần. Nhờ đó mà tôi sớm lấy lại được sức. Một lần khác, khi được giao cho công việc lên phơi lúa trên sân trại, nằm ngay trước ban chỉ huy trại, Lân thấy có một buồng chuối thật dài sắp chín được đám bộ đội chăm sóc cẩn thận, bao lại bằng mấy tấm bao cát và chống lên bằng hai thanh gỗ. Vài hôm sau, trong một buổi sáng sớm mùa Đông, khi sương mù còn dày đặc (đứng cách vài thước không nhìn thấy nhau), Lân đã lẻn lên sân trại cắt trộm cả buồng chuối mang ra chôn giấu ngoài khu lao động. Hai hôm sau chuối chín, chờ lúc không có mặt tay quản giáo, Lân đào buồng chuối lên để cả tổ cùng ăn. Vì sợ mùi chuối chín dễ bị phát hiện, nên Lân đề nghị phải ăn cho hết. Một thời gian quá lâu thiếu chất đường, nên cả tổ tám người thanh toán buồng chuối khoảng một trăm quả trong vòng 20 phút đồng hồ mà vẫn chưa thấy ngọt. Nhưng vì ăn nhiều quá, nên khi vừa đứng dậy, cả bọn bị ói thốc tháo ra toàn là chuối.
Biết tài bắt cá của anh, nên mỗi lần trại tù hay hợp tác xã bên cạnh tổ chức “tảo” các hồ cá để thả cá con, Lân đều được chọn đi bắt cá. Hầu hết các hồ chỉ nuôi loại cá trắm cỏ, nhưng có nhiều loại cá khác, như cá lóc, cá trê sống trong đó, sẽ ăn hết đám cá trắm cỏ con. Nên trước khi thả cá, phải “tảo”hồ, băng cách bơm cạn và bắt tất cả các loại cá khác nằm dưới bùn. Lân sở trường về việc này. Nhưng thay vì phải giao tất cả cả bắt được cho trại, anh tìm vài cái hang dưới bờ hồ, tạo thành những cái hộc để nhốt một số cá lóc vào đó. Những cái hồ cá này, cũng là nơi cho tù rửa ráy hay tắm sau giờ lao động. Và cứ mỗi lần tắm, Lân lại bắt một con cá nhốt sẵn trong hộc, mang về cho cả tổ cùng ăn. Vì là đội tăng gia, được giữ mấy cái bình tưới bằng nhôm, nên dễ dàng giấu cá trong đó mà không bị “phát hiện”.
Có một kỷ niệm tôi không thể nào quên. Một khoảng thời gian ở Trại Hang Dơi, bọn CS luôn tìm mọi cách vắt kiệt sức của chúng tôi. Tất cả tù đều phải lên rừng chặt nứa (loại tre nhỏ) mang về bán cho nhà máy giấy Việt Trì, theo hợp đồng của trại. Chỉ tiêu mỗi ngày là ba mươi cây. Nếu không đủ, sẽ không được nhận khẩu phần ăn. Chỉ sau một tháng là nứa ở các vùng núi chung quanh trại tù hết sạch. Chúng tôi phải chia nhau một toán ba người đi rất xa lên các dãy núi cao tìm nứa. Lân và tôi luôn đi chung một toán. Trời mùa Đông, lạnh buốt xương, và suốt cả ngày mưa phùn rả rích. Các lối mòn, ngõ ngách lên núi biến thành bùn nhão, trơn như mỡ. Bọn tôi phải đóng những cái cọc ngắn dọc trên các con đường, mỗi lần vác nứa xuống, dùng đầu ngón chân tì vào các cọc để không bị trượt ngã xuống vực. Nguy hiểm hơn là khi bị té ngã, bó nứa chùi xuống đâm vào người đi trước, có thể mất mạng. Một buổi trưa, len lỏi trong rừng già, rất khó khăn để chui qua những cây mây già, nằm chằng chịt như những con trăn dài chặn các lối đi, những cây cổ thụ cao to che hết ánh sáng mặt trời. Khi bọn tôi đang lo âu có thể bị lạc đường, chia nhau đi chặt vào các thân cây làm dấu, thì bất ngờ một một cây cổ thụ bỗng rung rinh, lá cây xào xạc, bóng một con vật to lớn nhảy xuống. Cả ba thằng khựng lại, rồi như theo bản năng, nhanh chóng tìm lại ngồi sát vào nhau, mặt thằng nào cũng tái xanh. Bỗng Lân quát lớn: “Đừng sợ, đứng dậy, đưa dao lên!” Tôi làm theo Lân như cái máy. Khi hoàn hồn, nhận ra ngay trước mặt mình không xa, một con dã nhân (vượn người?), cao to bằng ba con người, lông lá đầy mình, mặt mày dữ tợn, đang rú gào đe dọa chúng tôi. Lân rất bình tĩnh, bảo bọn tôi cùng hét thật lớn và bước tới với con dao đưa lên chém vào không khí. Không ngờ con dã nhân lùi lại, rú thêm mấy tiếng rồi nhảy phóc lên cây, phóng đi nơi khác. Hôm ấy bọn tôi về tay không và biết là sẽ bị phạt mất phần ăn, nên Lân đã đi tìm mấy mụt măng rừng và luộc lên cho bọn tôi ăn đỡ đói. Tôi và anh bạn tù kia phục Lân vô cùng. Nếu hôm ấy mà không có Lân, chẳng hiểu bọn tôi sẽ phản ứng ra sao. Cũng đã từng bao lần vào sinh ra tử, nhưng đứng trước một tình huống quá bất ngờ này, thực tình chúng tôi mất hết bình tĩnh, chẳng biết cách nào đối phó. Đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con vật lạ lùng, ghê sợ, mà trước đây chỉ biết mơ hồ qua sách vở và lời kể của ông bà.
Năm 1979, trước khi chuyển trại để rời khỏi Hoàng Liên Sơn, vì Trung Cộng đang tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc, đội tù chúng tôi được chọn ra hai tổ đi lao động “thông tầm”, gặt lúa cho một HTX nông nghiệp, ở cách xa trại khoảng mười cây số. Lân được chọn làm toán trưởng. Chúng tôi khoảng 20 người, đi bộ, có hai tên vệ binh đi theo. Đến nơi vào buổi chiều, trời sắp tối, bọn tôi được trú ngụ trong một cái đình làng bỏ hoang, một phần mái và một bức tường đã rệu rã. HTX dùng cái sân đình để chứa và phơi lúa. Không biết có phải để “khuyến khích tinh thần” hay tạo thêm sức, HTX “bồi dưỡng” cho bọn tôi một bữa xôi nếp với thịt trâu khá no nê. Có cả một xị rượu mía. Đây có lẽ là bữa ăn thịnh soạn nhất trong đời tù bọn tôi.
Sáng hôm sau, tay Chủ nhiệm HTX hướng dẫn chúng tôi ra khu ruộng, nằm cách ngôi đình làng khoảng 100 mét. Khi đến nơi bọn tôi mới ngỡ ngàng. Đây là những đám ruộng sình, lúa rất tốt, nhánh nào cũng trĩu đầy hạt, nhưng nếu bước chân xuống ruộng, người ta sẽ bị lún sâu xuống ngay, khó mà ngoi lên được, vì càng cử động, tìm cách thoát lên, lại càng bị lún xuống thêm, có thể ngập đầu. Bọn tôi lắc đầu ngán ngẩm, khi vừa hiểu ra cái giá của bữa cơm nếp có thịt trâu, rượu mía tối hôm qua. Trong khi cả bọn nhìn nhau bất lực, Lân đưa ra sáng kiến. Dùng các tấm cửa cũ của ngôi đình bỏ hoang, cột dây kéo hai đầu, chỉ cần một người (chọn những người nhẹ ký nhất) ngồi trên tấm cửa, gặt lúa, những người còn lại, đứng trên bờ hai đầu, thay phiên kéo và giữ thăng bằng tấm cửa và an toàn cho người gặt lúa. Một tấm cửa khác kéo theo bên cạnh, để chứa những bó lúa gặt được. Khi nào đầy lúa, người gặt ra dấu, để được kéo vào bờ. Sáng kiến của Lân được mọi người hoan nghênh, kể cả tay Chủ nhiệm. Khoảng mười tấm cửa cũ đủ loại lớn nhỏ được mang ra sử dụng, một số cuộn dây được cung cấp, kể cả một số tre được mang tới để vài anh chẻ ra đan thành những cuộn dây dài. Không ngờ sáng kiến của Lân lại tuyệt vời. Chỉ hai hôm, tất cả lúa trên hơn mười thửa ruộng sình được gặt xong. HTX “thu hoạch” được số lượng lúa khá lớn. Tay Chủ nhiệm xin cho bọn tôi được ở lại thêm một ngày để nghỉ ngơi và “liên hoan”. Ăn cơm trắng với cá “trám cỏ”. Thấy có một cái trống rách, bỏ nằm lăn lóc trong góc đình, Lân bèn nghĩ ra một điều “kỳ lạ” khác. Anh tháo da từ cái trống ra, mượn một cái chảo đun sôi gần cả một đêm, sáng hôm sau, các miếng da nở ra, mềm, dẻo và trắng mướt. Lân thái nhỏ ra, xin thêm đậu phụng (lạc), giã nát cùng với ít rau, rắc lên. Miếng da rách trong chiếc trống lăn lóc ngày hôm qua, bây giờ đã trở thành một món ăn khoái khẩu. Những bạn tù hôm ấy chắc chắn không ai có thể quên Lân và những ngày tù thật đặc biệt này.
Sau khi được chuyển về Trại Nghệ Tĩnh, Lân rủ tôi và một người bạn thân nữa tổ chức một cuộc trốn trại. Tôi rất tin tưởng vào khả năng vượt thoát của Lân. Thời gian này bắt đầu được thăm nuôi, Lân đã nhờ người nhà mang theo nhiều thức ăn khô, một số tiền mặt và một cái địa bàn nhỏ dấu kín trong hũ mắm ruốc. Nhờ hối lộ hậu hỉ cho tên công an phụ trách, nên mọi thứ đều trót lọt. Nhưng chưa tới ngày thực hiện thì bất ngờ Lân có lệnh thả. Anh rất ngạc nhiên về việc này. Kế hoạch trốn trại phải hủy bỏ, vì tôi và người bạn còn lại không tin vào khả năng của mình, nếu không có Lân.
Năm 1983, sau gần một năm được chuyển về Trại Z- 30 C Hàm Tân, tôi được thả. Ra trại, thay vì về quê ngoài Nha Trang, tôi vào Sài gòn tìm Lân. Vì trước lúc chia tay, Lân cho biết là sau khi về nhà, anh sẽ mua ghe tổ chức vượt biên. Anh còn dặn dò, bất cứ lúc nào ra khỏi tù, tôi nhớ tìm gặp anh ngay. Tôi luôn tin tưởng vào khả năng, đạo đức và chân tình của Lân.
Thời gian trong tù, qua tâm sự của Lân, tôi biết rất rõ về nhà cửa, địa chỉ và tất cả những người trong gia đình anh. Ông cụ đã mất trước 75, Lân chỉ còn bà cụ đang sống với hai cô em gái trong ngôi nhà khá lớn ở bên Quốc lộ, gần Ngã Tư Hàng Xanh. Ông anh duy nhất là một Biên Tập Viên Cảnh Sát, làm việc tại Sài gòn, đã kịp rời khỏi Nhà Bè vào sáng sớm ngày 30.4.75.
Lân được cả nhà, đặc biệt là bà mẹ hết lòng yêu thương. Chính vì điều này mà Lân đã không đành bỏ mẹ để ra đi khi CS chiếm Sài gòn, mặc dù khi ấy Lân có nhiều phương tiện trong tay, đã giúp khá nhiều bạn bè ra khỏi nước. Sau này Lân còn cho tôi biết, chính mẹ và các em gái của Lân đã bán nhiều tài sản và dùng vàng bạc giấu được sau các đợt “đánh tư sản”, tìm đường dây đến một tay thứ trưởng Bộ Nội Vụ CS mua cho Lân cái giấy ra trại, để vượt biên sớm. Lân là một trong số rất ít tù được thả sớm từ miền Bắc trong thời gian ấy.
Khi tìm đến nhà, tôi gặp mẹ và cô em lớn của Lân. Bà mẹ cũng là một người tu hành. Bên kia phòng khách, tôi nhìn thấy một tượng Phật Quan Âm lớn hơn một người thật, cao gần đến trần nhà. Tôi bảo tôi là bạn tù rất thân của Lân vừa mới được thả ra, tìm đến thăm Lân, nhưng cả mẹ con đều bảo Lân đang sống ở vùng kinh tế mới dưới Phước Tuy. Nhìn vẻ mặt của hai người tôi biết là họ đang nghi ngờ tôi, có thể là một gã công an nào đó muốn thăm dò tin tức Lân. Khi tôi hỏi xin địa chỉ nơi ở của Lân trong vùng kinh tế mới để đi thăm, viện cớ là tôi ở ngoài Trung, sau này khó có thể gặp Lân, hai người bảo là không biết, hơn nữa người lạ cũng không được phép đến đó. Đoán là có điều gì xảy ra cho Lân, nên cả mẹ và em Lân cố tình giấu giếm, tôi lấy tờ Giấy Ra Trại đưa cho cô em xem và kể thêm một số chi tiết về Lân cũng như những người trong gia đình. Khi ấy hai người mới tin và cho tôi biết là Lân tổ chức vượt biên, kéo theo một số bạn bè, nhưng chẳng may ghe bị mắc cạn ở cửa sông Mỹ Tho, Lân bị bắt và đang bị nhốt trong một trại tù rất khắc nghiệt. Tôi cám ơn và xin tạm biệt, nhờ chuyển lời thăm Lân khi có thăm nuôi. Tôi cũng để lại địa chỉ và nhờ nói lại với Lân, khi ra tù nhớ liên lạc với tôi. Mẹ của Lân bảo cô em vào lấy một số tiền biếu tôi. Tôi từ chối nhưng hai mẹ con nhất mực bắt tôi phải nhận. Cô em đã nhét tiền vào túi áo của tôi.
Sau hơn tám năm, trở về nhà, chưa kịp làm quen với mấy đứa con, nhất là con gái út còn nằm trong bụng mẹ ngày tôi vào tù, và cũng chưa kịp hỏi được tin tức về nơi chôn cất cha tôi, ông đã chết trong một trại tù khác trong Nam từ tháng 6/1976, thì bốn hôm sau, tôi được “mời” ra công an thị trấn, nhận cái giấy trả lại trại tù, với lý do “nhân dân địa phương không chấp nhận cho tôi được tạm trú”. Khăn gói vào lại trại tù Z- 30C, được cho ở tạm nhà thăm nuôi ba hôm, sau đó nhận một tấm Giấy Ra Trại khác, với nơi chỉ định tạm trú mới là sinh quán của tôi. Ở đó tôi chẳng còn ai, ngoài bà cô già, góa bụa sống trong ngôi nhà từ đường của ông bà nội tôi để lại. Tôi lại bị chính quyền CS ở đây hành hạ, làm nhục đủ điều. Không còn con đường nào khác, ngoài vượt biên. Nhờ một ông anh con ông cậu ruột, nguyên là một HSQ Hải quân, đang có sẵn ghe đánh cá, tôi liều lĩnh âm thầm khuyến khích và tổ chức vượt biên, chỉ dành cho gia đình và những người thân thiết nhất. Tôi nhờ đứa cháu vào nhà Lân. Rất may là Lân vừa mới ra khỏi tù hơn một tuần lễ, cũng nhờ bà mẹ lo lót. Lân mua giấy tờ giả, đóng vai một “cán bộ thương nghiệp” ra Nha Trang công tác. Tôi gởi Lân ở chung nhà với một người bạn thân khác của tôi, là căn phòng nhỏ ngay phía sau một trường tiểu học mà anh là hiệu trưởng, không ai để ý. Đúng giờ hẹn, tôi cho người đón Lân bằng xe Honda và đưa Lân trốn trong một ghềnh đá sát bên bờ biển ở một nơi an toàn. Tôi hẹn cho ghe ghé đến, đậu xa bờ khoảng 200 mét, báo mật hiệu bằng đèn và cho thằng cháu chèo thúng chai vào đón. Nhưng Lân bảo không cần, vì thúng chai chèo chậm lắm, anh sẽ bơi ra tàu cho nhanh. Khi kéo Lân lên tàu, hai đứa ôm chầm lấy nhau, như thầm hứa hẹn một “trang sử” mới.
Mặc dù có người anh định cư ở Mỹ từ 1975, nhưng Lân quyết định cùng đi Na- Uy với chúng tôi. Mấy lần tôi hỏi, có phải trong lòng Lân còn “hận” Mỹ, đã phản bội, bỏ rơi người bạn đồng minh, để đất nước và cả dân tộc mình điêu đứng lầm than? Lân cười, bảo chỉ muốn sống gần tôi, người bạn đã cùng sống chết với anh trong suốt đoạn đời tù đày khốn khổ.
Lân cùng học rồi cùng vào làm một sở với tôi cho đến ngày về hưu. Chúng tôi cùng hăng say hoạt động trong một tổ chức kháng chiến ngay từ ngày đến Trại Tị Nạn Bataan, Phi Luật Tân. Vào thời điểm ấy, tổ chức này rất nổi tiếng và được nhiều người khắp nơi tham gia, ủng hộ. Khi một cán bộ cao cấp của tổ chức từ Hoa Kỳ đến Na- Uy sinh hoạt, cả Lân và tôi xin tình nguyện được về “chiến khu quốc nội”(?), nhưng ông ta bảo không còn cần thiết nữa. Chỉ một tháng sau đó, tổ chức này rạn nứt, tan vỡ, phơi bày bao điều không thật, đau lòng. Chúng tôi thất vọng và phẫn nộ khi có cảm giác mình bị lừa dối. Những năm sau, Lân sang Mỹ nhiều lần, thăm ông anh, họp bạn bè và tìm hiểu các tổ chức, hội đoàn hoạt động ở đây. Anh háo hức, thiết tha mong được đóng góp phần mình. Lân thường bảo, cuộc sống lưu vong này sẽ trở nên vô nghĩa, nếu chúng ta không làm được điều gì. Chẳng lẽ rồi bọn mình cũng chỉ là những “con chim ẩn mình chờ chết!”hay sao?
Cuối cùng, dường như Lân đã không tìm được một “ánh sáng nào ở cuối đường hầm”. Anh bảo những hình thức, phô trương, những bộ quân phục và lon lá bị lạm dụng, những ông bà háo danh chủ tịch, tranh giành cộng đồng này, hội đoàn nọ, tệ nhất là mấy cái chính phủ với đám tướng tá tự phong, tự diễn, lố bịch như đám phường tuồng, làm anh muốn buồn nôn.
Có những ông chưa có một ngày trong lính, nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một nhà quân sự tài ba, huênh hoang chê bai ông tướng này ông tá khác, phê phán đủ các trận chiến ngày xưa. Cũng có những ông gốc lính, chẳng biết tài năng đến đâu, chửi bới không sót một người nào, từ các cấp chỉ huy của mình ngày trước cho đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bằng lời lẽ hạ cấp bẩn thỉu, chụp mũ người này người khác, nếu không hoan hô “cái tài thao lược” của phe ông.
Bạn bè thì một số thoải mái với cuộc sống mới và đã biến thành những con người mới, quên mình đã từng là lính và bị tù đày. Một số thì tìm đến với nhau trong những hội hè, mong có nhiều cuộc họp mặt tiệc tùng, để có dịp mặc bộ quân phục, tìm lại chút “dư âm ngày cũ”. Chưa kể một số đua nhau về Việt nam, để đi trở lại trên những “đường xưa lối cũ.” Lân bảo, vẫn biết mỗi người có quyền chọn cho mình một cách sống riêng để bù đắp những mất mát hay xoa dịu phần nào vết thương quá khứ, tất cả đều tội nghiệp, nhưng sao anh vẫn thấy có điều gì đó làm xót xa, đau đớn trong lòng.
Đôi khi Lân than thở với tôi:
– Đã hơn 30 năm sống trong cái cộng đồng ly hương này, sao nhiều lúc mình vẫn có cái cảm giác bồng bềnh như ngày nào còn ngồi với bạn trên chiếc thuyền vượt biển ra khơi!
Tôi lên mặt lý sự cốt an ủi Lân:
– Bạn đừng lý tưởng quá, thời gian nó sẽ xói mòn và làm đổi thay tất cả. Trong cái xô bồ, mình phải gạn lọc để chấp nhận và trân trọng những gì tương đối, bởi rất nhiều anh em, cũng như chúng ta, đành phải “lực bất tòng tâm” trước những ước vọng đó sao!
Tôi thầm tiếc và tội nghiệp cho Lân, một con người yêu nước, tài ba, can đảm và đức độ như vậy mà chẳng còn một nơi nào để “dụng võ”.
Nhiều lúc thấy Lân trầm ngâm, ngồi im lặng như một thiền sư, tôi tự hỏi, từ ngày chọn con đường tu hành, ngày đêm với kinh kệ, không biết trong lòng Lân có còn nỗi khắc khoải nào không? Tôi ngại không dám hỏi Lân. Mới đây, trong lúc ngồi bên nhau Lân nói với tôi:
– Bây giờ tôi chỉ còn mong ước hai điều, trước khi chết được thấy đất nước mình đổi thay, không còn Cộng sản, và khi nhắm mắt được có bạn ở bên cạnh để vuốt mắt và niệm cho tôi một bài kinh A Di Đà!
***
Con chim gỗ trên chiếc đồng hồ treo trong quán cà phê vừa hót lên bảy tiếng. Như vậy là bọn tôi ngồi đây đã ba giờ đồng hồ. Trời không tối nên cứ tưởng còn sớm lắm. Ánh mặt trời vẫn chói chang qua những tàng cây. Tôi đứng dậy dành đi trả tiền. Lân bước ra trước, đứng chờ ở vệ đường, nhắm mắt ngước mặt lên trời. Không biết anh đang cầu nguyện điều gì hay muốn xóa đi, quên hết những gì mà chúng tôi vừa tâm sự, để trở về với cái tâm yên tĩnh của một thầy tu. Anh đứng yên lặng nhưng cái bóng của anh lung linh, sống động trải dài theo bờ con dốc đá. Nhìn cái bóng, tôi mơ hồ như bất ngờ được gặp lại người phi công trẻ, hào hoa, oai hùng, mà mình đã từng quen biết từ một thời nào xa xưa như trong tiền kiếp.
Bỗng dưng, tôi nhớ tới những đồng đội bạn bè đã hy sinh, nhớ tới những chàng phi công hào hùng đã từng sống chết với đơn vị tôi trong Mùa Hè 1972 và suốt một thời binh lửa. Khi bước đến bên Lân, tôi vẫn thấy anh đứng lặng yên, bất động, hướng mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Trên không gian bao la chỉ có vài áng mây đang chầm chậm bay về phía cuối chân trời.
                                 Phạm Tín An Ninh
***
*Hoàng Mai Nhất
Lê Anh Thượng

                                Cái đùi Trâu:

Cuối năm 1977, Trại 4 Hoàng Lịên Sơn 9Đoàn 776, Nông Trường Trần Phú), cho giết một con trâu già để toàn trại ăn Tết. Nói là toàn trại chớ sự thực thì chỉ có đám cán bộ và vệ binh là có thịt, còn anh em tù cải tạo; may lắm là nước muối (thường xuyên), hôm nay có thêm chút lớp váng mỡ trâu nổi lên trên mặt nước. Và thợ xẻ thịt, không ai khác ngoài anh em tù làm ở nhà bếp mà chúng gọi chung là anh nuôi .
Con trâu già được dẫn ra bờ suối và để tiết kiệm đạn, chúng thường dùng búa để đập vào đầu con trâu cho đến chết. Nếu con trâu không chết sau ba, bốn nhát bùa và trở nên hung dữ rượt húc mọi người thì lúc đó chúng mới dùng súng AK để bắn chết con trâu. Với việc làm vô nhân đạo như vậy, anh em mình đều từ chối không làm nên chúng phải nhờ một người dân sắc tộc “Tày” ở gần đó vào trại để giết con trâu. Và cuốn phim quay chậm về việc mổ trâu ăn Tết bắt đầu:
Thường thì vào những dịp như thế này, ngoại trừ những tên có nhiệm vụ coi tù lao động hay có công tác khác là vắng mặt ở hiện trường mổ thịt, còn phần lớn đều kéo nhau hết ra để xúm lại xem làm thịt trâu ở bờ suối. Đối với bộ đội cộng sản, đây cũng là một ngày Hội; vì chỉ những dịp như thế này mới có thịt để ăn. Mà muốn có thịt như việc hạ thịt con trâu già này, cũng phải có sự đồng ý của tên chính trị viên trại; mặc dù đã được thông qua một buổi họp của các chức sắc trại. Điều này cho thấy chế độ cộng sản quả là tự do và ưu việt gấp ngàn lần chế độ tư bản …hì…hì…
Lúc đó, anh em đang làm cỏ trên các triền đồi trồng khoai mì gần đó. Anh em vừa nhẩn nhơ làm (vì hai tên vệ binh canh gác anh em tù lao động, đã lẻn bỏ đi xuống dưới để xem ngả thịt mà cũng có lẽ để lừa cơ hội “dớt“ một cục thịt nào đó, dấu đem về cải thiện riêng lẽ. Xin đừng ngạc nhiên về điều này, vì đấy là bản chất chung của những con người cộng sản), vừa nhìn xuống xem lể hạ thịt, vừa để xem một cuốn phim quay chậm hình ảnh xâu xé thịt một con trâu già ốm đói (như những người tù cải tạo) của những kẻ tự cho là có đạo đức cách mạng; đang bâu vào dành phần theo cái kiểu thấp hèn là chôm chỉa, ăn cắp…mà đau đớn thay, lại là đi ăn cắp đồ của tập thể mà chúng hay khoe nhặn lên là ưu việt, là không có cảnh người bóc lột người?(Nếu chế độ CS không có bóc lột thì tại sao những tên vệ binh của chúng lại không sốt sắng lo làm nhiệm vụ được giao, lại bỏ mặc tất cả để lén đi chôm chỉa như vậy??)
Thì ra bọn đảngviên luôn luôn là cán bộ, là thành phần lãnh đạo, nên có quyền được hưởng mọi ưu đãi của chế độ. Ngay cả phần ăn của chúng cũng ưu tiên có thịt…còn vệ binh, lính lát thì họa hoằn mới có; cho nên họ mới phải liều mình lẻn xuống, cố tìm cách chôm cho được một miếng thịt (mặc dù tất cả bọn chúng đều biết rõ là đã phạm vào điều cấm kỵ của CS, sẽ bị hình phạt kỷ luật đích đáng;) cho dù đó là miếng thịt dai nhách của một con trâu già trước sau gì cũng chết nay được ban ân huệ cho chết sớm hơn để trại có tí thịt gọi là bồi dưỡng;
Tôi không nói ngoa hay dựng đứng câu chuyện để bôi nhọ những “tinh hoa đại diện cho một chế độ xả hội chủ nghĩa đầy phẩm giá con người, mà chúng vẫn thường hay rêu rao”. Thì đây:
Y như rằng, một tên cán bộ đang chấp tay sau đít, từ từ chậm rải đi tới sân khấu lộ thiên mà giờ đang đầy ắp các diễn viên thượng thặng, mắt láo liên nhìn ngược xuôi, tứ phía. Để rồi sau đó, khi tới tận sàn diễn chính là bờ suối xẻ thịt trâu; hắn bèn lớn tiếng hùng hổ nạt nộ, xua đuổi đám diễn viên phụ là những tên vệ binh quèn rời khỏi phim trường đi làm nhiệm vụ của mình, nhường sân khấu lại cho diễn viên chính là hắn, với một cán bộ quản giáo của trại và một vệ binh có nhiệm vụ canh chừng, điều khiển việc xẻ thịt trâu của hai người tù.
Anh em nhìn kỷ tên cán bộ ấy, thì ra là tên Trung úy Hòe; một cán bộ quản giáo đầy hắc ám, chuyên môn rình rập theo dõi sát rạt anh em tù để lên mặt hống hách dạy đời, trừng phạt những anh em nào bị nó bắt gặp cải thiện (như hái rau cỏ, bắt cóc nhái, cào cào, rắn rít, bò cạp…nghĩa là những con nào nhúc nhích là anh em bắt hết không chừa một con), nên anh em đặt cho nó cái tên ”Quách Hòe” (là tên của một Thừa Tướng nước Tàu thời xưa đầy hống hách, tàn ác, tham lam).
Đuổi được đám vệ binh đi rồi, hắn bèn giơ tay chỉ trỏ, nói năng gì đó như là người có trách nhiệm phụ trách ở đó. Sau đó, hắn ngước mặt nhìn khắp nơi, rồi nhanh nhẹn thò tay chớp ngay lấy một cái đùi trâu dấu liền ra sau lưng, thụt lùi…thụt lùi…rồi quay mình bước đi thật lẹ về phía một bụi rặm ở cách đó không xa; liệng thật nhanh cái đùi trâu vô đó sau khi đã quan sát thật kỹ xem có ai nhìn thấy hành động này của mình không; rồi cúi người xuống giả bộ như là lượm một vật gì, nhưng thật sự ra là đẩy cái đùi trâu vào sâu hơn một tí, đùa lớp lá phủ lên trên. Xong, xoa tay nở một nụ cười đầy vẻ thỏa mãn, quay bước trở lại chổ xẻ thịt; đứng nhìn xem như một kẻ bàng quan, và lúc này hắn đã không còn nạt nộ lớn tiếng hay chỉ trỏ như trước nữa. Chắc ăn rồi, không chạy đi đâu được nữa thì việc gì phải lo!
Đứng ở trên đồi sắn cao, nên anh em chúng tôi đều nhìn thấy rỏ không sót một chi tiết nào của cuốn phim quay chậm cảnh tên cán bộ gương mẫu, từng lên lớp anh em chúng tôi về đạo đức, tư cách của người cách mạng mà những người tù như chúng tôi phải bắt chước noi theo. Hay thật! Không còn lời gì để diễn tả hơn được nữa tài diễn xuất đặc sắc của một diễn viên thượng thặng như vậy.
Anh Nguyễn Văn To, hiện đang ở TB. Georgia, một người trong nhóm Cao Đài gồm: Kính, Lương, Trường, Lê Minh Phát…(trong tù, anh em thường gom lại lao động, sinh hoạt theo nhóm để chia xẻ đở đần nhau trong ngục tù cs); tức giận buột miệng chửi thề: “mẹ bà nó, anh em mình lao động cực nhọc nuôi chúng ở không ăn ngập mặt, còn chưa chịu ;giờ chỉ có một ít thịt của con trâu già mà nó cũng nở trộm dấu ăn riêng thì còn gì cho mình nữa.Hèn chi anh em mình không bao giờ có được miếng thịt nào để ăn. mặc dù chúng thường rêu rao là nhân ngày Lễ, Tết…v…v …các anh sẽ được bồi dưỡng thêm phần thịt…Vậy thì ông phải cho mày biết tay! ”
*Ở đây xin nói rỏ thêm về lý do nào mà anh To đã phải nói như vậy.Sốlà, lúc nào chúng cũng lên lớp rêu rao nói là: “ trại luôn quan tâm đến sức khỏe của các anh, các anh có sức khỏe mới lao động tốt, học tập tốt để sau này khi trở về mới biết lao động để nuôi sống gia đình, vợ con các anh; không còn ăn bám xả hội; cho nên các anh sẽ được bồi dưỡng thêm phần thịt vào những ngày Lễ, Tết”; thế nhưng thực tế không bao giờ có. Chúng còn xảo trá đến độ là thiết lập một bản thông báo thực đơn trong ngày cho tù biết (nếu tôi nhớ không lầm là mỗi người tù được cho hưởng môt ngày là nữa cắc hay một đồng gì đó…đây lại là một hình thức lường gạt cho ăn bánh vẽ đối với những ai ngu dại tin vào lời nói, tin vào sự nhân đạo của chúng…) và trên bản thực đơn của trại lúc nào cũng ghi là hôm nay có thịt, nhưng được quy ra “rau tàu bay“ (là một loài cỏ dại, ăn đăng đắng, nhẩn nhẩn; mọc đầy rừng mà loài thú còn không muốn ăn); như vậy số tiền đó chỉ là tiền ảo vì trại đã cướp hết, ăn chận của tù rồi. Do đó anh em chúng tôi đã gọi mĩa mai là “thịt quy ra tàu bay hay cải trời“ cũng rứa.
Đồng thời, chúng cắt cử một toán tù chuyên đi nhổ loại cải này về cho tù ăn. Để che dấu cho sự ăn chận, cướp cơm tù (nếu có…nào ai biết; tất cả đều do chúng nói ra mà thôi); chúng luôn nói là, trước kia khi tiến hành cuộc chiến xăm lược miền Nam, chúng đã dùng nó để ăn thay cho cơm, thịt mà không có sao, vẫn khỏe mạnh có sức khỏe để chiến đấu đến tận bây giờ…Và còn hùng hồn tuyên bố là: “1 ký cải trời, bổ dưỡng tương đương với “một ký thịt“ (vì lâu quá nên tôi không nhớ rỏ giá trị tương đương này nên viết đại khái như thế ).
Thế rồi anh vội vàng hốt một mớ cỏ rác; dồn lẹ vào hai cái xọt và lẹ làng gánh hai xọt cỏ, men theo triền đồi đi xuống phía bụi rậm có dấu cái đùi trâu. Sau khi quan sát kỷ lưỡng xong, anh vội vàng chộp ngay lấy đùi trâu giấu vào trong xọt dưới đám cỏ rác; rồi thản nhiên đi ngược trở lên đồi mì. Quá hay, một“action”? Không….không phải ! Phải nói là một“ mission impossible“ thật tuyệt vời mà không một phim trinh thám nào có thể hay hơn được nữa! Tất cả anh em chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm và cùng nở nụ cười tươi mà từ khi sa chân vào tù ngục, chưa bao giờ có nụ cười tươi như vậy .
Trở lại chuyện tên Quách Hòe, sau khi trở lại chổ xẻ thit; vẫn theo thói quen củ. Hắn cũng chỉ trỏ và nói liếng thoắng một hồi, rồi nhẹ nhàng từ tốn quay đi trở ngược lại về phía chổ bụi rặm có dấu cái đùi trâu và quơ tay vào trong để mò tìm. Tội nghiệp cho hắn, càng mò thì bụi rậm càng toang hoác nhưng cái đùi trâu thì không bao giờ tìm thấy được. Mặt hắn đỏ rần, rồi tái đi. Tay chân như run rẩy, miệng lầm bầm chắc hẳn là đang chửi rủa. Anh em chúng tôi đứng trên này, vẫn luôn nhìn xuống để quan sát toàn cảnh nên thấy rỏ hết mọi sự việc xảy ra. Muốn cười phá lên, nhưng tất cả đều cố dằn lại; bởi vì, nếu cười thì chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này, chẳng khác nào bảo cho hắn biết rằng chúng ông đã thấy, biết tất cả hành động thô bỉ của mày và dễ làm cho hắn nghi ngờ là chính chúng tôi chớ không ai khác; đã hớt tay trên của hắn.
Sự tức giận và hổ thẹn, sẽ làm cho hắn bắt buộc phải khám xét anh em kỷ càng hơn lúc xếp hàng vào trong trại sau khi hết giờ lao động.Và như vậy, mình tự dưng hại mình làm mất đi phần thịt ngon lành mà không dễ gì có một cơ hội như hôm nay. Đây là một trong những bài học đầu tiên mà anh em đã thuộc nằm lòng, sau mấy năm trời lọt vào tay chúng qua các trại tù là: đừng bao giờ để cho chúng nghi ngờ và có hành động này khác với anh em mình nếu…điều đó chưa thật sự cần thiết!!!
Sau một hồi tìm hoài mà không được, hắn vùng vằng tức tối quay đi trở ngược lại phía bờ suối chổ xẻ thịt; và lần này thì hắn không còn tỏ thái độ như là một cán bộ có tư cách trước mặt tên vệ binh trại và cả với hai anh tù xẻ thịt trâu nữa. Hắn thọc cả hai tay vào trong cái xọt lớn, đang chứa những phần thịt đã được cắt ra để tìm cái đùi trâu đã mất. Nhưng hắn làm sao tìm được một khi mà anh em mình đã ra tay rồi. Tìm hoài, đếm đi đếm lại bao nhiêu lần nhưng trong xọt thịt vẫn chỉ có ba cái đùi trâu. Giận quá hắn bèn chửi đổng lớn tiếng mà ai cũng nghe thấy: “Tiên sư bố nó, trâu gì mà chỉ có ba chân!“ Cứ thế mà hắn sủa hoài, cùng với ánh mắt ném nhìn xoay mói, đầy vẻ tức tối căm hờn (mà không biết làm sao cho hết hả giận; khi mà miếng ăn rỏ ràng đã chắc mẫm bỏ vào miệng lại bổng dưng biến mất một cách kỳ lạ ) vào hết tất cả những ai đang có mặt ở đó. Và sau cùng đành hằn học bỏ đi vì biết có xớ rớ ở lại đó cũng không còn có thể nào đóng phim chôm chỉa được nữa. Lời người xưa bao giờ cũng đúng:
“Miếng ăn là miếng tồi tàn
Mất ăn thì phải lộn gan lên đầu“
(ca dao Việt Nam)
Theo như lời anh Nguyễn Thanh Vân (người đã trở về để kết hợp cùng một số anh em còn kẹt lại ở trong nước như HQ Tr/Úy Nguyễn Đức Lợi…để rải truyền đơn kêu gọi người dân cùng đứng lên lật đổ bạo quyền CSVN, và dự định đặt chất nổ ở Ủy Ban Nhân Dân thành Hồ; nhưng sự việc không thành, tất cả các anh đều bị bắt và bị giam giữ thêm 7, 8 năm nữa, cộng với 6, 7 năm tù cải tạo ngoài Bắc với tôi và Lê Tuấn, Nhà thơ Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực… tổng cộng mỗi người 14, 15 năm tù CS).
Hiện giờ các anh Lợi, Vân đang ờ Nam Cali, cho biết: “anh có tham dự bửa tiệc đùi trâu phỏng tay trên của tên cán bộ Hòe, sau khi anh em bí mật chuyển được vô trại; nhưng nó dai quá, cắn không đứt, ăn như nhai cao su…Cũng đúng thôi, vì trâu già thì không dai sao được! Đã vậy, phải nấu nướng vội vàng trong điều kiện khó khăn vì sợ bọn vệ binh đi kiểm tra bắt gặp, vì sợ bị tụi “anten” báo cáo…,rồi thêm không đủ nước, củi lửa để nấu cho thật chín trong đêm tối trời trong lán (tiếng gọi chung cho buồng giam tù ở HLS) thì nó phải dai nhách thôi.
Tuy nhiên dám phổng tay trên, chơi qua mặt tụi nó và còn đem vô được trong trại và còn nấu mà không bị phát hiện thì quá hay rồi. Một chiến công thầm lặng trong tù ngục cũng đáng vinh danh, khen ngợi kính phục các anh ấy rồi. Bởi vì nếu chúng bắt được thì thử hỏi hậu quả của sự trả thù cho sự mất mặt này sẽ như thế nào?!
Dù sao thì chuyện này cũng là một sự kiện đáng nhớ và cũng nên được gọi là chiến tích nên ghi lại vào lịch sữ chống cộng của những anh em Quân Cán Chính VNCH trong ngục tù CS.
2/ Trâu Rượt Chém:
Cũng vì chuyện giết trâu bằng cách đập đầu này mà tôi xém chết trong tù. Số là, khi chúng chuyển anh em chúng tôi từ Yên Bái về giam giữ tại Trại 6 Xả Thanh Chương, Nghệ Tỉnh do công an cs quản lý, thì:
Cuối năm 1979, chúng cũng cho giết trâu ăn Tết bằng cách đập đầu. Con trâu bị đập đầu lúc nào, ở đâu tôi không biết; nhưng khi tôi đang lửng thửng đi về “sam” là buồng giam của mình; sau khi ghé thăm vài chiến hữu ở buồng giam khác nhân ngày Chủ Nhật được nghỉ lao động, thì một con trâu phóng ra, mắt đỏ ngầu, mồm mép nhỏ dãi và cái đầu thì gập xuống; chỉa hai cái xừng cong về phía trước, phóng về phía tôi trong cái thế như cảnh đấu bò của dân Tây Ban Nha.
Bất ngờ không biết làm gì hơn, tôi xoay người phóng chạy. Nhưng hai chân làm sao chạy thoát được con vật bốn chân, đang trong cơn đau đớn tức giận phóng tới với tất cả sự phẩn nộ; tôi thầm nghỉ phen này chắc chết rồi. Tuy nghỉ vậy, nhưng tôi vẫn bình tỉnh nghỉ cách làm sao thoát được sự rượt đuỗi của con trâu này.
Tôi nghe rõ tiếng anh em ở chung buồng giam với tôi la lớn :”chết thằng Thượng rôi… chết thằng Thượng rồi…” Thật sự lúc đó, ai cũng nghỉ là tôi sẽ bị con trâu điên này húc chết rôi; nếu không cũng đổ máu, loài ruột hay gảy tay chân; chính tôi cũng thầm nghỉ như vậy! Lo sợ lắm nhưng biết làm sao giờ? Tiếng phì phò thở gấp rút cộng với tiếng chân phóng rượt của nó; cứ càng ngày càng gần sát sau lưng tôi.
Chắc “Ơn trên” còn chưa muốn tôi, người cầm tinh con trâu lại bị chính con trâu giết chết trong tinh huống như thế này nên…bổng nhiên tôi thấy được cây cột bóng chuyền trong sân, ngay trrước mặt mình, ở đàng trước. Thế là tôi phóng về phía cây cột, lách vội ra sau lưng cây cột; một tiếng rầm lớn vang lên!! Tôi biết ngay con trâu húc phải cây cột và đang loay hoay gở cái sừng cong bị vướng cây cột để thoát ra.
Lợi dụng cơ hội này, tôi lạng mình lách xa con trâu và phóng chay thật nhanh về buồng giam của mình. Con trâu cũng nhanh thật, nó đuổi sát theo sau; khi anh em vừa đưa tay kéo được tôi phóng lên chổ nằm bằng ximăng của tầng dưới trong buồng giam thì con trâu cũng nhào vô tới, và nó chạy theo con đường giữa hai sàn nằm bằng ximăng; cái đầu gập xuống, hai cái sừng thì quét ủi dọc theo hai bên bệ nằm. Khi đụng tới vách cuối của buồng giam thì nó quay chạy ngược trở ra cũng cái thế quét hai cái sừng dọc theo hai bên sàn nằm như lúc vô. Anh em cùng nhau la lớn và lấy vật dụng cá nhân chọi cho nó sợ và chạy mau ra ngoài.
Thật may mắn không ai bị gì hết vì anh em đều đã nhảy lên sàn ximăng và đã ép sát mình vào vách buồng.
Tạ ơn Trời Phật! Nếu không chắc giờ đã không có Lê Anh Thượng cầm tinh con trâu kể chuyện trâu trong tù hầu quý vị đọc, cũng gọi là khuây khỏa trong mùa dịch bịnh, Năm mới, Tết đến; Tân Sửu 2021 này.
Trân trọng kính chào
H.O. 26, Lê Anh Thượng
*Trích trong Đoản Ký Tù “Cuộc Chiến Đấu Vẫn Còn Đang Tiếp Diễn” của Hoàng Mai Nhất, Lê Anh Thượng.
***
                              Tiễn Chuột Đón TrâuTien Chuot Don Trau LvhhaiJanuary 24, 2021
Lê Văn Hải
Năm Con Chuột phá hoại khủng khiếp, làm cho thế giới kinh hoàng sắp qua, hy vọng Năm Tân Sửu, năm Con Trâu, hiền hòa, khỏe mạnh sắp đến, với 2 đặc điểm nổi bật của Con Trâu: Sức khỏe: Khỏe như Trâu! Không còn sợ Covid, Cô Vy, Cô Ra gì nữa, mọi người luôn an bình sức khỏe.
Chăm chỉ cầy bừa: Công việc trở lại, kinh tế đi lên, sau một năm trì trệ bởi bịnh dịch. Đời sống vui vẻ, hạnh phúc tươi sáng trở lại.
Nào cùng nâng ly đón mừng Năm Mới với tràn trề hy vọng!

“…Muôn lòng xao xuyến duyên đời..
Muôn người hạnh phúc chan hòa,
Ước mơ hạnh phúc nơi nơi,
Hướng thanh bình dâng phơi phới!”

Vài nét thú vị về con Trâu:

Trâu là người bạn gắn với tuổi thơ của trẻ em, ở nông thôn bao đời nay, nhân năm Sửu bàn về con Trâu để chúng ta được hiểu thêm về nguồn gốc, ý nghĩa của loài vật năm mới này nhé.
Trong 12 con vật biểu tượng cho 1 giáp, thì Trâu là con vật “to con” nhất. Cũng có thể vì lý do như vậy, nên người dân ở “Đồ Sơn” gọi trâu là Ông Trâu, Cụ Trâu! Yêu thương hơn nữa là Anh Trâu!
Với nhà nông thì “con Trâu là đầu cơ nghiệp”, là con vật gần gũi nhất, “Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ăn no cỏ, Trâu cày với ta”. Ngay từ khi cắp sách tới trường chúng ta đều biết chuyện “Trí khôn của ta đây”, bài hát “Ai bảo chăn Trâu là khổ”, v.v…
Trâu, loài vật rất giỏi thích nghi
Con Trâu có khả năng thích nghi với môi trường rất tốt. Có sức chịu với bệnh tật cũng như có thể sống khỏe trong mọi điều kiện khó khăn và thích nghi tốt với khí hậu nóng ẩm.
Trâu có lớp da dày và đen bóng, với bộ lông mao bao phủ lấy toàn thân. Đuôi trâu dài và hay phe phẩy qua lại để đuổi ruồi muỗi. Hai tai dài và thính, giúp nó có thể nghe được mọi thứ. Tuy nhiên không thích nghe nhạc! (Đờn gảy tai Trâu!) Người không biết xấu hổ, bộ mặt có làn da dầy… như da Trâu!
Động vật nhai lại
Thức ăn của con trâu chủ yếu là cỏ trên các cánh đồng, nơi đâu cũng có, hay là các cây cỏ khô như cây lạc, cây lúa, nuôi Trâu, chẳng phải tốn gì cả, chỉ mất công chăn.
Con Trâu là loài động vật dạ dày có 4 túi, là loài động vật nhai lại, nó không có hàm răng trên. Điều này có thể lý giải vì sao Trâu phải nhai lại thức ăn. Mà chúng ta thường nghe trong câu chuyện cổ tích Việt Nam: “Trí Khôn Của Ta Đây”.
Động vật đơn thai (sinh chỉ một con)
Năm con Chuột sắp qua, bàn về con Chuột ta biết rằng Chuột đẻ rất nhiều, nhưng Trâu lại ngược lại. Mỗi năm trâu chỉ đẻ từ 1 đến 2 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Thông thường Trâu cái đẻ 3 năm 2 lứa. Trâu mẹ cũng nuôi con bằng sữa của mình. Sức sản xuất sữa của Trâu cái rất thấp, chỉ đủ cho con bú. Bởi thế, chẳng bao giờ có bán sữa Trâu trên thị trường. Nhưng hơi ngược lại, con Chim không có sữa, sao lại có sữa… con Chim!
Trâu con được gọi là Nghé, khi mới sinh ra khoảng mấy giờ, Nghé con đã có thể đứng thẳng. Vài ngày sau Nghé con có thể mở mắt và đi theo Trâu mẹ.
Nghé con lớn rất nhanh, Nghé sinh ra chưa có sừng. Khoảng một thời gian sau sừng của Nghé con mới nhú dần ra.
Tốc độ sinh trưởng của loài Trâu phải tùy thuộc vào giống nòi, chế độ nuôi dưỡng cũng như điều kiện chăm sóc.
Cơ thể Trâu rất lớn, kèm theo 4 cặp chân mạnh khỏe. Điều đó giúp chúng có sức mạnh để giúp những người nông dân cày cấy. Chúng có tư thế ngủ rất là lạ, khi ngủ 2 chân trước gập vào trong, để đầu ghé lên ngủ.
Năm Tân Sửu 2021, đây năm “Con Trâu Vàng!”

Theo các nhà tướng số, năm Âm lịch 2021 có mốc thời gian Dương lịch là từ ngày 12/02/2021 đến ngày 31/01/2022. Xuất phát từ quan điểm tính ngũ hành, thiên can địa chi trên, thì năm Tân Sửu 2021, có can Tân thuộc hành Kim (Vàng), mệnh Thổ ứng với màu Vàng nên được xem là năm Trâu Vàng! Mọi điều đều tốt đẹp, từ sức khỏe, công danh sự nghiệp, gia đình hạnh phúc, óng ánh, lên hương, chiếu sáng…như Vàng! 18 ka ra!

Nghe bàn may mắn năm mới là khoái rồi!

Chúc Mừng Năm Mới Tân Sửu 2021.
LVHải
***
                  Chuyện “Điên Nặng” ở Texas: Vì Đâu Nên Nỗi?Ng Ngoc Hoa                                                 Nguyễn văn Hoa
Sau ngày 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, tôi khấp khởi mừng thầm vì năm Canh Tý – năm tuổi của tôi – sắp hết mà chưa có điều gì xui xẻo lớn xảy đến. Không dè đến đêm 27 và 28 tháng Chạp, trời Austin (Texas) trở mưa lớn, và nhiệt độ tụt xuống đến 20° Fahrenheit (khoảng ­7° Celsius); và sáng hôm sau, 29 tháng Chạp, khoảng 11 giờ sáng nhà tôi bị cúp điện. Điện nhà tôi do thành phố Austin cung cấp dưới cái tên nghe rất kêu là “Austin Energy.” Nghĩ trong đầu là không bao lâu sẽ có điện trở lại, vợ chồng tôi hồn nhiên ăn cơm trưa dưới ánh nến (mua dùng cúng Tết), và rồi kiên nhẫn ăn tối và bực bội cúng giao thừa cũng dưới ánh nến. Đồng thời, chúng tôi lạnh cóng vì không có điện thì máy sưởi dùng động cơ điện thổi hơi ấm ra ngoài không chạy, đành phải mở lò gas nấu ăn lên để giữ ấm một phần nào. Bước sang năm Tân Sửu lạnh lẽo trong bóng tối, không có máy sưởi ấm, không có Internet, không ti-vi tin tức, và cạn pin điện thoại di động, chúng tôi vào giường buổi tối với hai ba lớp quần áo dày cộm.
Theo lời khuyên của thành phố, để giữ ống nước khỏi đóng băng, chúng tôi để tất cả các vòi nước trong nhà nhỏ giọt suốt ngày đêm. Mấy ngày đầu năm mới, trời Austin lạnh kinh hồn, hai đêm liền nhiệt độ tụt xuống đến 5 và 6°F (khoảng ­15°C), và tuyết rơi liên miên chồng chất đến 10–12-inch (khoảng 0.3 m), phủ lấp mái nhà và đường đi. Ở Austin, hai điều kiện thời tiết hà khắc này chưa bao giờ xảy ra cùng một lúc. Trong mấy ngày kế tiếp, nhiệt độ nằm lì dưới nhiệt độ đóng băng 32°F, chúng tôi bị “cầm tù” vì đường sá đầy tuyết và nước đá, không đi lại được, và chỉ có cách “tử thủ” và tìm cách sống còn trong nhà mình. Nhờ để nước nhỏ giọt, ống nước lạnh từ ống nước chính của thành phố vào nhà không bị đóng băng, nhưng nhiệt độ quá thấp khiến cho ống nước nóng chạy trong tường từ máy nước nóng vào nhà kém may mắn hơn, bị đóng băng (và bị vỡ vì nước đóng băng thì tăng thể tích); vậy là chúng tôi mất nước nóng.2mat Nuoc Nong1mat Nuoc Nong

Sau hơn một tuần mất điện, chúng tôi có điện lại tối mồng 7 Tết. Trước đó hai ngày, lúc trời ấm lại bình thường, ống nước nóng rã băng và phun nước ào ào từ trong tường ra ngoài, và chúng tôi phải gọi người khóa nước từ ống dẫn chính của thành phố và như thế hoàn toàn mất . . . nước.
Hôm nay, ngày mồng 10 Tết, chúng tôi đang chờ thợ ống nước tới sửa. Từ năm cũ đến nay, vì lúc đầu thiếu ánh sáng và sau đó thì mất nước, hàng ngày chúng tôi nấu nước nóng và dùng khăn mặt lau người; đó là phương pháp “tắm khô” tôi từng dùng thời còn trẻ bỏ nhà đi bụi đời. Vẫn cố gắng nấu ăn (vì không thể ra ngoài) nhưng khi rửa chén và nồi niêu soong chảo phải dùng phương pháp rửa tô của các bà bán bún bò gánh ngày xưa ở Huế: chỉ một thau nước nhỏ và cái khăn lau mà các bà “rửa” hết tô này sang tô khác suốt ngày. Ngày nay, chúng tôi “tiến bộ” hơn vì có các cuộn paper towel rất tốt và dễ dùng. Và phương pháp cổ điển này sẽ còn được dùng ít nhất là ba, bốn ngày nữa.
Thực ra, trong tuần lễ “mất điện” đó, điện có trở lại vài ba lần, nhưng lần nào cũng chập chờn khoảng 10 hay 15 phút rồi biến mất. Lần điện tái xuất giang hồ lâu nhất là khoảng nửa tiếng đồng hồ trước nửa đêm mồng 4 Tết. Sau đó, tôi nghe tin tức nói ERCOT (Electric Reliability Council of Texas) lúc đó đã ra lệnh cho Austin Energy và các công ty điện lực ở Texas cúp điện luân phiên. ERCOT là cơ quan điều hành hệ thống điện và chỉ huy các công ty điện lực trong tiểu bang.
Cúp điện luân phiên là một cách giải quyết vấn đề thiếu điện; công ty điện lực chia vùng phục vụ thành từng khu, cho mỗi khu có điện 45 phút rồi cúp đi, và đóng điện cung cấp cho khu khác. Không may cuộc cúp điện luân phiên thất bại ê chề và khiến cho hơn 40 phần trăm khách hàng toàn tiểu bang bị mất điện tuốt luốt. ERCOT cho biết, lúc đó nếu không ngưng kịp thời, chỉ trong vòng vài phút hay vài giây là tai ương xảy đến: toàn thể hệ thống điện Texas sẽ sụp đổ hoàn toàn, và sẽ cần vài tháng mới có thể phục hồi. Về mặt kỹ thuật, các viên chức có trách nhiệm trong việc quyết định và thi hành công tác cúp điện luân phiên này xứng đáng được thưởng huy chương vàng về sự . . . bất tài.
Vì Đâu Nên Nỗi?
Là một kỹ sư điện hồi hưu, chúng tôi đã từng làm việc gần 40 năm trong ngành điện lực Hoa Kỳ, trong đó khoảng 13 năm là hội viên của Reliability Assessment Subcommittee (RAS) là tiểu ban có nhiệm vụ nghiên cứu, tiên liệu, và tìm cách ngăn ngừa những vụ cúp điện rộng lớn ở Bắc Mỹ, tương tự như vụ cúp điện Texas trong tuần lễ vừa qua. RAS là một ủy ban thuộc North American Electric Reliability Council (NERC), NERC là cơ quan tầm Bắc Mỹ chỉ huy và bao gồm các cơ quan như ERCOT. Theo lời yêu cầu của anh bạn trẻ Nguyễn Đình Hiếu đang biên tập và trình bày cho Nguyệt san KBC, chúng tôi ghi lại dưới đây một số cảm nghĩ tại sao “dân Texas phải gánh chịu những ngày ‘thảm thương’ như thế. Lỗi tại ai hay lỗi tại . . . Trời?” (nguyên văn thư của Hiếu).
Lỗi tại . . . Trời
Dĩ nhiên đổ lỗi cho ông Trời, hay “khoa học” hơn là đổ thừa cho hiện tượng “biến đổi khí hậu,” là cách giải thích dễ dàng và an toàn nhất. Mưa lạnh và tuyết rơi cộng thêm nhiệt độ cực kỳ (nói một cách tương đối) lạnh giá lúc đầu khiến cho các đường dây tải điện đến khách hàng bị đứt, khách hàng mất điện. Đồng thời, thời tiết giá lạnh làm cho các cơ quan điện lực thiếu khả năng cung cấp điện (“thiếu điện”), càng làm cho việc phục hồi điện cho khách hàng khó khăn và trì trệ.
Nước mưa và tuyết tan thành nước đọng trên dây truyền điện, gặp lạnh đông thành đá, và khiến cho dây nặng quá sức, bị đứt ra rơi xuống, và không thể tải điện từ nhà máy đến người tiêu thụ. Texas lại có rất nhiều cây cối; nước đọng trên lá và cành cây khiến cành cây trĩu nặng, gãy lìa ra khỏi thân cây, và hoặc là rơi đè lên nối tắt hoặc là kéo đứt các dây phân phối dẫn điện vào nhà khách hàng. Tóm lại, dây điện đứt là do thời tiết ông Trời gây ra, người đành ngậm đắng nuốt cay mà khó có thể làm gì được.
Nhưng tại sao thiếu điện? Trong một số năm gần đây, do chính sách của chính phủ và khuynh hướng của quần chúng cổ võ việc bảo vệ môi sinh và ngăn ngừa hiện tượng sưởi ấm toàn cầu, Texas cũng như nhiều tiểu bang khác đã thiết trí nhiều nhà máy phát điện dùng năng lượng gió cũng như khai thác triệt để năng lượng mặt trời. Cả hai loại “nhiên liệu” tái tạo này có sẵn trong thiên nhiên, người ta chỉ tốn tiền xây nhà máy và dụng cụ, sau đó dùng “miễn phí.” Austin Energy lôi cuốn khách hàng tư gia thiết trí các tấm pin quang điện trên mái nhà để giảm bớt nhu cầu dùng điện, và do đó giảm nhu cầu xây cất nhà máy phát điện, bằng cách tặng tiền mặt (gọi là “rebate”) cho khách hàng giảm bớt chi phí. Thí dụ, các tấm pin quang điện giá $25,000, Austin Energy có thể tặng cho khách hàng $10,000 tiền mặt. Khách hàng còn có thể được miễn thuế lợi tức một phần (40 phần trăm chẳng hạn) của chi phí $15,000 còn lại. Từ các chính trị gia đến công ty điện lực và khách hàng, ai nấy đều thơ thới hân hoan, vờ quên mất rằng sẽ có một lúc nào đó gió không thổi và mặt trời không hiện ra, lấy điện đâu ra để khách hàng dùng và có được những tiện nghi của đời sống văn minh?
“Lúc nào đó” đã xảy ra. Trời mưa lạnh và tuyết rơi tan thành nước và đông đá trên cánh quạt của các trụ phát điện dùng năng lượng gió, bão tuyết dữ với gió thổi mạnh có thể bẻ gãy các cánh quạt này, và các trụ phát điện phải ngưng hoạt động. Năng lượng gió trở thành vô dụng. Tuyết và mây mù che khuất mặt trời, dân Texas đành hôn chia tay với năng lượng mặt trời; nhu cầu dùng điện tưởng là đã giảm nay lại càng gia tăng hơn vì trời lạnh giá và thiếu ánh sáng mặt trời. Ôi thôi, thế là anh em ta cùng nhau hô lên là thiếu điện.
Lỗi tại . . . Người
Theo ý kiến thô thiển của chúng tôi, đổ lỗi “thiếu điện” cho ông Trời thì quả là lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Nhà nghiên cứu kế hoạch điện lực luôn luôn tâm niệm công ty điện lực có “nghĩa vụ phụng sự” (obligation to serve) khách hàng trong mọi trường hợp. Ở một cửa hàng bách hóa, nếu khách hàng đến mua một đôi giày mà cửa hàng không có, khách phải ra về hay tìm mua ở cửa hàng khác. Công ty điện lực không thể làm như thế, bất cứ lúc nào khách hàng bật đèn lên hay cắm một dụng cụ vào ổ điện, khách mong đợi đèn đỏ lên hay dụng cụ hoạt động ngay lập tức.
Để thực hiện sứ mạng của mình, công ty điện lực phân biệt hai loại khả năng của hệ thống phát điện: Một là “năng lượng” (energy) tương tự lượng kilowatt-giờ công ty điện lực đọc đồng hồ tính tiền khách hàng tư gia. Hai là “khả năng cung cấp điện” (capability) là công suất điện có thể cung cấp bất cứ lúc nào khách hàng cần tới. Trước đây, khả năng “được công nhận” (accredited) của các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo bị quy là rất thấp. Thí dụ, căn cứ theo thống kê về hoạt động thực sự của nhà máy phát điện dùng gió, người ta chỉ công nhận khả năng của chúng khoảng 6-10 phần trăm, và các nguồn điện mặt trời khoảng 3-5 phần trăm. Ngoài ra, NERC và các cơ quan như ERCOT còn đòi hỏi mỗi công ty điện lực phải có đủ khả năng cung cấp điện cho khách hàng ở thời điểm dùng điện cao nhất trong năm, cộng thêm “số dư dự trữ” (reserve margin) thường là 15-18 phần trăm nhu cầu tối đa của khách hàng. Như thế, dù “có chuyện gì xảy ra,” công ty điện lực vẫn đủ khả năng đối phó với tình thế bất trắc.
Trong những năm gần đây, do chính sách của chính phủ, các yếu tố kinh tế, và tâm lý quần chúng, nguồn điện dùng năng lượng tái tạo trở thành những mặt hàng quý giá. Khả năng được công nhận của nhà máy gió được nâng lên đến 60-80 phần trăm, năng lượng mặt trời đến 30-50 phần trăm. Song song với sự “sáng tạo” ra các khả năng cung cấp điện ma, người ta không còn đòi hỏi công ty điện lực có thêm số dư dự trữ, với lý do các hệ thống điện nối liền với nhau và có thể giúp đỡ lẫn nhau khi cần. Họ vờ quên mất rằng khi thời tiết khắc nghiệt xảy đến trong một diện tích rộng lớn như cơn bão lạnh Texas vừa qua, công ty nào cũng bị ảnh hưởng, cũng bị thiếu điện, và không thể trợ giúp công ty khác. Không còn tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn (chứa lúa để ngừa đói, để dành áo phòng khi lạnh) như cái thuở không mấy xa xưa ấy.
Xem ra, lý do khiến Texas thiếu điện và nạn cúp điện kéo dài hơn mười ngày là lỗi tại . . . người. “Người” ở đây có thể hiểu là các chính trị gia hay các nhà quản trị điện lực ở cấp cao nhất; từ năm, mười, hay mười lăm năm nay, họ đã dần dần tạo nên những chính sách và đường lối đưa lại hậu quả chẳng đặng đừng như đã thấy. Ta cũng có thể đổ lỗi cho các kỹ sư thiếu khả năng tìm ra bột để khuấy thành hồ. Nhưng trong một quốc gia dân chủ như Hoa kỳ, trách nhiệm tối hậu là của người dân. Họ đã bỏ phiếu bầu người lãnh đạo, đặt viên chức có thẩm quyền vào những chức vụ quyết định, và chấp thuận các chính sách đề ra. Nếu chưa kể họ đã tận hưởng những lợi lộc phát sinh từ các chính sách đó.
Tôi đã thấy rõ và tiên liệu những gì sẽ xảy đến, và dĩ nhiên không đồng ý với những chủ trương “cấp tiến” đó. Nhưng tôi là thiểu số. Vì vậy mà phe tôi bị thất cử.
Nguyễn văn Hoa
Ngày 21 tháng Hai, 2021
***
ĐÊM XUÂN NÀO
TÔI ĐẾN THĂM ANH

