TT TRUMP VỪA KÝ SẮC LỆNH GIẢM GIÁ THUỐC TẠI MỸ

*TT TRUMP VỪA KÝ SẮC LỆNH GIẢM GIÁ THUỐC TẠI MỸ

      *BẢN TIN THỜI SỰ NỔI BẬT HÔM NAY:

1-BIẾM-MINH HỌA ĐẶC BIỆT:
*SLIDERS: ẢNH NGÀN LỜI

2-CLIPS QUAN TRỌNG:

* Bất chấp lời cảnh cáo của giới chức ở Texas, cậu trai 30 tuổi đã chết sau khi dự tiệc COVID 19


* DTV Thuyết Minh: TT Trump tuyên bố sẽ đáp trả thẳng tay, không nể nang vì Biden đã dùng trò hạ đẳng

* Giáo sư Helmut Norpoth, của Phân Khoa Political Science thuộc Đại Học Stony Brook, Stony Brook, New York: Tiên đoán TT Trump thắng cử.

* Jon Voight Cha Của ANGELINA Đã VẠCH MẶT ĐẢNG DÂN CHỦ Và Cánh Tả, Kêu Gọi Mọi Người BảoVệ Nước Mỹ

* Trời sẽ không tha và đất sẽ không dung cho thằng khỉ đột khốn nạn nầy!
https://youtu.be/56Hogy5B8CU
*Tổng Thống Trump cứu sống Nataly Harp cô gái mắc bệnh ung thư nhờ quyền được Thử thuốc !

* Cảnh sát công bố video về vụ cướp xe bạo lực tại trạm xăng Pennsylvania
Một đám thanh thiếu niên da đen cướp xe ngang nhiên tại trạm xăng ở Pennsylvania nè bà con. Ghê quá, kiểu này ai dám đi đổ xăng buổi tối. Em thấy là chúng có 6 người đó chứ. Có lẽ là 2 tên canh đường, còn 4 tên thì rượt theo người khách hàng khi anh chạy vào tiệm xăng (để tiếp tục đánh anh dã man để giựt chìa khóa xe anh) và đào thoát với chiếc xe. Nhờ vậy mà camera cửa ra vào tiệm xăng mới chụp được mặt của 4 tên này. Hy vọng bà con sẽ sớm giúp cảnh sát tìm ra bọn này .
https://www.yahoo.com/news/police-release-video-violent-vehicle-142428061.html
*CỬ TRI MỸ BẤT NGỜ ĐÓN NHẬN TIN VUI VỀ TT TRUMP TỪ TỶ PHÚ SHELDON ADELSON

* ĐCSTC là ký sinh trùng bám trên mình dân tộc Trung Hoa để lừa gạt cả thế giới

* Hong Kong: Một cô bé nhỏ tuổi đi biểu tình cùng mẹ hô hào, khích lệ mọi nguoi

* Một trận đánh gần Quãng Tri trước 1975

* NGƯỜI VIỆT HOUSTON ỦNG HỘ TỔNG THỐNG DONALD TRUMP VÀ TUẦN HÀNH BIỂU DƯƠNG

* Cô em câu cá giỏi quá !

2- FACEBOOK:

Chuyến tỉnh Quãng nam Đà nẵng /Nha Trang Khánh Hoà Tpbvnch đáng thương! Toàn đau bệnh ,chết bệnh , hoàng cảnh quá khổ…

Posted by Phuoc Thanh Huynh on Saturday, 19 September 2020

* Triệu like cho câu trả lời quá hay
Câu trả lời rất hay của sỹ quan Mỹ gốc Việt cho câu hỏi ngu xuẩn của con bò đỏ bưng bô cộng sản
https://www.facebook.com/watch/?v=893340054529023
* KÍNH GỞI CÁC CHIẾN HỮU kính xin giúp đỡ.*Vài ngày qua , chúng tôi được tin một TPB hiện đang trong bịnh viện Trưng Vương . Sơ lược của anh như sau
Cấp bậc B1- sq 70/112288
Thuộc TĐ1ND ( TĐT- Tr/Tá PhạmHuy Mai)-
DD 12 /TĐ1ND-(DDT-Đ/uý Ngoạt)
KBC 4563
Năm 1969 tham dự cuộc hành quân ở Bến- Cầu Nỗi-Tây Ninh- y binh bị thương – mãnh pháo kích vào cột sống lưng và đầu- nằm một chỗ trên 40 năm…
Từ ngày CS chiếm miền Nam , Mặc dù bị thương tật vợ chồng anh buôn bán hằng ngày để mưu sinh ,
Trong vài năm về đây, Anh Tốt sức khỏe suy yếu , vì bịnh tim hành hạ vì bị tim tăt nghẻn ,, bác sĩ cho biết bịnh này cần phải chửa lâu trong bịnh viện .
Tiền thuốc, và sự buôn bán của vợ lại gặp cảnh khó khăn trong nạn Dịch hiện nay . Anh chị Tốt đang lâm vào cảnh túng thiếu .
TPB Huỳnh Văn Tốt ,hiện đang điều trị tại Bv Trưng Vương- khoa nội tiết -tổng hợp- Buồng A
Với hoàn cảnh gia đình TPB chúng tôi kính xin quý vị… kẻ ít người nhiều- trợ giúp cùng gia đình anh Tốt .
Xin trực tiếp về anh TPB Huỳnh Văn Tốt
24/11-Tô Hiến Thành- Phường 15-quận 10- Sài Gòn VN
ĐT: Quý vị liên lạc trực tiếp đến người vợ tên Nguyễn Thị Thanh để biết thêm tình tiết 0586141223
Hoặc con gái tên Huỳnh thị Phụng 0902470765
XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN VÀ GOD BLESS TO ALL
TƯỞNG NHỚ VÀ TRI ÂN

**
3RELAX XẢ STRESS:

*KÍNH MỜI QUÝ ĐỒNG HƯƠNG TÂY NINH & VĨNH LONG Thưởng thức KARAOKE qua CA KHÚC MƠ VỀ TÂY NINH:

*karaokeMơ về Tây Ninh
karaoke – Mơ về Tây Ninh – Thơ và nhạc: Sa Chi Lệ – Hòa âm: Đỗ Hải – karaoke by Sennviet


***
*Mơ về Tây Ninh – Thơ và nhạc: Sa Chi Lệ – Hòa âm Đỗ Hải – Ca sĩ Hà Thanh trình bày

***
* Mùa Bão Lũ Năm Nay Xem Mà Không Cầm Được Nước Mắt

*
* Người Lính Không Bao Giờ Chết – Dzuy Lynh

*
* Nhạc chế theo bài LẦM của nhạc sĩ Lam Phương – Dân Mỹ đã LẦM bầu cho OBama

*BUỒN VIỄN XỨ
*

***
6- TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

* TT TRUMP VỪA KÝ SẮC LỆNH GIẢM GIÁ THUỐC TẠI MỸGiá thuốc tại Mỹ sẽ giảm chưa từng thấy —
(Tác giả : Henry Quang Vu)

Tổng thống Donald Trump hôm thứ Sáu đã ký bốn sắc lệnh hành pháp giảm giá thuốc theo toa ở Hoa Kỳ, chúng sẽ tạo ra những thay đổi sâu rộng nếu chúng được thi hành.

Các sắc lệnh hành pháp này, được thiết kế để đưa giá thuốc của Hoa Kỳ giảm xuống ít nhất ngang bằng với giá ở nước ngoài.
Trump cho biết người Mỹ thường trả nhiều hơn 80% cho thuốc theo toa, so với Ðức, Canada và các quốc gia khác cho một số loại thuốc đắt nhất.

TT Trump nói: “Bốn sắc lệnh hành pháp mà tôi ký vào ngày hôm nay sẽ tái cấu trúc hoàn toàn thị trường thuốc theo toa về giá cả và mọi thứ khác, để làm cho các loại thuốc này có giá cả phải chăng, và dễ tiếp cận đối với tất cả người Mỹ. Dưới sự cầm quyền của chúng
tôi, chúng tôi đã đứng lên chống lại những người vận động hành lang, và những thế lực có lợi ích đặc biệt, và chiến đấu chống lại một hệ thống gian lận.”

Sắc lệnh hành pháp đầu tiên nhắm vào giá thuốc trị tiểu đường tối cần thiết insulin, yêu cầu các trung tâm y tế cộng đồng liên bang chuyển các khoản giảm giá mà họ nhận được về thuốc và máy bơm tự động EpiPens trực tiếp cho bệnh nhân.
Tổng thống cho biết những nhà cung cấp này không nên nhận những khoản giảm giá đó trong khi tính phí cho bệnh nhân của họ.

Lệnh thứ hai sẽ cho phép các tiểu bang, nhà thuốc và nhà bán buôn nhập thuốc từ Canada, nơi họ thường có giá thấp hơn ở Hoa Kỳ.
Trong hầu hết các trường hợp, trước đây Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) nói rằng việc nhập thuốc từ các quốc gia khác để sử dụng cá nhân là bất hợp pháp.

Từ đây đặt ra câu hỏi FDA phục vụ cho ai? Các bạn hẳn còn nhớ vụ Hydroxychloroquine và Remdesivir.

Ngành công nghiệp dược phẩm và các nhà quản lý đã nói rằng nhập khẩu thuốc có thể đe dọa sự an toàn của người tiêu dùng. Những người ủng hộ, bao gồm cả Thượng nghị sĩ Bernie Sanders, nói rằng nhập khẩu thuốc từ các quốc gia khác sẽ làm tăng sự cạnh tranh
và giá thấp hơn đáng kể.

Alex Azar, bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh, nói với các phóng viên trong một cuộc gọi sau lễ ký kết rằng “Các công ty dược phẩm hiện phải trả khoảng 150 tỷ đô la cho những người trung gian không được tiết lộ để đổi lấy bảo hiểm thuận lợi hơn cho thuốc của họ.

Quy tắc mới sẽ yêu cầu số tiền cho những kẻ trung gian đó được trả lại cho người dân. Chỉ riêng lệnh này sẽ làm giá thuốc sẽ giảm 26%”

Lệnh thứ ba nhằm mục đích ngăn chặn những người trung gian ở thành phố, còn được gọi là nhà quản lý lợi ích dược phẩm, bỏ túi những khoản giảm giá khổng lồ.

Lệnh thứ tư sẽ cho phép Medicare mua thuốc với cùng mức giá mà các quốc gia khác phải trả. Lệnh đặc biệt sẽ cho phép Medicare thực hiện một cái gọi là chỉ số giá quốc tế để đưa giá thuốc phù hợp với những gì các quốc gia khác đang trả.

TT Trump nói:

“Tất cả mọi người sẽ nhận được một mức giá công bằng hơn và thấp hơn nhiều. Theo hệ thống lố bịch của chúng ta, cái đã bị hư hỏng trong nhiều thập kỷ, chúng ta thậm chí không được phép đàm phán về giá thuốc.”

Trump đã ký lệnh thứ tư, nhưng nói rằng ông sẽ giữ nó cho đến ngày 24 tháng 8 để cho ngành công nghiệp thuốc có thời gian để đưa ra một cái gì đó để làm giảm giá thuốc. Giám đốc điều hành (CEO) công ty dược phẩm dự kiến gặp nhau tại Nhà Trắng vào thứ ba.