DTDB

Quê Nam mưa nắng hai mùa. Tiết trời vào mùa xuân không nói làm gì, dù mùa hạ, thu, hay mùa đông cũng không ảnh hưởng đến mùa màng, cỏ cây hoa lá. Quanh nhà những cây ăn trái lá vẫn một màu xanh um phơi phới nghinh đón nắng hè gay gắt. Thu có bầu trời ảm đạm, nước ngập tràn đồng tràn sá, có từng cơn gió héo hắt tỉ tê, có mưa sụt sùi đổ lệ. Mùa đông lạnh lẽo làm da mốc cời, xuống ruộng, hoặc sáng sớm ngồi co ro hong nắng bị con bồ mắc (cùng loại muỗi nhưng nhỏ cỡ hột mè) cắn ngứa trời đất, nổi mận đỏ rồi tự lặn chớ không làm độc.
Hôm nay vào cuối mùa đông, nhưng bầu trời quang đãng. Từng cơn gió nhẹ luồn lách thổi qua lay động những nhánh bưởi trái chín vàng no nưởng lồ lộ chen chúc trong cành lá xanh. Cây cam tàu, cây quít đường nhà hàng xóm rám nắng, trái một bên ửng hồng bên kia màu còn luông luốt nhàn nhạt vàng xanh. Cây lựu ở mái hiên hông nhà chín đỏ, trái nặng trĩu quằn cành khẳng khiu, phải dùng nạng chống đỡ cho không bị gãy.
Mèn ơi, còn những cây mận được trồng bên bờ rạch tàn lá sum sê nữa. Cây mận kiếng sen trái lớn bằng nắm tay, cao, mỏng cơm, giòn, ngọt lạt. Mận nầy có màu đỏ thắm tươi để cúng chưng trên bàn thờ trong mấy ngày Tết đẹp lắm. Mận hồng đào phơn phớt hồng, có loại trái lùn, tròn, lớn không bằng mận kiếng sen nhưng dầy cơm, hột thường nhỏ xíu như hột tiêu, ăn ngọt thanh thao, chưng lâu ngày da không bị nhăn nheo như mận kiếng sen. Mận da người cậu Út của Tú Huệ mua giống từ miệt Nha Mân, Sa Đéc, mận nầy thường có hình giống như cái nón (fishing man) người Tàu đội khi câu cá, làm ruộng… Mận lúc nhỏ còn non màu xanh nhạt, khi lớn trái trổ màu trắng ngà ngà. Trái mận càng chín thì màu ngà càng sặm sòi hơn. Lúc đó mận da người ăn giòn và ngọt lịm như ăn cục đường. Còn mận bánh bao lấy giống từ Gò Công. Vì còn tơ và được trồng bên mé nước nên trái mận bánh bao lớn nhứt trong các loại mận nằm bên cạnh. Mận bánh bao màu trắng phơi phới, da mỏng non nhẫn bóng láng như da mặt các thiếu nữ ở tuổi tròn trăng (ví dụ dí dỏm của con bạn Tú Huệ).
Đó là chưa kể đến các loại cây ăn trái khác như cây xoài cát đen chiết nhánh mới có trái chiếng đầu mùa là đà mặt đất. Da mốc trắng phấn, no tròn lủng lẳng trên nhánh ở trước sân nhà. Chuối cau, chuối xiêm, chuối già quá lứa hườm hườm chín bói mấy nải ở trên, đã bị chim rỉa. Sau nhà còn trồng nhiều loại cây khác như mãng cầu, măng cụt, khế, ổi, muồng quân… Chạy dài ra tận mí vườn giáp ranh ruộng lúa của người khác. Còn bông vạn thọ, cúc, hồng, nở ngày, đỗ quyên, mười giờ, cẩm chướng, mào gà… Được trồng trên khoảng đất rộng, trong vòng rào hai hàng gạch tiểu chất lên nhau theo hình tròn cho phân biệt ở bàn thờ ông Thiên trước cửa lớn của nhà. Gần chòm mả thì có cây bông sứ, bông lài, bông điệp, bông trang… và mấy cây mai hoa nở vàng ối cả khu vườn… Mỗi cây có một sắc thái riêng biệt phơi phới dưới nắng gió xuân hồng thoảng hương ngào ngạt theo ngọn gió đùa. Cảnh sắc đó chỉ thấy ở miền Nam nước Việt có nhiều kinh rạch sông ngòi cho nước ngọt quanh năm… nước ngọt muôn đời.
Hàng rào trước nhà trồng bằng cây huỳnh anh có bông vàng nở chen lá mơn mỡn chạy từ ranh đất bên nầy đến ranh đất bên kia. Dọc lằn ranh hai bên nhà giáp với đất của chủ khác, được trồng cây bông bụp màu hồng lợt, hồng sặm, vàn nghệ, có lá xanh mướt rượt như thoa dầu, thoa mỡ. Cậu Út trồng cây tươi làm hàng rào thay vì rào bằng tre khô, bằng cây vuốt nhọn với cột xi-măng, hoặc kéo kẽm gai, thì nó sẽ mất đi phần trang nhã và thanh lịch cho ngôi nhà hương hỏa cổ kính cả mấy đời ông cha để lại cho cậu.
Các chậu sành đặt có hàng có lối trước sân, cậu còn trồng mai chiếu thủy, cây bùm sụm được cậu khéo tay uốn thành hình cá hóa long, kỳ lân, rồng, phụng… Những chậu kiểng nầy được chăm sóc rất chu đáo. Chứng tỏ cậu Út của Tú Huệ là người có óc sáng tạo, mỹ thuật, và là người thích hoa, kiểng, cảnh vật thiên nhiên.
Ở trên sông, những chiếc ghe chở khẳm lé đé trên mặt nước đầy ắp các loại trái cây trong cần xé, những cành mai được bó lại từng bó lớn, cá tôm rộng trong những thùng thiết vuông nước và nắp đậy, gà vịt cột lại thành chùm kêu la oang oác trong khoang của những chiếc ghe chèo, xuồng bơi, tam bản, ghe có gắn máy đuôi tôm, nườm nượp đổ về bến xe sát bờ sông dưới chợ. Nếu ở vào thời Cộng Hòa trước đây, vào những ngày cận Tết như vầy, chắc chắn náo nhiệt hơn gấp trăm, gấp ngàn lần bây giờ!
Ai ra đứng ngoài đường trước cổng nhà cậu Út của Tú Huệ nhìn xuống, sẽ thấy rõ những chiếc xe hàng lớn đã đậu sẵn ở bến chờ bạn hàng đem hàng hóa đến, đưa lên xe và tranh thủ trong đêm nay phải chở về các chợ tỉnh, chợ thành, nhứt là các chợ ở Sài Gòn bán vào 29, và 30 tháng Chạp. Để khách mua về cúng ông bà và chưng trong nhà 3 ngày Tết. Đó là những ngày lễ lớn nhứt của dân tộc miền Nam, của nước Việt Nam, của người Việt Nam không Cộng Sản.
Mấy ngày cuối năm ở thôn quê như bừng lên sức sống, mặc dù bọn giặc Cộng chiếm trọn lãnh thổ Việt Nam đã mấy năm rồi. Và dân miền Nam cũng đã được nếm cái Tết đầu tiên xác xơ, hốc hác, hãi hùng sau khi bọn chúng đày quân, dân, cán, chánh… đại đa số là thành phần trí thức của miền Nam vô trại cải tạo tẩy não, để trả thù… Cùng những lần cướp của, giết người đại huy mô bằng thủ đoạn đổi tiền và lùa dân đi kinh tế mới trải dài trên miền Nam…
Nước Việt Nam cả ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, cả trăm năm bị đô hộ bởi giặc Tây. Nhưng sự trả thù của ngoại lai lên dân tộc Việt Nam vẫn chưa thâm sâu tàn độc bằng giặc Cộng (Việt Cộng) đã trả thù dân miền Nam cùng chủng tộc, cùng giống giồng với chính họ… Vì nỗi bức bách quá độ của lũ giặc vô thần, nên dân Việt Nam mới ùn ùn vượt biên… bỏ lại tất cả, tìm đủ mọi phương cách để tìm tự do xa rời người Cộng Sản và chế độ Cộng Sản.

Tịnh An và Tú Huệ là bạn thân lúc còn học lớp ba, lớp nhì ở trường Tiểu học rồi Trung học Cần Thơ. Hai cô được sanh ra và lớn lên ở miền Hậu Giang. Nơi đất đai trù phú có dòng Cửu Long uốn quanh cho nước ngọt muôn đời. Có nắng đẹp, có gió hiền, có cây lành, trái ngọt. Đất đai trù phú, khí khậu ôn hòa tươi tốt đã tạo cho dân cư tánh tình đôn hậu, bình dị, hiền hòa, chân chất của Nam Kỳ Lục Tỉnh, có vùng đất còn được mệnh danh là Tây Đô. Nơi đây chỉ khác Hòn Ngọc Viễn Đông (Sài Gòn) ồn ào náo nhiệt, và nơi thâm nghiêm bí sử có đền đài cung điện nguy nga của vua chúa ở đất Thần Kinh Huế mà thôi.
Tú Huệ mồ côi cha sống hẩm hút với mẹ và hai người anh. Mẹ cô có nghề thêu, làm khuy nút áo, đơm nút áo dài cho các tiệm may lớn nổi tiếng ở chợ Cần Thơ, cộng vào tiền lương khiêm tốn tử tuất của chồng ba tháng lãnh một lần (ông Phán kho bạc). Bà cần kiệm, an phận nuôi nấng ba đứa con, có cuộc sống êm đềm trong tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Trời không phụ lòng một quả phụ cần mẫn, sống theo đạo Thánh Hiền, ăn ngay ở thẳng. Nên hai con lớn là Tú Nghĩa, Tú Tâm cùng cô gái út Tú Huệ của bà học ở trường Trung học Công lập Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ).
Khi hai đứa con lớn của bà đậu Tú tài hai thì theo tiếng gọi của quê hương, chúng xin vào binh chủng Không quân. Sau thời gian thụ huấn cơ bản quân sự ở trường Không quân trong nước xong, thì hai anh em được ra nước Mỹ để học về ngành chuyên môn… Năm đó Tú Huệ và Tịnh An đang học lớp Đệ tứ (năm cuối của Trung học Đệ nhất cắp).
Nhà của Tịnh An ở cuối đường Phan Thanh Giản gần Cầu Củi. Nhà của Tú Huệ kết Ty Cảnh sát, gần cầu Cả Đài, xéo xéo cửa trường Đoàn Thị Điểm. Mỗi buổi sáng Tú Huệ thường đón bạn trước cổng nhà để hai đứa tình tang đi vào trường bởi nhà chỉ cách đường Ngô Quyền thì tới trường liền hà. Từ cầu Cả Đài đi về hướng ngã tư đại lộ Hòa Bình, qua Ty Cảnh sát đi thêm mấy căn nhà dân sự nữa thì đến nhà cô ngay.
Mỗi ngày đi học, Tịnh An đều đi ngang qua cầu Cả Đài. Nơi đây có những hàng quán ăn, giải khát… từ sáng cho đến tối đông đầy khách. Những xạp bán xôi, bán chè, bán cháo… về đêm trong quán cà-phê, quán sinh tố có máy hát những bài nhạc hiện đại, du dương trử tình rất thích hợp cho giới trẻ nhứt là học sinh, sinh viên, và lính… Mỗi ngày nhứt là vào sáng sớm trước giờ làm việc trong các hàng quán có bán hủ tíu, mì, phở, cơm tấm, bánh mì xíu mại, sương sa, hột lựu… Tiếng rao mời, mùi thức ăn, nước uống tỏa bay… Đi ngang qua đây, cho dù không đói nhưng không ai tránh khỏi cái bụng, rồi cái miệng bị quyến rủ háo hức thèm ăn món nọ món kia…
Tịnh An bấm bụng lờ đi, vì nhớ lời Tú Huệ dặn lúc tan trường hôm qua. Cô ta vui vẻ bảo với bạn:
– Nầy, chiều nay về tao sẽ lãnh lương. Là tin mới, mầy giựt mình phải không Tịnh An? Đó là tiền bánh lần đầu tiên của hai ông anh tao phát, từ đây về sau (mỗi tháng một lần). Bây giờ hai ảnh oai phong lắm mầy ơi. Họ đi lính nên được lãnh lương hàng tháng rồi. Mầy nhớ ngày mai đi học sớm hơn mọi ngày nghen, để hai đứa mình tảo thanh các gánh hàng, các xe bán cốc, ổi, mực nướng… trước cửa trường cho bỏ ghét.
Nói đến đó, như để trấn an bạn. Tú Huệ tiếp:
– Mầy không phải lo, lần nầy tao bao không hạn chế, sẽ cho mầy ăn thả giàn, cho mầy ăn ngộp thở luôn!
Tịnh An đánh vào vai bạn, cười ngất:
– Đừng có làm tàng! Mầy cũng biết tao nổi tiếng ăn hàng thầy chạy và ăn nhiều như Tạ Hầu Đôn. Vậy mầy nhắm có bao nổi tao không đó?
Nhướng nhường đôi chân mài liễu, miệng Tú Huệ cười lúm đồng tiền và tươi như hoa buổi sáng:
– Lo gì mậy? Hai ông anh tao tài trợ mà! Hai ổng còn nài nỉ hôm nào để hai ổng đi theo bọn mình ăn hàng! Trời ơi, sức mấy, còn khuya à… bổn cô nương gạt ngang, mầy nghĩ coi kéo thêm hai cái rờ mọt đó thì làm sao bọn mình tự nhiên mà ăn phải không?
Tịnh An cười đồng tình với bạn, rồi gật đầu lia lịa:
– Ờ, ờ hén… Thiệt mầy nói tầm phải quá đi thôi!
Tan trường, nữ sinh túa ra cổng ai rẽ đường về nhà nấy. Tú Huệ như sực nhớ chuyện gì, kéo lôi Tịnh An sang nhà mình.
Đứng trước nhà, cô gõ cửa gọi lớn:
– Má ơi, má ơi con về nè. Mở cửa đi, mở cửa đi má…
Bà Hai Hiền ra mở cửa cho con. Bà đang loay quay với cái khóa, miệng cười nhẹ mắng yêu:
– Con gái mà không nết na gì ráo. Bộ không sợ người ta cười sao mà cái miệng ào ào bài hãi vậy nà?
– Dạ chào bác Hai.
Chợt nghe thấy Tịnh An, bà ngẩng đầu lên tươi cười:
– Ụa, bộ có Tịnh An ghé qua chơi nữa hả? Vào nhà đi, ba má cháu có khỏe không? Lâu quá rồi bác không gặp… Cây trái bên vườn dạo nầy có huê lợi nhiều không, ba cháu vẫn ở bên đó chăm sóc chớ?
Tịnh An tự nhiên trả lời:
– Dạ thưa bác ba má cháu vẫn khỏe. Ba cháu thường thì ở bên vườn, thỉnh thoảng mới về bên nầy ban ngày thôi chớ không ở lại đêm. Vì ông sợ không có người lớn, bọn con nít chiều tối thường hay lẻn vào phá hái trái non chọi phá lung tung. Còn má cháu gần như ngày nào cũng về bển để mua sắm những vật dụng cần thiết cho ba cháu, và để bán hoa quả của vườn cho mối lái đó, thưa bác!
Bà Hai tươi cười:
– Vườn ở Cái Vồn, cũng không xa cho lắm. Chỉ qua bắc, rồi đi xe lam hoặc đi bộ một đổi thì tới ngay. Như vậy dù một cảnh hai quê cũng không mấy trở ngại làm khó cho sự tháo vác của người phụ nữ như má cháu. Tịnh An ăn cơm với Tú Huệ nghe…
– Dạ cảm ơn bác, cháu phải về ngay, để coi nhà cho anh cháu đi học thêm sinh ngữ ở Hội Việt Mỹ…
Tịnh An nói chuyện với bà Hiền thì Tú Huệ chạy băng vào buồng mình, xách ra một túi nhỏ đưa cho bạn. Cô tươi vui bảo:
– Mầy mở ra xem đi Tịnh An. Tuần rồi hai anh tao đi công tác ở Đà Lạt về, mua quà cho má tao, cho tao, và có cả phần của mầy nữa đó.
Tịnh An mỉm cười mắt ngời sáng, đưa tay nhận quà. Hai cô ngồi vào chiếc đi-văn rồi từ từ mở ra xem từng món một cười khúc khích khen, hay trề miệng méo qua méo lại chê anh mình của Tú Huệ.
Bà Hai Hiền mở cửa cho con thì trở lại ngồi vào vị trí của mình. Mặc dù hỏi thăm về ba má của Tịnh An nhưng tay bà thoăn thoắt thêu từng mũi chỉ trên mình hàng. Thỉnh thoảng bà dừng tay lại, mắt trìu mến nhìn Tịnh An. Bà cúi thấp đầu làm việc, nhưng tâm tư đang nghĩ suy: Đứa nhỏ nầy thật là lành gái. Nước da trắng hồng, dáng người cao ráo thanh cảnh, mặt, mũi, miệng vừa tầm trên khuôn mặt thanh tú đoan trang. Tánh tình lại đôn hậu, ăn nói dịu dàng lễ phép. Nếu nó được làm vợ một trong hai thằng con trai thì còn gì vui mừng hơn cho bà. Hai đứa con bà bây giờ đã lớn khôn, dựng vợ được rồi. Lương phạn của bọn chúng làm nuôi sống được vợ con. Có vợ có chồng lo lường đùm bọc lẫn nhau. Như vậy bà sẽ yên tâm và mãn nguyện lắm, dù sau nầy qua bên kia thế giới gặp chồng bà cũng không thẹn bổn phận làm vợ và làm mẹ của các con ông…
Nhưng khi nghĩ đến mấy đứa con thì bà phì cười. Hai cái thằng khỉ đó! Thằng lớn mỗi lần nói đến vợ con thì nó quầy quậy tìm đủ cớ bác ra. Thằng kế thì bảo:
– Má lo cho anh Hai trước rồi mới tới con. Nhưng thời buổi bây giờ sống độc thân khỏe hơn má ơi. Má đừng có kiếm vợ cho con, để tự con kiếm lấy rồi sẽ cho má biết. Má chỉ mấy cô má vừa ý, chớ con không bắc mắt chút nào thì làm sao mà cưới cho được?
Cái con tài lanh Tú Huệ, nghe thấy anh và mẹ nói cũng xen vào:
– Nè anh Hai anh Ba! Hai anh thiệt đẻ bọc điều mà hỏng biết. Nhà mình có lợi điểm cho hai anh là ở ngang trước trường nữ Trung học. Những buổi tan trường, lễ lộc… Ôi trước cổng trường dập dìu là kiều nữ của Tây Đô…như… như em vậy! Nếu có cô nào lọt mắt bù lạch ăn của hai anh thì phải lên tiếng, phải nói. Nhớ phải nói cho cô em gái tốt bụng nầy biết, em sẽ tìm hiểu và làm mai cho… Chỉ đòi công xơ xơ nửa năm lương tiền bánh thôi chớ không nhận đầu heo đâu. Cho nên hai anh keo kiết nổi tiếng, hãy ráng bấm bụng mở hầu bao chớ đừng có thắt gút thật kỹ đó nghen…
Nghe em gái xí xọn… Tú Nghĩa cười lớn:
– Thôi đi cô Tư! Cô là Thị Nở thì đúng hơn chớ kiều nữ gì? Bạn cô toàn là búng ra sữa không hà. Anh không muốn rước về để mẹ phải nấu cơm và đưa đi học đâu…
Tú Tâm cũng rống họng réo rắc như lên sáu câu vọng cổ:
– Cho tao xin hai chữ bình an đi! Bạn của mầy toàn là gấu, là chằng và ăn hàng xàm xạp như mầy, cưới về sẽ chết đời đẹp trai, hào hoa phong nhã của tao. Chồng lãnh lương đầu tháng, chỉ 4, 5 tây thì sạch bách… Tội nghiệp má còm lưng làm việc nuôi thêm miệng ăn nữa…
Tú Huệ không nhịn được, vừa cười ha hả vừa rược đánh hai anh mình:
– Đủ rồi nghen! Coi chừng mai mốt muốn quá mà mắc lời nói hôm nay, nên không dám nhờ con nhỏ nầy thì té hen ra ngoài. Rồi chịu không nổi vừa khóc vừa năn nỉ đưa tiền thì mất mặt bầu cua lắm lắm…
Nghĩ đến đó nhưng Tú Huệ đang ngồi săm soi mấy món quà với bạn. Bất chợt bắt gặp mẹ nhìn Tịnh An! Cho dù kín đáo thế nào bà cũng không làm sao qua cặp mắt nhạy bén và tinh ranh của cô con út nầy.
Cô cười mỉm chi cọp, lí lắc thì thầm nhỏ to bên tai bạn: «Ê Tịnh An, mầy xem kìa, coi bộ má tao chấm mầy cho một trong hai ông anh của tao rồi đó…». Nghe Tú Huệ nói, Tịnh An cảm thấy bẻn lẻn mắc cỡ. Cô lật đật gom những món quà bỏ vào túi rồi xin phép ra về.
Đưa Tịnh An ra cửa trở vào. Cô nghe mẹ càm ràm:
– Con đã nói gì, mà khiến cho Tịnh An không tự nhiên, phải mau mau ra về sớm như vậy?
Tú Huệ cười cầu tài, chối quanh:
– Con có nó gì đâu má? Nó về sớm để học bài đó mà…
Cô đi lại dở lồng bàn để kiếm gì ăn. Bà Hai Hiền tay vẫn thoan thoắt từng đường kim mũi chỉ trên vải, trên hàng từ mấy chục năm nay để nuôi sống gia đình. Ngoài trời hoàng hôn trải ánh sáng cuối ngày vàng úa lên vạn vật. Trên cây mận say trái ở hiên nhà bầy chim trao trảo líu lo gọi đàn rủ rê tìm trái chín. Gió lùa qua cửa sổ mát rượi, âm thanh đinh đon, đinh đon… của chiếc phong linh treo ngoài hiên nhà nghe êm tai và dễ chịu vô cùng.

Dáng mảnh mai thướt tha của Tịnh An đang thông thả đi trên đường ươm nắng sáng. Bỗng cô rảo chân đi lẹ hơn, vì cảm thấy ngại bởi có mấy nam sinh đến cổng trường Phan Thanh Giản của họ rồi mà không chịu quẹo vào, cứ lẻo đẻo theo sau cô to nhỏ nói cười…
Cảm ơn Trời Phật, nhờ cái giọng oang oác khó ưa như chim ác là của nhỏ Tú Huệ mà cô được cứu bồ:
– Nồi ơi, hôm qua tao đã dặn đi sớm rồi. Sao hôm nay mầy đến bình thường như mọi ngày vậy? Thôi lẹ lên, kẻo ổi cốc, xoài ghim đường chờ mình đó… Lẹ lên mầy ơi…
Đã nói trễ mà Tú Huệ còn đẫy mạnh bạn mình qua hàng quà bánh, thay vì quẹo vào cổng trường. Tịnh An chậm chạp nói:
– Hôm khác đi, hôm nay không đủ giờ.
– Không được, lẹ lên thì hãy còn kịp, 10 phút nữa lận.
Cặp mắt phượng của Tú Huệ quét nhanh qua các món trái chua, được ngâm đường và cam thảo, đựng trong các chậu kiếng trong vắt. Đôi mi dài cong chớp chớp bỗng dừng lại trên thau nhôm đựng tầm ruột. Lanh tay cô bóc một trái thảy vào miệng nhai giòn khưu khứu. Nước tầm ruột văn bắn vào tay áo của Tịnh An. Cô còn đang nhai thì bà bán hàng (vợ của chú Thại người Tàu nói tiếng Việt lơ lớ) lên tiếng:
– Sao nị ăn không hoài zdậy? Nị muốn mua bao nhiêu?
Tú Huệ chẳng nói chẳng rằng, chụp ngay miếng xoài ngâm đường cam thảo vàng tươi thuận tay phết luôn muối ớt cay nồng rồi đưa vào miệng nhai rào rạo. Vừa nuốt, cô với tay lấy thêm trái cốc phết muối cầm bên tay kia. Cô cười nguýt bà bán hàng con mắt có đuôi và hối bạn:
– Trời ơi, bà thiệt là nhỏ mọn quá đi! Thử có một trái mà cũng càm ràm. Tính tiền chung với miếng xoài và trái cốc đi. Ê, mầy ăn gì hãy lấy mau lên Tịnh An, đã nói trễ mà còn quàng rờ như bà già đi Âm phủ vậy?
Tịnh An háy bạn, chớp vội gói xí muội khô trên kệ, nhanh tay xé bao lấy để vào miệng một trái, bảo:
– Trả tiền đi. Ăn ngấu ăn nghiến như mầy tao sẽ bị sặc chết vì muối, vì ớt. Vả lại sáng nay tao chưa ăn lót lòng, mấy ngử chua cay… nầy nó cồn cào bụng tao sẽ hết học hành, để trưa tao mới ăn trả thù…
Miệng đang nhai ngồm ngoàm thì tiếng kẻng beng, beng… báo giờ học trò vào lớp, Tú Huệ lanh miệng:
– Ờ trưa cũng được. Vậy thì đi vô lẹ lên mầy…
Vẫn còn tiếc, Tú Huệ cắn vội miếng cốc rồi vứt que tre vào sọt rác. Cô hít hà ớt cay rồi lớn họng nói:
– Ngon ơi là ngon! Ăn như vậy mới ngon nhưng vẫn chưa đã…
Hai cô vừa đi vừa chạy vào đứng sau chót các bạn thì trên đầu hàng cô giáo ra lịnh di chuyển vào lớp.
Con Thu Nhi nhỏ giọng chọc quê:
– Tú Huệ hôm nay đẹp hết chỗ chê! Mắt mầy long lanh sáng ngời, mi như tươm dòng lệ mỏng, má ửng hồng, môi đỏ vì ớt cay quá xá phải không? Ngực áo mầy lấm tấm những giọt ngắn giọt dài màu vàng nghệ như rải bông của nước cam thảo ngâm xoài, ngâm cốc, ngâm tầm ruột chớ gì? Ông thầy Long khoái mầy ở chỗ đó! Đó đa!
Tú Huệ lấn đẩy rồi nạt nhỏ vào tai bạn:
– Xì, đi lẹ lên con điên! Ra chơi tao sẽ thanh toán mầy.
Vào lớp ai nấy ngồi chỗ mình, yên lặng hồi hợp vì thấy cô giáo dở số “Phong Thần” để gọi lên, trả bài:
Ngọt giọng Huế hơi nặng, cô Tích Lan gọi lớn:
– Hồng Tú Huệ!
Con nhỏ giựt mình đánh độp. Nãy giờ vào lớp cái mặt nó nhăn nhó vì bị ổi, xoài, tầm ruột hành làm cái bụng ê ẩm. Giờ lại khổ sở bị cô gọi lên trả bài, nên mặt mày bí xị như cái bị chín quai. Nhưng nó cố làm tĩnh, nở nụ cười tàn nhẫn đứng dậy, tay xách tập từ từ đi lên. Bạn bè trong lớp ai mà không biết cô nàng đó thông minh, học giỏi. Nhưng cũng nổi tiếng lười biếng nhứt lớp. Ấy vậy mà mỗi lần kết quả thi, điểm của nó đều đứng cao hơn Tịnh An và một số bạn khác.
Cô giáo Tích Lan không đẹp nhưng rất trẻ rất có duyên. Cô tân thời, ăn mặc áo dài dúng mốt, mang guốc cao gót, đế guốc gỏ vào nền lót gạch âm thanh dòn dả nhúng nhảy theo nhịp bước cô đi. Nhưng cô giáo nghiêm quá, nên mặt đẹp của cô có vẻ lạnh lùng, và tiếng nói rặt Huế nên rất khó nghe. Nhưng giọng cô như tiếng chim hót, êm đềm như tiếng chuông chùa Thiên Mụ, và ngọt ngào hiền lành dễ thương lửng lờ như dòng nước sông Hương.
– Đái Thị Thu Nhi, Ôn Thị Tịnh An! Lên bảng…
Quỉ thần thiên địa ơi! Con Thu Nhi đứng lên vừa đi vừa chạy lắn oán mắc tức cười! Lại bị cô giáo gọi tên, Tịnh An thoăn thoắt đi lên. Khi qua bàn con Ánh Hồng, còn nghe bà già còi Thúc Cu (Thu Cúc) cố tình nói lớn:. “Ê, tụi bây coi cái tướng lắc lư con tàu đi của nhỏ Tịnh An thấy ứa gan chưa…”
Ba cô đứng xớ rớ len lén liếc nhau, chớ không dám hé nửa lời! Họ chờ cô giáo cho biết là trả bài, làm bài, hay viết bài? Bỗng tiếng gõ cửa, bà Giám Thị bước vào. Hai người họ cùng ra ngoài cửa lớp. Mấy phút sau, cô Tích Lan bước vào bảo với đám học trò của mình:
– Ba đứa trở lại chỗ ngồi đi! Hôm nay cô có việc nhà phải về. Các em xếp sách vở, đừng làm ồn ào, xuống sân cỏ hay vào thư viện học bài, làm bài… Nhớ trở lại đúng giờ, để tiếp tục môn học của thầy khác. Trưởng lớp đâu? Hãy nhắc nhở các bạn giữ gìn trật tự…
Tú Huệ mắt sáng ngời và tươi cười như hoa mai dưới nắng xuân hồng, liếc Tịnh An nhỏ giọng thì thầm:
– Một hồi nữa tan học, tao sẽ ghé chợ mua nải chuối chín, ghé qua xe nước mía mua một ly lớn tồ bà dềnh về cúng ông Địa, ông Tà đã phù hộ nên hôm nay bọn mình mới qua trạm cô Tích Lan dễ dàng…
Tịnh An phì cười:
– Tự cổ chí kiêm tao chỉ biết người ta cúng ông tà, ông Địa bằng chuối chín, thuốc hút, rượu, trà, bánh, trái… chớ tao chưa hề nghe ai cúng nước mía cho ông Tà, ông Địa bao giờ. Mầy muốn uống thì mua uống, đừng có xạo để mượn cớ mà mang tội đó nghen mậy.
Tiếng chuông báo tan học vang vang. Hai cô cùng cười giòn như tiếng bể của thủy tinh và cùng nhau sắp tập vở vào cặp rồi bước ra khỏi lớp.
Ngoài trời gió mát rười rượi lay động mấy nhánh phượng đầy hoa tươi thắm. Ánh nắng rực rỡ thắp trên những hàng cây bên đường. Ở khu gia bịnh bên cạnh trường, giọng ngọt ngào từ chiếc Radio cô ca sĩ tài danh lanh lảnh hát bài “Nắng Đẹp Miền Nam” của nhạc sĩ Lam Phương:
“Đây trời bao la ánh nắng mai hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh/ Ta cùng chen vai đem tay góp sức tăng gia cho người người vui hòa/ Đường cày hôm nay lên tràn bông lúa mới ôi duyên dáng đồng ơi! Đến mai sẽ là ngày muôn hạt chín lả lơi mình ngắm nhau cười…/ … Khi người lính chiến đã đấu tranh hiến hoà bình cho Đồng Tháp Cà Mau/ Ta người nông thôn quên sương gió góp gian lao lo được mùa mong cầu/ Nhờ tình quân dân gây bao niềm thương ấm cúng non sông đón bình minh/ Gắng lên với ngày này ta cùng tưới đồng xanh rồi sống no lành…”

Được Ơn Trên đãi ngộ sống trong xã hội miền Nam tự do. Nhờ sự chăm sóc dạy dỗ của gia đình, nên các thanh niên, thiếu nữ thời đó sung sướng cắp sách đến trường với tâm hồn trong trắng, với những ước mơ, những hoài bão về tương lai sáng lạng của đời mình. Và họ nhìn cuộc đời bằng cặp mắt kiếng màu hồng thắm. Họ vô tư chăm lo học hành, tâm lành hồn nhiên vô tư không hiểu biết gì nhiều, và cũng không nghĩ ngợi gì đến giặc giã, chiến tranh… Nhưng ven đô quanh thị thành vùng họ đang sống đã sụt sôi cuộc nội chiến Quốc Cộng đẫm máu, tang thương… kéo dài không biết chừng nào mới hết và không biết đất nước sẽ đi về đâu?
Có những đêm trường, đứng trên gác nhà nhìn thấy ánh hỏa châu vàng úa từ các máy bay rơi rơi sáng cả một vùng trời xa. Tiếng súng lớn, súng nhỏ lạch tạch đều tai như pháo nổ, rồi lẻ tẻ lác đác tiếng đại bác ì ầm. Những cuộc phá rối trị an của giặc ở chỗ đông người như chọi lựu đạn nơi rạp hát, đắp mô trên đường lộ để cản trở sự lưu thông. Độc hại hơn, giặc còn gày mìn giựt xe đò, pháo kích vào trường học, nhà thương, giáo đường…
Bởi có “Chiến tranh nào mà không tan nát?” Phải, có chiến tranh nào không có thương vong, không nhà tan cửa nát? Và trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỗng đó, có biết bao nhiêu học sinh, sinh viên, thanh niên hào kiệt… đã thức thời xếp bút nghiên theo việc kiếm cung, để tình nguyện vào quân ngũ. Họ được tôi luyện trong thao trường đổ mồ hôi để cho chiến trường bớt đổ máu… Họ trở thành những người lính Cộng Hòa không nề hà gian nguy hiểm trở, hiên ngang quyết tâm hiến dâng đời mình cho sự an nguy của gia đình và gìn giữ cõi bờ cho Tổ quốc…
Thuở đó, vào những buổi chiều tan trường nhứt là chiều thứ sáu, những ngày lễ lớn như là Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… Trước cổng trường Trung học nữ, các nẽo đường phố phường, trong các tiệm ăn, công viên… Màu cờ sắc áo phấp phới loang loáng dưới nắng đẹp Miền Nam. Những tà áo trắng quyện theo màu áo trận của các binh chủng còn vướng bụi đường xa, bụi chiến trường, mùi nắng khét, mùi thuốc súng… Đôi khi trong những dịp nầy còn có những buổi tiệc thết đãi các chiến binh của công tư sở. Các buổi tiệc gia đình tổ chức riêng rẽ long trọng như lễ đính hôn, đám cưới… Tất cả, tất cả… đã nói lên lòng biết ơn và niềm yêu thương nồng đậm của người hậu phương dành cho người ngoài tiền tuyến.
– Tịnh An! Tịnh An.
Cô mở to mắt ngơ ngác nhìn quanh tìm kiếm coi từ đâu, và ai đã gọi tên mình? Bởi sáng sớm hôm nay nơi gốc Đại lộ Hòa Bình và đường Ngô Quyền. Bên kia Tổng hành dinh của Quân Đoàn Bốn, xéo bên trái là gốc đường Phan Đình Phùng. Trước dinh Tỉnh Trưởng là chỗ đặt lễ đài qua đến cổng chánh của quan Đoàn IV (nằm trên đại lộ Hòa Bình). Mấy con đường gần đó đều bị đóng, vì ở đây hôm nay là trọng điểm đông người nhứt Tây Đô vì đó là “Ngày Quân Lực”. Ngày đại lễ mà hầu hết đại diện các binh chủng, công tư chức các cơ sở, học sinh, sinh viên, dân chúng trong thành phố. các viên chức ở quận, làng xã về tham dự. Dân cư tha hồ chiêm ngưỡng cuộc diễn hành của những đoàn dân, quân, cán, chính oai hùng, những đoàn thiết giáp, pháo binh, phi cơ chiến đấu, những đội người nhái tinh nhuệ…
Tịnh An còn đang dáo dác kiếm tìm thì giọng nói kia lại nổi lên:
– Em làm gì mà đứng đó vậy, Tú Huệ đâu?
Đi thong thả gần tới bên Tịnh An là một thanh niên thanh tú. Anh ta có dáng dấp khỏe mạnh, cao lớn hơn những thanh niên bình thường. Cái cười nửa miệng để lộ chiếc răng duyên ở hàm trên bên phải là lợi điểm cho đương sư dễ gây cảm tình với những người đối diện, nhứt là phái nữ. Giầy cao ống, nón và bộ phi hành màu xám bạc làm tăng thêm vẻ hiên ngang hùng dũng của chàng lính tàu bay ở binh chủng không quân. Tịnh An nhìn qua đối diện bên kia đường sát bờ lộ, ngồi nơi tay lái chiếc xe jeep đang nổ máy như đợi chờ… Cô thấy anh Tú Nghĩa mỉm cười vẫy tay chào, cô gật đầu chào lại. Tịnh An còn đang lúng túng ngượng ngập khi Tú Tâm đứng trước mặt nhìn sâu vào mắt cô mỉm miệng cười.
Thật là vô duyên hết chỗ nói! Tại sao cô cảm thấy mắt môi, má mình nóng ran như vậy? Anh ta đến chào hỏi thôi chớ có gì đâu mà ngượng ngùng lính quýnh lên như thế? Có phải đây là “tà” tâm của con bé sắp bước vào ngưỡng cửa yêu đương? Xì, ai mà biết được, nhưng cô cố trấn tình mình, rồi thỏ thẻ trả lời:
– Dạ chào anh Tú Tâm, anh về hồi nào vậy? Em nghe nói anh đi công tác ở đâu đó mà?
Chao ôi, thiệt là mắc cỡ muốn chết được! Cô mới mở miệng nói đến đó thì từ đâu không ai gọi mà tới, không ai hỏi mà thưa! Con thần nanh mõ đỏ Thu Nhi xẹt đến đứng giữa hai người.
Nó lém lĩnh nheo mắt chào anh, rồi lôi cô ra tra khảo:
– Ê con yêu lồi, bồ mầy đó hả? Bô giai quá đi! Không quân thì Chánh Phủ đã lựa sẵn rồi! Mầy sáng mắt thật, và sao tham lam quá chừng vậy? Ở đâu mà vớt được 2 thằng một lúc vậy mậy?
Tịnh An bấu mấy móng tay vào tay bạn thật mạnh. Con nhỏ đau điếng nhảy cỡn lên mà không dám la. Mắt liếc về phía anh Tú Tâm, Tịnh An nhăn mặt, nhỏ giọng bảo cô ta:
– Đừng có xạo nghe mậy bồ hồi nào, bộ mầy điên rồi hả? Nói xàm không hà, anh của nhỏ Tú Huệ đi kiếm nó đó… có thấy nó đâu không?
Con trời đánh Thu Nhi có phổi bò cười tòe cái miệng như cái ao, rồi rống lớn họng như muốn cả làng cả nước nghe:
– Thôi đừng có làm bộ chối nghen mậy! Anh của nhỏ Tú Huệ là bồ của mầy. Mầy mà nói không phải nữa, tao sẽ kêu gọi lũ bạn câu thằng chả mất thì đừng có khóc hu hu lấy mấy cái lu đựng nước mắt đó nghen.
Con mắc toi đó nói xong cười ha hả rồi lẫn mất dạng trong làn sóng người sau buổi tan lễ đông như kiến cỏ. Phải nói là dập dìu tài tử giai nhân mới đúng, bởi trên khắp các nẽo đường của thành phố các anh lính oai hùng đại diện các binh chủng về dự lễ: Hải quân, Dù, Cảnh sát, Không quân… Địa phương quân, Nghĩa quân, Chiến tranh chánh trị, Sư đoàn 21, SĐ 7, SĐ 9, Biệt động quân… Mỗi binh chủng có mỗi màu cờ, sắc áo, quân hiệu riêng biệt… điểm trang thêm sắc thái huy hoàng sinh động cho Tây Đô hôm nay.
Đứng gần bên, Tú Tâm miệng cười chúm chím, mắt sáng ngời lí lắc nhìn vào mắt Tịnh An như ngầm hỏi cô bạn đó đã nói gì? Tịnh An cúi mặt bẽn lẽn. Thế rồi giọng lăng líu của con Tú Huệ bỗng vang lên:
– Ủa, anh Ba về hồi nào vậy? Chớ không phải hai anh đã đi công tác ngoài Trung hôm qua sao?
Anh Tú Tâm cười hóm hỉnh trả lời em gái:
– Hôm qua khác với hôm nay. Hôm qua làm xong rồi thì hôm nay về đó cô Tư…
“Tú Huệ, Tú Huệ…” Nghe tiếng anh Tú Nghĩa gọi, con nhỏ cười tươi… mắt láo liên chạy băng qua đường rồi nhảy phóc lên xe ngồi vào chỗ bên kia. Lớn họng nói vọng qua:
– Tịnh An và anh Ba, hai người đi bộ về nghen, tui với anh Hai về trước đó. Xin chào, “báy, bay…”
Anh Tú Tâm cười tươi gật đầu, quay qua nhỏ giọng:
– Thôi chúng ta đi Tịnh An. Xem các cô các cậu nhìn em kìa! Coi bộ em có nhiều bạn bè quá hả?
Tịnh An lấy lại bình tĩnh, mạnh dạn bảo:
– Anh cũng biết thành phố Cần Thơ tuy rộng nhưng vẫn nhỏ bé. Chạy xe đạp chừng 2 giờ là đi hết các con đường ở đây rồi. Vả lại (nói đến đó, cô ngập ngừng rồi yên lặng bỏ lững câu nói) Tú Tâm nheo mắt cười:
– Vả lại thế nào, sao em không nói tiếp?
– Tại có anh đi bên cạnh, và các cô không phải nhìn em, vì chúng em đã gặp nhau ở trường ở lớp hàng ngày quen mắt rồi. Họ nhìn anh đó…
Mắt anh ta chớp nhẹ:
– Thật vậy sao?
Tịnh An không trả lời. Hai người sóng đôi đi bên nhau. Đại lộ Hòa Bình chan hòa ánh nắng. Gió chập chờn mơn mang trên mái tóc huyền óng mượt còn phản phất mùi bồ kếp gội đầu của Tịnh An. Tà áo trắng của cô tung bay trong nắng thủy tinh lung linh… Trời cao vòi vọi và xanh thẳm một màu, màu hy vọng của nam nữ ở lứa tuổi thanh xuân chớm yêu và được yêu.

Bước ra hàng hiên, nhìn xuống chiếc băng cây trên bờ sông, Tú Huệ thấy Tịnh An đôi mắt mơ màng nhìn dòng nước chảy. Ánh nắng loang loáng phản chiếu mặt nước sông lăn tăn sóng vỗ chập chờn rọi trên dáng dấp mảnh mai của bạn. Tú Huệ chép miệng, nhỏ giọng như chỉ để mình nghe: “Ôi huyền sử nàng Tô Thị chờ chồng hóa đá, hình ảnh đẹp lắm cũng chỉ vậy thôi!” Cô đến đứng sát bên Tịnh An mỉm cười, nhẹ giọng:
– Mầy làm gì thừ người ra vậy?
Tịnh An nén tiếng thở dài, trớ đi:
– Những ngày cận Tết ở thôn quê rộn ràng, sinh động nhưng êm đềm quá hả Tú Huệ? Mầy có nghĩ ngày nào sẽ về đây sống không? Dù gì ở gần họ hàng bà con vẫn hơn. Ờ lâu nay có được tin gì của anh Tú Nghĩa không? Ảnh rời nước đi tu nghiệp khoảng thời gian trước giặc vào thật là may mắn! Phải chi anh Tú Tâm…
Cô khựng lại rồi buông thỏng câu nói, trên bờ mi cong hình vương màn lệ mỏng! Hồi ức dấu yêu xa xưa dạt dào sống lại trong lòng cô:
Đã một năm, rồi hai năm… Tịnh An đã sống trong thương nhớ và mõi mòn chờ đợi Tú Tâm. Nhưng bóng người yêu vẫn biền biệt… và dần dần, bây giờ thì niềm tin đó gần như tuyệt vọng trong cô!
Làm sao Tịnh An quên được Tết năm đó… bác Hai má của ba anh em Tú Nghĩa, Tú Tâm, và Tú Huệ qua thăm gia đình. Hai bên cha mẹ hứa cho anh Tú Tâm và cô được tới lui thăm viếng gia đình hai bên… Vào mùa hè năm tới (6 tháng nữa) cô cậu chính thức đính hôn rồi lễ cưới sẽ được tổ chức sau khi cô thi Tú tài hai…
Đôi trai tài, gái sắc nầy đã có thời gian giun giăn giun giẻ bên nhau. Muôn vàn thương mến trong những ngày anh nghỉ phép. Những lần vui mừng không hẹn anh đến thăm bất chợt… Để nàng Tịnh An thấp thỏm đợi chờ âu lo trong những chuyến công tác xa. Giữa đêm về sáng cô nghe tiếng phi cơ trên không gian, hỏa châu soi sáng cả góc trời, tiếng đạn pháo ì ầm xa xa… . Nỗi buồn, vui, lo, sợ… chợt đi chợt đến đó là mật ngọt thấm đậm ướp vào lòng cô. Hình như đó cũng là mật ngọt tình yêu của các thiếu nữ có người tình là lính chiến. Dù biết rằng “Làm người yêu lính chiến là chấp nhận xa nhau, chấp nhận thương đau…” Nhưng thời bấy giờ các nữ sinh, các cô gái đến tuổi lập gia đình đã thầm ước mơ…
Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975. Giặc Cộng cưỡng chiếm miền Nam! Anh Tú Nghĩa đi công tác kẹt ở xứ người, anh Tú Tâm bặt vô âm tích… Để mỗi lần gặp Tịnh An má anh chan hòa dòng lệ nhớ thương con… Thảm nạn chung thành phố Tây Đô tan tác, dân Tây Đô héo xào… Gia đình mẹ con Tú Huệ khổ đau, thương nhớ con, và sa sút vì không được lãnh lương tam cá nguyệt của cha, và công ăn việc làm của mẹ như không còn nữa…
Trong mấy năm nay sau giặc về, gia đình Tịnh An cũng không có Tết. Má cô chết tức tưởi sau lần đánh tư sản đợt đầu vì vườn đất, nhà cửa bị giặc cướp sạch… Buồn rầu quá đổi, mấy tháng sau cha cô lâm trọng bịnh cũng qua đời! Đêm đêm cô nghe lén đài VOA, biết được người dân miền Nam vượt biên càng lúc càng đông… Anh Hai của Tịnh An trước kia làm ở Quân Đoàn IV, sau ngày bọn giặc vào anh không ra trình diện mà trốn về quê vợ ở Cà Mau. Nay thì gia đình anh đã liều chết quyết định tìm đường để ra đi bằng thuyền chài vượt biển Đông.
Mấy tháng gần đây, Tịnh An nhận xét thấy bà già và Tú Huệ như hồi sinh trở lại? Bác cười nói vui vẻ, còn cô ta thì tía lia như con chim chích chòe thuở nào. Tịnh An cũng vui lây và nghĩ rằng chắc là họ được tin anh Tú Nghĩa ở bên Mỹ… Và mấy tuần trước Tết, Tú Huệ rủ Tịnh Yên về quê ngoại ở bên kia sông Mỹ Thuận (thuộc lãnh thổ Định Tường) ăn Tết.
Lúc đầu Tịnh An từ chối. Nhưng nghĩ lại có lẽ đây là cái Tết sau cùng của cô trên quê hương! Có dịp ở bên bạn thân đôi ngày trước khi ra đi cũng nên lắm… Vì thế hôm nay hai cô mới có mặt ở vùng quê ngoại của Tú Huệ.
Dòng hồi tưởng của cô vụt bay mất, vì giọng nói lanh lãnh của nhỏ Tú Huệ khiến cô quay về thực tế:
– Tao đứng sau lưng cả buổi mà mầy không hay biết chi ráo. Tao tưởng mầy đã hóa đá rồi chớ? Hỏi thiệt nghen Tịnh An, có phải mầy dang nghĩ ngợi và nhớ anh Tú Tâm của tao không?
Dòng nước mắt chảy dài xuống gò má trắng xanh như thay câu trả lời của bạn… khiến Tú Huệ lính quính mất tự nhiên! Trời ơi, nếu giặc không vào thì cô ta đã trở thành chị dâu mình rồi! Cảm thấy lòng áy náy, vì mấy tháng nay cô đã giấu giếm bạn nỗi niềm thầm kín ở trong lòng! Cô bước tới, nhìn sâu vào mắt Tịnh An chăm chăm như muốn nói điều gì đó. Nhưng giọng của mợ Út từ nhà sau gọi vào ăn cơm. Tú Huệ khựng lại, hai cô ngần ngừ rồi lửng thửng đi vào nhà.
Mâm cơm đã dọn sẵn. Nào cá mè vinh kho ngót vắt chanh, trên mặt tô loang loáng những chùm sao mỡ, hột ớt cùng mùi hành, ngò rí, tiêu cay. Tép lóng dở chà hồi sáng sớm, được lột vỏ rim mặn một mớ, còn một mớ xào với đậu rồng. Cá thác lác ngộp vì chúng lủi trốn trong sình non, mợ Út đã cắt ngang, cắt xéo cho bớt xương… muối xã ớt chiên giòn màu vàng sặm trên một dĩa lớn. Kia, còn có cá bống tượng chưng nấm mèo, bún tàu, củ hành trong cái tô sành lớn nữa…
Thấy tôm cá ê hề, nhưng lòng đang buồn nên Tịnh An trầm ngâm không nói. Còn Tú Huệ miệng cười tươi như mấy nụ hồng nhung hé nở trong chậu ngoài hiên nhà, líu lo:
– Gạo nàng hương thiệt nấu cơm vừa dẽo vừa thơm lại trắng bông. Cơm nầy mà ăn với nước mắm dầm ớt cũng ngon chớ đừng nói chi các món đầy cá tôm, đậu cải tươi như vầy. Sao mợ Út nấu nhiều món ăn chẳng khác đám giỗ nhỏ chút nào vậy? Cháu thấy chỉ hai món kho và mặn là đủ rồi… thời buổi nầy phải tiết kiệm mới được mợ ơi.
Mợ Út nhìn cô cháu chồng cười, hiền lành bảo:
– Mấy thuở các cháu về đây vui xuân với cậu mợ? Chiều cúng rước Ông Bà về ăn Tết còn có nhiều món ngon hơn nữa đó.
Con nhỏ ham ăn có vẻ khoái chí cười híp mắt. Cậu Út ôn tồn:
– Đúng như vậy! Mấy thuở cháu về ăn Tết, còn có cô cháu dâu tương lai đây nữa, phải như lúc xưa thì cậu mợ sẽ làm tiệc lớn… Thời buổi bây giờ khó khăn, không cho phép. Tôm cá nấu các món ăn đây là hồi sáng dở chà bắt được chớ có mua sắm chi đâu. Một mớ còn rộng ngoài khạp kia, ăn qua Tết cũng không hết. Mong bữa cháu về cá tôm còn sống để mợ Út gởi về cho má cháu…
Tú Huệ và cơm đầy họng nên không mở miệng được, tay quơ quơ ra hiệu. Nuốt xong miếng cơm, cô nói:
– Thôi cậu ơi, gởi bánh trái cho má cháu được rồi. Cá tôm xách về tới nhà cũng chết cống hết. Cháu không xách đâu.
Mợ Út cười:
– Tú Huệ đừng lo, mợ có cách giữ cá sống xách về đến nhà cho má cháu mà không chết. Và cháu cũng không phải xách bằng thùng thiết có đựng nước lỉnh kỉnh nặng nề đâu mà sợ. Cháu không biết chớ cá lóc, cá trê, cá rô… các loại cá đồng mùa nầy mạnh lắm nên dễ gì chết!
Sau bữa ăn cúng rước Ông Bà thì gia đình hai đứa con trai, dâu, 4 cháu nội. Vợ chồng đứa con gái và hai cháu ngoại ai về nhà nấy… Anh em họ kẻ ở xóm trong, người ở cuối thôn… quanh quẩn trong làng không xa chi mấy. Mỗi đứa con về, mợ Út đều cho bánh phồng, bánh tráng, chuối khô, mỗi người một trái dưa hấu Bến Lức có vỏ xanh ruột đỏ lòng son, giòn và ngọt nổi tiếng đó đây… Mà mợ đã cụ bị sẵn sàng đâu đó rồi, mợ còn dặn hai con dâu chiều mai qua phụ mợ gói bánh tét nữa.
Và khi anh hai, người con lớn đẩy xuồng dang xa bờ. Mợ Út còn nói vói theo:
– Nè, thằng Hai, nhớ sáng mùng ba phải đến sớm để đưa ba bây đi thăm ruộng đó nghen….
Anh ta gật đầu cho mẹ biết rằng mình đã nghe và hiểu. Chiếc xuồng nhỏ chồng ngồi ở lái, vợ anh ở mũi xuống. Hai đứa con ngồi giữa, đứa lớn chừng 5 tuổi ôm ngang lưng em mới lên 2. Thằng bé ôm chắc em giữ cho con nhỏ ngồi yên để cha mẹ yên lòng mà bơi đi. Chiếc xuồng nhẹ nhàng lướt êm trên dòng nước xanh lơ, trong vắt… Sóng đánh bập bềnh lả chả vào mạn xuồng và vỗ vào bờ đất chạy dài quanh co uốn theo dòng sông dài.

Chiều tối, cậu Út đốt đèn ống khói có bóng cao đặt trên bàn ở giữa nhà. Chuẩn bị cúng nước và chờ đón giao thừa coi năm nay nhà cậu con gì ra đời? Thôn dân rất tin tưởng sau đồng hồ gõ 12 tiếng (giao thừa) thì chủ nhà lắng nghe coi nghe tiếng con gì. Sau Tết họ sẽ nhờ thầy bàn với tuổi của gia chủ coi trong nhà năm đó có làm ăn phát tài, gia đạo ra sao…
Tịnh Anh thấy trên mặt tủ thờ có hai dĩa ngũ quá lớn, có bình mai nở vàng cạnh bên những quả bánh, mức, những gói trà Tàu, mấy chai rượu còn gói giấy hồng đơn hoặc giấy kiếng đỏ là quà Tết của các con đem qua biếu cha mẹ. Trong khay có những lá trầu vàng non nhẫn nằm cạnh mấy trái cau chẻ làm tư, ruột trắng phau, dầy cơm, cùng những cái chun nhỏ được rót rượu lưng lửng để cúng. Trên các bàn thờ Phật, bàn thờ Ông Bà đèn sáng trưng, nhang khói nghi ngút… Bàn thờ ông Thiên ở cửa lớn trước sân nhà cũng hương trầm bát ngát tỏa bay…
Tú Huệ nhìn lên bàn thờ, thắc mắc:
– Cháu ngạc nhiên, sao các bàn thờ vẫn cứ thắp nhang liên tiếp? Mình đã cúng rước Ông Bà rồi mà cậu Út?
Cậu bảo với cháu:
– Theo tục lệ từ ngàn xưa để lại, sau khi cúng rước Ông Bà về ăn Tết với cháu con thì không nên để nhang tàn, bàn thờ lạnh lẽo. Phải thắp nhang, thắp trầm hương tỏ lòng tôn kính, với sự vui mừng niềm nở đón rước của con cháu. Như vậy không khí trong gia đình những ngày Tết mới ấm cúng, và năm mới sẽ được may mắn hơn năm cũ… Nếu cháu ra ngoài sân, đứng dưới gió sẽ ngửi được mùi hương trầm, trà, hoa, quả, kẹo, bánh… Bay sang từ nhà nầy qua nhà khác, từ xóm nọ qua xóm kia, từ làng nầy qua làng khác. Miền Bắc theo chế độ Cộng Sản vô thần thì cậu không biết, chớ ở miền Nam của chúng ta ngày trước, từ Bến Hải cho đến Cà Mau dù có nghèo đi nữa, nhưng ba ngày Tết khói nhang nghi ngút tươm tất lắm. Tết Nguyên Đán của chúng ta thiệt là thiêng liêng và ấm cúng vô cùng!
Sau ngày giặc Cộng cưỡng chiếm quê hương. Suốt dãi quê Nam lễ lớn của dân tộc như ngày Tết, Giáng Sinh, Thượng Nguơn, Trung Nguơn, Hạ nguơn… Không còn cúng quảy, hội hè long trọng, tôn nghiêm, vui tươi, náo nức như hồi trước nữa. Có còn chăng chỉ âm thầm riêng rẽ thu gọn từ trong hoàn cảnh của mỗi gia đình mà thôi. Ai có tiền thì kín đáo nhỏ nhẻ ăn uống. Vì nếu có kẻ biết được đi báo cáo với công an, với nhà nước thì tội vạ từ trên trời rớt xuống sẽ tan nát gia đình trong chớp mắt.
Các nơi công cộng trơ trọi, xác xơ. Nơi thiêng liêng như nhà thờ, chùa, đình, miễu… chỉ cúng lễ hạn hẹp không được tụ tập đông người. Ở nhà thờ thì làm lễ trong giáo đường. Chùa, đình, miễu… thì không còn đón giao thừa, hái lộc đầu năm rộn rã như xưa nữa.
Sáng mùng một chỉ lác đác xuồng ghe chở trẻ con mặc quần áo sạch sẽ về thăm ông bà. Dân cư trong thôn làng, nam thanh nữ tú không còn từng đoàn, từng nhóm… đi trên đường quê áo xanh, áo hồng dù tím dù hoa vui tươi cười nói. Hay có những trò vui chơi giải trí trong ba ngày Tết như: đá gà cá độ, bầu cua cá cọp, đốt pháo, múa lân mừng đón xuân về… Bởi họ bị chế độ Cộng Sản bần cùn hóa! Nên người dân đau cho cái đau chung mất nước trong, các liên hệ gia đình như cha, anh, chú, bác, chồng, con, anh em, họ hàng… bị đày vào trại tù tập trung cải tạo không có bản áng, không biết ngày về thì làm sao mà vui cho nổi! Giặc vào cướp của, giết người qua nhiều cách, qua nhiều hình thức khác nhau… Dù lịch sử dân tộc Việt Nam bị độ hộ bởi ngoại xâm… nhưng dân ta cũng không đau thương, khốn khổ như sau ngày Cộng chiếm. Nghĩ đến đâu Tịnh An cảm thấy cõi lòng ai oán, nát tan… không khỏi chép miệng thở dài ngao ngán!

Trên nền trời đêm chi chít lấp lánh những giề sao. Gió xuân man mác lành lạnh thổi qua. Cái lạnh dễ chịu nồng ấm của hương nhang trầm tỏa bay trong không gian nửa đêm về sáng. Gà gáy ó ó báo hiệu canh hai thì mợ Út thức dậy lục đục hông cơm, hâm thức ăn và nầu nước pha trà để cúng các bàn thờ trong nhà.
Cơm nước được dọn ra thì cậu Út cũng đã thức. Và anh Hai con trai lớn của cậu Út cũng vừa mới tới. Anh dụi ngọn đuốc để ngoài sàn lảng, rồi đi cửa sau vào nhà. Thấy con, mợ bảo:
– Con vào ăn bậy chén cơm lót lòng với cha và mấy em rồi đi cho sớm. Kẻo đến kinh Chà Là gặp nước cạn thì trễ nãy hết mọi việc…
Anh Hai không trả lời mẹ, hỏi:
– Đồ đạc bưng xuống ghe hết rồi chưa má? Có đem mớ quay chèo sơ-cua theo không?
Mợ Út trả lời ngay:
– Ba bây đã bưng để dưới ghe từ đầu hôm. Dây quay chèo đã đổi cái ổng mới đánh và có đem theo mấy cái mới nữa. Nước uống, bánh, trái… Mọi thứ đã chuẩn bị xong hết rồi. Thôi hãy vô nhà ăn cơm đi con, để còn đi cho sớm…
Anh Hai đứng sau lái với hai chèo dài dưới đôi tay gân guốc. Gặp nước xuôi nên chiếc ghe đi rất nhanh, cậu Út ngồi dùng cây dầm bản lớn, dài bơi trước mũi. Tú Huệ và Tịnh An mỗi cô một cây giầm nhỏ, ngồi trên chiếc chiếu lớn xếp xuôi làm hai trên xạp ghe khô ráo. Gần bên cái thúng giê đựng nào bánh tét, ổi, mận, nước chai, ấm nước trà và cái lon có tay cầm sơn bông vẽ hoa dùng để uống nước.
Tịnh An lấy làm lạ, tại sao chỉ đi thăm ruộng thôi mà phải đem theo nhiều đồ đạc linh kỉnh như thế nầy? Đêm qua ngồi coi mợ Út và hai cô dâu gói bánh tét, Tú Huệ đã rủ cô theo cậu Út đi thăm ruộng chỉ ở phía trong Quốc lộ Bốn thôi.
Tịnh An chợt phì cười nhớ tới sự láo táo của bạn mình. Số là hai cô ngồi coi mợ Út và dâu mợ gói bánh tét. Hai chảo nếp lớn cả chục lít cho mỗi chảo chớ không ít đâu. Nếp tốt nên hột trọng trường dẽo nhẹo, trắng bông có trộn đậu đen nấu chín đã xào với nước dừa còn nghi ngút khói. Mợ Út và hai người dâu nhậm lẹ kẻ trải lá, người xúc nếp, để nhưn, quấn, gói, cột chặt chẽ đòn bánh mập ú, có ngấn. Tịnh An thì chăm chú ngồi coi gói bánh, còn ả Tú Huệ nhà ta ngồi sát bên chảo nếp, thỉnh thoảng thò tay vô chảo bóc đậu đen bỏ vào miệng nhai ngon lành…
Bỗng dưng con nhỏ nhảy cởn lên rồi bỏ chạy ra lu nước bên ngoài. Làm mọi người ngạc nhiên chưng hửng không biết tại sao? Thì ra trong khi bốc đậu đen ăn, cô ta bốc nhầm con bọ hung (có hình dáng tròn, nhỏ và đen như hột đậu pha nếp trong chảo. Loại bọ hung nầy thường thấy chúng ăn và đùn làm ổ ở các đóng cứt heo). Con bọ hung kia thấy ánh đèn, bay đến bị rớt trong nếp… Nghĩ tới đó Tịnh An phóng theo bạn, không nhịn được nàng ta cười thành tiếng, và lí lắc hỏi: “Ê, con bọ hung tốt số đó có ngon không mậy?” Tú Huệ trề môi ứa gan liếc xéo… không thèm trả lời và cả buổi không thèm nói chuyện với cô!