Theo số liệu của Hoa Kỳ, chi tiêu thuốc theo toa ở Hoa Kỳ vượt xa các quốc gia có thu nhập cao khác, tăng lên 335 tỷ đô la vào năm 2018, theo dữ liệu của Hoa Kỳ.

Trump đã đặt việc làm giảm chi phí thuốc là một trong những vấn đề chăm sóc sức khỏe toàn dân quan trọng nhất của ông ngay từ đầu nhiệm kỳ. Nhưng việc làm giảm giá thuốc đã không thể thực hiện vì các sự kiện khác mà các thế lực đen tối ném vào ông, hết điều tra tới truất phế và cuối cùng là virus từ Trung Cộng ném sang!

Henry Quang Vu
***
* SỰ THẬT VỀ BA TÔI: NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG!
Last updated Th9 19, 2020

Từ trước đến nay, có rất nhiều tờ báo cũng như bài viết nhận định về cuộc đời của nhạc sĩ Trúc Phương, có người nói ông sau 1975 có cuộc sống khốn khó, có người viết rằng ông sống quá bi đát, rồi cũng có tờ báo nói rằng khi qua đời ông chẳng còn gì cả …..
Những điều này có đúng là sự thật hay không ? xin mời quý vị xem qua lời tâm tình của những người con nhạc sĩ Trúc Phương.
_____________________________________________________
Chị Trúc Loan, một người con gái của nhạc sĩ Trúc Phương tâm sự như sau :
Ba tôi sinh năm 1933, tại xã Mỹ hòa, quận Cầu ngang, tỉnh Trà vinh. Quê nội tôi hiền hòa, chơn chất, nhưng nghèo khó nên ba tôi đã đi lên Sài gòn từ nhỏ. Ông vừa học, vừa làm, và cũng để theo đuổi niềm đam mê âm nhạc của mình.
Ba tôi viết nhạc và nổi tiếng từ rất sớm nhờ dòng nhạc boléro chậm, trữ tình của ông dễ nhớ, dễ nghe. Ngoài cây đàn guitar thường xuyên bên cạnh, ba tôi còn biết chơi thành thạo các nhạc cụ khác. Hồi còn nhỏ xíu, có lần theo ba đi Đại nhạc hội, ba tôi còn đàn contrabass trong dàn nhạc nữa, lúc đó tôi rất ngạc nhiên vì cây đàn quá to này, ba phải đứng mới cầm được nó… Khi chơi với các con, ba tôi thường lấy cây harmonica ra thổi…
Ba gặp má tôi khi bà còn đang đi học. Ba cưới ngay khi má chỉ 16 tuổi ! Tôi được sinh ra vào thời điểm ba tôi viết nhạc nhiều nhất.. dù sau đó, tôi còn có thêm 5 đứa em nữa, nhưng ba vẫn luôn cưng tôi nhất nhà.
Ba tôi là một người đàn ông rất yêu gia đình, thương vợ thương con. Ba tôi cũng là 1 người con, người cháu rất có hiếu. Ngày xưa, dù nghèo, ở nhà thuê, nhưng ba tôi cũng nuôi bà cố tôi chu đáo. Khi làm có tiền, ba hay mua sắm đồ đạc mang về quê cho bà nội tôi… Ba tôi hiền lành, chân thật , rất lạc quan và tốt bụng. Có lẽ vì vậy nên ai cũng quý mến. Tính ba tôi lại rất nghệ sĩ, không vụ lợi, không tính toán nên không có dư. Gánh nặng cơm áo gạo tiền, má tôi phải gánh vác từ lúc ba tôi phải nhập ngũ..Chị Trúc Loan, con gái nhạc sĩ Trúc Phương.
Sống trong thời chiến, lại phải làm lính xa nhà, nên có lẽ ba tôi là người hiểu ,cảm nhận được tâm tình của người lính nên các sáng tác của ông lúc này là luôn dành cho những người lính : Kẻ ở miền xa, Bông cỏ may, Trên 4 vùng chiến thuật, Để trả lời 1 câu hỏi, Đêm trên vùng đất lạ, Một người đi xa, Người nhập cuộc… Hàng trăm bản nhạc của ông, được biết rộng rãi chưa đến 20 bài, theo danh mục cho phép của nhà nước… Nhạc của ba tôi không vui, không xập xình ồn ào, nhưng âm thầm lắng đọng, lặng lẽ đi vào lòng người nghe bởi cái chân thật, ngọt ngào. Bởi vì khi viết , ba tôi sáng tác với cả tấm lòng, mỗi bài nhạc đều ẩn chứa những lời tự sự, những nỗi buồn…
Đọc bài viết về Trúc Phương trên trang wikipedia, đoạn cuối: rõ ràng là người viết không biết gì nhiều về ông, gia đình tôi rất bức xúc về điều này. Có những bài viết không chính xác, “tam sao thất bổn”, không khách quan, không đúng về ba tôi. Trước khi mất khoảng vài tháng, năm 1995, trong 1 bài phỏng vấn , ba tôi có nói chuyện về cuộc sống sau khi vượt biên không thành, bị bắt, năm 1976. Trở về , căn nhà ở số 301 nguyễn văn Thoại, (nay là Lý thường Kiệt), phường 15, quận 11 bị mất. Không có nhà ở, không giấy tờ, phải mướn chiếu ngủ ngoài bến xe miền tây vì công an thường xuyên kiểm tra hộ khẩu, không ai dám chứa .. nhưng trong thời điểm đó, ai cũng khó khăn, khổ toàn xã hội , không riêng gì ba tôi, nhưng chưa bao giờ ông phải “đi chân không” hay “khi chết chỉ còn lại đôi dép..” như bài viết nào đó… Những người viết đó có lẽ không biết nhiều về ba tôi, về gia đình tôi, làm cho người đọc bàng hoàng, thương hại, đó là điều xúc phạm đến gia đình tôi…(Trúc Loan)

_____________________________________________________
Và dưới đây là trả lời của nhạc sĩ Trúc Linh, một người con trai của nhạc sĩ Trúc Phương :
Ok, tui không biết Ông Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đích bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.
1- Ba tui sanh năm 1933
2- Ba tui không bao giờ uống rượu .
3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe
4- Má tui con nhà giáo, gia đình cũng khá, nhưng nhà ở Bến Tre
5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .
6- Ba tui không phải tự học nhạc, mà có thầy dạy đàng hoàng
7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có.
8- Gia đình tui cũng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos 404 . Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm . Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút . Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp .
9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu . Họ ly dị vào khoảng năm 79 .
10- Tác giả Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO . Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy . Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá bôi bác gia đình chúng tôi. Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông. Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật. Chúng tôi lúc nào cũng quan tâm đến ông.
Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết nhiều chi tiết nhưng đã viết rất nhiều như chính Trung là nhân vật chính. Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc. Đến nổi MC Việt Dzũng của trung tâm Asia cũng lấy bài viết này làm tài liệu và cũng có lên trên chương trình trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, Ông chỉ còn đôi dép. MC Việt Dzũng còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông . Điều này củng không đúng . Gia đình chúng tôi đã làm đám cho Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu của ai cả. Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 ngừời đàn bà không đàng hoàng . Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này .
(Trúc Linh)Anh Trúc Linh, con trai nhạc sĩ Trúc Phương.***
* JARED KUSHNER Con rể của Tổng thống Donald Trump, chồng của cô Ivanka TrumpJARED KUSHNER
Ông Donald J Trump là một vị tổng thống rất khôn ngoan, ông biết điều quan trọng bậc nhất trong Toà Bạch Ốc là SỰ TRUNG THÀNH. Và ông cũng biết là chỉ có người thân trong gia đình của ông mới thể hiện được sự Trung Thành tuyệt đối đó mà thôi.
Do đó mà chúng ta không ngạc nhiên khi con cái và người thân trong gia đình được Tổng Thống Donald J Trump tín nhiệm và giao phó rất nhiều nhiệm vụ tối quan trọng, trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống của ông.
Gần đây, chúng ta đã nhắc đến cô Ivanka Trump và các yếu tố quan trọng của cô cho sự thành công của Tổng thống, nhờ ông tin tưởng vào SỰ TRUNG THÀNH đó.
********
Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu các yếu tố thành công không kém phần quan trọng của anh Jared Kushner, hiện là Cố Vấn Cấp Cao của Tổng Thống Donald Trump.
Jared Corey Kushner (sinh ngày 10 tháng 1 năm 1981) là một nhà đầu tư, nhà phát triển bất động sản và nhà xuất bản báo chí tại Hoa Kỳ. Anh hiện là cố vấn cấp cao của ông Donald Trump, Tổng thống Hoa Kỳ.
Anh đã kết hôn với Ivanka Trump, con gái của Tổng thống Trump, cô Ivanka cũng là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Trump.
Anh Jared Kushner có nguồn gốc Do Thái, và theo đạo Do Thái.
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống của ông Donald Trump năm 2016, Kushner đã giúp phát triển và điều hành chiến lược truyền thông kỹ thuật số cho ông Trump.
Năm 2017, anh được bổ nhiệm làm cố vấn cấp cao của Toà Bạch Ốc.
Là cố vấn cấp cao của Tổng thống Trump, anh Kushner đã thúc đẩy mạnh mẽ Đạo luật Bước Đầu Tiên, một dự luật cải cách tư pháp hình sự mà Tổng thống Trump đã ký thành luật vào tháng 12 năm 2018.
Luật này đã tha bổng cho hàng ngàn người da đen đã bị Obama-Biden giam cầm trong tù nhiều năm một cách bất công, cộng với đạo luật mà Biden đã ký vào năm 1994, bỏ tù tất cả những người da đen và da màu, vi phạm bất cứ tội nặng nhẹ gì ! Nhờ đạo luật Bước Đầu Tiên đó, những người được Tổng thống Donald Trump giải thoát, chắc chắn sẽ không bao giờ quên ơn Tổng Thống Donald Trump.

********
Jared Kushner cũng là tác giả của một kế hoạch hòa bình trong cuộc xung đột Do Thái-Palestine, được công bố vào tháng Giêng năm 2020 và dần dần, tiến đến những hiệp định với các nước Ả Rập, đã, đang và sẽ ký kết những hiệp định hoà bình tại Trung Đông.
Vì anh Kushner là người đại diện chính thức của chính quyền Tổng thống Trump trong các cuộc đàm phán, và nhờ tài ngoại giao khéo léo, anh đã dẫn đến bình thường hóa quan hệ giữa Do Thái và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) vào tháng 8 năm 2020, và gần đây hiệp định giữa Do Thái với quốc gia Bahrain trong tháng Chín 2020.
Tại Toà Bạch Ốc, ngày 16 tháng 9 năm 2020, Tổng thống Trump đã giành được chiến thắng chưa từng có, trong một Hiệp định ngoại giao hiếm có, bằng cách đưa được 2 nước UAE và Bahrain bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Do Thái. Ba quốc gia đã cùng nhau ký kết Hiệp Định, với sự chủ toạ của Tổng Thống Hoa Kỳ, Donald J Trump.
Những hiệp định này đã làm cho thế giới ngạc nhiên, sửng sốt, và kết quả là Tổng thống Trump đã được đề cử Giải Nobel Hòa Bình.
Ngay ngày ký kết, Tổng Thống Trump cũng tiết lộ, trong tương lai, sẽ có thêm khoảng từ 8 đến 9 quốc gia Ả Rập tiến tới việc ký hiệp ước với Do Thái, một thành công rực rỡ cho Hoà Bình thế giới, có góp phần rất đáng kể của con rể của ông, Jared Kushner.

********
Đi ngược lại thời gian, khi Tổng thống Donald Trump vừa nhậm chức, dưới con mắt một thương gia lão luyện, Tổng thống Trump nhìn ra cái tệ hại của hiệp định NAFTA (Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ) với Canada và Mexico, một hiệp định làm tê liệt kinh tế và làm mất đi khoảng 176,000 việc làm cho công dân Mỹ, ông giao công tác lập một Hiệp định mới cho Jared Kushner.
Cô Ivanka đã tiết lộ cho chúng ta biết như sau: “Khi cha tôi giao công việc cho Jared, chồng tôi, cha có lời giao hẹn với Jared rằng: ‘Cha không muốn một hiệp ước mà người ta chỉ THÍCH, cha muốn một hiệp ước mà mọi người đều phải YÊU MẾN nó.’”
Trước khi NAFTA đổi qua USMCA, các kinh tế gia nỗi tiếng, các nhà hàn lâm học viện, hợp cùng truyền thông thổ tả, đã chỉ trích rất gay gắt, hăm doạ rằng nếu dứt bỏ hiệp định, sẽ làm tiêu hủy luôn tình láng giềng của Hoa Kỳ với Canada và Mexico, hai quốc gia láng giềng về thương mại rất quan trọng. Có thể nói nếu hủy bỏ NAFTA, sẽ mất luôn tình láng giềng này. Nhưng Tổng Thống Donald Trump bất chấp tất cả.
********
Hiệp định mới USMCA (United States-Mexico-Canada Agreement) được giao cho Jared Kushner, một thành tích mà không một Tổng thống thời buổi văn minh thời đại nào dám làm và có thể làm được, nhưng Tổng Thống Donald Trump đã làm được !
Cuối cùng, Hiệp định USMCA soạn thảo xong ngày 30 tháng 9 năm 2018, được ký bởi ba quốc gia vào ngày 30 tháng 11 năm 2018, và một bản sửa đổi đã được ký vào ngày 10 tháng 12 năm 2018.
Tổng thống Mỹ Donald Trump, Thủ tướng Canada Justin Trudeau, Tổng thống Mexico Enrique Pena Nieto chính thức đồng ký Hiệp Định USMCA vào tháng Ba năm 2020, và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 2020. Ngoại trưởng Mexico sau đó đã tuyên bố Hiệp định USMCA là một hiệp định rất tốt cho cả ba quốc gia.
Đổi từ cái hiệp định tồi tệ NAFTA, qua hiệp định mới USMCA, trong vòng 2 năm sau ngày ký, đã đem đến 467,000 công việc cho người dân Hoa Kỳ, chưa kể 176,000 công việc bị mất bởi Hiệp định tồi tệ NAFTA, nay trở lại với công nhân Mỹ.
Thống kê lúc đó cho thấy, có khoảng 90 phần trăm người dân Mỹ nhận ra tiền lương của mình được gia tăng.
********
Tóm lại, chính nhờ tài ba và khả năng mà anh Jared đã đạt được, qua những thành công rực rỡ cho Tổng thống Donald Trump.Hầu như không có công tác nào thành công mà không có bàn tay của Jared Kushner, và không có công tác thất bại nào mà không đão ngược lại thành công mà Jared Kushner không nhúng tay vào.
Nhiều người gọi anh là một Superman, một Siêu Nhân, nhưng chính anh Kushner thì lại rất khiem nhượng, anh thú nhận những thành công của anh hoàn toàn dựa vào hào quang sáng ngời của Tổng thống Donald J. Trump.
Và điều đó, chúng ta có thể nhận thấy thật rõ ràng, qua chính anh Jared Kushner đã từng nói về Tổng thống Donald Trump như sau: “Sẽ đến một ngày, mọi người sẽ nhớ tiếc ông rất nhiều. Ông chỉ nhắm đến những điều lớn lao và ông sẽ hoàn thành chúng tất cả ! Có thể nói, không ai có thể theo kịp cái tinh thần lãnh đạo tuyêt vời của ông !”. Nhưng chúng ta cũng biết Tổng Thống Donald J. Trump sẽ cần rất nhiều nổ lực của Jared Kushner, vì chính ông đã nói: THE BEST IS YET TO COME ! Điều Tốt Nhất Vẫn Chưa Đến !

FBDoanKimSeptember2020.
***
*NGUYỄN QUANG CHƠN: TỈNH GIẤC SAU GIẤC NGỦ DÀINguyễn Quang Chơn

Đối với tôi, Ông Donald John Trump, đương kim tổng thống thứ 45 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, cũng như những vị tiền nhiệm khác, được kính trọng, khâm phục, yêu mến, học hỏi, và để so sánh, để buồn, về những lãnh tụ của những đất nước độc tài hiện nay trên thế giới… Năm 2016, tháng 11, khi nước Mỹ đang kiểm phiếu bầu tổng thống, chúng tôi, những người bạn VN cùng suy nghĩ, madame Hillary của đảng Dân chủ sẽ chiến thắng, chỉ chờ thời gian. Nhưng rồi từng giây trên mạng, khoanh đỏ của D. Trump kín dần, kín dần để rồi, người bước vào nhà trắng chính là ông!….

Ông chiến thắng, chúng tôi thì buồn. Trong cả quá trình vận động bầu cử, đối thủ của ông “lịch thiệp” biết bao, “mềm mỏng” biết bao, gần gủi “các chủng tộc” biết bao, khiến chúng tôi “thiện cảm” với bà. Còn ông, ông “bỗ bã” quá, ông “Cao bồi” quá, ông “thẳng thừng” kiểu “businessman trần trụi” quá, và, chúng tôi không thích ông, cũng bởi ông chỉ là một tỷ phú, chưa từng tham gia nghị trường, chúng tôi nghi ngờ khả năng “chính trị” của ông…Trong vòng nửa năm ông đương nhiệm. Chúng tôi cười vào cách hành xử của ông với báo chí, với phát ngôn, với twitting, và tin chắc rằng, ông sẽ bị bãi nhiệm một năm sau đó!…

Thưa ông Trump, chúng tôi đã nhầm, chúng tôi mới là những kẻ hồ đồ, thiếu ý thức chính trị. Ông không phải là một ông già bảy mươi vớ vẩn. Ông không phải là kẻ “thiếu hiểu biết về chính trị”. Ông không phải người háo danh. Ông không phải tên gây sự… Mà ông. Ông chính là một người Mỹ chính gốc, một Real Aimerican, một tay Mỹ businessman chính trị, một người mê say nước Mỹ thuần thành với một kiến thức vượt tầm mọi lý luận thời đại, để mưu cầu xây dựng một trật tự tư duy, và kinh tế, chính trị mới, phù hợp với qui luật hằng hữu, rằng, người dẫn dắt, người ban ơn, người tạo dựng…, phải là kẻ đứng hàng đầu. Không thể để cho thằng ăn trộm, tên lưu manh, bọn tráo trở…, lại là vĩ nhân, kẻ đáng tôn sùng!….

Trong gần 3 năm ông cầm quyền, nước Mỹ đã đổi khác, ánh mắt các quốc gia nhìn về thế giới cũng đổi khác, và ông, chính là tâm điểm để hàng trăm “nhà lý luận, chính trị, truyền thông” soi vào. Lửa là chính. Lửa bên ngoài. Lửa bên trong. Lửa của đối thủ nội bộ. Và lửa ngay trong anh em, bè bạn…., những ngọn lửa muốn thiêu đốt ông…
Nhưng sự thật hiển nhiên là trong 3 năm ông nắm quyền lãnh đạo, nước Mỹ đã lớn hơn, mạnh hơn trở lại. Kinh tế Mỹ dồi dào đầy kiêu hãnh, ông đã bình tĩnh và thẳng thắn “đập” những ai “fake news” ông, thẳng thừng xoá bỏ các chính sách mà các vị tiền nhiệm đã tạo cơ hội cho Trung cọng len lỏi vào các ngõ ngách Mỹ quốc, vươn vòi đến các lục địa khác, ngạo nghễ “một con đường, một vành đai”, lưu manh ngang ngược biển Đông, muốn xưng “thiên hoàng”, bá chủ….

Những đòn kinh tế sòng phẳng ông xuất ra, đúng bản lĩnh của một nhà kinh doanh thượng thặng, đúng bản chất của một người Mỹ bộc trực, thẳng thắn và tự tin. Chúng tôi đã nhìn về ông với một ánh mắt khác, một nhịp đập con tim khác. Các đồng minh của ông thoạt đầu cũng bực bội với các chính sách của ông, nay đã hiểu, họ phải thấy rằng, đã là bạn thì phải “fair”, phải chia sẻ. Trung cọng thì thấy những mưu đồ của họ đã bị ông đưa ra ánh sáng. Sự lưu manh, xảo trá, man rợ của chúng đã bị ông xé tan vỏ bọc để mọi quốc gia đều thấy và chiêm nghiệm! Quả thực, ông đã chinh phục được mọi người. Ông đã trở thành một vị tổng thống kỳ lạ nhất nước Mỹ, để đến nỗi, mọi người chỉ biết ngẩn ngơ nhìn ông hành động, không biết ông sẽ xuất chiêu gì, ngoài việc, nước Mỹ đã “great again”!…

Mọi chuyện tưởng trôi trong nhịp điệu bình thường. Kinh tế Mỹ sẽ hùng mạnh. Người dân Mỹ sẽ phú cường. Thất nghiệp của Mỹ sẽ thấp nhất. Dân chúng Mỹ sẽ hài hoà với đúng chất Mỹ. Tàu cọng sẽ sụp đổ, qui hàng. Trật tự thế giới sẽ được lập lại với những quốc gia đối xử với nhau bình đẵng, hợp tác, thân thiện và cùng lợi ích. Những trò mèo cọng sản chủ nghĩa do tàu cọng, Tập Cận Bình dẫn dắt sẽ tiêu tan…

Có ngờ đâu cũng từ tàu cọng, một vũ khí sinh học nguy hiểm bị rò rỉ, virus Vũ hán, làm thành một đại dịch toàn cầu, một đại dịch mà chính nước sản xuất là tàu cọng cũng không ngờ, và cả thế giới với khoa học kỹ thuật nổi trội cũng hoang mang. Con virus vô hình đã phá tan tất cả các thành quả của ông. Gây ra sự cuồng loạn của bọn người da đen, bọn hôi của, bọn vô tích sự da màu khác trên đất Mỹ. Và ông, không ai khác, phải tả xung hữu đột, giữa một mùa bầu cử tới gần. Đạn lại nổ hướng về ông từ tứ phía. Tàu cọng đang ngất ngư gần chết lại vùng lên đe hoạ láng giềng, xúi giục cộng đồng da màu, bạo loạn, cướp bóc, phá hoại di sản…, để mong ông thất cử, để mong chúng tồn tại!…