Hướng đông vầng hồng ló dạng tỏa màu sắc rực rỡ xanh, vàng, hồng, tím… Gió xuân là đà lay động, đong đưa những cành cây có nhiều trái hai bên bờ sông. Xoài đầu mùa đang xanh da, cam, bưởi quá lứa chín vàng chen chúc lồ lộ trong lá sum sê. Ghe đi dọc theo hai bờ kinh dài qua những nơi toàn là đào lộn hột. Anh Hai thuận tay hái đào thảy cho hai đứa mấy trái đào chín, ăn ngọt miệng thơm môi, và có nhiều nước. Nhưng ăn chỉ vài trái thì nghe gắt cổ và chát ngầm! Thế mà hột đào đem nướng ăn béo giòn, ngon hơn đậu phộng rang nhiều.
Ngồi lâu một hỗ dưới ghe, Tịnh An một lát trở chưn về phía bên nầy, một lát trở về phía bên kia… Cô luôn đổi cách ngồi cho khỏi bị tê chưn, vì ghe chèo đi gần suốt cả ngày rồi vẫn chưa đến bến? Ruộng gì mà xa giữ thần ôn vậy cà? Nắng, gió ngồi lâu tù túng khiến cô không giữ được nét tươi vui như sáng sớm mới khởi đầu di… mà đã héo xào nhăn nhó rồi! Còn con chim chèo bẻo Tú Huệ luôn miêng nói cười vui vẻ với cậu Út, với anh Hai. Tịnh An cảm thấy hình như con nhỏ nầy, lâu nay mấy có chuyện gì giấu mình?
Mặt trời chiều xuống sâu về hương tây… Thiệt là khổ sở vì đi từ sáng sớm, đến bây giờ mặt trời sắp lặn mà vẫn chưa đến? Phương tây ửng màu màu nắng hoàng hôn yếu ớt trải trên ruộng lúa mênh mông không thấy nhà cửa và cả buổi cũng không thấy bóng dáng người!
Nắng vàng nhạt trải trên kinh dài có dòng nước đục ngàu đậm màu phù sa, in bóng những cây ô môi hai bên bờ trổ đầy hoa rơi rụng tím cả mặt nước. Cũng theo bờ kinh xa xa xen trong cây ô môi có cây vông đồng lá xanh nở hoa màu đỏ thắm mơn man lay trong gió chiều. Không gian lác đác những vầng mây trắng mỏng, in trên nền trời xanh bát ngát lừ đừ vô tranh bay về phương trời xa vời vợi… Ôi, chỉ có tạo hóa thôi, chớ dù cho họa sĩ tài hoa đến đâu cũng không làm sao vẻ được một cảnh sắc thiên nhiên lộng lẫy sinh động như thế nầy.
Cậu Út như hiểu ý của Tịnh An. Bởi ghe đi qua bao nhiêu sông lớn sông nhỏ, kinh đào, khi nước lớn, lúc nước ròng mà vẫn chưa đến bến? Cậu ôn tồn:
– Hai cháu chắc mệt lắm phải không? Ăn uống gì đi, bánh trái có sẵn trong thúng đó. Ráng một chút nữa, sắp tới nơi rồi…
Tú Huệ tài lanh:
– Cháu không mệt chút nào hết! Cháu còn cảm thấy vui là được ngắm nhìn cảnh sắc tươi đẹp của vùng ruộng đồng bao la êm ả dọc hai bên đường mình đi đó cậu…
Cô xoay qua bạn:
– Chắc mầy cũng không mệt? Bởi mấy thuở bọn mình được ngắm cảnh thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười nổi tiếng nầy hả Tịnh An ?
Tịnh An nghe mà phát ghét cho cái điệu bộ hí hửng của bạn. Cô cười như mếu:
– Ờ thì mầy nghĩ sao thì sao đi…
Rồi cô quay qua cậu Út:
– Có ruộng ở quá xa như vậy, mỗi lần đi thăm thật là vất vả hả cậu… ?
Cậu Út mỉm cười ý nhị mạnh tay bơi chớ không trả lời câu nói của cô cháu dâu tương lai.
Xa xa lúm xúm chòm nhà tranh đôi ba cái đã có ánh đèn leo lét bên kia kinh mập mờ phía sau rừng trâm bầu. Văng vẳng giọng hát buồn đưa trong gió ru con của cô phụ: “Hò…hơ…..con chim liễu nó biểu con hoàng oanh/ Biểu to, biểu nhỏ, hò…hơ…biểu to biểu nhỏ, biểu anh thương nàng…” Giọng nhừa nhựa buồn ngủ, cô phụ cất cao giọng: “Hò ơ, … Anh kia xin chớ vội vàng/ Nếu anh có giỏi, hò ơ, thì vài hàng đối chơi…/ Chớ con “cá đối” nằm trong “cối đá”/ Con “mèo đuôi cụt” nằm “mút đuôi kèo”/ Nếu anh đối đặng, dẫu nghèo em cũng thương…” Cô phụ tự hò đáp lại: “Hò…ơ……con “chim mõ kiến” nằm “trên miếng cỏ”/ Con chim “dàng (vàng) lông” đậu giữa “dòng (vồng) lan”/ Anh đà đối đặng/ Hò…hơ…. vậy nàng hãy đến đây…”

Ghe cặp bến, cậu Út gọn nhảy lên cầm sợi dây kéo cho mũi ghe sát bờ có đầy cỏ lông dài mọc bò tàn lan. Cậu cột dây vào gốc cây bù lời (cây gừa) gie xuống mé nước. Anh Hai dỡ tốc tấm vạt ghe nơi anh đứng chèo, khom lưng bưng lên hai thúng bánh tét đầy ắp. Cậu Út vịn be cho ghe đứng yên không bị lắc lư để hai cô cháu gái bước lên bờ. Rồi cậu dở nắp mũi xuồng xách hai giỏ bánh tét nặng lên. Người ở trong căn nhà lá nhỏ kế bên mé mương, gần bờ kinh nghe lục đục bên ngoài, đi ra với chiếc đèn cốc le lói trên tay. Chị ta lấy bàn tay che trước trán gần chân mày để nhìn cho rõ là ai ? Chị vui mừng trổi giọng reo lên:
– Dạ thưa cậu Út mới lên, mợ có khỏe không? Còn gì dưới ghe không cậu để cháu xuống phụ?
Cậu Út vừa kéo khăn lau mồ hôi, vừa bảo:
– Có thằng Hai, để nó bưng lên được rồi. Ruộng rẩy cháu năm nay trúng mùa chớ? Bọn nó về rồi phải không?
Chị ta đưa tay xách phụ cậu Út một giỏ bánh, rồi trả lời:
– Dạ họ về rồi, ở trong miễu… Mùa màng năm nay đỡ hơn mọi năm. Nếp coi bộ trúng hơn lúa đó cậu. Đi cả ngày nay chắc mọi người đều mệt lắm. Thôi để cháu đi nấu cơm…
Tịnh An và Tú Huệ đi sau cậu Út. Cả hai cô mỗi người trên tay đều xách một giỏ. Giỏ xách của Tịnh An là mứt, bánh, kẹo, lạp xưởng và mấy gói trà tàu gói giấy kiếng đỏ. Cậu Út và anh Hai xách đồ dưới ghe đem lên hết… Tịnh An lấy làm lạ quanh gần nầy chỉ có căn nhà nhỏ trơ vơ nầy. Sau nhà có cái trại hai con trâu nghé đang nằm. Trong nhà chỉ có chị Tư với đứa con gái nhỏ. Vậy tại sao họ đem bánh tét vào cho ai ăn mà nhiều cả mấy thúng như vậy?
Đã vào nhà nãy giờ, Tú Huệ cười chúm chím đánh vào vai bạn, nói:
– Chắc là mầy mệt lắm? Khăn đây nè đi rửa mặt cho tỉnh táo rồi chút nữa ăn cơm. Mầy có đói bụng không? Tao tưởng ở gần, ai ngờ xa quá là xa.
Thiệt là vô duyên hết chỗ nói! Mặt nó cũng hây hây đỏ vì nắng, vì gió và chưn cũng bị tê cống vì ngồi suốt cả ngày nay, vậy mà hồi nãy cậu Út hỏi nó còn làm bộ như ta đây! Thì ra chuyến đi thăm ruộng nầy không phải bất ngờ mà nó đã biết trước rồi! Khi trở về thế nào cô cũng tra tấn hỏi tội con a đầu nầy mới được.
Giận trong bụng, cô nổi cáo giựt cái khăn trên tay bạn, ngoe nguẫy bỏ đi ra lu nước. Vừa đi cô vừa càm ràm:
– Đừng hỏi dư thừa nghen mậy. Có câu nào hay hơn để mầy hỏi không? Bộ tao mình đồng da sắt như mầy sao mà không đói, không khát, không mệt?
Tú Huệ chẳng những không giận mà còn cười tòe cái miệng như cái mương sau nhà, bảo:
– Tao thiệt không mệt chút nào, mà lòng còn cảm thấy phơi phới vui như mùa xuân mới…
– Nói với mầy tao mệt quá đi thôi! Ờ thì mầy cứ vui như Tết đi con quỉ kiến sầu, kiến lửa, kiến hôi, kiến vàng, kiến riệng, kiến đất, kiến đen, kiến nẻ, kiến cánh…
Tịnh An không nhịn được bật cười thành tiếng cảm thấy thoải mái cho câu rủa xả của mình cho nhỏ Tú Huệ sao quá là hay!
Bữa cơm tối với nồi gạo lúa vé vàng trồng ở ruộng nhà. Dĩa khô cá tạp (lộn xộn nhiều thứ như là: cá trạch, cá rô, cá trê, cá sặc…) Chị Tư câu, hoặc xúc ăn không hết phơi để dành. Chén nước mắm đồng mùi nồng hăng hắc với xoài non bằm xắt mỏng, và ớt hiểm chín đỏ dầm phơi hột trắng hêu trên mặt. Tô canh bầu cắt ngoài giàn chưa ráo mủ nấu với cá rô non vừa kéo cái vó đặt ở mé mương. Dĩa dưa leo mới hái còn tươm mủ trong, nhai giòn khưu khứu. Cả bốn người nhứt là hai cô gái tỉnh thành nầy ăn ngon còn hơn ăn bữa giỗ có những món tóc tiên, bào ngư, vi cá, ổ yến… của thời xưa cũ.

Ngọn gió đêm mát rượi, âm thanh rào rào êm tai do lá cành va chạm vào nhau ở các cây quanh nhà. Tịnh An ngồi bên bếp lửa coi nồi khoai dương ngọc mà cô tự lãnh nấu, để tránh mặt, khi thấy có mấy người khách lạ bước vào nhà.
Có lẽ họ là những nhà nông ở xóm trên xóm dưới gì của chị Tư, hoặc là tá điền hay là người mướn ruộng của cậu Út? Tiếng nói, cười khe khẽ tươi vui của họ Tịnh An không nghe được. Dù chỗ cô ngồi ngăn cách bằng những tấm lá chầm vừng làm vách thôi.
Không gian bên ngoài có màu đen huyền hoặc của những ngày đầu tháng Âm lịch không trăng. Nền trời in chi chít hàng vạn ngàn vì sao mọc thành giề hoặc riêng rẽ nhưng như kề cận sát bên nhau. Tiếng những con chim ăn đêm về muộn gọi đàn kêu oang oác trên không rồi mất hút. Dưới mương tiếng cá quẩy đươi ăn móc trốc trốc, tiếng côn trùng hòa nhịp nhỏ nhẽ kêu vang vang trong tối của đầu đêm…
Theo Tú Huệ kể, chị Tư chủ nhà khi còn đi học thì lập gia đình. Quê chị ở chợ Vĩnh Bình, sau khi cưới nhau không lâu theo chồng về sống ở vùng quê nghèo hẻo lánh nầy. Chị có hai con, đứa trai lớn 7 tuổi ở chợ Vĩnh Long với ông bà nội đi học. Chị sống hủ hỉ với đứa con gái 3 tuổi và chồng đi làm xa lâu lâu mới về. Tịnh An hơi chột dạ và nghe thương chị, thương người mẹ người vợ trẻ (có lẽ hơn cô 5, 7 tuổi) mà phải về sống ẩn nhẫn nơi chó ăn đá gà ăn muối xa chợ, xa xóm chòm… Cô nghĩ năm mười bữa, nửa tháng có thể chị cũng chưa nghe được tiếng người khác nói chuyện ở vùng vắng vẻ như vầy? Ngày nầy qua ngày kia, hai mẹ con chỉ nghe tiếng gió thổi, chim kêu, tiếng mưa rơi. Nhìn dòng nước chảy, nhìn bầu trời trong nắng, nhìn mây bay, đêm đen, sáng trăng…
Sức mạnh nào có thể khiến chị cam chịu an phận và vui lòng trong cuộc sống hiện tại? Đó là sức mạnh tình yêu của người vợ thương chồng chăng? Cô không biết, nhưng sự thật chỉ có hai mẹ con chị đang sống ở đây!
Dưới ánh lửa bập bùng của nồi khoai đang sôi sùn sụt, thỉnh thoảng nước tràn ra rớt xuống than hồng, tro nóng nghe xèo xèo. Mắt cô mông lung nhìn trời nhìn sao, tâm hồn đang nhập vào dòng suy tư, nên cô ngồi như bất động.
– Đang nghĩ gì đó, cô Ôn Thị Tịnh An?
Giọng nói nhẹ như gió nhưng làm cô giựt mình ngạc nhiên quay phắt lại! Tại sao ông ta lại biết cả tên tộc cô mà gọi như vậy? Dù cha mẹ lúc còn sanh thời, anh chị em ruột thịt, bạn bè hay họ hàng chỉ gọi Tịnh An thôi! Phải, chỉ hai chữ Tịnh An ngắn gọn!
Anh ta là một trong bốn người khách mới đến. Những người đó quen của cậu Út, hoặc bà con của chị Tư chủ nhà nên họ nhỏ to trò truyện nãy giờ. Con tiểu yêu Tú Huệ cũng ăn ké nói chuyện ở trển không thèm xuống ngồi chụm lửa với cô.
Với dáng điệu trầm ngâm, anh ta mặc toàn màu đen. Chiếc khăn vằn quấn đầu choàng phủ hai bên má và luôn cả cổ. Bên trên còn đội chồng lên chiếc nón vải của mấy người lính ngày xưa. Tịnh An chỉ thấy cái mũi và cặp mắt long lanh dạ ánh lửa hồng của bếp lò đang cháy bập bùn.
– Không nhận ra anh sao?
Dáng người đó! Gọi cả tên tộc với giọng nói đó, cô nhớ chỉ có một người! Phải, chỉ có một người! Nhưng thật bất chợt quá nên cô không nghĩ ra ngay là ai? Tịnh An mở to mắt nhìn vào mắt ông ta đang dở nón và lấy khăn ra. Cô thảng thốt, cây củi đang cằm trên tay rơi xuống!
Cô cà mà cặp mặp nói không tròn lời:
– Trời ơi, anh Tú,… Tú,… Tú Tâm ! Trời ơi, anh Tú Tâm… thiệt là anh Tú Tâm đây sao?
Anh ta trả lời cô bằng đôi mắt sáng ngời và nụ cười nửa miệng của ngày xưa. Nồi khoai nấu vẫn sôi sùn sụt, củi cháy bừng lửa reo lách tách. Không gian như ngừng động! Bao nhiêu nỗi nhớ niềm thương tràn dâng theo dòng lệ long lanh trên đôi má Tịnh An ửng hồng ánh lửa bếp lúc mờ lúc tỏ.

Chị Tư bưng rổ đến vớt khoai đã nấu chín. Cử chỉ của chị nhẹ nhàng lặng lẽ như sợ khuấy động hai người. Tú Tâm lấy chéo khăn lau nước mắt cho Tịnh An, anh nhỏ giọng :
– Đừng buồn nữa em. Không phải bây giờ chúng ta gặp lại nhau, và anh đang ngồi trước mặt em đây sao? Hãy vui lên hồn nhiên vô tư như Tịnh An ngày xưa đi chớ. Em đã ốm đi nhiều…
Cô nói trong dòng lệ:
– Làm sao không ốm được? Tại sao anh không tin tức gì về cho em hết vậy? Anh có biết em sống trong buồn khổ như thế nào không?
Tú Tâm xiết chặt tay người yêu trong tay mình:
– Má anh và Tú Huệ biết anh còn sống chỉ mấy tháng nay thôi. Trước ngày giặc vào, đồng đội anh có người về với gia đình, có người bay ra ngoại quốc. Anh định về nhà, anh nhớ có đi qua nhà em đến nhà anh nhưng anh đổi ý không vào. Vì lúc đó thành phố rối loạn người, xe, giặc thù và đồng đội đã cởi bỏ áo trây-di để giữ lấy thân. Anh và một số anh em khác rút về vùng Bảy núi (nhà cô của người bạn). Các anh thề không ra trình diện. Ở đây, bọn anh trồng khoai, trồng lúa, đốn củi, lưới cá (ai làm gì được thì làm) để nuôi sống nhau rồi sẽ tính tới… Cuộc sống lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng khắc phục lần lần nhờ vào lòng cương quyết và bất khuất của anh em. Các anh bây giờ mỗi ngày một khá hơn, nhờ thanh niên, nhờ dân hết lòng giúp đỡ… Gần đây, bọn anh liên lạc được nhiều nhóm nghĩa sĩ cùng chí hướng ở rải rác từ Nam ra Bắc… Tịnh An, anh thật sự rất mừng khi nghe Tú Huệ bảo em sắp ra đi. Có phải không?
Tịnh An lau vội dòng nước mắt, lanh miệng:
– Bây giờ gặp lại anh rồi, em sẽ không đi.
Tú Tâm chợt khựng lại, vì quyết định bất ngờ của người yêu. Anh thẳng giọng:
– Bậy nè, anh biết tấm lòng của em đối với anh. Nhưng em phải theo gia đình ra ngoài đó…
– Không, em đã quyết định rồi em sẽ ở lại và đi theo anh.
Tú Tâm cười buồn:
– Anh không có nhà cửa, không ở nơi nào cố định. Em biết anh ở đâu mà đòi đi theo?
– Em không cần biết chuyện đó. Tại sao anh được còn em thì không?
– Đừng có bướng nữa!
Tú Tâm cứng miệng trả lời, nhưng anh trầm giọng:
– Xin em đừng để anh lo. Thực tế không như em tưởng đâu. Thương yêu anh thì em ra ngoài đó cố gắng học hành. Nếu có thể, sau nầy có nhiều việc em sẽ giúp anh thực tiễn hơn. Đó là điều mong ước của anh ở em…
Ngọn gió xuân đẫm sương càng về khuya càng thấm lạnh. Ở nhà trên hình như mọi người tìm nơi nào đó nhắm mắt dưỡng thần, ngủ tạm. Anh Hai được chị Tư cho mượn chiếc nóp (đương bằng đệm như cái bọc dài chừng 2 thước, miệng lớn ở giữa cho người lăn vào được. Mí cửa đệm ở trên rộng hơn chụp xuống giữ kín mí dưới. Nóp dùng để ngủ trên khô nơi nào cũng được và dễ dàng di chuyển) nên anh xách xuống ghe ngủ cho không nghe vo ve tiếng muỗi kêu. Gần nước sẽ ấm và không lo sợ ngủ trên bờ rắn rít nửa đêm chung vào nằm ké.

Đêm xuân nầy hai kẻ thương yêu được gặp lại nhau. Ngày xưa, họ là đôi nam tài nữ mạo đầy mộng ước tươi sáng ở tương lai. Theo lớp sóng phế hưng của vận nước nổi trôi, mối tình đẹp như gấm thêu hoa của họ giờ đây như không còn hy vọng gì nữa!
Tú Tâm kể cho người yêu nghe những chuyện anh biết và nghe thấy, trên những đoạn đường anh đã đi qua. Những đoạn đường của chiến sĩ Cộng Hòa năm xưa đi vào bưng, không ra trình diện sau ngày giặc cưỡng chiếm miền Nam (Tháng 30- 4-1975). Anh đã chứng kiến những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh hùng bất khuất đã nằm chết trên võng, chết ngồi dựa lưng bên gốc cây, hốc đá, bờ thác đổ ầm ầm, tràm đước sầm uất trong rừng sâu U Minh Thượng, U Minh Hạ… Trên đồi núi chập chùng của miền Trung… Mà trên tay họ vẫn trong thế ôm súng. Cây súng bạc màu vì sương gió vẫn còn đó, bên bộ xương trắng khô!
Tịnh An kể cho chàng nghe những chuyện xảy ra trong gia đình. Nỗi bất ngờ đau thương ba má cô đã lần lượt qua đời. Chị em cô lâm vào cảnh túng quẩn… Đó là ách nạn chung của người dân miền Nam không Cộng Sản! Cô kể những chuyện xảy ra của chòm xóm, bạn bè thân hoặc quen mà hai người đã biết. Ai còn, ai mất? Ai bị đày đi cải tạo ở các miền hoang du không lai vãng bóng người nơi miền Trung, miền Bắc? Và ai đã bôn đào đã chết vì cướp, vì thiên tai ngoài biển cả? Ai đã đến được bến bờ tự do…
Cơn gió đêm xuân mát rượi đùa rào rào rừng tràm bên kia. Những con đôm đốm bám lấy những cây bần cao dưới mé nước, dọc sát bờ kinh. Chúng chớp tắt, chớp tắt lòe ánh sáng như cây thông được trang trí đèn màu trên những trang sách báo của ngoại quốc. Như những cây thông có treo đèn hoa vào mùa Giáng Sinh ở sân nhà thờ năm nào.
Bàn tay Tịnh An trong tay Tú Tâm. Cả hai cảm thấy như có luồng hơi ấm truyền vào cơ thể của đối phương. Tâm hồn họ phơi phới đón nhận hương xuân đêm nay. Họ đã quên đi không gian, thời gian và nỗi buồn dài đăng đẳng sâu xé lòng mà trong phút chốc đây họ phải chia tay không biết bao giờ mới gặp lại!
Tịnh An chợt hỏi:
– Em nghe tiếng kêu của loài chim lạ? Con chim gì đó anh?
– Không, đó là tín hiệu! Bọn anh phải lên đường…
Tịnh An nói mau:
– Hay anh và gia đình cùng đi với chúng em?
Trong ánh lửa chập chờn, cô thấy rõ nụ cười nửa miệng, đôi mắt to sáng rỡ ngày xưa của người yêu không thay đổi. Nhưng giờ đây đượm thêm nét ưu sầu ẩn tiềm trong đôi mắt đó, anh ốm hơn, và nỗi âu lo hiện rõ những nét nhăn hằn trên vầng trán cao, rộng.
Tú Tâm cười buồn, nhẹ giọng:
– Nếu muốn ra đi thì anh rời nước trước ngày giặc vào rồi. Em nhớ giữ gìn sức khỏe.
Anh như nghẹn lời ngưng giây phút, rồi nói nhanh:
– Từ đây, cái gì em muốn làm thì hãy làm theo ý mình, đừng có hy vọng và chờ đợi anh! Chúng ta gặp lại đây, thời gian hết sức ngắn ngủi trong đêm xuân nầy, là Thượng Đế đã ban cho anh ân huệ lớn rồi. Cảm ơn em Ôn Thị Tịnh An! Với anh thật đã quá hạnh phúc anh không ước gì thêm ở em.
Gà đã gáy rộ, nhưng màn tối của đêm xuân vào đầu tháng giêng không trăng, vẫn còn bao phủ một màu đen dầy đặc. Gió xuân ướp hơi sương lành lạnh quét trên da thịt mọi người. Tú Huệ ngồi giữa, ôm mặt sụt sùi dòng lệ. Cậu Út ngồi bơi trước mũi, con trai cậu vẫn đứng chèo ở sau lái. Tú Tâm đẩy mạnh cho ghe tách bến, vẩy tay chào mọi người rồi quay mặt thoăn thoắt đi. Dáng anh mờ dần trong bóng đêm…

Tịnh An lẩm bẩm theo điệu nhạc từ CD, bài “Xuân Nơi Đây” trong chiếc máy hát vang điệu nhạc buồn, lời ca buồn héo hắt: “Xuân nơi đây không mai vàng đua nở/ Không hoa đào lộng lẫy dưới nắng xuân/ Không trẻ con mặc áo quần rực rỡ/ Chạy tung tăng đốt pháo, vỗ tay mừng/ Xuân nơi đây không cây xanh lá thắm/ Không áo dài tha thướt gió xuân bay/ Không nón bài thơ khăn nâu yếm thắm/ Không thoáng hương từ những khóm hoa lài/…Xuân nơi đây có tiếng lòng nức nở/ Tiếng thở dài trong héo hắt nhớ thương/ Có nỗi lòng của những người xa xứ/ Đón xuân về hồn thổn thức bâng khuâng…”
Đã bao nhiêu mùa xuân qua nơi xứ người! Tịnh An bây giờ đã hai màu tóc! Nàng vẫn sống vui, sống khỏe, sống trong hồi tưởng dấu yêu, sống trong chờ mong và tràn niềm hy vọng. Vì trong lòng nàng đã có mùa xuân!
Tệ xá Diễm Diễm Khánh An

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
***
Tôi bị Covid (Đinh Tấn Sơn PK73)
Tôi bị COVID-19

Các bạn thân:

LỜI NÓI ĐẦU:
Thể theo lời yêu cầu của Truyển, mình cũng có đôi lời tâm sự cùng các bạn nhân dịp Xuân về và hy vọng mùa dịch COVID-19 sẽ không còn là nỗi ám ảnh của mọi người.
Trong tương lai với thuốc chích ngừa mới được sáng chế tung ra trên thị trường sẽ đảm bảo một phần lớn cho mọi người dân trên thế giới.
Chúng ta rồi sẽ trở lại cuộc sống bình thường, công ăn việc làm, sức khỏe cùng y tế cộng đồng, du lịch và người gặp người sẽ không còn nhút nhát đưa bắt tay chào hỏi.
Mình phân vân mấy bữa này có nên viết ra tâm sự của mình cho các bạn xem và chia sẻ một phần nào kinh nghiệm của bản thân trong mùa dịch này: Mình bị nhiễm COVID-19 rất trầm trọng và cho đến ngày hôm nay cũng chưa hoàn toàn bình phục.
Trước khi bị bịnh, theo tin tức từ Internet, các bạn chuyển điện thư cùng đài truyền hình, mình nghĩ nếu có bị bịnh thì chỉ vài ngày rồi sẽ khỏi.
Dùng kiểu xông hơi với các dược thảo chỉ dạy trên mạng, uống Tylenol khi cảm thấy nóng lạnh nhức đầu, uống thuốc ho và cách ly nghỉ ngơi vài ngày bịnh rồi sẽ qua.
Nhưng tùy theo trường hợp bị nhiễm nặng hay nhẹ và tùy theo sức khỏe của mỗi cá nhân, có các bịnh khác vốn đã có sẵn trong cơ thể chỉ chờ dịp này để tấn công một lượt khi nhiễm thể đang suy yếu.
Thôi mình cứ viết và hy vọng với những kinh nghiệm trải qua trong 4, 5 tuần nay sẽ giúp các bạn phần nào nếu là nạn nhân của con Corona Virus này.
Có thể lối mình viết sẽ buồn và gây ảnh hưởng đến các bạn nhân dịp Xuân về vì cảm tưởng đối diện với một việc sinh tử mà trong đời mình chưa bao giờ mình nghĩ đến.
Các bạn hãy nghĩ đó là một bài học đáng giá đã không may xảy ra cho người bạn học.
Nhưng bất cứ gì xảy ra cũng có lý do của nó mà phần đông chúng ta không biết hay không đáng để tìm hiểu.

Mời các bạn vào truyện và nghe những lời tâm sự ở tận đáy lòng của thằng bạn cùng trường vì ít nhất chúng ta cũng đã có những kỷ niệm chung dưới cùng một mái trường trong mấy năm Trung học: Trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký.

VỀ HƯU TẠI FLORIDA:
Hai năm trước đây, một phần là chạy trốn cái lạnh khắc nghiệt của miền Đông Hoa Kỳ, mình đem Mẹ mình về Florida để sinh sống và an hưởng tuổi già. Từ khi nghỉ việc vào năm 2012 để nuôi mẹ vì sức khỏe và bịnh lú lẫn của người càng ngày càng trầm trọng, và chính yếu là vấn đề vệ sinh cá nhân hàng ngày đã gây ảnh hưởng đến người sống chung trong nhà, mình nghĩ chỉ ra ở riêng trong ngôi nhà của riêng mình tạo ra là giải pháp tốt nhất. Nhà cửa và đời sống ở vùng thủ đô Washington DC khá cao và chỉ với lương hưu non của mình không đủ để trang trải chi phí. Vả lại cứ vào mùa đông, bịnh dịch cảm cúm nhân thể hoành hành mặc dù có chích ngừa mỗi năm nhưng mỗi lần mẹ bị cảm cúm là mình lại thêm lo lắng. Bịnh cảm cúm (flu) đã giết đi vài chục ngàn người mỗi năm theo thống kê của nước Mỹ.
Thế là mình chọn vùng trung tâm Florida vì nơi đây nhà cửa vẫn còn rẻ, cách vùng biển hơn một tiếng lái xe nên ít bị ảnh hưởng của giông bão vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 10 mỗi năm.
Ba đứa con cũng đã trưởng thành và có việc làm chuyên môn rất vững chắc và chúng cũng có đời sống riêng của mỗi đứa.
Chúng đã dọn ra riêng, tự mua nhà và sống gần Mẹ của tụi nó.
Mình vì hoàn cảnh và nghiệp duyên khá lận đận, hạnh phúc gia đình không mấy đầm ấm nên rồi cũng thôi. Người vợ mà mình vẫn còn thương nhớ từ khi cách xa cũng vẫn ở vậy cùng các con mà không bước thêm cho cuộc đời còn lại. Mình đành dọn ra ngoài ở riêng với mẹ già.
Rồi mùa dịch Corona Virus lan tràn từ Vũ Hán đến các nước Âu châu và sau đó Hoa Kỳ.

NHẬP BV VÀ BỊNH COVID-19:

Tôi bị cảm lạnh một tuần lễ trước mùa Giáng sinh. Mấy năm trước khi còn ở Virginia, tôi và Mẹ đi chích ngừa cảm cúm và bịnh viêm phổi.
Năm nay tôi cảm thấy không cần cho chính mình mà chỉ chích ngừa cho mẹ không thôi. Sức khỏe của tôi rất là tốt nếu so sánh với các bạn cùng trang lứa. Tôi tập thể dục gần như mỗi ngày, tập tạ, đánh banh, đánh golf, bơi lội và chạy bộ. Tôi đã từng ghi danh chạy đua, và hai lần chạy Marathon 26.2 miles, 1995 va 2010 (khoảng 40 cây số). Ý tôi không phải tự khoe mình, nhưng đừng ỷ mình có sức khỏe rồi cho mình là giỏi để rồi nhận một bài học chua cay mà tôi sẻ tâm sự với các bạn sau.
Bịnh cảm lạnh lại còn ráng đi bơi và ngồi hồ nước nóng khiến bịnh nặng thêm.
Tôi bắt đầu sốt và ho nhiều. Chất nhờn trong miệng biến thành màu vàng rồi trở thành xanh khiến tôi liên tưởng đến bịnh viêm phổi mà năm năm nay tôi không chích ngừa. Tôi cũng lo sợ có thể bị nhiễm COVID-19 mặc dù tôi rất cẩn thận, không dám đi chỗ đông người tụ tập, hay họp bạn. Lúc nào cũng rán nhớ đeo khẩu trang và giữ khoảng cách ly với mọi người.
Vì tôi biết hễ bịnh mà mang về nhà rồi lây cho mẹ già thì tôi sẽ nuối tiếc và hối hận. Tôi chỉ còn có mẹ để chăm sóc nuôi dưỡng. Đời mẹ đã quá cực khổ, không ngày nào hạnh phúc. Có chồng được một năm, thì chồng đi tập kết về Bắc 1954 bỏ lại mẹ mang thai tôi được 2 tháng. Và người vẫn ở vậy nuôi tôi khôn lớn, cho tôi cố gắng học và có được ngày hôm nay.
Tôi đi mua dược thảo về xông hơi theo lời chỉ dẫn của một số đông trên mạng. Một ngày tôi xông hai lần, khoảng gần trưa và chiều tối. Nhưng càng xông, tôi thấy bịnh không thuyên giảm tý nào mà có vẻ mệt thêm. Cơn bịnh càng ngày càng nặng, tôi khạt ra đờm nhiều, ho rem người, và thở rất khó khăn, gần như ngất xỉu. Cuối cùng tôi phải nhập viện. Mẹ già được người bạn trông coi dùm. Người bạn này xuống thăm và ở chung với chúng tôi mấy tuần trong mùa lễ cuối năm. Cô có công việc làm dài hạng ở Virginia và có cháu ngoại để trông nom khi cần. Tôi nhớ đó là đêm 29 tháng 12, hai ngày trước khi giao thừa sang năm mới.
Vào bịnh viện, họ hỏi tôi triệu chứng căn bịnh và đưa tôi vào phòng quang tuyến chụp hình phổi. Phổi sưng mọng đỏ và chứa đầy nước và đó là lý do khiến tôi thở rất khó khăn. Hộ cho vội loại thuốc Steroids để làm giảm sưng và lấy bớt nước từ phổi ra. Tối hôm đó tôi nằm tại bệnh viện lầu 3 phòng 22. Đây là lần thứ nhì trong đời tôi nằm trong bịnh viện. Lần đầu tiên vào khoảng chục năm trước tôi cũng bị cảm cúm và virus làm tổn thương nội tạng, đi đại tiện toàn là máu tươi đỏ. Tôi bị liệt vào thành phần không tìm ra được nguyên nhân và phải nằm trong khu đặc biệt vì họ chưa tìm ra chứng bịnh. Họ thử ruột non, ruột già, trên cho uống Barium, dưới đẩy chất nước có màu và chụp hình nội tạng. Cuối cùng cho thằng nhỏ nhịn ăn chỉ cho uống nước và sau đó vài ngày bình phục nên được xuất viện. Không có gì đớn đau và lo nghĩ.

COVID VÀ CÁC BỊNH KHÁC:

Lần này thì đúng là một bài học để đời. Ngày hôm sau họ thử COVID-19 và kết quả dương tính. Phòng tôi nằm lầu ba và hầu hết các bịnh nhân trong cùng dãy lầu đều bị chung một thứ bịnh: covid. Bịnh càng ngày càng nặng hơn, bị viêm phổi giờ đây thêm coronavirus, tôi thở không được nên họ đem máy thở bình Oxygen ngay tận phòng và gắn ống thở vào người tôi 24/24 và có y tá trực thường xuyên theo dõi nhịp đập tim (ECG).
Tôi nằm im trên giường bịnh, không một cử động.
Tay chân tôi gần như tê dại, không một cảm giác. Đầu óc tôi vẫn còn tỉnh. Tôi cố gắng mở mắt ra để nhìn mọi thứ chung quanh căn phòng. Tôi tự nhủ nếu mình nhắm mắt lại chỉ ngủ một chút thôi, thì rồi sẽ ra sao? Có phải là cái chết sẽ đến với mình không nhỉ? Tôi sẽ tâm sự đến cái chết khi mình phải thật sự đối diện và nghĩ đến nó.
Mấy ngày sau đó họ cho tôi đủ thứ thuốc. Vì phổi còn đọng khá nhiều nước, họ cứ cho steroids vài tiếng một lần. Họ còn giải thích chất kích thích này sẽ làm tăng lượng đường trong máu và vì mình bị bịnh tiểu đường nên khá thận trọng. Cứ vài tiếng họ lại thử máu và tùy theo lượng đường họ chích insulin liên tục lúc 5 units lúc lên cả 8 units. Gia đình tôi bịnh tiểu đường xuống từ bà ngoại và truyền đến các con. Má và các cậu tôi đều bị tiểu đường và dùng thuốc mỗi ngày. Đến thế hệ tôi vài người anh em bạn dì bị nặng hơn và phải chích insulin mỗi ngày. Tôi cũng vậy, từ khi biết tiểu đường trầm trọng, tôi đổi qua ăn chay trường và từ đó cũng làm giảm nhiêu lượng đường trong máu. Chế độ ăn chay trường đã thay đổi con người của tôi về bịnh lý cũng như về tâm linh. Họ còn cho antibiotics để chận đứng coronavirus. Hai lần trong ngày họ cho uống multi vitamins và Zinc . Hộ còn chích vào bụng bằng cây kim dài hai lần trong ngày. Nhìn cây kim dài chích thẳng vào bụng, tôi cũng cảm thấy sợ hãi. Tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, nghe nói nếu bị chó dại cắn cần phải đưa ngay vào bịnh viện Pasteur để được lãnh 36 mũi kim chích vào bụng. Tóm lại ở bệnh viện con người của tôi đầy các loại thuốc. Chưa bao giờ trong đời tôi bị uống thuốc và bị chích thuốc một cách dã man như vậy.

Như vậy cũng chưa thôi, chứng bịnh đậu mùa tự nhiên trở chứng và tấn công khi hệ thống miễn nhiễm của tôi đang yếu. Hồi nhỏ trong chúng ta ai cũng phải trồng trái rạ ngừa bịnh đậu mùa. Khi về già hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể yếu đi và bịnh đậu mùa hoạt động trở lại. Ở Mỹ, 25 đến 30% những người lớn tuổi đều cần phải chích ngừa trở lại . Tên bịnh này ở Mỹ có tên là Shingles. Những chấm đỏ hiện lên bên tai trái và khắp da đầu cùng mặt. Có một cực hình là chúng tấn công thẳng vào hệ thống thần kinh làm bạn choáng ván mặt mày, mất ăn mất ngủ. Đấy cũng là một bài học và chút nữa đây tôi sẽ tâm sự cùng các bạn.

TÂM VÀ THÂN:
Mặc dù cử động khó khăn, nhưng tôi cũng hết sức cố gắng. Nhờ máy thở Oxygen, tôi rán mở mắt và cấm cho mình không được nhắm mắt ngủ. Ngủ là dám đi luôn làm sao ai lo cho mẹ già. Tôi lúc này mới biết tại sao bịnh này gây chết người và số tử thương cao. Nếu các BV đông người và không đủ máy Oxygen để trợ thở thì số tử thương sẽ lên cao. Mỗi lần thở số lượng không khí chỉ vào phổi có chừng 10 đến 15% còn lại là cơn ho rũ rượi, ho rem người và càng ho hơi thở càng yếu. Còn có máy Oxygen để thở thì cần phải giữ tâm tỉnh táo. Tâm không vướng bận và lo sợ viễn vông thì thân sẽ cảm ứng được sự sống còn và đi đôi với tâm.

Tôi nằm đây và nghĩ đến sự tương quan giữa thân và tâm và ráng phân tích để không dám ngủ. Thế nào là tâm bất an, có phải khi cảm thấy mình sợ sệt, bi ai, oán giận đời bất công, người nhân thế đối xử mình tệ bạc, người vợ yêu thương cũng có lúc phản bội, con cái không nghe lời v.v..Còn thân bất an thì sao nhỉ? Thân bị bịnh, bị đánh đập, tra tấn, hành hạ, thân bị đau đớn từ trong ra ngoài, các bộ phận bị tê liệt không phản ứng. Thành ra thân và tâm khó mà đi đôi với nhau khi chúng bất an.
Ví dụ như chúng ta đến tuổi cũng không còn trẻ nữa, tâm thì muốn làm để chứng tỏ mình càng già càng gân, lên mặt với bà xã hay bạn bè nhưng thân không cho phép, trên bảo dưới không nghe thì các bạn làm được gì, v.vv.” chỉ chịu thôi” khi Truyển than không giải được bài toán đố lớp 7. Mong các bạn đừng cười, vì bịnh đã nằm liệt giường mà còn nghĩ đến chuyện đó.

Trở lại thân và tâm, nếu có thân trần mà không có tâm hay tâm đục ngầu thì chỉ như một con vật vô tri vô giác coi như như một tấm thân vô định. Mà có tâm mà không có thân thì có gì đâu nữa mà nói vì chúng đã thuộc về cõi vĩnh hằng an lạc. Vậy thì chúng ta cùng các bạn phải có sức mạnh của tâm thức, phải biết đúng hay sai khi chọn cho mình một lối đi. Tôi nghĩ riêng về cá nhân của mình, lối sống suốt đời trường chay để được từ bi hơn và tập thiền quán mỗi ngày khiến tôi có niềm tin cùng sức mạnh . Nếu người bệnh dù nhẹ nhưng cứ than vãn tâm thức suy nhược thì không bệnh cũng thành bệnh và nếu nhẹ cũng thành nặng. Trái lại người lạc quan tâm thức cùng cầu nguyện có niềm tin vững bền, chấp nhận sự vô thường của cuộc sống thì có nặng nhưng rồi cũng qua khỏi và nếu không vượt qua được cũng là theo lý nhân duyên mà an tâm chấp nhận.

CẦU NGUYỆN:

Tâm tôi bắt đầu niệm các vị hồng danh nghĩ đến đấng Thượng Đế tối cao sẽ trợ giúp tôi thoát khỏi cơn nguy này .Tôi mở băng Tán Phật để kề bên. Tôi nghĩ đến pháp môn Quán âm, đến ánh sáng khi quán quang và nghe từng tiếng âm thanh khi quán âm. Tôi nghĩ và rán nghe trong tâm tư tiếng chuông chùa vọng lại theo bài viết của Truyển. Tôi từ nhỏ cũng thích nghe tiếng chuông chùa. Tôi cũng có lần ngồi đợi hàng giờ nghe được tiếng đại hồng chung vang rền rồi mới đạp xe đi.

Tôi bắt đầu từ ngón chân trái vẽ ra các vòng tròn trên tấm nệm và từ đó đi đến gót chân. Gót chân và cả bàn chân theo đó mà đi chuyển nhẹ nhẹ. Tôi cảm nhận được dòng máu lưu chuyển và tự đó cảm nhận được bắp chuối để sát xuống mặt giường. Tôi bắt đầu nghĩ đến đầu gối và rung nhẹ theo. Từ đó tôi rán quán niệm các bộ phận khác của cơ thể từ chân đến đầu và rán nghe được âm thanh hay cử động của chúng. Tôi nghe miệng đắng và không cảm thấy xúc giác mùi vị của miếng bánh, cái ngọt của ly trà đường. Tôi như vậy rán thức cả đêm nghĩ hết cái này đến cái khác. Tôi nghĩ đến cuộc đời từ nhỏ đến lớn khôn, đến sinh ly tử biệt và những bổn phận chưa hoàn thành trong cuộc đời còn lại. Tôi nuối tiếc và nghĩ đến nếu có chuyện không may xảy ra cho tôi, ai là người sẽ trông nom chăm sóc cho mẹ, cho mẹ ăn đút từng thìa cơm, miếng cháo, thay từng cái tã, chùi tắm rửa, thay quần áo và đắp mền cho người mỗi đêm trước khi đi ngủ. Tôi nghĩ đến cái chết thật nhiều. Càng nghĩ càng lo sợ viễn vông và tôi rán phấn đấu và chú tâm cầu nguyện.

Phải đối diện với một sự không may trong đời nhất là cái chết quá hiển nhiên, quá hiện thực, không thể nào tránh khỏi. Các bạn có quan niệm đến nó không? Có lần nào trong đời bạn nghĩ đến nó không? Bạn phải làm gì khi đối diện với nó? Bạn phải sửa soạn như thế nào? Rồi bạn có hài lòng về cách xử sự của nó không? Nó đến một cách tự nhiên. Nó đến một cách bất ngờ không cần hỏi han , không cần xin phép. Nó đến một cách vội vã không cần chào đón. Nó cũng không từ bỏ ai. Nó chỉ biết làm tròn trách nhiệm, thế thôi.
Tôi rán mở mắt, thức cả đêm và nghe kinh tán Phật kề bên. Tiếng Thầy ngâm kinh ê a với giọng trầm bổng lên xuống theo tiếng chuông, gõ mõ khiến tâm hồn tôi lắng dịu. Tôi nghĩ đến cuộc đời từ nhỏ ở ngay trong làng, tôi thường chơi với ông cậu Út lớn hơn tới 5 tuổi. Cậu dạy tôi làm ná bắn chim, đánh trống, thả vụ, chơi tạt lon và đi hái trộm xoài của nhà hàng xóm. Mỗi lần chăn bò là có đánh lộn với bọn cùng tuổi. Rồi đi theo Má coi người nhổ mạ, gặt lúa, trồng mía, làm đường, đắp bờ xe đưa nước vào ruộng. Tôi nhớ đến lần đầu tiên dùng ná bắn chim và sau lần đó tôi ân hận cho mãi đến bây giờ. Tôi dùng đá bắn chú chim sâu con vừa mới biết bay. Chú rớt ngay bên chân và mở mắt nhìn tôi như muốn hỏi tại sao phải như vậy? Tôi nâng chú lên đôi tay và chôn dưới gốc cây cùng với cái ná mà tôi mới làm được.
Cậu Út giờ đây cũng đã nằm yên vĩnh viễn dưới lòng đất. Cậu bị ung thư phổi 5 năm rồi và dùng máy thở trong nhà thương tới giây phút cuối cùng. Tôi cũng đang dùng máy thở giống như cậu và cũng nằm trong nhà thương và tôi đang phấn đấu cho riêng mình.

Tôi nhớ đến người bạn thân Phan T Dũng cũng đã ra đi trước mấy ngày nhập ngũ. Cái chết thật bất ngờ vô tình và để lại bao đau thương trong gia đình cùng bạn bè thân thuộc. Mời các bạn xem lại “ban cũ – trường xưa” mà tôi đã viết tâm sự cùng các bạn năm rồi. Rồi tôi nghĩ đến đôi chim bị nạn bên đường, cảm hứng nhân cách hoá đến người bạn thân viết ra “ Phải sống nhé anh” để an ủi mình rằng người bạn vẫn còn sống mãi trong tôi. Tôi nhớ lại trường cũ, bạn học và nhiều kỷ niệm cùng chung nhau dưới mái trường.

Tôi nghĩ đến mẹ già rồi đây sẽ không ai săn sóc từ miếng cơm, manh áo, giặt giũ, tắm rửa, lau chùi và hầu chuyện cùng người. Người thỉnh thoảng nhớ lại mình cũng đã có lần có một người con trai và sống cuộc đời thật cực khổ thiếu thốn và làm lụng cả đời cũng không để dành được bao nhiêu. Trong đêm khuya tôi bật khóc và nghĩ đến cái chết cùng với bổn phận làm con chưa được trọn vẹn. Chúng tôi đã mua sẵn hai miếng đất và tôi sẽ là người đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng chọn kế bên bà ngoại và cậu Út. Má lúc tỉnh đã nói với tôi đừng thiêu Má nghe con, nóng lưng lắm Má không chịu nỗi đau.

XUẤT VIỆN:
Tôi ở bệnh viện một tuần và sau đó họ cho tôi về.
Tình trạng tôi khá hơn và bình phục khả quan để có thể tự mình săn sóc. Vả lại thuốc men họ cũng đã cho dùng đủ rồi và giờ đây nếu có ở lại thì cũng lập lại mọi thứ thuốc. Trước đó một ngày họ tập tôi không thở bình oxygen nữa và nếu được xuất viện thì cũng sẽ không cần đem bình dưỡng khí về nhà. Oxygen chỉ là thuốc độc trợ thở đừng để lệ thuộc vào nó. Tôi về nhà và cách ly mọi người. Mẹ già nếu có săn sóc tôi rán giữ khoảng cách và đeo khẩu trang.
Cả mấy tuần nay, tôi cũng ngủ không được yên giấc. Cả đêm chỉ chớp mắt được 1 tiếng đồng hồ là nhiều lắm. Có lẽ vì rán thức và giữ tâm được yên tĩnh trong những ngày ở bịnh viện nên tôi không cảm thấy buồn ngủ. Tôi vẫn để băng tán Phật ở nhà và mở suốt đêm.
Giờ đây ngồi viết tâm sự cùng các bạn sau 3 tuần tôi nghĩ mình gần như bình phục được 80%. Hơi thở vẫn còn ngắt đoạn và nếu thở mạnh khi hít vào vẫn bị ho. Tôi tập đi bộ mỗi ngày và sau 20 phút người như không còn sức để đi nữa. Tôi cũng tập đánh banh vào tường nhưng cũng không dám phí sức . Hơi thở đầy đủ rất cần cho cuộc sống. Tôi mong sẽ có ngày sống lại cuộc sống bình thường được hít thở tự do không gián đoạn. Đó là giấc mơ và giấc mộng bình thường của tôi. Tôi cũng theo dõi một số tin trên mạng và họ có đề cập những người bị COVID nặng có thể vài tháng hay đôi khi vài năm mới trở lại bình thường. Những phản ứng phụ như hơi thở khó khăn, mất ngủ và tinh thần khủng hoảng sẽ có thể kéo dài lâu hơn. Giờ đây tôi chỉ mong được thở bình thường như mọi người và quên đi chứng bịnh kinh khủng này.

KẾT LUẬN:
Tôi đã trình bày cùng các bạn tiến trình của căn bệnh quái ác này và ta đã học hỏi được những gì để ngăn ngừa bịnh có thể xảy ra trong mỗi chúng ta mà không lựa chọn bất kỳ ai.

1. Đừng ỷ mình sức khỏe tốt rồi dửng dưng lơ là quên đi chứng bịnh lúc nào cũng ở ngay kề bên hay trong chúng ta. Phòng bịnh hơn chữa bịnh. Nó như một kẻ thù nhỏ nhoi đợi dịp cơ thể suy sụp, hệ thống miễn nhiễm yếu, rồi rủ nhau cả bọn đánh phủ đầu làm cho ta trở tay không kịp, đối diện với cái chết lúc nào không hay. Trường hợp của tôi ỷ y sức khoẻ tốt, bị viêm phổi mà còn đi bơi lội trong hồ nước lạnh rồi ngồi tắm hơi nóng, còn thêm xông hơi vài ngày sau đó vì tưởng bị COVID. Vào nhà thương tôi nghĩ với hoàn cảnh bịnh hoạn chung quanh và không mang theo khẩu trang phòng ngừa, tôi bị dương tính ngay tại nhà thương trong 2 ngày đầu. Chớ nếu có bị trước đó ở nhà thì sẽ lây cho mọi người rồi.

2. Đừng cho mình là bác sĩ rồi tự mình chữa bịnh ngoại trừ ho hay sốt hay các binh thông thường chỉ cần thuốc over the counter như Tylenol, Advil…neu bị viêm phổi phải đi văn phòng Bác sĩ, chụp hình quang tuyến và nhờ BS chẩn đúng bệnh cho trụ sinh uống liền trong 10 ngày. Không nên vào bệnh viện trừ trường hợp khẩn cấp. Đây là ổ của các thứ bệnh và COVID là bịnh dịch đang hoành hành mạnh nhất hiện nay. Trường hợp của tôi là vào nhà thương. Các con ở xa nghe ba bịnh nặng, thay vì thăm hỏi, chúng gọi ngay 911 và chỉ cần 10 phút sau trong buổi chiều tối hôm đó xe cứu thương ồ ạt đã đến tận nhà vớt tôi ngày đi vào phòng cứu cấp.

3. Nếu cần chích vaccine để ngăn ngừa flu cảm cúm, pneumonia viêm phổi hay shingles đậu mùa, hãy làm ngay mà không cần tính toán. Trường hợp của tôi, đáng lẽ tôi chích shingles vài tháng trước nhung hỏi ra từ khi có Medicare họ không trả số tiền cho loại này ($200 -$300). Tôi gọi Medicare và hỏi tại sao và vì bất bình với hãng bảo hiểm tôi cũng lơ là và quên đi cùng ỷ y mình có sức khoẻ tốt. Shingles được chích 2 lần từ 2 đến 6 tháng.

4. Nếu đã phòng ngừa tất cả mà vẫn còn bị bịnh, thử COVID và kết quả dương tính tùy theo bị nặng hay nhẹ. Thử COVID đừng vào nhà thương vì họ không thử cho bạn trừ khi làm giấy nhập viện. Nhẹ ở nhà tự trị bịnh theo đường lối thông thường của người VN là xông hơi và uống thuốc. Nặng sơ sơ thì rán cách ly và vẫn điều trị ở nhà. Giải pháp cuối cùng là nhập viện nếu quá trầm trọng thở không xong. Đã vào đây thí sinh mạng mình giao phó cho trời đất. BV là hang ổ của các thứ bệnh truyền nhiễm. Tâm ta chưa chuẩn bị sẵn sàng, tâm bất an, thân ốm yếu bịnh hoạn cảm cúm ho hen, thân bất an thì đây là trường hợp của chính mình.

5. Từ bài học để đời của chính mình, hy vọng tất cả các bạn cùng quyến thuộc sửa soạn cho mình một hành trình và chỉ có chính bản thân và tự mình phấn đấu. Thời buổi giai đoạn này đã nhập viện thì sẽ không có bà con được tới thăm, hỏi han, bị cách ly hoàn toàn trong căn phòng đầy vi trùng, trên giường bịnh ít nhất cũng có vài chục người sinh ly từ biệt trước đó.v.vv.

6. Nếu trường hợp quá nặng như mình, bạn phải đối diện với sự thật, với cái chết lúc nào cũng chờ chực kế bên. Bạn phải giữ tâm thật an tĩnh sáng suốt, cầu nguyện Phật trời hay Thượng đế gia hộ, đến đời sống vô thường, đừng tiếc nuối, hậu sự nếu có phải lo xong trước đó và giữ thân tỉnh táo, cử động theo tâm điều khiển. Quán đến cái chết, đến sinh tồn và chọn cho mình một cách phấn đấu để tâm thân cũng an tường.
Cầu mong cho tất cả chúng ta cùng gia đình vượt qua cơn bịnh quái ác này.

Mùa Xuân rồi sẽ đến đem lại hy vọng và niềm tin cho mọi người. Cành cây trụi lá rồi sẽ đâm chồi nở lộc đem lại bầu không khí vui tươi cùng sức sống. Nhân sinh rồi cũng vậy cùng nhau đón xuân, chờ những tia nắng mang theo sự ấm áp rực rỡ sau một mùa đông lạnh lẽo cô đơn.
Chúng ta rồi sẽ có một cuộc sống bình thường như mọi năm trước, gặp nhau chào hỏi, tay bắt mặt mừng. Mong Thượng Đế cùng ân trên gia hộ đến tất cả chúng ta tai qua nạn khỏi và ban phước lành cùng hạnh phúc ấm êm đến tất cả mọi người.
Đinh T Sơn
***
                Vợ Chồng Già: Có Hiểu Mới Có Thương!Vo Chong GiaBác Sĩ Châu Ngọc Hiệp

Thời gian nghỉ hưu thường tạo ra nhiều sự thay đổi và xáo trộn trong đời sống gia đình.
Đó có thể là sự thay đổi trong nếp sinh hoạt quen thuộc và phải hòa mình vào một khung cảnh mới.
Hậu quả là hưu viên phải chịu mất đi một số bạn bè cùng mối giao tiếp xã hội của mình từ trước tới giờ.

Trong gia đình, sự chạm mặt nhau hằng ngày dễ làm xẹt điện, nói qua nói lại, đưa đến khẩu chiến (thầy bói gọi là khắc khẩu hay khắc tuổi) giữa vợ chồng với nhau.

Sóng ngầm nổi lên không báo trước… Chạm mặt nhau thường xuyên.

Không biết có phải tại vì già nên tánh tình thay đổi khiến vợ chồng thường hay kiếm chuyện cằn nhằn với nhau về những cái gì không đâu, lãng nhách không hà.
Khoa học nói là bà bị xáo trộn hormones của tình trạng mãn kinh ménopause, hay bị rối loạn nhân cách giáp ranh Borderline personality Disorder BPD,còn ông thì bị mãn dục andropause tánh tình cũng hơi gàn, khi vầy khi khác, buồn vui bất thường ai mà biết được.

Bệnh hoạn nầy nọ cũng bắt đầu xuất hiện ra theo tuổi già nên ảnh hưởng ít nhiều vào sức khỏe tâm thần của cả hai người.
Nhưng phải nhìn nhận là hình như mấy bà có phần chủ động khởi xướng chiến tranh hơn là các ông.Tại sao ?
“Thật ra, cái nguyên nhân chính đưa đến việc “đè đầu, cỡi cổ” mà các bà áp dụng đều do đa số các ông tới tuổi “mãn kinh” cả.

Tới tuổi xồn xồn, đột nhiên các ông đổi tính..

Có những ông thời trẻ thì hùng hùng hổ hổ, nhưng về già thì ngoan như chú mèo ngái ngủ. Vấn đề chính là “hormone” của các ông, từ 50 tuổi trở lên, đa số bắt đầu đi xuống, muốn “lên” cũng vất vả.
Đến 60 thì chỉ còn 50% các ông còn đầy đủ đạn dược, tới khi về hưu, thì cái gì trong người cũng muốn hưu luôn, cho nên càng ngày các ông càng lép vế, lép đùi”.

Hai người mà muốn sống như chỉ có một người.

Theo các nhà tâm lý học thì trong đời sống vợ chồng, cần phải có hai người.
Nhưng cả hai vợ chồng muốn sống như chỉ có một người thì làm sao được. Chiến tranh lạnh nổi lên vì lẽ đó.

Rồi còn người nầy muốn cải hóa bắt buộc người kia phải theo ý mình, phải đoán biết mình muốn cái gì, phải giống y chang mình…
Cần nên biết rằng mỗi người đều có sở thích riêng rẽ, kiểu cách riêng biệt cũng như có nhu cầu khác nhau.
Chuyện tâm đầu ý hiệp chỉ là chuyện của mấy năm đầu tiên còn mới toanh, khi mới sống với nhau mà thôi.
Sau đó thì cả hai vợ chồng cần phải biết tự điều chỉnh để thích ứng adjust với nhau mới mong sống chung được tới ngày xuống lỗ.

Bà nói nhiều, ông tịnh khẩu.

Cái khác biệt là một người (thường là vợ) dám nói ra và nói hoài, nói mãi nagging khiến đối phương khó chịu bên trong.
Tây gọi đây là những điều bực mình hay irritants, khiến anh chồng muốn khùng luôn nên phải cố gắng làm thinh theo đúng câu của ông bà đã dạy:
Vợ giận thì chồng bớt lời/ Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.

Đây là chân lý.
Đàn ông, đàn bà là hai thế giới riêng biệt.

Xâm lấn lãnh thổ của nhau

Một nguyên nhân khác trong sự xung đột vợ chồng là guerre de territoires hay vấn đề tranh chấp lãnh thổ của họ, chốn riêng tư, chẳng hạn như cái nhà bếp của bà bị ổng xâm nhập thường xuyên.
Bà có cảm giác là ông xã tối ngày quanh quẩn chàng ràng bên chân mình làm bà khó chịu và đổ quạu không cần báo trước.
Bà sắp đặt đồ đạc có thứ tự ngăn nắp theo một kiểu cách nào đó, ông vô bếp không để ý, mà có ý đâu mà để, xớn xa xớn xác để không đúng chỗ là bà nẹt liền.
Các ông mà có lãi nhãi lại thì bị cho là già sanh tật khó chịu không biết lỗi.

Bà trách ông không biết giúp vợ.

Ngược lại có bà thì cảm thấy quá bất công, tủi thân phận mình, sao thằng chả ở không mà hổng biết thương vợ, san sẻ công việc nhà cho người ta nhờ, không giống như chồng của người ta(?).

Ông trách bà xâm lấn quyền hạn.
Phần các ông thì nói mấy bà xâm lấn quyền hạn, khó chịu quá, đòi hỏi quá đáng.
Ngày xưa, di làm ở sở, ở hãng vậy mà tự do, khỏe hơn, không ai xài xể mình hết. Về tới nhà mệt đừ, có thì giờ đâu mà cằn nhằn, mà cãi lộn với nhau.
Thật ra lúc còn đi làm, thời gian ở trong sở nhiều hơn thời gian ở bên vợ bên con nhờ vậy mà ít đụng chạm.
Để tránh chạm mặt nhau, ông bà tìm nơi chốn bình an hơn.

Để tránh sư gần gủi trên (hay sự lấn đất), nguyên nhân của xung đột, của cãi vả nên nhiều ông / bà tìm đến ẩn thân tại những vùng đất bình yên hơn, như quanh nhà, như di tản xuống dưới sous sol (basement), xem internet, vô garage hay ra ngoài vườn v.v…để tránh chạm mặt ổng / bả.
Thôi, tịnh khẩu cho yên chuyện.

Lời khuyên của nhà tâm lý học.

Nghỉ hưu cần phải có một thời gian điều chỉnh và thích ứng trong cuộc sống lứa đôi.
Cả vợ lẫn chồng phài tập sống lại với nhau trong bối cảnh hai người chớ không phải của một người.

Theo L’Institut national d’études démographiques INED (Pháp), ly dị ở lớp tuổi 60 đã tăng lên gấp hai từ năm 1985.
Nguyên nhân do những khó khăn trong thời gian nghỉ hưu đem đến:
1. Vợ chồng cần cho nhau biết sự mong đợi ở người kia. Hoạch định những sinh hoạt chung nhưng vẫn giữ những sở thích của mình.
2. Nên ý thức rằng người kia cũng cần phải có những giây phút riêng tư (intimité) của họ.
3. Rất quan trọng cần có nhiều thời gian cạnh bên nhau nhưng không nhất thiết là cả hai đều phải làm chung một việc.
4. Lúc nghỉ hưu, vợ chồng đều quá rảnh rỗi. Họ có thể sử dụng thời gian quý báu đó một cách tự chủ (autonome) và khác biệt theo ý thích của họ nhưng đồng thời mỗi người phải biết tôn trọng điều ước muốn của người kia.
Đây là cách hữu hiệu đễ ngừa thói quen (routine) theo năm tháng.

5. Để cho sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn (làm việc/nghỉ hưu) được êm ái, vợ và chồng cần phải tập quen sống với sự có mặt thường xuyên của người kia…

BS Châu Ngọc Hiệp (Châu Sa) cho ý kiến:

Hấp hôn trước khi hấp hối:

“Ngẫm lại, người quan trọng nhất đời của mình chính là người phối ngẫu. Cha mẹ rồi sẽ qua đời, con cái rồi sẽ có gia đình riêng và rời tổ ấm, bạn bè dù thân mấy cũng có đời sống riêng của bạn.
Chính người vợ hay chồng là bạn đường mà cũng là bạn đời, có phước cùng hưởng, có họa cùng chịu…”.

Các bạn thân của tôi ơi!
Nếu vợ chồng bạn thường hay tránh mặt nhau, hoặc gặp mặt nhau là cãi lẫy thì bạn cần hấp hôn rồi đó.
Hãy hấp hôn trước khi một trong hai người hấp hối, lúc đó hối hận thì đã muộn.

Hơn thế nữa, khi cha mẹ sống vui vẻ, hòa thuận, hạnh phúc thì đó là niềm vui rất lớn cho các con.
Muốn xe chạy tốt, bảo đảm thì cần bảo trì (tune up) hằng năm.

Chữ T.U.N.E.U.P. cho chúng ta nhớ những điểm chính của hấp hôn.
T: Time – Thời gian bên nhau để tâm tình, để trò chuyện, đây là thời gian vô cùng quí báu, không nên thiếu;
U: Unmask – Ung nhọt cần mổ xẻ;
N: New ear & tongue – Tập nghe, tập nói ngôn ngữ tình yêu;
E: Erase – Xóa, ‘Xóa bàn làm lại’, hấp-hôn là lúc cả hai người cùng quyết tâm viết trang mới trong quyển sách chuyện tình đôi ta;
U: Understand – Ưng ý, hiểu rõ nhau;
P: Passion – Phấn khích, tình yêu như đám lửa, để lâu sẽ nguội dần nên cần thêm củi luôn.

Chúng ta nên tránh 3 điều dễ làm mất hạnh phúc gia đình là “Chỉ trích + Phàn nàn + So bì”.
Kết luận : Có hiểu mới có thương. ”Muốn thương phải hiểu” .
Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ.

Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực.
Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu.

Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bứt rứt riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc.
Không hiểu, tình thương của mình sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau.
Không hiểu, sẽ làm người mình thương đau khổ suốt đời.
Người ta làm khổ nhau nhân danh tình thương. Chuyện đó vẫn thường xảy ra.
E rằng chỉ lý thuyết, chuyện “tịnh khẩu” ở người già thật khó thay!
***
                              ĐỔI MÀU

>BÀI VIẾT CỦA MỘT CỰU SĨ QUAN VNCH, CỰU TÙ CẢI TẠO CS -NGUYÊN SINH VIÊN ĐẠI HỌC LUẬT KHOA & ĐH VĂN KHOA SAIGON và CỰU HỌC SINH VÕ TRƯỜNG TOẢN SAIGON

Đổi màu
Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Cộng sản vào. Ông bị đi tù. Đói và khổ. Nhiều năm sau, ông được ra tù. Hết đói nhưng vẫn khổ. Thời may có người bạn từ phương xa về gửi giúp ông ít tiền. Không nhiều, nhưng rất quý trong cảnh ngộ. Ông thấm thía câu: “ Miếng khi đói bằng gói khi no “. Hằng đêm, ông lén nghe đài phát thanh và ngóng tin ngoại quốc. Mong ước bạn bè đã đi thoát hãy cố gắng làm điều gì đó cho quê hương, dân tộc. Trong đó có ông.
Bây giờ sang đây. Đổi đời. Làm ăn khấm khá. Ông muốn quên hết chuyện xưa.
Hôm qua có mấy người bạn cũ đến mời ông tham dự họp mặt. Ông viện lẽ bận rộn từ chối, tự nhủ thầm: ” Không lo làm ăn, hơi đâu lo chuyện ruồi bu ! “ . Được mời gọi đóng góp giúp đỡ thương phế binh và bạn bè còn kẹt ở quê nhà, ông cười khẩy, lắc đầu quầy quậy : “Ai có thân nấy lo, của đâu mà giúp người dưng “.
Bạn bè cáo từ. Ông tiễn ra cửa.
Trên cây trước nhà, bên cạnh những cành lá xanh tươi, có một cành bị sâu đục thân.
Lá trên cành đã đổi màu tự bao giờ.