Nhân ngày độc lập Hoa kỳ, 4 tháng 7 năm 2020, ông đã có bài phát biểu dưới chân Mt. Rushmore, nơi có chân dung 4 vị tổng thống Mỹ nổi danh tạc trên núi đá. Ông đã tuyên chiến với những kẻ âm mưu bạo loạn, gây bất an cho xã hội Mỹ. Ông đã cho mọi người thấy niềm kiêu hãnh Mỹ và sự tự tin bản lĩnh trong một vị tổng thống đáng khâm phục, người đã hy sinh rất nhiều tiền bạc của gia đình, chỉ để bảo vệ một chân lý duy nhất. Đó là Sự Công Bằng trên thế giới! Nước Mỹ không phải là một nơi tị nạn kinh tế của các quốc gia. Một dân tộc cưu mang kẻ khác để bị nguyền rủa. Một nhà giàu giúp đỡ kẻ khó khăn để bị miệt thị. Một tổ quốc vị tha để bị kẻ khác lợi dung. Chân lý phải được trả lại cho người Mỹ. Và không ai khác, chính ông, một người Mỹ vĩ đại, một người Mỹ chân chính, thể hiện cho thế giới biết rằng. Chúng tôi luôn là người bạn thân thiết với các bạn, nhưng phải sòng phẳng, phải minh bạch, phải thật lòng. Chúng tôi là bạn thiết rộng rãi, nhưng không phải người bạn mềm lòng ngu dại để các bạn lợi dụng, moi móc, cướp bóc, đe doạ. Chúng tôi cần sự công bằng. Và nước Mỹ vẫn là nước Mỹ vĩ đại, hòa bình bên bạn!….
Và với tôi, thưa Donald, ông thật vĩ đại. Tôi đã bị ông chinh phục. Chưa chắc tôi yêu mến ông nhưng tôi kính trọng ông. Tôi mong ông sẽ chiến thắng trong cuộc tranh cử tổng thống nhiệm kỳ này. Và, tôi có một mơ ước, nhờ sự thành công của ông, Việt nam tôi sẽ thoát Trung, sẽ tự cường, nhân dân tôi sẽ được dân chủ, tự do, và hùng mạnh!…
Nguyễn Quang Chơn
***
*
* TIN QUÁ MỪNG! “CỨU TINH”CHO THẾ GIỚI LÚC NÀY

Các nhà khoa học của Trường đại học Y Pittsburgh (Mỹ) đã phân lập được phân tử sinh học nhỏ nhất cho đến nay có thể vô hiệu hóa hoàn toàn và rõ rệt virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19.
Loại kháng thể “nhỏ mà có võ” được các nhà khoa học Mỹ phát hiện làm dấy lên hi vọng trong bối cảnh chưa có vắc xin hiệu quả và an toàn tiêm chủng đại trà.
Thành phần kháng thể này có kích thước nhỏ hơn kháng thể thông thường gấp 10 lần và đã được sử dụng để tạo ra một loại thuốc có tên Ab8. Các nhà khoa học kỳ vọng loại thuốc được bào chế từ kháng thể “nhỏ mà có võ” này sẽ sớm được sử dụng như một liệu pháp phòng chống SARS-CoV-2.
Báo cáo đăng trên tạp chí Cell ngày 14-9 cho biết Ab8 có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa và điều trị nhiễm SARS-CoV-2 ở chuột.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy những con chuột được cho sử dụng Ab8 ở nhiều mức độ khác nhau có nguy cơ nhiễm SARS-CoV-2 thấp hơn những con không dùng. Lượng virus trong cơ thể chuột vẫn giảm hơn 10 lần khi dùng Ab8 ở liều thấp nhất.
Nghiên cứu sâu hơn, các nhà khoa học cho biết khi dùng Ab8 nồng độ thấp, virus bị chặn đứng và không thể xâm nhập tế bào của chuột, giúp chúng không bị nhiễm bệnh, theo đài Fox News.
Kích thước siêu nhỏ của kháng thể không chỉ làm tăng khả năng khuếch tán trong các mô để vô hiệu hóa virus tốt hơn, mà còn cho phép các nhà khoa học tính đến khả năng sử dụng thuốc bằng nhiều cách như hít qua mũi hoặc chích dưới da.
Quan trọng hơn, loại thuốc này không liên kết với các tế bào của con người – một dấu hiệu tốt cho thấy nó sẽ không có tác dụng phụ tiêu cực.
“Ab8 không chỉ có tiềm năng như một liệu pháp điều trị COVID-19 mà còn có thể được sử dụng để giúp mọi người không bị nhiễm SARS-CoV-2”, đồng tác giả nghiên cứu John Mellors khẳng định trong báo cáo.
Xianglei Liu, một đồng tác giả khác, lạc quan cho rằng Ab8 sẽ trở thành “cứu tinh” cho mọi người trong đại dịch.
“Các kháng thể có kích thước lớn hơn đã hoạt động, chống lại các bệnh truyền nhiễm khác và được dung nạp tốt. Do đó chúng tôi hy vọng Ab8 có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân mắc COVID-19, thậm chí bảo vệ cả những người chưa từng bị nhiễm virus và tạo ra miễn dịch”.
Ảnh: Tìm thấy kháng thể có thể vô hiệu hóa hoàn toàn virus gây COVID-19.
Loại kháng thể “nhỏ mà có võ” được các nhà khoa học Mỹ phát hiện làm dấy lên hi vọng trong bối cảnh chưa có vắc xin hiệu quả và an toàn tiêm chủng đại trà – Ảnh chụp màn hình Đại học Y Pittsburgh.
Theo: Đại học Y Pittsburgh.
***
* Tổng thống Trump ‘thổi bay’ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc
Quý Khải

“Liên Hợp Quốc phải buộc Trung Quốc chịu trách nhiệm trước các hành vi của họ”.
Trong bài phát biểu trực tuyến tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc hôm thứ Ba (22/9), tổng thống Trump đã yêu cầu Trung Quốc phải chịu trách nhiệm cho thất bại trong việc kiềm chế đại dịch viêm phổi Vũ Hán trong những ngày đầu, đồng thời tuyên bố Tổ chức Y tế Thế giới WHO là một tổ chức “nằm dưới sự kiểm soát của Bắc Kinh”.
“Liên Hợp Quốc phải buộc Trung Quốc chịu trách nhiệm cho các hành vi của họ”, ông Trump nói trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc hôm thứ Ba, đồng thời gọi thẳng Covid-19 là “Virus Trung Quốc (China Virus)”.
Chính quyền tổng thống Trump từ lâu đã lên án Bắc Kinh xử lý tắc trách dịch bệnh tại đại lục khiến nó bùng lên thành đại dịch toàn cầu. Chính quyền Trump cũng đã kêu gọi cộng đồng quốc tế chủ động điều tra các hành vi của Trung Quốc trong đại dịch.
“Trong những ngày đầu tiên của dịch bệnh, Trung Quốc đã phong tỏa đi lại nội địa trong khi vẫn cho phép các chuyến bay rời Trung Quốc và lây nhiễm cho thế giới”, ông Trump nói, đồng thời nhấn mạnh vào sự phản đối có ý đồ của Trung Quốc đối với các lệnh hạn chế đi lại mà ông đặt ra đối với nước này tại thời điểm đó.
Tổ chức Y tế Thế giới WHO, vốn đã bị Mỹ cắt tài trợ và tuyên bố rút khỏi hồi tháng 7, cũng hứng chịu chỉ trích của ông Trump khi lặp lại các tuyên truyền về dịch bệnh của chính phủ Trung Quốc – những thông tin sai sự thật.
“Chính phủ Trung Quốc và Tổ chức Y tế Thế giới – một tổ chức hầu như nằm dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc – đã tuyên bố sai sự thật rằng không có bằng chứng cho sự lây nhiễm từ người sang người. Sau đó, họ đã tuyên bố sai lệch rằng những người không có triệu chứng sẽ không lây bệnh cho người khác”, ông Trump nói.
Ông cũng so sánh cách xử lý dịch bệnh của Trung Quốc với Mỹ. Ông cũng tuyên bố nước Mỹ đang dẫn đầu công cuộc tìm kiếm vắc xin và chấm dứt đại dịch.
Ông nói: “Chúng tôi đi tiên phong trong các phương pháp điều trị cứu người, giảm tỷ lệ tử vong 85% kể từ tháng 4. Nhờ những nỗ lực của chúng tôi, ba loại vắc-xin đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng cuối cùng. Chúng tôi đang sản xuất hàng loạt chúng để có thể chuyển đến người dân ngay khi sẵn sàng”.
Bên cạnh vấn đề đại dịch, ông cũng kêu gọi Liên Hợp Quốc tập trung vào “các vấn đề thực sự” trên thế giới và ngừng chỉ trích Mỹ về các vấn đề như môi trường. Ông cho biết lượng khí thải carbon của Trung Quốc cao gấp đôi so với Mỹ và cáo buộc nước này đổ hàng tấn nhựa ra biển và đánh bắt quá mức.
“Những người công kích thành tích môi trường kỷ lục của Mỹ trong khi phớt lờ tình trạng ô nhiễm tràn lan của Trung Quốc là những người không hề quan tâm đến môi trường. Họ chỉ muốn trừng phạt nước Mỹ. Và tôi sẽ không tán đồng với điều này”, ông Trump nói.
“Nếu Liên Hợp Quốc muốn trở thành một tổ chức hiệu quả, thì Liên Hợp Quốc phải tập trung vào các vấn đề thực sự của thế giới. Chúng bao gồm vấn đề khủng bố, áp bức phụ nữ, lao động cưỡng bức, buôn bán ma túy, buôn người và cưỡng ép bán dâm, đàn áp tôn giáo và thanh lọc sắc tộc”, ông nhấn mạnh.
Trong bài phát biểu, ông cũng đề cập các thỏa thuận hòa bình gần đây do Mỹ làm trung gian ở khu vực Balkan và Trung Đông. Gần đây đã có các thỏa thuận bình thường hóa quan hệ được ký kết giữa Serbia và Kosovo, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Israel, Bahrain và Israel. Ông Trump hứa hẹn sẽ có nhiều thỏa thuận hơn xuất hiện “trong thời gian ngắn”.
Ông quy sự thành công trong các thỏa thuân này là do chính quyền của ông đã có “một cách tiếp cận khác” và cho rằng nó đã đạt được “kết quả vượt trội”.
Trong bài phát biểu được phát trực tuyến, ông Trump đã khai thác nhiều chủ đề tương tự mà ông đã đề cập đến trong các bài phát biểu trước đây, bao gồm những thành công của nước Mỹ dưới thời chính quyền của ông, và lặp lại lời kêu gọi các nước thành viên LHQ đặt người dân của họ lên trên hết như ông đang làm.
“Trong nhiều thập kỷ, những tiếng nói mệt mỏi giống nhau đã đưa ra những giải pháp thất bại tương đồng, theo đuổi tham vọng toàn cầu với cái giá phải trả là thiệt hại của chính người dân của họ”, ông Trump nói.
“Nhưng chỉ khi các vị quan tâm đến người dân của mình, các vị mới tìm thấy một nền tảng thực sự cho việc hợp tác. Với tư cách là tổng thống, tôi đã bác bỏ những cách tiếp cận thất bại trong quá khứ và tôi tự hào đặt nước Mỹ lên trên hết, cũng như các vị nên đặt quốc gia của mình lên trên hết vậy”, ông Trump nhấn mạnh.
***
* BS NGUYEN THUONG VU: Bán Bệnh
Một bài sưu tầm rất giá trị và có ích cho người đọc!
Mong quí vị bỏ chút thì giờ để đọc cho biết vì có thể giúp cho cá nhân mình.
Cám ơn BS Nguyễn Thượng Chánh, Tác giả bài viết.