Bạc bẽo
Ngày xưa nhà nghèo. Mỗi ngày Ba chở hai con đi học trên chiếc xe đạp cà tàng. Đường đến trường nhiều dốc cao. Ba, người đẫm mồ hôi vẫn cố còng lưng đưa hai con đến trường đúng giờ. Có hôm trời mưa như trút nước. Ba cha con chỉ có một áo mưa. Ba nhường cho hai con để không bị ướt. Trên đường đi, Ba thường kể chuyện vui cho hai con nghe. Dù mệt hay khỏe, không bao giờ nghe Ba than một tiếng.
Nay sang đây định cư. Hai con đã trưởng thành và vững chãi. Còn Ba tuổi già không lái xe được. Đi đâu cũng phải khó khăn nhờ hai con chở.
Hôm nay có mấy người bạn điện thoại mời họp mặt. Ba nhờ hai con đưa đón. Đứa em thoái thoát: “ Con không rảnh đâu, ba nhờ chị Hai chở đi “. Nó lên xe chạy vội ra quán cà phê tán gẫu với bạn bè. Chưa kịp nhờ, cô chị đã gắt gỏng: “ Già rồi, không lái xe được, chịu khó ở nhà cho yên thân, đi ra ngoài làm gì để người ta phải đưa đón phiền hà ”.
Ba nghe nói. Buồn. Làm thinh. Thẫn thờ ra sau vườn đốt điếu thuốc.
Mẹ ngồi nghe thấy hết. Nhìn theo Ba, nước mắt rưng rưng.
Xót Xa
Ông Bà lấy nhau đã được vài chục năm. Mặn nồng hạnh phúc đâu cũng được thời gian đầu. Có chung nhau vài mặt con.
Lâu dần ông cảm thấy bực bội với bà. Nhiều khi ông cứ cho bà là gánh nặng. Ra vào cứ hỏi han, cật vấn, cái gì cũng lo cũng hỏi. Làm như ông là con nít vậy. “ Mất cả tự do, thoải mái “, ông thầm nhủ.
Rồi ông lạnh lùng chia tay với bà trong niềm luyến tiếc của gia đình. Ông bỏ mặc những lời khuyên can, năn nỉ của bà và con cái. Ông cương quyết xây dựng hạnh phúc mới. Người ta còn trẻ, dễ nhìn và biết chiều chuộng nữa. Ông vui mừng tưởng như có được hạnh phúc mới. Sau thời gian không lâu, ông vỡ lẽ ra rằng người mới chỉ săn đón ông thời gian đầu quen nhau và chỉ có thể vui vẻ trong những lúc vui chơi nhậu nhẹt. Về sống chung mới biết, mới thất vọng. Còn chuyện bếp núc, chăm sóc gia đình , so với bà, người ta chỉ là con số không to tướng.
Rồi người mới cũng bỏ ông ra đi. Cũng dễ dàng như khi họ đến với ông.
Ông cảm thấy tiếc nhớ bà. Ân hận, tiếc nuối. Biết mình sai và có lỗi, nhưng ông mặc cảm và tự ái, không dám về nhận lỗi với bà và gia đình.
Cho đến hôm qua. Bà mất. Con cái báo tin để ông về dự đám tang. Tối đến, ngồi nghe lời kể của cô con dâu:
– Ba biết không, Ba đi rồi Má buồn khổ và nhớ Ba lắm. Cả ngày cứ thờ thẩn. Thỉnh thoảng Má nấu ăn cho tụi con mà cứ nói: “ Ngày xưa Ba tụi bây thích món này, thích món kia lắm “. Có lần bắt gặp, ngồi trước mâm cơm, Má lẩm bẫm một mình : “ Hồi đó tui nấu cho ông ăn, ráng để ý chiều theo khẩu vị của ông, để ông được ngon miệng. Bây giờ tui nấu cho ai ăn đây? Muốn có người khen chê mà cũng không còn “. Rồi Má thút thít, lấy khăn quẹt nước mắt. Thấy thương Má quá Ba ơi!
Đau buồn quá, Má lâm bệnh suy nhuợc và qua đời trong nỗi cô đơn nhung nhớ. Giờ chót Má còn ráng trăn trối: “Mấy đứa ở lại nhớ thay Má để ý lo cho Ba nghe “. Rồi Má đi.
Ngồi bên quan tài của bà, ông tan nát cõi lòng.
Văng vẳng có tiếng ai hò:
“ Hò ơ…Chim xa rừng thương cây nhớ cội,
Người xa người… Tội Lắm Người Ơi !!!”
Ông nghe mà xót xa, não nuột. Tưởng như tiếng của bà vọng lại từ cõi xa xăm.

HCP/ Viết từ Atlanta
***
*TRANG BIÊN KHẢO-TẢN MẠN*THAM KHẢO:

          *LÊ TUẤN * PHẠM TRẦN ANH * VƯƠNG ĐẰNG *
         *LÊ NGỌC CHÂU * LÊ HUY TRỨ * TUỆ UYỂN *
***
Vương Đằng:L 20161025104957847 Kho Sach Noi Phong Tuc Mien NamTỤC LỆ ĂN TẾT NGUYÊN ĐÁN
CỦA NGƯỜI MIỀN NAM TRƯỚC 1954

(Trích từ “Phong Tục Miền Nam”, Vương Đằng)

TIỂU CHÚ: NẾU MUỐN NGHE NGUYÊN CUỐN SÁCH PHONG TỤC MIỀN của Vương Đằng, thì MỚI BẤM ĐƯỜNG TIẾP MẠNG (LINK) DƯỚI ĐÂY!

http://khosachnoi.com/sach-noi/1125/phong-tuc-mien-nam.html

Tại sao gọi là Tết Nguyên Đán?
Tết đọc trại từ chữ Tiết; Nguyên có nghĩa là đầu; Đán là buổi sớm mai. Vậy Tết Nguyên Đán là thời tiết buổi sớm mai đầu tiên của một năm. Nguyên Đán đồng nghĩa với Nguyên Nhật; vậy có gọi Tết Nguyên Đán là Tết Nguyên Nhật cũng được, nhưng qua bao nhiêu thế hệ mọi người Việt Nam quen gọi là Tết Nguyên Đán và thường gọi tắt là Tết.

I. NGUYÊN ỦY VÀ VẬT THỰC:

A. NGUYÊN ỦY:

Xét về nguyên ủy hay nguồn gốc, chúng ta hãy
nghe ý kiến của Thái Văn Kiễm:
“Lễ Nguyên-Đán hay nói nôm na là ngày Tết, lấy nguồn gốc từ đời Ngũ-Đế Tam-Vương, nhưng ngày tháng lại khác, không như bây giờ:
Đời Tam-Vương, nhà Hạ ưa chuộng màu đen, thì chọn đầu tháng Dần là tháng đầu để ăn Tết. Còn nhà Thương ưa thích màu trắng, lại lựa tháng Sửu là tháng chạp. Đời nhà Châu ưa sắc đỏ, lại chọn tháng Tý là tháng mười một.
Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa, nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu mới có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra Tết khác nhau.
Qua đời Đông châu, Đức Khổng-Phu-Tử theo nhà Hạ, đổi ngày Tết vào tháng Dần để cho thiên hạ ăn Tết nhứt định. Nhưng nó không được để yên, vì lẽ đến đời nhà Tần, tháng Tết lại nhảy qua tháng Hợi, tức là tháng mười.
Cho đến khi nhà Hán lên ngôi trị vì thiên hạ, theo chủ trương của Đức Khổng-Phu-Tử, lấy tháng Dần là tháng Giêng để thiên hạ ăn Tết, làm ngày nhất định cho đến ngày nay.
Hơn nữa các vua chúa đều nhìn nhận, trong một năm có bốn mùa là xuân, hạ, thu, đông, mà chỉ có mùa xuân là tươi đẹp hơn cả, khí trời mát mẻ, êm đềm hơn.
Đời nhà Hán, ông Đông-Phương-Sóc cho rằng ngày tạo thiên lập địa, có thêm giống gà, ngày thứ hai thêm chó, ngày thứ ba sanh heo lợn, ngày thứ tư sanh dê, ngày thứ năm sanh trâu, thứ sáu sanh ngựa, thứ bảy sanh ra loài người, thứ tám sanh ra ngũ cốc . . .” 1
Đó là nguồn gốc Tết Nguyên Đán. Ở Việt Nam chúng ta chưa biết dân mình bắt đầu ăn Tết từ thời nào nhưng chắc chắn đã xa xưa và từ lai lịch Trung Hoa; Tết Nguyên Đán đã hoàn toàn trở thành một phong tục bền vững của người Việt chúng ta và theo Ngọc Tâm2, hiện nay Tết Nguyên Đán là một cái Tết đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta cũng nên biết rằng trên thực tế, người Tàu (ở Trung Hoa, Đài Loan) và dân chúng Đại Hàn cũng ăn Tết Nguyên Đán cùng ngày với người Việt chúng ta.
Đó là gốc tích xa xưa theo sách vở. Còn đối với đại đa số người dân miền Nam, Tết Nguyên Đán mang những mục đích và ý nghĩa thực tế hơn.
Miền Nam ít sống theo tổ chức đại gia đình như người Tàu, con cái lớn lên có gia thất cha mẹ thường cho ra ở riêng, ngoại trừ đứa con trai đầu (thứ hai) hay cậu út ở để chung lo phụng dưỡng cha mẹ. Bà con quyến thuộc nội ngoại kẻ đông người tây, kẻ Sài Gòn người Lục Tỉnh. Tết là một dịp gia đình đoàn tụ bên bàn thờ ông bà, bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu chuyện làm ăn gặp gỡ vui buồn được cơ hội thố lộ với những người gia quyến.
Hồi xưa, vào thế kỷ XVIII, XIX và đầu XX, dân miền Nam quê mùa lam lũ với ruộng vườn rẫy rừng, tràm mấm, quanh năm tay lấm chơn bùn eo sèo gò nước, chỉ mỗi lần Tết đến người ta mới nhơ,ù mới dám quét tước nhà cửa, dọn dẹp đồ đạc, chưng dọn bàn thơ øtổ tiên, ông Táo, ông Thổ địa một cách chu đáo. Đồng thời chỉ chờ Tết, khi lúa đã vàng đồng hay đã đầy bồ, nợ nần trang trải, sưu thuế xong xuôi, người ta mới nghỉ xã hơi thật sự; và trong cái dịp “lâu lâu mới có một lần” đó người ta mới dám nhậu lu bù, chơi bời đàn địch, cờ bạc thả giàn.
Sau khi tìm hiểu nguyên ủy cũng như ý nghĩa, chúng ta cùng quan sát dân miền Nam ăn Tết Nguyên Đán như thế nào vào hai khía cạnh: vật thực và tục lệ. 3

B. VẬT THỰC:

Chúng tôi xin phép chỉ điểm sơ qua, hẹn ở phần II sẽ đề cập đến
phẩm vật thực phẩm đầy đủ hơn.

1. Phẩm vật:
a. Trên bàn thờ: Phẩm vật được gọi là đồ thờ. Tết đến, đồ thờ ít
được sắm sửa thêm (ngoại trừ trường hợp bị bể, hư) nhưng luôn luôn được đem xuống lau chùi kỹ lưỡng.
Quan trọng và ngán nhứt là chùi đỉnh lư và cặp chưn đèn. Thuở xưa (trước 1990) làm gì có dầu chùi bóng như bây giờ; người ta bèn đem trái khế chua đập giập lấy nước trộn với tro bếp; rồi lấy cặt bần làm miếng chấm cọ sát, bao nhiêu ten sét rỉ đồng đều đi tuốt. Khoảng đầu thế kỷ XX đến 1945, ở thị thành ưa xài dầu bóng hiệu Tây U là “chiến” nhứt. Giỏi chùi đã được khen nhưng biết trau lư mới quý hơn, nghĩa là khi mua phải chọn kỹ lư không bị tì vết và khi xài chùi tránh trầy sướt; thành thử khi chùi lư, con cháu đứa nào mạnh tay cẩu thả dễ bị “kí” đầu.
Lo bộ lư xong phải lau quét di ảnh ông bà, bức đại tự, tranh sơn thủy, bàn thờ. Rồi tới súc rửa, nào quả tử lộc bình, nào ly, chung, chén dĩa, dĩa thờ.
b. Trong nhà cửa: Nếu nhà quá nghèo thì cái gì cũ cũng đem ra rửa, lau chùi hay sửa xài đỡ. Thường trong dịp Tết, dân làng ưa sắm cái mới những vật dụng
sau:
— Liễn đối: là thức đầu tiên được mua hay viết lại mới. Trước khi bước vô nhà, thường ít ai để ý đến liễn đối, không phải không có mà vì màu sắc đã mờ nhạt (bị ảnh hưởng của khói nhà bếp và thời gian), có khi bị mất đầu rách đuôi; nhưng vào dịp Tết, cặp liễn đỏ thắm chữ đen hoặc vàng, bạc dán dọc hai cột cửa chính đập vào mắt mọi người:
“Môn đa khách đáo thiên tài đáo
Gia hữu nhân lai vạn vật lai”.
Nhà kia rực rỡ với câu đối hai bên cột cái:
“Tân niên hạnh-phước bình an tấn
Xuân nhựt vinh-huê phú-quới lai”.
Có những cột gỗ mục như sắp gãy được che đậy với dăm câu như:
“Thiên tăng tuế ngoại nhơn tăng thọ
Đức mã càn khôn phước mãn môn”. 4
Tư gia nào trước sân có vườn hoa với ao sen với hòn non bộ nho nhỏ, chắc chủ nhà không quên dán cặp liễn:
“Sơn-thủy thanh cao xuân bất tận,
Thần-tiên lạc thú cảnh tràng sinh”.
Có xuân mới có Tết, nên Tết đến là dịp người ta
treo câu đối tán tụng mùa xuân:
“Xuân như cẩm-tú nhân như ngọc,
Khách mãn gia-đình, tửu mãn tôn”.
Mỗi lần Tết nhứt là mỗi lần dân làng có quyền tin tưởng sau một năm lao lực, người người hy vọng tương lai được hưởng những ngày yên bình và những ngày xuân trăm sự tốt lành theo sở nguyện:
“Niên niên như ý xuân,
Tuế tuế bình an nhựt”.
Và hằng chục câu đối khác được viết khắp đó đây, nói lên bao nguyện vọng:
“Phước sinh lễ-nghĩa gia-đường thạnh,
Lộc tiến vinh-huê phú-quới xuân”.
Phước lộc nhà nầy mong mỏi, còn người khách thích có phước phải kèm theo đức nên dán câu:
“Phước mãn đường, niên tăng phú quới,
Đức lưu quang, nhựt tấn vinh-huê”.
Tóm lại, nhận xét riêng về đối, liễn Tết, chúng ta thấy miền Nam ít xài hơn miền Bắc, nội dung tương tự miền Bắc và Trung (chỉ khác ở chỗ đọc: phúc thành phước, nhật thành nhựt, thịnh hành thạnh, v.v..). Liễn, đối Tết ở miền Nam từ sau đệ nhứt thế chiến đến nay, càng ngày càng ít được dân chúng thưởng thức, vì hầu hết viết bằng chữ Hán: đại đa số nhơn dịp Tết người ta mua của thầy đồ, thầy Tàu những câu liễn đối viết sẵn bán ngoài phố chợ đem về treo, dán cho rậm đám, vui cửa, vui nhà.
Thỉnh thoảng cũng có đôi câu đối Nôm như:
“Đỏ đen đôi ba ngày Tết,
Mặn lạt năm bảy ngày chay”.
Đặc biệt ở Cà Mau có dán liễn “trên cây cột cắm bàn Ông Thiên, ngoài vườn trên thân mấy cây cau, dừa, mít, ổi cho nó sai trái”. 5
— Rèm cửa: Dù cửa chính, cửa sổ hay cửa buồng, ngày xưa rèm cửa gồm hai mảnh, khi thả thì vắt qua hai bên, không có kiểu một mảnh, kiểu rèm cửa lỡ (lưng chừng cửa), kiển màn kéo như bây giờ. Xưa, rèm cửa tránh máu trắng trơn (màu của tang chế!), thích trắng cũng phải thêu đệm màu mới không bị dị nghị.
— Bộ tranh tứ thời: bằng giấy, thuở xưa, có khi vẽ trên vải lụa, vì vẽ tay nên nhà khá giả mới có, còn từ sau 1945 người ta in sẵn bày bán nên nhiều người cũng thích mua về chưng trong nhà, vừa đẹp vui, vừa có tính cách giáo dục.
Tuy nói là tranh tứ thời, tức phải vẽ cảnh bốn mùa, bốn thứ (như mai, lan, cúc, trúc hay ngư, tiều, canh, mục), nhưng dần dần cảnh bốn mùa nhường bước cho truyện tích như Phạm-Công Cúc-Hoa, Lục Vân Tiên, Con Tấm Con Cám, Trần Minh khố chuối, Đức Phật Thích Ca, v.v..
Còn các tranh rời từng tấm như tranh Lã Vọng, Tiến Tài, Tiến Lộc, Vũ Định, Thiên Ất, Lý Ngư vọng nguyệt, v.v.., mà dân miền Bắc thích chưng, lại ít được dân miền Nam ưa chuộng, chỉ trừ thiểu số trí thức trưởng giả.
Có nhiều nhà xài kỹ, hết Tết, tranh cũng nghỉ treo, để dành sang năm xài nữa cho đến khi cũ mèm mới chịu mua tranh mới.
— Tấm nấp bàn: Ngày xưa, tấm nấp bàn bằng vải bông (nếu vải trắng thì hiệu 999 tốt nhứt!), ít bằng ny lông như bây giơ.ø Nhà nào sang trọng thì nấp bàn bằng tơ hàng nỉ nhập cảng có viền tua mỹ miều, trên mặt có thêu hoa, phượng, long, lân rực rỡ (màu đỏ và vàng nổi bật!).
— Bông chưng: Chưng trong lục bình trên bàn thờ ông bà thường có vạn thọ làm chuẩn, đệm bông trắng. Trên bàn thờ Phật, người miền Nam ưa chưng bông sen. Còn các bàn thờ khác (thường nhỏ) chỉ một bó vạn thọ đã chật lục bình. Bàn thiên thường được chưng bông trắng hay vạn thọ. Kể từ sau 1945, ở thị thành có nhiều nhà thích huệ thì chưng bàn thờ giữa và bàn thờ Phật toàn bông huệ trắng kèm nhành dương liễu giả (lấy điên điển thay thế) nho nhỏ; còn các bàn thờ khác cũng vàng ối vạn thọ. Đôi ba nhà có đệm thêm nhánh mai giữa lục bình.
Còn giữa gian nhà trên (tức phòng khách), nhà nào khá giả dám chưng cả một gốc mai cao một hai thước, bông rớt vàng nền; nghèo nghèo kèm hai cột một cặp chậu cúc, vạn thọ, mồng gà, ớt kiểng, quít kiểng, v.v.. Ở ngoài sân, tùy nhà có đất vườn thì trăm hoa, cây kiểng khoe sắc. Nhà ở chật hẹp thì cũng có đôi chậu hoa kiểng tươi thắm khác với thường ngày.
— Phục sức: Trẻ con nhứt định phải được may sắm dù cha mẹ giàu nghèo; nghèo một bộ, tối thiểu cũng có cái áo mới; giàu thì hai ba. Màu sắc rực rỡ, đó là đặc tính của áo quần trẻ con, nhứt là trong dịp Tết. Xưa, trong mấy ngày Tết, con trai con gái mang guốc (ở nhà quê, thường ngày đi chân không, ngoại trừ con nhà giàu!); con gái kèm thêm đôi bông, kiềng vàng hay đồng.
Trai tráng, thanh, thiếu nữ chỉ chịu thua trẻ con về màu, chớ đến Tết mà thiếu bộ đồ mới là một điều quá buồn (có khi cảm thấy mắc cỡ). Ở thế kỷ XIX, chưa biết xài mỹ phẩm, chỉ xức dầu dừa; nhưng qua đầu thế kỷ XX, các cô đã biết xài dầu thơm Cô Ba, vòng vàng lắm kiểu, nào khâu vàng, cà rá kiểu chữ ngẫu (ngũ), kiểu liên huờn, dây chuyền nách, v.v..
Còn đối với ông già bà cả có thể khỏi cần sắm sửa, nhưng Tết là một dịp để họ đem áo quần giặt chải sửa soạn vén khéo. Trước thời Tây đô hộ làm gì có bàn ủi thì ông bà chúng ta cứ vuốt cho ngay rồi xếp lại, dằn dưới giường năm ba ngày, một tuần lấy lên cũng láng o.
Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, những người học đòi văn minh Âu Tây, bắt chước thực dân ăn vận lắm mốt. Bên đàn ông có quần lãnh đen, giày hàm ếch, áo bành tô hoặc mặc quần lụa trắng, có dây nịt nỉ đen, giày ăn phón , cà la oách, áo u ve, cầm can hoặc thêm trên đầu cái nón nỉ hay quấn khăn nhiễu đầu rìu, miệng ngậm xì gà (hoặc ống đót hình chữ S là quá bảnh tẻn!). Bên phái yếu bắt đầu để móng tay dài (nhưng ăn trầu xỉa thuốc!), mặc quần lãnh trắng mướt và vài cô, thím dám “phi-dê” cái đầu.

2. Thực phẩm: gồm bánh mứt, trái cây, xôi chè, món ăn, thức uống. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến thực phẩm được dùng trong dịp Tết trước 1945, vì sau đó đến nay người dân miền Nam không còn ăn Tết như xưa: Từ 1945-1975 (ngoại trừ khoảng thời gian ngắn ngủi 1955-1959) vì chiến tranh nên người dân vội vàng ăn Tết và biết bao nhiêu thực phẩm nhập cảng và từ 1976 đến nay phong tục và hoàn cảnh thay đổi, cộng thêm đồ ngoại hóa quá nhiều.
Thuở xưa, ở làng quê, Tết đến khắp thôn làng rộn rịp làm bánh. Bánh tét đứng đầu, nhà nhà treo tòn ten. Đầu nầy tráng bánh, bánh tráng mỏng chiếm đa số, rồi bánh phồng. Đầu kia xúm xít gói bánh ích (ếch), đổ bánh tổ. Còn phải ra chợ mua thêm bánh quy, bánh cúng, bánh cấp (cặp), bánh bò, bánh thuẫn (thửn), bánh da lợn, v.v.. Nhà nào có thời giơ ø và đủ vật dụng lo làm mứt dừa, mứt bí hoặc thêm mứt gừng; còn các loại mãng cầu, me, cà, khoai lang, v.v., mới được bày đặt chừng sau 1945; không làm thì ra chợ mấy chú Chệt bán cho. Trong loại mứt phải kể đến hột dưa nhà nhà đều mua, các cô, các thím ưa lắm; thỉnh thoảng có nhà dùng hột bí rợ khô ăn béo hơn.
Khách vô nhà ai trong ba ngày đầu năm, nhìn lên bàn thờ, chắc chắn sẽ thấy dĩa quả tử đầy ắp trái cây. Nổi nhứt là mấy nải chuối mới chín hoặc xanh xanh; bên trên chồng chồng đu đủ, cam, vú sữa, quít, mận, có nhà thêm nhánh sung để nói ý mong nhà mình sang năm phát đạt đầy đủ. Trái cây phần lớn là cây nhà lá vườn; đặc biệt ở miền Nam, có Tết phải có bán, mua, cúng, ăn dưa hấu (ăn với muối chớ không ăn với đường như ở miền Bắc). Những nhà khá giả hay ở phố chợ thích chưng thêm trái cây nhập cảng của Tàu: cam Tiều, hồng tươi hay khô, nhãn khô, vải khô, v.v..
Trên bàn thờ khi dọn cúng chúng ta còn thấy xôi chè.
Bàn thờ Ông Táo, Thổ địa, Thần tài hay được cúng chè ỷ ít tốn kém vừa dễ làm; bàn thờ ông bà hay dọn chè nếp, chè trôi nước (đọc trại là xôi nước), đậu xanh hay đậu trắng.
Xôi phải kể xôi đậu xanh thông dụng; nhà nghèo nấu xôi nếp trơn, xôi lá cẩm; và đi chợ khi lại hàng bánh bà nội trợ phải nhớ mua thêm xôi vị.
Trong dịp Tết lo đồ Tết, quan trọng nhứt là thức ăn, vì quanh năm dân làng ăn uống qua loa (trừ khi có giỗ quảy, cưới hỏi!); Tết đến là dịp để mọi người mặc tình ăn nhậu.
Mâm cơm cúng ông dù dù mạt rệp bao giờ cũng gồm ít nhứt ba bốn món phổ thông: cá thịt kho, dưa giá, canh chua cá lóc, mì, bún, hủ tiếu xào, cá trê chiên dầm nước mắm gừng, v.v.. Nhà kha kha có thêm canh lòng gà bún tàu, gỏi gà xé phay, cháo vịt, chả, nem, bì, v.v.. Miệt Hậu Giang ưa dùng dưa bông điên điển, dưa môn, bông sún. Dân khá giả, dân chợ thích mua thêm: khô nai Biên Hòa, thịt phơi khô hay lạp xưởng hiệu Xảo-Ích-Hữu-Ích hoặc lạp xưởng Nam Vang, thịt vịt phơi khô. Khu Chợ Lớn hay tỉnh lỵ, quận lỵ có nhiều con cháu Trung Hoa lai nhiều đời sinh sống, thức ăn pha nhiều món Tàu theo kiểu nấu bát trân như: kim châm, nấm mèo, tàu hủ ky, đồm độp (đột đột), gân nai, bào ngư khô, v.v..
Ăn phải đi với nhậu mới đúng điệu. Trai tráng, nhứt là người đứng tuổi và mấy ông già, ăn ít mà nhậu ắp lút. Rượu đế “làm đầu”, nhà nhà đầy lít, phổ thông từ trươc hồi Pháp thuộc. Ngũ gia bì của Tàu cũng được qua miền Nam từ lâu. Rượu ắp xanh mới có khi Pháp lập hãng rượu ở Chợ Lớn (hãng rượu Bình Tây); dân chợ mới nhậu. Mai quế lộ mới có sau 1954. Nhà trưởng giả, dân thầy chú theo thực dân ưa khai vị bằng rượu chát (hiệu Bordeaux phổ thông); rượu cổ nhác (hiệu Martel là sang nhứt!) uống giữa tiệc đến “quắt” mới thôi.
Cuối cùng, trừ trẻ con, ai ai cũng uống trà sau khi tráng miệng bánh mứt. Hồi xưa, trà Blao (Bảo Lộc) chưa được thông dụng; trà lá chỉ nhà nào có vườn mới trồng dăm buội; hầu hết dân miền Nam uống trà Tàu (trước 1945 trà Tàu hiệu Kim Huê nổi tiếng miệt Hậu Giang). Con nít thì nốc nước mưa cũng đã đời.

II. TỤC LỆ:

1. Đối với các đấng thiêng liêng: trong thời gian Tết Nguyên Đán không có tục cúng riêng Trời, Phật, Thần, Thánh như ngày vía, mùng một, ngày rằm, nên chỉ khi nào dọn cơm cúng tổ tiên dân miền Nam bày thêm trên bàn Thiên, bàn thờ Phật, Thổ địa, Thần tài, Táo quân một bình bông nhỏ, một dĩa trái cây, ba chung nước, hoặc thêm bánh mứt, xôi chè và đốt ba cây nhang. Sáng mùng ba6 nhà nhà ra sân dọn mâm cúng ba vị Hành Khiến (gồm: Hành Khiến, Hành Binh, Phán Quan) 7 gọi là cúng đầu năm hay cúng ra mắt. Mâm cúng gồm có: một con gà, dĩa trái cây, chè xôi, bình bông, nhang đèn và hai bộ đồ thế (một bộ nam cho chồng, một bộ nữ cho vợ). Tuy nhiên, chiều tối ngày cuối năm (30 hay 29 Tết tùy năm) trong lễ rước ông bà và hôm mùng bốn Tết cúng tất, người ta có bày thêm một mâm đồ mặn để cúng Thổ địa, gọi là cúng “đất-đai viên-trạch” và dân làng không quên thỉnh Ông Táo đi chầu trời về cùng một lượt với lễ rước ông bà.
Thuở xưa đúng mùng ba, dân làng quê miền Nam mới đi chùa, miễu cúng bái Phật, Tiên, Thần, Thánh, chỉ trừ dân Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định có tục đi viếng Lăng Ông Bà Chiểu và xin xâm ngay từ lúc giao thừa. Kể từ sau 1945, dân làng ưa đi chùa từ sáng mùng một lai rai đến chiều mùng ba. Khi lễ bái chùa chiền, bà già và phụ nữ chiếm đa số, dân làng mang theo nhang đèn, ai dư giả hay sùng bái dâng thêm hoa quả, bánh mứt; còn cúng điện, lăng, miễu, ngoài nhang đèn, hoa quả, bánh trái có khi người ta dâng cúng hay làm lễ tạ bằng đồ mặn như đầu heo, gà, vịt, v.v.. Riêng giới trẻ, nhứt là trai tráng đi lễ chùa, miễu không mang lễ lộc cũng không ai dị nghị.