Bán Bệnh
BS Nguyen Thuong Vu

Thưa các anh chị
Anh BS Hoàng Cơ Lân, Y sĩ Đại tá tại Paris, vừa gửi cho tôi một bài viết của BS Nguyễn Thượng Chánh. Disclosure: tôi không liên hệ gia đình và cũng không hề quen biết BS Nguyễn Thượng Chánh.
Tựa đề của bài viết của BS Nguyễn Thượng Chánh là: Phóng Sự Điều Tra Về Thuốc Tây: Bán Bệnh. Thật tinh ra BS Nguyễn Thượng Chánh không chính tay tham dự vào cuộc điều tra mà ông viết trong bài này. BS Chánh lượm lặt các bài phóng sự, các bài điều tra của các báo Âu Châu, nhất là các báo bên Pháp. Sau đó BS Chánh dịch 1 cách nôm na những điều mà các phóng viên nêu ra bằng tiếng Pháp.
Tuy dịch nôm na nhưng tất cả những điều quan trọng BS Chánh đã ghi lại hết , bằng tiếng Việt cho người đọc hiểu rõ vấn đề. Vấn đề BS Chánh viết lại rất quan trọng:
Trong 2 chục năm gần đây, chúng ta nhận thấy có rất nhiều căn bệnh “mới” mà các giới kỹ nghệ làm thuốc Tây ( Pharmaceutical Industry) với các Lobby của họ, với những người tiến sĩ, bác sĩ “đánh mướn” cho họ đã tạo ra các căn bệnh này hay là họ định nghĩa lại các căn bệnh sẵn có, với những tiêu chuẩn định bệnh mới: Chúng ta thấy bệnh “cao máu” Hypertension, thời chúng tôi còn đi học trong thập niên 50 -60 thì được định bệnh khi áp huyết systolic cao hơn 140mm Hg khi đo áp huyết của cánh tay, trên cùi chỏ/Khỉu tay.
Về sau, lần lần giới Lobby này hạ cách định bệnh “Cao Máu” là trên 130 mm Hg cũng là cao máu, hiện nay trên 120 mm hg cũng là cao máu và phải uông thuốc hạ máu ngay
Vô hình chung, ngủ qua 1 đêm, người ta tạo thêm lên 1 tổng số “bệnh nhân” lớn hơn 7-8 lần con số nguyên thuỷ và kết quả là số thuốc được bán ra củng gấp 7-8 lần số thuốc nguyên thuỳ.
Lẽ dĩ nhiên, có những người áp huyết máu giữa 130 mm và 120 mm Hg cũng bị các tai biến mạch máu, tuy nhiên con số này rất, rất nhỏ.
Nhìn tổng quát hơn , thì cũng có các người áp huyến “bình thường” dưới 120 mm Hg cũng có thể chết vì tai biến mạch máu, nhưng con số này quá nhỏ.
Định bệnh và điều trị “Áp Huyết Cao” chỉ là một trường hợp điển hình. Bệnh Tiểu Đường cũng được thay đổi phương cách định bệnh.
Khi chúng tôi mới vào học Y Khoa trong thập niên 1950 thì bệnh “Tiểu Đường” được định bệnh là chất đường trong máu cao hơn 120 mg.
Trong mấy chục năm qua, con số này được hạ thấp lần lần xuống duới 100 mg/dl
Những năm gần đây thì người ta định bệnh Tiểu Đường bằng Hemoglobin A 1 C, phải dưới 6 thì mới tốt. Và kỹ nghệ sản xuất Dược Khoa dương nhiên có 1 con số khổng lồ các người “tiền” Tiểu Đường cần phải điều trị…Nhiều thuốc mới được chế tạo ra, và thuốc nào củng vô cùng mắc tiền cả, và thuốc nào cũng khó xử dụng, có thể dễ dàng gây nguy hiểm.
Tôi có 1 người bạn đồng nghiệp, ngày xưa làm bác sĩ Nhẩy Dù, trong mấy chục năm qua hành nghề bác sĩ Nhi Khoa tại San José. Bà xã người bạn tôi hồi đó được một người bạn thân khác điều trị bệnh Tiểu Đường, cho dùng 1 loại thuốc mới “rất công hiệu” và cũng rất đắt tiền.
Sau 1 thời gian ngắn dùng thuốc mới này, bệnh của chị trở nên trầm trọng, phải mang vào nhập viện , năm Bệnh Viện Stanford,và chị qua đời sau ít ngày nhập viện.
Hành nghề Y Khoa lắm khi là một cái vòng luẩn quẩn.
Một khi các cơ quan Y tế Quốc Gia định nghĩa lại Bệnh và cách Điều Trị Bệnh, thì người bác sĩ gia đình cũng như người bác sĩ chuyên khoa bắt buộc phải theo.
Nếu không theo , mà vì môt lý do nào mà người bệnh bị tai biến trong cơ thể, nếu người bác sĩ đó bị kiện ra toà thì có thể tan tành sự nghiệp.
Người bác sĩ điều trị muốn cưỡng lại cũng không được , một khi các cơ quan Y tế, các Trường Đại Học Y Khoa thay đổi lập trường và đòi hòi phải điều trị các trường hợp mà mới tháng trước, minh nghĩ người ta không bị bệnh và không cần thiết phải điều trị.
Bài viết phóng sự của bác sĩ Nguyễn Thượng Chánh rất đáng cho chúng ta đọc và suy nghĩ.
Cám ơn anh BS Hoàng Cơ Lân đã chuyển lại cho chúng tôi 1 bài viết rất quan trọng

Thân mến
BS Nguyen Thuong Vu

Đọc cho biết.
Black heart (cards)Black heart (cards) Xin chuyen 1 de tai rat HUU ICH.
Nếu đang khỏe mạnh, không nên nghe lời quảng cáo mua thuốc uống “ngừa bịnh”, vì thuốc nào cũng có chất độc để giết vi trùng, đồng thời cũng giết một số tế bào chung quanh và không có vi trùng thì nó giết các tế bào hữu ích của ta. Đồng thời cơ thể cũng tự đề kháng chất lạ vào cơ thể. Đến khi có bệnh thật sự, thì loại thuốc đó mất hiệu nghiệm vì cơ thể mình đã kháng thuốc đó rồi..
Hay nhất là uống nước lọc hàng ngày đừng để thiếu nước, tập thể dục và ăn chất bổ dưỡng, tránh ăn đồ ăn có hóa chất độc hại…
Vạch trần sự thật của ngành Y DƯỢC .
Xin chuyển đến mọi người cùng theo dõi bài này !
Hy vọng ai cũng thích thú vì mang nhiều lợi ích cho chúng ta .
Phóng Sự Điều Tra Về Thuốc Tây: Bán Bệnh

Bs Nguyễn Thượng Chánh

Phóng sự điều tra (journal denquête) tố cáo một số đại công ty dược phẩm cố tình “tạo bệnh mới” để bán thuốc.
Người gõ xin phỏng dịch ra những ý chánh trong cuốn phim.
Video: LES VENDEURS DE MALADIES – FR2 (1.31 hrs)-nói tiếng Pháp
Các nhà bào chế cố tình “tạo ra” ra một bệnh lý (pathologie) phù hợp với phân tử (molécule) mà họ vừa tìm ra được mặc dù đôi khi món thuốc mới nầy có những phản ứng phụ không thể tránh khỏi được. Ròng rã trong thời gian 6 tháng, nhóm Cash Investigation đã điều tra về lề lối làm ăn của một số nhà tài phiệt lớn trong ngành dược phẩm và họ đã phải giật mình trước những điều khám phá ra: “Từ 15 năm qua, các nhà bào chế lớn đã tạo (façonner) ra nhiều bệnh mới để bán thêm được nhiều thuốc”.
Bệnh lý giả tạo, hội chứng tưởng tượng…Lề lối làm ăn vô lương tâm kiểu nầy có hại vô cùng cho sức khoẻ bệnh nhân. Thuốc mới chứa đầy phản ứng phụ nguy hiểm mà nhà sản xuất cố tình lờ đi.
Đây là một cuộc điều tra vô tiền khoáng hậu của các nhà báo Pháp. Họ đã dám vuốt râu hùm để tìm sự thật và gom góp chứng cớ tại Pháp cũng như tại nhiều quốc gia khác chẳng hạn như Hoa Kỳ và Canada.
Từ 15 năm qua, các nhà bào chế tạo ra bệnh nhằm mục đích đểbán thuốc.
(Phỏng dịch từ: Psychologies.com/seniors/ les vendeurs de maladies)

http://forum.psychologies.com/ psychologiescom/Seniors/vendeu rs-maladie-sujet_3972_1.htm

Các bệnh mới không ngớt ra đời, lấy thí dụ như “Hội chứng biến dưỡng” (Syndrome métabolique) hay còn gọi lại Hội chứng thùng nước lèo hay bụng bự(Syndrome de la bédaine).Công ty dược phẩm Sanofi (Pháp) tuyên bố rầm rộ về sự ra đời của một món thuốc mới: Acomplia (Ribonabant) và tung ra một chiến dịch nhồi sọ quảng cáo trên khấp thế giới. Ngày nay, nhiều nhà chuyên môn trong y khoa quả quyết rằng tất cả đều trên là bịa đặt, sai bét hết.
Hội chứng biến dưỡng thật sự ra không có. Nhưng đó là bốn loại bệnh đã được biết từ trước rồi: áp huyết cao, cholesterol, tiểu đường, và dư cân (hypertension, cholesterol, diabète et surpoids) kết hợp lại chung với nhau trong một bao bì mới (nouvel emballage) hay nói một cách khác là bình cũ nhưng rượu mới. (fait du neuf avec du vieux).
Thuốc Acomplia cho thấy đã gây phản ứng phụ cho trên 1000 bệnh nhân tại Pháp (xáo trộn tâm thần nặng, troubles psychiatriques graves). Có 10 người chết trong số nầy có 4 người tự tử…
Một năm rưởi sau ngày có mặt trên thị trường, Acomplia bị cấm bán tại Pháp và sau đó thuốc cũng bị cấm trên cả thế giới.
Hơn nữa, qua thí nghiệm lâm sàng trước khi thuốc được phép bán,công ty Sanofi hơn ai hết đã biết rất rõ tầm quan trọng của các phản ứng phụ…
Cơ quan quản lý dược phẩm Liên Âu (Agence européenne du médicament) đã quyết định cho phép bán Acomplia sau khi họ cân nhắc “ lợi nhiều nhiều hơn hại” (bénéfice supérieur au risque).
Thiên phóng sự đã cho chúng ta thấy có mối liên hệ tài chánh giữa cty Sanofi và một số bác sĩ specialists “chuyên môn” về “bệnh” đó.(chẳng hạn như Gs Després tại Canada hay Bs Boris Hansel tại Pháp…)
Riêng tại Pháp, có thể nói rằng 90% dân chúng rất tính nhiệm bác sĩ gia đình của họ. Nhưng sau những scandales về thuốc men lòng tính nhiệm của người bệnh đối với bác sĩ cũng bị sứt mẻ đi rất nhiều. Được biết là các nhà bào chế chi 25 000 euros/ mỗi năm/cho mỗi bác sĩ để tạo ảnh hưởng tốt đẹp cho sản phẩm mới. (rapport IGAS, inspections générales des affaires sociales).
Để nhắm vào một thị trường càng rộng lớn càng tốt, các nhà bào chế quảng cáo khuyến mãi những loại bệnh mà hầu như ai cũng có thể mắc phải hết. Họ thu lợi rất nhiều qua việc sản xuất những món thuốc để trị những căn bệnh phổ thông hơn là sản xuất thuốc dể chữa trị những bệnh hiếm thấy hơn mà ít người mắc phải.
Nói chung, đó là những bệnh không rõ ràng thường hay thấy xãy ra ở những người bình thường. Cuối cùng nhà bào chế thành công trong việc làm cho một số lớn quần chúng tin là họ đang mắc phải bệnh đó.. Thị trường dược phẩm nở rộng ra. Đôi khi họ tạo ra những “bệnh dỏm”, đôi khi họ cho mở rộng thêm chu vi của căn bệnh.
Bằng cách nào? Nhà bào chế cho hạ ngạch số định bệnh (baisse le seuil de diagnostic) để có thể trị được một số lớn bệnh nhân, càng nhiều, càng lâu, càng tốt.
Một khảo cứu Hoa Kỳ cho biết chỉ cần thay đổi dấu chấm, hay thay đổi cái dấu phết trên ngạch số của một bệnh là sẽ có thêm được một số lượng lớn bệnh nhân mới.($$$$).