2. Đối với người đã chết: Ngày Tết có thể coi như ngày giỗ hội, ngày kỵ cơm cho tất cả mọi người trong dòng họ nội ngoại đã khuất mặt mà cũng là thời gian dài nhứt trong một năm mà người sống mời vong linh của tổ tiên, ông bà, chú bác, cô dượng, em cháu về xum họp với con cháu, với gia đình. Bởi vậy, tục lệ đối với những người đã chết, trong mấy ngày Tết được mọi dân làng chú trọng và thi hành nghiêm chỉnh (trong những năm loạn lạc giặc giã về vật chất hình thức có sơ sót, nhưng tinh thần vẫn như xưa).
Từ 23 tháng chạp lần lừa đến sáng 30 (hay 29) nhà nhà mua sắm, quét dọn, chưng diện bàn thờ, đồ thờ và mọi ngõ ngách, vật dụng cho thật sạch sẽ, tươi sáng để chuẩn bị đón tiếp người khuất mặt.
Chiều tối 30 (hay 29), nấu nướng xong xuôi, vợ chồng con cháu tựu họp đủ mặt là bắt đầu dọn đồ cúng để làm lễ rước ông bà.
Bao nhiêu món ngon vật lạ bày ra: bàn thờ chính giữa một mâm (để cúng cửu huyền thất tổ), hai mâm cho hai bàn thờ nhỏ bên phải, bên trái (để cúng bà con bên nội bên ngoại), trên bàn nước kế bàn thờ lớn một mâm (để cúng đất đai); ngoài ra, trên bộ ván hay chõng tre bên trái hoặc bên phải bàn nước cũng có bày thêm một mâm nữa (để cúng các vong linh, vai ngang hay vai nhỏ hoặc bà con dòng họ mà không có thờ trên hai bàn thờ nhỏ), vị chi là năm mâm (ở phố chợ, thị thành nhà cửa chật hẹp thường ba mâm vì chỉ có bàn thờ ông bà). Nói là mâm chứ thường trên ba bàn thờ, các món ăn được bày lan tràn theo chỗ trống, vì đồ thờ nhiều, bàn chật không thể để mâm (có khi phải để chồng đồ ăn lên nhau vì thiếu chỗ!). Mỗi mâm cúng phải có một lư nhang, cặp chưn đèn (không có thì úp ngược chén, lấy chai, lấy lon dùng tạm), ba chung nước, ba chung rượu, ba đôi đũa (riêng mâm cúng trên ván phải có cả bó đũa vì rước nhiều vong).
Bày biện xong, nhang đèn hương trần nghi ngút, gia chủ ra làm lễ rước ông bà. Theo Việt Cúc thuở xưa ở Gò Công (có thể ở nhiều tỉnh khác) lễ rước ông bà diễn ra như sau: “Con cháu đều khăn áo chỉnh tề, theo người gia trưởng đi trước, cầm hai cây mía lau, hoặc trúc, thẳng ra cửa ngõ. Bưng một cái khai hộp, có đèn nhang và trầu rượu, đứng khấn vái và kính thỉnh Tổ-tiên nhân ngày Tết ngự về hâm hưởng tửu soạn của con cháu dâng lễ mừng xuân. Chốc lát người gia-trưởng đi trở vào nhà, con cháu thứ tự theo sau, để khai nhang đèn lên giường thờ, thỉnh vong linh Tổ-tiên an-vị.
Rồi con cháu lớn nhỏ quì bái tạ và dựng hai cây gậy lau dựa hai bên bàn thờ, để cúng-kỉnh ba bữa”. 8
Còn theo phong tục trước 1945, gia chủ ăn mặc chỉnh tề, đốt nến và bó nhang, đứng trước bàn nước có mâm cúng đất đai, quay mặt về bàn thờ lớn, hai tay kẹp chặt bó nhang mới đốt đưa lên ngang trán, xưng họ, tên, lý lịch, khấn nguyện đất đai viên trạch, xin phép rồi kỉnh rước vong linh tổ tiên, ông bà, dòng họ về chung vui ăn Tết với gia đình. Đoạn gia chủ cắm nhang từng mâm, đầu tiên là mâm đất đai, bàn thờ chính, bên nội, bên ngoại, mâm trên ván, mỗi mâm xá ba xá rồi trở về chỗ cũ bái tạ bốn lạy ba xá.
Sau gia chủ, đến vợ và con cháu, lần lượt kỉnh bái ra mắt tổ tiên với bốn lạy ba xá, khỏi đốt nhang, khỏi đi xá từng mâm cúng. Tiếp đến gia chủ châm rượu ở các mâm, châm ba tuần rượu, nhang gần tàn thì đổ các chung nước lạnh để châm trà. Đợi nhang tàn, gia chủ ra đại diện gia đình bái tạ bốn lạy ba xá là xong lễ rước ông bà. Tắt đèn, dọn thức ăn vén khéo, cả gia đình quây quần ăn uống vui vẻ.
Qua các ngày sau, cho đến khi cúng tất (cúng tiễn) mỗi ngày hai lần (thường vào sáng và chiều), gia chủ nhắc gia đình dọn cơm cúng đơn sơ hơn lễ rước ông bà và nhang đèn được canh chừng đốt chong suốt ngày.
Nếu nhà nghèo thì mùng bốn, nhà giàu mùng bảy cúng tất, nghĩa là làm lễ đưa vong linh tổ tiên trở về cõi khuất bóng. Từ 1945 đến nay, dân ở phố chợ sống với nghề công chức, quân nhân, lao động, thường cúng tất vào mùng ba để sáng mùng bốn bắt đầu đi làm và trở về cuộc sống thường nhật. Tuy nhiên nếu mùng bốn nhằm vào ngày Chúa Nhật thì nhiều gia đình để ông bà ăn Tết với con cháu thêm một ngày nữa.
Bữa cúng tất cũng dọn năm mâm (hoặc ba mâm) như lễ rước, nghi thức tương tự, chỉ khác là có đốt giấy tiền vàng bạc, vải giấy đủ màu gọi là giấy đất để mong vong linh có tiền tiêu xài và vải vóc để may mặc ở cõi âm. Theo Việt Cúc trong bữa cúng tất tức lễ đưa ông bà: “Đến chiều mùng bốn, làm lễ tiễn, tức là kiếu ông bà. Người trong gia-đình, đều khăn áo chỉnh-tề, đứng trước giường thờ, đèn nhang nghi-ngút, người gia-trưởng phủ- phục khấn-vái, vi tiết xuân qua, lễ mãn, dâng lễ tiễn ông bà về nơi tiên cảnh. Rồi soạn thu hai gánh đồ vật đủ các thứ: bánh, dưa, trái cây và cầm hai cây gậy lau, người gia-trưởng xách đèn đi trước, con cháu theo sau.
Ra khỏi cửa một đỗi, để gánh xuống, con cháu lớn nhỏ đều chắp tay xá bốn phương, tỏ ý đưa ông bà về cõi hạt. Lễ xong, bỉ hai cây gậy lau, gánh, xách bánh trái trở về nhà”. 9

3. Dựng nêu:
a. Nguyên ủy: có hai gốc tích về cây nêu, chúng tôi thu nhặt và
trình bày để quý độc giả tùy ý nhận xét:
Thuở xa xưa, ma quỷ lộng hành nhất là vào dịp Tết, muôn dân đồ thán nên kêu cứu ơn trên, đức Phật giáng thế trị tội. Ma quỷ van tha và xin chừa không quấy nhiễu đất Phật. Bọn chúng hỏi dấu hiệu của Phật để tránh xa, đức Phật phán nơi nào có phướn, có chuông, có khánh và có rắc vôi trắng là đất Phật. Từ đó, Tết đến các chùa trồng nêu trên treo phướn giấy, khánh sành và rắc vôi bột vẽ cung tên để đuổi tà ma. Dần dần dân chúng bắt chước thành tục trồng nêu và rắc vôi mỗi tư gia, mong muốn sự yên lành trong cửa nhà vào những ngày đầu năm.
Sự tích thứ hai kể rằng ngày xưa có cuộc tranh luận giữa một bà tiên với con yêu, sau cùng đôi bên so tài cao thấp bằng một cuộc chạy đua thật xa. Bà tiên khôn khéo cắm trước các cành tre đến mức thắng, rồi bà theo dấu cành tre mà chạy không lạc lối nên thắng cuộc; con yêu thua và tỏ vẻ sợ các cành tre. Noi theo sự tích nầy, trong dịp Tết Nguyên Đán, mỗi gia đình trồng một cây nêu ngoài sân, ý như nhắc yêu quái hãy tránh xa chỗ có tiên giáng trần.
b. Cách thể hiện: Miền Bắc dựng nêu sớm và ưa rắc vôi bột; trong khi dân miền Nam dựng nêu vào lúc sắp giao thừa và gồm có: một cây tre (hay trúc già) chừa ngọn, một lá bùa bát quái, ba lá trầu, ba miếng cau (tươi hay khô), không có phướn, không treo khánh và không rắc vôi quanh tư gia (ngoại trừ ở chùa mới có phướn, khánh và rắc vôi; hiện nay nhiều nhà có rắc vôi theo phép vệ sinh khử uế hơn là theo tục lệ). Ngoài ra trước 1945, ở miền Nam, trên cây nêu nhiều nhà có treo hình con cá chép bằng giấy theo gốc tích và ý nghĩa sau:
Theo huyền thoại, thuở xưa, vùng rừng núi tỉnh Tứ Xuyên bên Tầu có một cái đầm lớn. Hằng năm đến mùa nước lụt, cá chép tụ họp đông đủ để thi vượt Vũ Môn, có ba cấp. Con nào qua được đủ ba cấp sẽ biến thành rồng. Do đó cá chép được mọi người coi là vua của loài cá nước ngọt và tượng trưng cho tinh thần tranh đấu để cầu tiến; treo con cá chép vào nêu là để tán tụng tinh thần cao đẹp nhằm mục đích giáo dục.

4. Đón giao thừa: vào đêm trừ tịch tức đêm 30 (hay 29) tháng chạp.
Giao thừa là gì? “Giao lại cái cũ, đón tiếp cái mới; chỉ phút nửa đêm 30 Tết, năm cũ qua, năm mới tới”, 10 đó là định nghĩa của Đào Văn Tập. Còn Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức cũng đã có định nghĩa tương tự trước Thanh Nghị: “Khoảng năm cũ và năm mới giáp nhau”. 11
Trừ tịch là gì?
Trừ tịch là “Tiết tối hôm 30 Tết, hết năm cũ sắp bắt đầu sang năm mới”. 12 Trong khi đó, Đào Văn Tập nói gọn trừ tịch là “Đêm cuối năm”. 13
Với các định nghĩa vừa điểm qua, chúng ta có thể hiểu giao thừa và trừ tịch là gì; bây giờ chúng ta quan sát dân miền Nam đón giao thừa như thế nào.
Trong đêm trừ tịch, trừ trẻ em lên ba lên năm, mọi người không muốn ngủ, không thể ngủ, để đón giao thừa. Thuở xưa, ông bà cha mẹ con cái tụ họp nhà trên ôn chuyện gia đình; rồi người lớn kể chuyện ăn Tết hay những tục lệ cũ cho con cháu nghe; không có chuyện hấp dẫn thì ráp sòng bạc nho nhỏ vui cười hỉ hả. Khoảng 1938-1955, nhiều nhà thức đón giao thừa với dàn hát máy cổ lổ (quây cần lên dây thiều bằng tay!), mê mẩn nghe cổ nhạc miền Nam với ban thầy Năm Tú, các cô Năm Phỉ, Bảy Nam, Năm Cần Thơ, các kép Ba Vân, Bảy Nhiêu giọng ngọt và mùi khó tả.
Dù kể chuyện, dù cờ bạc, nghe ca kịch, mọi người đều thấy con tim rộn rã khi sắp tới giao thừa. Rồi câu chuyện đang kể tạm ngưng, sòng bạc dẹp, máy hát tắt để mọi người chuẩn bị.
Giao thừa đến!
Đây là giây phút thiêng liêng của một năm. Theo sách vở để lại, bấy giờ dân Việt Nam làm lễ trừ tịch hay lễ đón giao thừa để tiễn ba vị thần Hành Khiến, Hành Binh, Phán Quan cũ để đón ba vị mới. Nhưng theo thói quen không ưa sách vở của dân miền Nam, đại đa số (trừ các cụ đồ, nhà trí thức), người ta chỉ biết dọn mâm ra sân cúng giao thừa để tiễn năm cũ đón mừng năm mới (mãi đến mùng ba mới làm lễ ra mắt ba vị thần vừa kể như chúng tôi đã trình bày ở đoạn trước nói về tục lệ “đối với các đấng thiêng liêng”).
Mâm cúng giao thừa gồm có: đèn nhang (ở miền quê cắm nhang không có lư hương thì lấy một khúc cây chuối non thay thế), bình bông nhỏ, dĩa trái cây (có thể thay thế bằng trái dừa tươi).
Trái với các lễ cúng khác, đặc biệt lễ đón giao thừa ở miền Nam hầu hết do người vợ của chủ gia phụ trách. Bởi vậy, hầu hết không khấn nguyện theo văn tự 14 mà chỉ biết cầu trời khấn Phật phò hộ gia đình sang năm mới làm ăn phát tài, quý quyến an hòa; rồi lại bốn lạy và xá bốn phương (mỗi phương ba xá).
Ngoài ra, khi cúng giao thừa, trong nhà cũng thắp nhang đèn, châm trà nước mới.

4. Đốt pháo:
a. Nguyên ủy: theo sách xưa, theo truyền khẩu, có một loài ma
núi gọi là Sơn Tiêu, hễ chúng đụng vào người nào thì người đó bị đau ốm đến chết, loài ma nầy có nhược điểm là sợ sấm sét nên trong ngày Tết dân chúng bày ra tục đốt pháo để xua đuổi tàma.
Nhưng đối với người Việt Nam nói chung, người miền Nam nói riêng, tục đốt pháo nhằm mang bao vui tươi tin tưởng tới con người trong dịp xuân sang.
Có bánh trái rượu thịt, liễn tranh mà thiếu pháo, dân miền Nam như trống vắng như nhớ nhung. Có thể coi pháo là tình nhân mỗi năm mới tái ngộ, cuộc gặp gỡ dây dưa khi xa xôi khi tình tứ lúc mặn nồng. Sân nhà đầy xác đỏ hồng được mọi người trầm trồ rằng “ăn Tết lớn”. Bởi vậy, dù giàu dù nghèo dù keo cú, đến Tết ai cũng mua pháo mặc dù biết rằng:
“Thừa tiền mua pháo đốt chơi
Pháo nổ lên trời, tiền vứt xuống ao”.
(Ca dao miền Bắc)
b. Thời gian: từ 23 tháng chạp trẻ em và thiếu niên bắt đầu khai ngòi pháo Tết, lâu lâu một tiếng như thúc dục như nhắc nhở năm hầu tàn và xuân sắp đến.
Đến chiều tối 30 (hay 29), khoảng 6-7 giờ, mọi bàn thờ đèn đuốc sáng choang, hương trầm nghi ngút, pháo thi nhau nổ từng tràng dòn dã.
Lạch tạch, lạch tạch, lạch tạch đùng, lạch tạch dùng . . ..
Sau đó, pháo lơi dần, lác đác tới giao thừa pháo nổ hơn bao giờ hết, mỗi nhà tối thiểu một phong; tiếng pháo đại xé màn đêm đánh thức vạn vật. Tâm can mọi người háo hức trước thềm năm mới.
Khoảng một giờ sau, pháo nổ thưa dần.
Từ đó suốt mấy ngày pháo vẫn nổ tùy nơi tùy dịp (con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ, khách xông nhà, dân làng mừng Tết hương chức, cúng cơm ngày hai bữa, học trò mừng Tết thầy cô, cúng đầu năm . . . đều là những dịp người ta đốt pháo tùy thích) cho đến khi dứt lễ cúng tất (tức lễ đưa ông bà), tiếng pháo mới thực sự im hơi.
c. Các loại pháo: gồm có tiểu, đại, tre, thăng thiên, chuột, chà.
Pháo tiểu và pháo đại tương tự bây giờ, dân làng có thể tự làm nhưng hầu hết đều do người Tàu bán.
Pháo tre do dân làng làm, nổ to hơn pháo đại, khuôn khổ bất nhất tùy ý tùy thuốc nổ nhiều ít: loại nhỏ nhứt bằng ngón chân cái (vấn 4 lớp), loại to nhất bằng cùm chân dài độ 1dm đến 1dm 5 (vấn 8 hoặc 12 lớp); ngoài ra, nhà trưởng giả có khi vấn cây pháo tre bằng cái tối trẻ em, chưng đến cúng tất hay rằm tháng giêng mới đốt. Vật dụng làm pháo tre gồm có: diêm sanh làm thuốc nổ, vỏ hột quẹt (hoặc giấy thiếc, giấy kiếng) làm bao đựng thuốc nổ, dây lùn (hay vỏ tre trúc mỏng) phơi dột dột để vấn làm vỏ. Thêm nữa, từ đầu thế kỷ XX đến 1963, trẻ con trai tráng miền Nam có chơi loại pháo tre đốt bằng khí đá tương tự kiểu súng thần công, nổ nhỏ hơn pháo tre vấn chút ít nhưng đỡ tốn kém hơn vì cục khí đá được làm nổ nhiều lần và ống tre xài lâu mới tét.
Pháo thăng thiên ít phổ thông, do dân làng tự làm nhiều hơn mua; bề tròn của nó lớn hơn pháo tiểu chút ít, bề dài thì gấp đôi, có đuôi dài bằng cọng lá dừa để giữ lái cho pháo khi châm lỉa sẽ bắn vọt thẳng lên không trung.
Pháo chuột thời trước 1945 không phải là loại pháo bé tí trẻ con thích cầm tay đốt chơi như bây giờ mà được chế có hai ngòi và cột tuột song song với sợi dây đến tràng pháo (tiểu và đại); bắt đầu người đốt châm ngòi, viên pháo chuột xịt khói lửa chạy bắn tới làm tràng pháo bắt lửa nổ dòn, ngay sau đó ngòi ở đầu kia của pháo chuột lại bắt lửa xịt khói vọt trở ngược hướng cũ.
Pháo chà trước 1945 do người Tàu làm bán, hình thể như cục xôi nhỏ (to gấp rưởi hay gấp đôi viên đạn chai) vò méo; trẻ con thích mua rồi chà lên gạch đá nổ chẹt chẹt nghe vui tai.
Ngoài ra có pháo bông, nhưng dân làng không dùng trong dịp Tết, chỉ vào những ngày lễ của Pháp (như 14 Juillet, Noel, Tết Dương Lịch) thực dân hay các chủ quận, chức việc Việt Nam theo Tây mới đốt để liên hoan.

6. Xuất hành và xông đất: trước 1945, vấn đề xuất hành và xông đất được dân làng miền Nam lưu tâm chọn lựa cẩn thận vì họ tin tưởng nếu xuất hành đúng ngày giờ đúng phương hướng cũng như gặp người hạp tuổi xông đất nhà mình thì suốt năm mới gặp nhiều may mắn, làm ăn phát đạt, sức khỏe dồi dào, còn chẳng may đi nhằm hướng hay ngày giờ xung khắc hoặc gặp người vía dữ hoặc độc ác hay khờ khạo đến đạp đất ắt hẳn trọn năm xúi quẩy thế nào cũng mang vạ lụy vào thân.
Nhiều người dở lịch Tàu (gọi là Hạ lịch) hay lịch quốc ngữ có ghi rõ ngày tháng giờ hung kiết hoặc nhờ thầy đồ thầy bói chỉ dẫn xuất hành. Chẳng hạn, ngày Tân Mùi khắc tuổi Ất và tuổi Đinh Sửu; giờ kiết Dần, Mẹo, Tị, Ngo ï và Thân; ngày Quí Dậu khắc tuổi Đinh, Tân Mẹo; giờ kiết là Dần, Thìn, Tỵ, Ngọ. Còn năm Nhâm Tý xuất hành hướng Đông và hướng Tây gặp nhiều quới nhơn giúp đỡ.
So với miền Bắc, dân Nam ít mời hẹn người mình thích đến xông đất lấy hên cũng như không tin rằng chủ ai hay người trong nhà có thể tự xông đất. Thường thường, khoảng 11-12 giờ mùng một trở lên người ta mới dám lựa nhà quen thân đến trước (để lỡ năm đó gia đình ấy có gặp xui xẻo thì họ cũng ít bị phiền trách hơn là xông đất chỗ sơ giao).

7. Đi đồ Tết, mừng tuổi và chúc Tết:
a. Đi đồ Tết: Trong dịp xuân sang, đi đồ Tết (tức
biếu Tết của người Bắc) cũng là một mối lo, một bổn phận của mỗi cá nhân đối với những người có ân nghĩa với mình.
Không kể việc con cháu họ hàng đem lễ vật về nhà trưởng tộc hay nhà hương hỏa để cúng tổ tiên ông bà và con rể phải sêu Tết gia đình bên vợ, còn nhiều người phải được lo đi Tết. Nào học trò kỉnh Tết thầy cô, bệnh nhân đền ơn thầy pháp thầy thuốc, thiện nam tín nữ cúng dường Phật qua trung gian các bậc tu hành, cha mẹ có con ký bán các thầy bà cũng phải nhớ ơn trong dịp Tết, v.v..
Trong những năm trước 1945 không có lệ lối xóm biếu xén lẫn nhau và dân làng không phải mắc nạn đi đồ Tết cho hương chức quan viên (chỉ hương chức nhỏ mới lo kỉnh Tết chúc Tết quan lớn mà thôi!). Nhưng từ 1954 đến nay, ảnh hưởng của người Bắc, ở phố chợ có tục đi đồ Tết lẫn nhau và vấn đề đi đồ Tết trở thành một chuyện đáng lo ngại đối với những ai đang túng quẫn.
b. Mừng tuổi: Sáng mùng một, trẻ con giàu nghèo đều thay áo quần mới để “làm tuổi” hay “mần tuổi” (đọc trại từ mừng tuổi) ông bà và người lớn nghĩa là chúc “sống lâu trăm tuổi” hay “làm ăn phát tài”, v.v.. Rồi người lớn (ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cô, dì . . .) cũng chúc lại “học hành tấn tới (nếu có đi học!) “gặp nhiều may mắn (nếu không đi học hay bỏ học và làm lụng!) và “lì xì” bao giấy đỏ trong có xu hay tiền cắc (bây giờ là giấy bạc!). Hồi xưa chưa có bao lì xì in dán sẵn đem bán thì dân miền Nam mua giấy hồng đơn, cắt dán làm bao.
c. Chúc Tết: Thuở xưa, kể từ trưa mùng một Tết người lớn ăn mặc chỉnh tề đi từng nhà thân bằng quyến thuộc thăm viếng và chúc Tết gọi là “đi cung hỉ”.
Nếu chủ có nhà, người khách đầu tiên vô đất nhang lạy bàn thờ tổ tiên, rồi “cung hỉ” nghĩa là trao cho chủ gia một miếng giấy hồng đơn (kích thước 1dm x 1dm), một mặt ghi tên họ nghề nghiệp, mặt kia viết bốn chữ “Cung chúc tân xuân” bằng chữ Hán. Chủ gia rót rượu mời khách uống ly rượu “khai xuân” (thường chọn rượu ngọt hay nhẹ). Bánh mứt trà nước được dọn ra, nói cười vui vẻ. Độ năm mười phút sau, khách kiếu từ, chủ gia đưa ra ngõ và nội ngày đó thế nào chủ gia cũng sang nhà khách để “cung hỉ” trả lễ thì khách mới thỏa tình.
Nếu nhà đóng cửa kín mít hay chủ nhà đi vắng, khách gởi lại thiệp cung hỉ Tết ở kẹt cửa hay ở bàn trên rồi vội vàng đến nhà khác.
Từ 1954 trở lại đây, tục “đi cung hỉ” cũng còn nhưng không còn đưa thiệp cung hỉ (nếu có thì thiệp chúc Tết đã được gởi trước ngày mùng một Tết!) và miễn bớt phần lạy đốt nhang và lạy bàn thờ tổ tiên; chỉ trong vòng bà con máu huyết mới còn duy trì tục lạy bàn thờ trong lúc “đi cung hỉ” có lẽ “vì có bà con và người thân thiết đông-đảo, gia-chủ phải đi khắp xóm lạy cả trăm lạy trong ngày mồng một, đầu gối rã-rời, qua hai ngày sau không còn chân cẳng đi đâu nữa” 15
8. Giải trí: Ăn Tết đối với dân miền Nam (cũng
như đối với dân miền Bắc và Trung) ngoài chuyện cúng
kiến đó làm dịp ăn nhậu và giải trí nhiều ngày.
Giải trí có nhiều thứ mà chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở chương II, trong đó cơ øbạc là trò tiêu khiển mà dân miền Nam mê nhứt.
Cờ bạc có đủ môn. Nào tứ sắc và xệp (phái yếu chuộng hơn cả), cu di, bài cào (trai tráng thích hơn), xì lác (hay già dách), bông vụ, hốt me, bầu cua cá cọp (con nít mê nhứt!), v.v..
Các sòng bạc tụ tập nhiều nhất ở nhà lồng chợ hay ở các ngã ba ngã tư trong làng ngoài phố. Già trẻ bé lớn đều mê man; thầy thợ cu li hương chức đều bình đẳng và không sợ ai cười chê khi đã ngồi sòng trong ba ngày Tết.
Ngoài cờ bạc, trong dịp Tết, ở miền Nam còn có một thú giải trí khác hẳn miền Bắc và Trung. Đó là múa lân.
Ai đã sống ở miền Nam, chắc chắn đã thấy múa lân trong dịp Tết hoặc trong các lễ lộc khác. Cách thức múa lân và hình dáng con lân chúng tôi xin miễn đề cập ở đây vì thiết tưởng ai cũng đã thấy biết; chúng tôi chỉ đưa ra nguyên ủy của múa lân ở miền Nam.
Múa lân do quan niệm (từ đời Khổng Tư)û lân là một loài nhân thú hiếm có, chỉ những lúc có bậc thánh nhơn xuất thế lân mới ra đời, nên trong dịp Tết là thời gian thiêng liêng trời Phật thần thánh tổ tiên từ thế giới khác về ngự trần gian, lân xuất hiện để báo hiệu để đón mừng.
Theo Vân Hạc, quan niệm trên có nguyên do như sau:
“Đời Xuân Thu, Thúc-Lương-Ngột nguyên làm quan Đại Phu lấy con gái họ Thi không con, vợ thiếp sinh con tên Mạnh Bì nhưng có tật ở chân. Ông cầu hôn họ Nhan lấy con gái út là Trưng-Tại. Vợ chồng cầu tự ở núi Ni-Sơn rồi có thai. Khi, sắp lâm-sản, Trưng-Tại mơ thấy con kỳ-lân nhả ngọc ở cổng làng thành câu: “Thủy-tinh chi-tử, kế suy chu vi Tố-vương” (con nhà Thủy-tinh nối nhà Chu suy, làm vua không có ngôi). Nhan thị lấy giải lụa buộc vào sừng nó giắt đi. Khi sinh có năm ông lão đứng ngoài sân xưng là năm vì sao rồi biến mất, có hai rồng xanh vây quanh nhà, trên trời có tiếng âm-nhạc và có tiếng nói rằng: “Trời cảm sinh Thánh-tử nên giáng tiếng hòa vui xuống trần”. Nhan thị sinh trai diện mạo phương-phi đặt tên là Khâu tự là Trọng Ni (kỷ niệm tên núi) sau thành Đức Khổng-Tử” 16
Vậy “múa lân chẳng phải là một trò vui thường mà hàm một ý nghĩa cao-thượng, một hy-vọng tốt đẹp, cầu chúc đời thái-bình thịnh-trị”. 17

9. Tết nhà Tết cửa, Tết trâu: Trong dịp xuân sang, tại miền Nam không phải chỉ riêng con người ăn Tết mà còn phải cho nhà cửa và trâu ăn Tết nữa.
a. Tết nhà Tết cửa: Thuở xưa, khuya mùng ba rạng mùng bốn làm lễ Tết nhà Tết cửa; từ 1945 đến 1963 một số dân quê miền Nam vẫn còn giữ tục nầy vào sáng mùng ba hay mùng bốn tùy nơi tùy gia đình. Kể từ 1975 tục nầy dần dần mai một.
Theo đó, thuở xưa, sau khi làm lễ tạ thần bản gia và thổ địa (bằng mâm bánh trái và trà rượu), chủ gia cắt giấy vàng bạc hình thoi hay vuông nho nhỏ đem dán cửa, tủ, bàn ghế, ván, giường, khung bếp, cột, kèo, rương, trấp, cối, chày, lu, hủ, v.v., trong nhà; rồi ra sân vườn dán cột bàn thiên, dán luôn thân cây dừa, bưởi, mận, ổi, cam, quít, v.v., quanh nhà, gọi là “cho nhà cửa ăn Tết”.
b. Tết trâu: Ngày xưa, đối với dân làng miền Nam, con trâu rất quan trọng, nghèo giàu cũng nhờ nó, nên gia đình ăn Tết, người ta không quên tục Tết trâu.
Tết trâu bắt đầu từ sáng mùng bốn bằng nhang đèn và mâm trái cây, thúng gạo, giấy tiền vàng bạc rượu trà (có chỗ cúng bằng bánh tét với đường như ở Cà Mau) để cúng ông Chuồng bà Chuồng. Sau đó, chủ nhà lại chuồng trâu đổ rượu vào miệng mũi trâu đực và dán hai sừng và đổ nước trà vào miệng mũi trâu cái; rồi lấy hai lá vàng bạc giấy dán hai sừng và thả chúng đi ăn tự do. Đoạn chủ gia thưởng trẻ chăn trâu gạo bánh và lì xì; rồi cho nghỉ về thăm gia đình dăm ba hôm.
Trong khoảng 1945 đến 1975, tục nầy ít được áp dụng, một phần vì chiến tranh khiến nghề trồng lúa kém đi, cũng như dân chúng làm nghề thương mãi, tiểu công nghệ khá đông, máy cày bắt đầu dành chỗ con trâu chậm chạp. Từ sau 1975 tục nầy gần như mai một.

10. Khai hạ: còn gọi là khai sơn.
a. Nguyên ủy: Theo Toan Ánh, nguồn gốc lễ khai hạ như sau: “Lễ khai-hạ, người Trung-Hoa gọi là lễ Nhân-nhật, nghĩa là ngày của người.
Theo sách Phương sóc chiêm thú thì tám ngày đầu năm mỗi ngày thuộc riêng về một giống:
Mồng 1 thuộc giống Gà
– 2 – – Chó
– 3 – – Lợn
– 4 – – Dê
– 5 – – Trâu
– 6 – – Ngựa
– 7 – – Người nên được gọi là Nhân-nhật.
Nhân ngày Nhân-nhật là ngày của giống Người nên người ta làm lễ cúng Trời, Đất để đánh dấu ngày đó.
Người Việt-Nam nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời, Đất, còn sửa lễ cúng Gia-tiên, cúng Thổ-công và cúng thần Tài. Thường sau lễ này, những người buôn bán mới bắt đầu đi chợ, mở cửa hàng”. 18
b. Sự thể hiện: Thuở xưa, miền Nam ăn Tết tới mùng bảy, trăm
việc tạm đình chỉ (cữ đào đất, chặt cây, đốn củi, v.v.), mọi người chờ làm lễ khai hạ mới trở lại công việc làm ăn hằng ngày. Lễ khai hạ còn gọi là lễ hạ vì trong lễ nầy có tục hạ nêu đã trồng từ hôm 30 (hay 29) Tết.
Trước 1945, sáng mùng bảy, hương chức tụ tập ở đình sau khi cúng Trời Phật mâm trái cây bánh mứt nhang đèn, ông chánh bái (hay bồi bái) đánh ba hồi mõ (gọi là “khai mõ”) và ba hồi trống (gọi là “khai trống”) để báo hiệu dân làng biết đình làm lễ khai hạ rồi hạ nêu xuống. Đoạn ông chánh bái ra sân đào một cục đất và chặt một nhánh cây tượng trưng. Từ giờ phút ấy dân làng mới được phép móc đất bẻ cây làm lụng đồng áng rẫy vườn, ai bất tuân lỡ cuốc đất chặt cành trước khi ông chánh bái làm lễ khai hạ sẽ bị làng phạt vạ, đóng trăng. Gặp những năm, công việc ruộng rẫy quá thúc bách không thể chờ đến mùng bảy thì mùng ba theo lời yêu cầu của dân làng, ban Hội tề nhóm tại đình làng ký tên thỏa thuận cho ông chánh bái làm lễ khai hạ sớm hơn thường lệ, bấy giờ dân làng mới dám làm lụng.
Còn tại tư gia, chủ nhà làm gà vịt cơm canh cúng các bàn thờ rồi cũng hạ nêu.
Ở thôn quê miền Nam, trong khoảng 1945-1963, tục trồng nêu có nhà giữ nhà không nên lễ khai hạ bị lãng quên dần; trong khoảng 1963-1975, rất hiếm nhà còn giữ; kể từ sau 1975, cây nêu chỉ còn có ở chùa đình mà thôi. Trong khi đó, ở phố chợ thị thành kể từ 1945 về sau dân chúng bỏ hẳn cây nêu và lễ khai hạ ngoại trừ chùa đình.

CHÚ THÍCH

1. Thái Văn Kiễm, Đất Việt Trời Nam, Nguồn Sống, Saigon, 1960, tt 211-212.
2. Ngọc Tâm, Âm-Lịch Và Dương-Lịch Lịch Tàu Lịch Ta, Văn Hóa nguyệt san, số 2, tháng 11 năm 1968, Saigon, tr 84 có viết: “Nước Tàu đã bỏ Tết âm lịch một cách chánh thức (chứ không phải trong thực tế) thành ra Tết Nguyên-Đán là Tết đặc biệt của dân tộc Việt-Nam”.
3. Xin đọc thêm “Người dân quê miền Nam và Tục lệ ngày Tết” của Lương Thư Trung, Giai Phẩm Xuân Canh Thìn 2000 của Nhật báo Viễn Đông, Midway City, California, USA, tt 136-142.
4. Có người viết câu sau là:
“Xuân mãn càn khôn, phước mãn đường”.
5. Nghê Văn Lương, Cà-Mau Xưa An-Xuyên Nay, Trung Tâm Học Liệu, Saigon, 1972, tr 205.
6. Theo đúng sách vở thì đêm giao thừa phải cúng vái ba vị Hành Khiến, Hành Binh, Phán Quan, nhưng đại đa số dân chúng miền Nam trong thế kỷ XX đã có thói quen dời qua mùng ba, cho nên đêm giao thừa có cúng nhưng cúng mừng năm mới, cầu Trời khẩn Phật phù hộ gia đình bình an, ngoại trừ dân miệt Cà Mau, Bạc Liêu cúng theo đúng sách vở.
7. Mỗi năm cúng ba vị danh tánh khác nhau, vì 12 năm nên gọi là Thập Nhi Hành Khiến. Sau đây là danh tánh 36 vị mà chúng tôi sưu tầm được và xin ghi ra đây để quý độc giả biết cũng như quý bà con nào còn tin tưởng cúng đầu biết mà khấn vái:
• Năm Tý: Châu Vương Hành Khiến, Thiên Ôn Hành Binh, Lý Tào Phán Quan
• Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiến, Tam Thập Lục Phương Hành Binh, Khúc Tào Phán Quan
• Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiến, Mộc Tinh Hành Binh, Cổ Tào Phán Quan
• Năm Mẹo: Tôn Vương Hành Khiến, Thạch Tinh Hành Binh, Liễu Tào Phán Quan
• Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiến, Hỏa Tinh Hành Binh, Biểu Tào Phán Quan
• Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiến, Thiên Hao Hành Binh, Hứa Tào Phán Quan
• Năm Ngọ: Tần Vương Hành Khiến, Thiên Hao Hành Binh, Vương Tào Phán Quan
• Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiến, Ngũ Đạo Hành Binh, Thung Tào Phán Quan
• Năm Thân: Tề Vương Hành Khiến, Ngũ
Triều Hành Binh, Tông Tào Phán Quan
• Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiến, Ngũ Nhạc Hành Binh, Cự Tào Phán Quan
• Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiến, Thiên Bá Hành Binh, Thành Tào Phán Quan
• Năm Hợi: Kiếm Vương Hành Khiến Ngũ Ôn Hành Binh, Nguyễn Tào Phán Quan
8. Việt Cúc, Gò-Công Cảnh-Cũ Người-Xưa, tác giả xb, Saigon, 1969, tt 92-93.
9. _______, sđd, tr 93