Bênh tiểu đường type II.
Ngày xưa được xác định là đường huyết phải trên mức 140mg/dL.
Năm 1997, ngạch mức trên bị Cơ quan y tế thế giới OMS rút xuống còn 126 mg/dL (7mmol/L)…
Lập tức có thêm 1,700 000 người Mỹ được xếp vào danh sách bệnh nhân tiểu đường (suốt đời!)

Cholestérol.. Năm 1998.ngạch mức từ 240mg/dL bị rút xuống còn 200mg/dL.Lâp tức xã hội Hoa Kỳ có thêm 42 600 000 bệnh nhân có cholesterol cao trong máu…Các nhà bào chế có thêm được 86% khách hàng mới.“Trên thế giới, chỉ có hai nhóm người: nhóm người đã bệnh rồi và nhóm người chưa biết họ bệnh.”
Đó là mục tiêu của các nhà bào chế dược phẩm.«Dans le monde, il ny a plus que 2 groupes de gens: ceux qui sont malades… et ceux qui ne le savent pas encore… et ça, cest lobjectif des firmes pharmaceutiques.»

Những chiến lược thường được các công ty bào chế áp dụng
1 – Cho giảm ngạch số định bệnh (réduire le seul de diagnostic):Đây là chiến lược nhằm thổi phồng lên một cách giả tạo số bệnh nhân cần phải được điều trị.Lấy thí dụ bệnh tiểu đường type 2. Như vậy số người cần phải uống thuốc gia tăng thêm lên mặc dù nguy cơ tiểu đưởng rất ư là thấp.Nay họ lại phải bị bắt buộc chịu đựng thêm nguy cơ phản ứng phụ từ những loại thuốc uống vào.Réduire le seuil de diagnostic: il sagit dune stratégie destinée à gonfler artificiellement le nombre de gens à traiter. On peut prendre par exemple le cas du diabète de type 2. Bien que garder un niveau faible de glucose dans le sang na pas de réel impact pour la majorité des patients, le seuil de glucose à partir duquel le diabète est diagnostiqué ne cesse de baisser. Ainsi, le nombre de gens médiqués augmente, et les personnes avec un risque diabétique très faible sont soumis aux risques dus aux effets secondaires des médicaments quon leur fait prendre

2 – Phóng đại sự hiệu nghiệm (Exagérer lefficacité);tạo cho bệnh nhân ấn tượng thuốc có hiệu nghiệm rất lớn nhằm thống lĩnh thêm thị trường. Theo các nhà chuyên môn, chiến lược nầy rất thường được áp dụng nhưng cũng chỉ là để hổ trợ cho những chiến lược khác mà thôi.
Exagérer lefficacité: de la même façon, faire croire à une plus grande efficacité permet de conquérir de nouveaux marché. Daprès les auteurs, cette stratégie est fréquente mais nest quun complément aux autres stratégies.

3 – Tạo ra những bệnh mới (créer de nouvelle maladie):Có gì hay hơn là tạo nên được một thị trường mới. Người ta chứng kiến sự ra đời của những bệnh lý mới, chẳng hạn như tiền tiểu đường (Pre-diabète) và tiền cao máu (Pré-hypertension)
Đồng thời với việc giảm ngạch mức định bệnh,( baisser seuil de diagnostic) hoặc áp dụng những sự thay thế (utilisation de substituts). Người ta có thể nghĩ đến chứng ostéopénie nghĩa là những xương có mật độ thấp (faible densité) nhưng chưa đủ để phải bị liệt vào trường bệnh loãng xương ostéoporose.
Ngày nay, ostéopénie được công tuy dược phẩm nhồi vào đầu bệnh nhân và nó trở thành một bệnh mới và chiếm một số bệnh nhân nhiều hơn là số bệnh nhân của bệnh loãng xương ostéoporose thật sự gấp bội. Nhà bào chế tha hồ mà bán ra thuốc Fosamax(bisphosphonate) là thuốc đặc trị do bs kê toa trong trường hợp các bà bị loãng xương.
Được biết thuốc bisphosphonate mặc dù có hiệu quả trong việc giảm thiểu bệnh loãng xương nhưng thuốc có thể có phản ứng phụ làm osteonecrosis hư mục xương hàm (osteonecrosis), nhưng cũng rất hiếm thấy.

BỆNH HOẠN, MỘT THỊ TRƯỜNG BÉO BỞ

Thông tin y học láo khoét Năm 2005, phóng viên khoa học Jorg Blech của báo Spiegel (Đức Quốc) trong tác phẩm điều tra của ông dưới tựa đề là “ Những người sáng chế ra bệnh” cho biết các nhà bào chế đã thành công trong việt nhồi sọ dân chúng ý niệm loãng xương ostéoporose (mà định nghĩa của nó không ngừng được mở rộng thêm ra với hiện tượng thiếu xương ostéopénie) là một định mệnh (fatalité). Chính sự sợ hãi của dân chúng đã giúp các xí nghiệp dược phẩm thống trị được một thị trường to tát về việc phòng ngừa loãng xương và nhờ đó mà họ thu được hằng tỷ dollars và euros. Láo khoét càng to tát chừng nào thì khó phát hiện chừng đó.
Từ lúc ngạch mức chẩn đoán cholesterol được người ta cố tình hạ xuống thì số bệnh nhân lúc trước là 6 triệu người phải uống thuốc suốt đời, nay thì tăng lên 36 triệu người. Như vậy có biết bao là những người có sức khỏe bình thường nay thì trở thành nạn nhân của một khảo cứu thiên vị (biasé) và bắt buộc họ phải uống thuốc hết. John Abramson, là bác sĩ và tác giả của quyển:Overdosed America – John Abramson M.D..- the Dove.us Theo Bs John Abramson, kỹ nghê dược phẩm tập trung việc phòng ngừa bệnh tim mạch qua việc làm hạ cholestérol bằng thuốc statines trong khi các khảo cứu minh chứng là việc phòng ngừa bệnh tim mạch tốt nhứt là thực phẩm dinh dưỡng và vận động thể dục thể thao.
Đọc cho biết tin mới nhứt: Bệnh tự kỷ không phải do thuốc chủng MMR gây ra.
Năm 1998 tạp chí y học nổi tiếng thế giới Lancet có đăng bài“đính chánh” (a now retracted study) khảo cứu của Gs Andrew Wakefield liên hệ đến nguyên nhân bệnh của bệnh tự kỷ(autism) liên quan đến thuốc chủng ngừa MMR (measles, mump, rubella) tức là sởi, quai bị và sởi Đức. Bs Wakefield bị treo bằng sau đó.
Vừa qua, July 1, 2014, tập chí y khoa Pediatrics cho biết nhiều khảo cứu liên quan đến “Sự liên hệ của vaccine MMR và bệnh tự kỷ” đã đưa ra kết luận là Vaccin MMR không có gậy ra “ hội chứng phổ tự kỷ” (autism spectrum disorders).

***

* Hàng Ngàn Thư và Phiếu Bầu bị phi tang vứt xuống cống rảnh…
https://fox11online.com/news/local/mail-found-in-ditch-in-greenville
Fraud, Cheat, Lie, Deception, Corruption, Treason là những tội danh của bọn tham quyền gian ác.
Thu., Sep. 24 at 12:57 a.m.

Police in Greenville, Wisconsin, found three trays of mail, including absentee ballots, in a ditch.
The Outagamie County Sheriff’s Office discovered the trays in a ditch on Tuesday morning, near Appleton International Airport, according to WLUK. The mail was returned to the U.S. Postal Service, and an investigation is underway.
“The United States Postal Inspection Service immediately began investigating, and we reserve further comment on this matter until that is complete,” USPS spokesman Bob Sheehan told WLUK.
At the time of publication, the Postal Service had not returned the Washington Examiner’s request for comment.
The Outagamie County Sheriff’s Office told the Washington Examiner that the mail discovered was “mail going to the post office.”
Amid the coronavirus pandemic, states have expanded eligibility for mail-in ballotigto be left in a state of suspense in the minds of voters weeks before a presidential election, raising doubts as to whether their votes will ultimately be counted,” U.S. District Judge Victor Marrero said.
“Conflicting, vague, and ambivalent managerial signals could also sow substantial doubt about whether the USPS is up to the task, whether it possesses the institutional will power and commitment to its historical mission, and so to handle the exceptional burden associated with a profoundly critical task in our democratic system, that of collecting and delivering election mail a few weeks from now,” he added.
Wisconsin is a crucial battleground state in the 2020 race. A poll conducted by Ipsos that was released on Monday showed President Trump 5 points behind former Vice President Joe Biden. The credibility interval of the poll was plus or minus 3.5 points and surveyed 609 likely Wisconsin voters.
Nhóm Tố Sảng sangto thổ tả, kể cả Nguyễn Gia Kiểng, Nguyễn Quốc Khải v.v…thổi lên diễn đàn rằng : gia đình Bi Đen, tất cả là những tri thức nhân tài đạo đức tiêu biểu hàng đầu của Hoa Kỳ xứng đáng lãnh đạo quốc gia và thế giới. Hãy đọc tin sau dây :

Ye Jianming, the founder of China Energy Company Co, Ltd, who formerly held positions with the People Liberation’s Army, possessed financial connection to James Biden (former Vice President Joe Biden’s brother}.

Gơngwen Dong, Chệt Cộng, mở trương mục ngân hàng dưới tên Hudson West III vào năm 2017. Hunter, James Biden và vợ là Sara Biden, were all authorized users of credits cards associated with the account, according to investigators.

Ngoài ra họ được sử dụng $100,000 mua sản phẩm đắc tiền kể cả high-tech product from Apple.

Chệt Cộng chuyễn cho Hunter 1 tỉ rưởi đô la qua trung gian Bohai Harvest RST(Shanghai) có chi nhánh tại Hoa Kỳ. Tập đoàn có nhiều cổ phần của viên chức Đảng và chính phủ Chệt Cộng dầu tư 2 tỉ rưởi đô la kinh doanh phụ tùng xe ô tô, năng lượng và kỷ thuật đa dạng tại Hoa Kỳ.

Phu nhân cựu thị trưởng Moscow (Nga) chuyễn ngân cho Hunter Biden 3 triệu rưởi đô la. Ngoăi ra, Hunter appears to be linked to an Eastern European prostitution or human trafficking .

Tại sao Joe ẩn trú hơn 8 tháng trong tầng hầm không xuất hiện đó đây vận động tranh cử, và thường cà lầm, nói trước quên sau, nhiều lần nhầm lẫn số ngàn với số triệu, phải chăng ám ảnh vì số tiền triệu tham ô bất chánh, tâm bất an, trí bất tịnh, đảo luôn vị trí thứ tự Biden – Harris trở thành Harris – Biden.

Nếu không gian lận, Biden không thể thắng cử Tổng Thống ngày 3/11/2020, dù thắng cử cũng không ngồi ghế tổng thống quá hai năm trước bảo táp chính trị.
***
7-TRUYỆN NGẮN HAY CHỌN LỌC:
*
* TRÀM CÀ MAU: Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc

 Triet Ly Cu Khoai _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3          14356
 Bo Duong_Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3
***
* Lối Viết Văn “Bỏ Lửng” Của Ernest Hemingway Đàm Trung PhápErnest Hemingway (1899-1961) lãnh giải Nobel văn chương năm 1954 và được biết đến nhiều nhất qua các tác phẩm The Sun Also Rises(1926), A Farewell to Arms (1929), For Whom the Bell Tolls (1940), và The Old Man and the Sea (1952).

Văn phong tiêu biểu của Hemingway là giản dị tối đa (tránh những câu văn dài lòng thòng chứa đựng nhiều mệnh đề phức tạp), trực tiếp (như nói thẳng với người đọc), không trang điểm (ít dùng tĩnh từ và trạng từ để làm huê dạng câu văn). Lối viết ngắn gọn đi thẳng vào vấn đề của Hemingway có thể là do ảnh hưởng của những năm ông hành nghề ký giả ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Văn phong này phát sinh từ Lý Thuyết Bỏ Lửng (Omission Theory) của ông. Để cho dễ hiểu, ta có thể ví lý thuyết này như cấu trúc một băng đảo (iceberg), trong đó thì phần nổi ở trên mặt nước (đỉnh băng đảo) là nơi chứa đựng những dòng chữ viết, và phần chìm (đáy băng đảo) – lớn hơn nhưng bị nước biển che khuất – là nơi ẩn náu của các hàm ý (implications) suy ra từ các ẩn dụ (metaphors) trong phần nổi. Theo Hemingway, người viết có thể bỏ lửng (omit) bất cứ điều gì khi họ biết là họ cố tình không viết nó ra với chủ ý phần bỏ qua sẽ làm câu chuyện mạnh mẽ hơn và cho độc giả cảm thấy đã lãnh hội thêm một điều gì đó có ý nghĩa sâu xa hơn những điều biểu hiện trong truyện.

Lối viết văn đề cập trên đây chính là lý do tại sao truyện ngắn rất tiêu biểu Hemingway Cat in the Rain (1925) thoạt thấy thì có vẻ nông cạn (lối viết bỏ lửng, cốt truyện đơn giản, dàn nhân vật sơ sài), nhưng thực ra tuyệt tác này đầy ắp những hàm ý sâu xa khi ta đọc kỹ nó. Ta hãy đọc truyện ngắn tuyệt tác ấy qua bản dịch sang tiếng Việt dưới đây, rồi đọc tiếp những giải thích chi tiết sau khi đọc xong:
CON MÈO TRONG MƯA (Bản dịch của Đàm Trung Pháp)Chỉ có mỗi hai người Mỹ ở lại khách sạn. Họ chẳng quen một ai trong số những người họ gặp trên cầu thang trên đường ra vô phòng họ. Phòng họ trên lầu hai, ngó ra biển. Cũng ngó ra công viên và đài kỷ niệm chiến tranh. Có những cây cọ lớn và những ghế dài trong công viên. Khi thời tiết tốt bao giờ cũng có một hoạ sĩ với chiếc giá vẽ. Các hoạ sĩ thích hình dáng những cây cọ và những màu sắc tươi sáng của những khách sạn hướng ra các công viên và biển cả. Nhiều người dân Ý từ phương xa ghé đến để xem đài kỷ niệm chiến tranh được làm bằng đồng sáng loáng trong mưa. Trời đang mưa, nước mưa tí tách rớt xuống từ các lá cọ và đọng thành từng vũng trên các đường lát sỏi. Sóng biển nhấp nhô trong làn mưa rơi, rạt vào trong bãi rồi lại kéo ra khơi. Những xe hơi đã rời khỏi công viên. Bên kia công viên, trước quán cà phê có một người hầu bàn ngó ra hướng công viên vắng lặng.

Người vợ Mỹ ngó qua cửa sổ. Bên ngoài, ngay dưới cửa sổ, một con mèo đang nằm co quắp dưới một chiếc bàn, cố gắng thu mình thật nhỏ để không bị ướt nước mưa.

‘Em đi xuống bắt con mèo nhe,’ người vợ nói.

‘Để anh làm cho,’ người chồng đang nằm trong giường trả lời vợ.

‘Không, em làm lấy. Tội nghiệp con mèo đang tránh mưa dưới chiếc bàn.’

Người chồng tiếp tục đọc sách, nằm nghển cổ trên hai chiếc gối trên giường.

‘Coi chừng bị ướt đấy,’ anh ta nói với vợ.

Người vợ đi xuống cầu thang và người chủ khách sạn vội đứng dậy cúi đàu chào nàng khi nàng đi qua văn phòng. Bàn giấy của ông ta nằm ở phía bên kia của văn phòng. Ông ta đã già và rất cao.

‘Trời đang mưa,’ nàng nói bằng tiếng Ý. Nàng thích ông ta.

‘Dạ, dạ, thưa bà, thời tiết xấu lắm.’
Người chủ khách sạn đứng đằng sau bàn giấy trong văn phòng. Người vợ Mỹ thích ông ta, cũng như thái độ nghiêm trang khi ông ta nghe những lời than phiền của khách trọ. Nàng thích phẩm cách ông ta. Nàng thích phong thái ông ta muốn phục vụ nàng. Nàng thích bộ mặt già nua, nặng nề và hai bàn tay lớn ông ta.

Vì thích ông ta, nàng mở cửa để ngó ra ngoài. Trời mưa nặng hạt hơn. Một người đàn ông choàng áo mưa đang đi từ phía công viên trống vắng về phía quán cà phê. Con mèo chắc đang nằm ở phía bên phải. Có lẽ nàng nên đi dọc bờ tường để còn được mái nhà che khỏi ướt, nàng tự nhủ. Và ngay lúc đó một cô làm công tại khách sạn đã mở dù che mưa cho nàng.

‘Bà không nên bị ướt,’ cô làm công vừa tươi cười vừa nói. Dĩ nhiên chính ông chủ khách sạn đã sai cô ta ra giúp nàng. Được cô làm công che dù, người vợ Mỹ đi dọc con đường lát sỏi cho đến khi tới chỗ dưới khung cửa sổ. Chiếc bàn vẫn còn đó, nhưng con mèo chẳng thấy đâu. Nàng chợt lộ vẻ thất vọng. Cô làm công ngó nàng và hỏi:

‘Bà mất vật gì chăng?’

‘Lúc nãy có con mèo ở đây,’ thiếu phụ Mỹ trả lời.

‘Một con mèo à?’
‘Phải, một con mèo nhỏ.’

‘Một con mèo,’ cô làm công vang tiếng cười. ‘Một con mèo trong mưa?’
‘Phải, nàng đáp, ‘con mèo dưới chiếc bàn.’ Nàng nói tiếp: ‘Trời đất ơi, tôi muốn có nó quá. Tôi thèm có một con mèo con!’

‘Thôi xin bà đi vô, kẻo ướt.’

‘Đành vậy chứ sao bây giờ,’ nàng trả lời cô làm công.

Họ đi ngược lại con đường lát sỏi và nàng mở cửa trở vào khách sạn. Cô làm công còn đứng bên ngoài để đóng chiếc dù lại. Khi người thiếu phụ Mỹ đi qua văn phòng, ông chủ khách sạn lại cúi đàu chào nàng. Nàng thấy ray rứt trong lòng. Ông chủ khách sạn làm cho nàng cảm thấy mình vừa nhỏ bé vừa quan trọng sao đó. Bỗng chốc nàng cảm thấy nàng quan trọng tuyệt vời. Nàng leo cầu thang, mở cửa phòng. George vẫn nằm trên giường đọc sách.

‘Có bắt được con mèo ấy không?’ người chồng hỏi, đặt cuốn sách xuống.

‘Nó đi đâu mất tiêu rồi!’

‘Không biết nó đi đâu nhỉ.’

Nàng ngồi xuống giường, nói:

‘Thèm nó quá. Không biết tại sao thèm nó thế. Em thực muốn có con mèo con tội nghiệp đó. Một con mèo con trong mưa thì có gì vui thú ?’
George lại tiếp tục đọc sách.
Nàng đi về phía bàn trang sức, ngồi trước tấm gương, tay cầm chiếc gương nhỏ. Nàng ngắm nghía “profile” của mình từ hai phía. Rồi nàng quan sát phía sau đàu và gáy.

‘Anh có nghĩ là em nên để tóc mọc dài ra không,’ nàng hỏi, trong khi quan sát “profile” mình một lần nữa.

George ngước lên nhìn phía sau gáy vợ, tóc cắt ngắn như con trai. ‘Anh thích kiểu tóc em đang để.’
‘Em chán kiểu này rồi,’ nàng đáp. ‘Chán trông giống con trai lắm rồi!’
George đổi vị trí nằm trong giường. Từ khi vợ bắt đàu nói, chàng nhìn vợ chăm chú.

‘Em trông xinh thấy mồ ấy mà,’ chàng nói.

Nàng đặt chiếc gương xuống bàn trang sức, đi ra phía cửa sổ ngó ra ngoài đường. Màn đêm đang kéo xuống.

‘Em muốn kéo hết tóc ra phía sau và cột thành một túm lớn để có thể sờ thấy,’ nàng nói. ‘Ước chi có con mèo ngồi trong lòng để mà vuốt ve, để mà nghe nó rù rì nhỉ!’

‘Thiệt hả ?’ George lên tiếng, vẫn nằm trên giường.

‘Em cũng muốn được ngồi ăn với thìa nĩa bằng bạc riêng của mình, với bạch lạp. Và em muốn bây giờ là mùa xuân, muốn chải tóc bồng bềnh, muốn có con mèo, muốn quần áo mới.’

‘Thôi, ngậm miệng lại đi, và kiếm cái gì mà đọc,’ George trả lời. Chàng tiếp tục đọc.

Cô vợ vẫn ngó qua cửa sổ. Trời đã tối mịt và mưa vẫn còn rơi trên các lá cọ.

‘Ít nhất phải có con mèo. Em muốn có con mèo ngay bây giờ. Nếu không được để tóc dài, không có gì vui, phải có con mèo!’

George chẳng còn nghe lời than của vợ nữa. Chàng còn mải đọc sách. Cô vợ vẫn ngó qua cửa sổ và thấy ánh đèn rọi sáng công viên.

Có tiếng gõ cửa.

‘Mời vào,’ George lên tiếng, mắt rời khỏi cuốn sách.

Cô làm công xuất hiện trước cửa phòng. Cô ta ôm chặt một con mèo trong lòng.

‘Xin lỗi ông bà,’ cô giải thích, ‘ông chủ tôi sai tôi mang con mèo này cho bà nhà.’

SỰ VIỆC “BỎ LỬNG” HÀM Ý QUA ẨN DỤ

Ngay tựa đề câu chuyện đã là một “ẩn dụ sắc nét”: Ở đâu đi nữa thì một con mèo ướt nhoẹt nước mưa nằm co ro một xó đều vẽ lên một hoàn cảnh “tội nghiệp quá” rồi. Trong đoạn mở đầu Hemingway dùng thời tiết xấu với trời mưa không ngớt làm ẩn dụ cho một “mối liên hệ vợ chồng đang tan rã” khó lòng hàn gắn. “Sự thiếu trưởng thành” của người vợ được ám chỉ qua sự kiện nàng không có tên gọi mà chỉ được nhắc đến là “người vợ Mỹ” và nàng hành động như một đứa con nít (muốn đích thân đi bắt con mèo ướt nước mưa, muốn được ngồi ăn với thìa nĩa bằng bạc và bạch lạp). Con mèo đóng vai “ẩn dụ kiệt xuất” cho một “đứa con mà người vợ ước ao được ôm ấp trong lòng.” Cuối cùng, con mèo ấy được cô làm công mang đến cho nàng như một “món quà đặc biệt” từ ông chủ khách sạn, người mà nàng mới quen mà đã dành cho nhiều thiện cảm. Món quà ấy chuyên chở cái “hàm ý quan trọng nhất” trong truyện để làm kết luận – Nếu bao giờ nàng ta có một trẻ thơ để ôm ấp trong lòng thì “cái hạnh phúc ấy chỉ có thể xảy ra với một người đàn ông khác.”
***
*PHAN LẠC PHÚC: KỶ NIỆM TAO ĐÀN
Phan Lạc Phúc

Đầu năm 1956 tôi từ biệt nghề “chiến binh lội ruộng” về Phòng 5 bộ Tổng tham mưu làm sĩ quan thông tin báo chí. Lúc bấy giờ tôi chưa có vợ con gì, khoác cái ba lô lên lưng là có thể đi cùng trời cuối đất.
Về Sài Gòn chưa biết ở đâu, tôi sáp vô ở với bạn cũ Thanh Nam ở ngõ Nancy (đường Phan Văn Trị). Tôi và Thanh Nam chơi với nhau từ khi tôi từ ngoài khu về Hà Nội ăn dầm nằm dề trên căn gác phố hàng Bông nhà Nguyễn Thiệu Giang, tập tọng làm văn nghệ văn gừng dưới sự hướng dẫn của đàn anh Đinh Hùng. Trong nhóm chúng tôi ngày ấy ngoài Thanh Nam, Nguyễn Thiệu Giang còn có Nguyễn Minh Lang, Phan Nghị, Huy Quang Vũ Đức Vinh, những người Thanh Nam nhắc đến trong Bài hành tuổi 40 vài chục năm sau:

… Bạn cũ hãy nương theo rét lạnh
Về đây cùng nhập một cơn say
Chí lớn chia nhau đầy gác nhỏ
Bụi hồng chưa khiến tóc xanh phai
Dăm bảy lòng sông ôm biển cả
Coi đời dưới mắt nhẹ không ai
Cơn mê nhập cuộc sầu chưa bén
Thân thế chưa đau cát bụi này…Hồ Điệp

Sau hiệp định Genève 1954, nhóm chúng tôi tan tác kẻ đi người ở. Theo anh Đinh Hùng vào Nam có Vũ Đức Vinh, Phan Nghị và tôi; Thanh Nam đã vào Saì Gòn trước, 1953. Ở lại có Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang. Bấy giờ (1956) tôi ở với Thanh Nam, gặp lại anh Đinh Hùng và có thêm những người bạn mới.
Ở cùng nhà ngõ Nancy lúc bấy giờ có nhà thơ Thái Thủy (tác giả Lá thư gửi mẹ), kịch sĩ, kiêm “ngâm” sĩ và vũ sư (múa Trấn thủ lưu đồn) Hoàng Thư, nhà báo Vũ Quang Ninh, quản đốc đài phát thanh Quân Đội. Một lũ “xê li bạt” ở với nhau, không có đàn bà, không có trẻ con, ăn uống tùy tiện, tối đến sải chiếu ra, chăng màn ngủ, mỗi anh một góc, không phiền ai. Nhà này trước đây còn có văn sĩ Tạ quang Khôi (xước danh Tạ ống khói) nhưng ít lâu nay ông “Ống khói” tạm biệt nơi này vô Đại học sư phạm rồi.
Nhà này phải để sàn rộng rãi là nó có lý do của nó. Ông Hoàng Thư thỉnh thoảng tập múa Trấn thủ lưu đồn nên phải có chỗ cho “vũ sư” tập dượt. Vũ sư mặc quần đùi, thân thể hom hem nhưng múa rất hăng, vừa múa vừa hát “Trấn thủ ấy mấy lưu đồn. Ngày thì canh điếm ấy tối dồn là việc quan, chém tre mà đẵn gỗ trên ngàn…”
Nhà một lũ độc thân nên anh em dễ dàng hội họp, gặp nhau “phùng trường tác hí”. Sải chiếu ra, ăn nhậu dài dài. Hay đến đây là đàn anh Đinh Hùng có khả năng đặc biệt vừa nằm vừa viết văn chương Tao Đàn mà chữ nghĩa vẫn rồng bay phượng múa. Có ông Vũ Khắc Khoan gõ muỗng vào ly mà “Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu”. Có ông Mai Thảo với ông Phạm Đình Chương rượu uống tì tì, càng uống mặt càng tái đi. Có ông Anh Ngọc say ngất ngư mà vẫn hát “Anh đến thăm em một chiều mưa”. Có ông Tạ Tỵ ngày Tết chạy sang, sải chiếu ra, rút bất.

Văn nghệ sĩ đến đây nhiều như thế nên người ta bảo ngõ này là ngõ “văn nghệ”, khu này cũng có khá đông anh em ta cư ngụ. Từ chợ Nancy quẹo vô ngõ Phan Văn Trị là nhà của nhà văn, nhà thơ kiêm “sáo sĩ” Tô Kiều Ngân. Đi thêm dăm chục bước chân là nhà Thanh Nam. Trước cửa nhà Thanh Nam là nhà Tạ Tỵ họa sĩ, văn, thi sĩ. Ngay cạnh nhà Thanh Nam là nhà ban Hợp ca Hạc Thành của anh em nhạc sĩ Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần, Hồng Hảo. Xế bên kia một chút là nhà của ký gỉa lão thành Thượng Sĩ, nhà phê bình, điểm sách trên tờ Tin Mới của Hà Nội năm xưa, (nhà văn nữ Sài Gòn cô nương xuất hiện trên làng báo hải ngoại mấy năm gần đây là con gái anh Thượng Sĩ).
Năm ấy (1956) là thời kỳ cực thịnh của ban Tao Đàn phù hợp với giai đoạn khởi đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa khi miền Nam Việt Nam vừa có một thể chế mới, một tương lai mới. Pháp đã rút hết về nước. Trên phương diện truyền thanh, các đài của Pháp như Pháp Á, Con Nhạn (Hirondelle) nhất loạt đóng cửa; đài quốc gia (lúc bấy giờ chưa có TV) cũng như các chương trình phát thanh có bổn phận phải “lớn lên” cho kịp với tình hình.
Ban Tao Đàn ngoài trách nhiệm đã được minh thị “tiếng nói của thơ, văn miền Tự Do” còn tiềm ẩn một nghĩa vụ “đem theo văn hóa của một triệu người miền Bắc vừa định cư ở miền Nam.” Thơ, văn Tao Đàn phần đông là văn hóa Bắc Hà, là những làn điệu của văn minh sông Hồng, sông Mã giao duyên cùng văn minh Hương Giang và Cửu Long Giang. Bao nhiêu năm đã trôi qua, bây giờ từ vĩ tuyến 17 trở vào trong, chúng ta có một lối ngâm thơ đã trở thành phổ biến: ngâm thơ Tao Đàn. Nó xuất hiện thường xuyên trong cải lương miền Nam hay bài chòi miền Trung. Nó là cái còn lại, là dấu ấn của văn nghệ sĩ đã đưa Tao Đàn vào đời sống văn hóa.
Người khai sinh và điều khiển chương trình Tao Đàn, như cả nước đều biết là thi sĩ Đinh Hùng. Năm 1956 tôi ở nhà Thanh Nam, nơi anh Đinh Hùng thường tới viết bài, các cộng sự thân thiết nhất của anh đều ở quanh đây nên có thể nói nơi đây là “đại bản doanh” của chương trình Tao Đàn.Chương trình Tao Đàn có thể chia ra làm 3 bộ phận. Bộ phận quan trọng nhất là ban biên tập và diễn đọc gồm Đinh Hùng, Thanh Nam, Thái Thủy; vài năm sau có Huy Quang Vũ Đức Vinh từ Nha Trang vào cộng tác. Bộ phận thứ hai là ban ca ngâm gồm những tài tử nam, nữ trình diễn thường xuyên hay tùy hứng. Người “đa năng” nhất trong ban Tao Đàn là Tô Kiều Ngân. Anh vừa là tài tử diễn ngâm, vừa biên tập, vừa trong ban nhạc. Tiếng sáo Tô kiều Ngân réo rắt thường được coi là “indicatif” của Tao Đàn, hợp cùng tiếng đàn thập lục trầm bổng của Bửu Lộc, tiếng piano trầm ấm trước của Ngọc Bích, sau của Phạm đình Chương.
Về giọng ngâm nam ngoài họ Tô, còn có Hoàng Thư; một thời giọng ngâm Thanh Hùng cũng có góp tiếng trên đài. Tô Kiều Ngân tuy giọng không khoẻ nhưng anh là người ngâm “khéo” nhất, ngâm giọng Bắc, giọng Trung đều nhuyễn. Hoàng Thư có chất giọng say sưa, mạnh mẽ, được đời nhớ mãi trong Bài ca ngư phủ của Vũ Hoàng Chương. Thanh Hùng với giọng thổ pha kim, xuất sắc trong những tác phẩm bi hùng. Có những giọng ngâm không có mặt lâu năm trên đài nhưng vẫn được đời ghi nhớ như Quách Đàm trong những bài lục bát hay Thiếu Lang trong Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác.
Về giọng ngâm nữ lúc khởi đầu phải nhắc tới cái ngọt ngào của Giáng Hương, nhưng các tay sành điệu đều không thể nào quên giọng ngâm đổ hột(*) đặc sắc của bà Đàm Mộng Hoàn, một danh tiếng vang lừng tại Khâm Thiên tiền chiến trong Tỳ Bà Hành.
Giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trái tim thính giả là Hồ Điệp trong những bài thơ nức nở TTKH. Về sau, có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao dân tộc và những bài ca huyền sử. Đó là giọng ngâm Hoàng Oanh.
Sang đến thập niên ’60 (thế kỷ trước), sức truyền lan của Tao Đàn có sút giảm đi. Thi ca miền Nam Tự Do với một thẩm mỹ mới, một thẩm mỹ chênh vênh (esthétique de choc) đã ngự trị thi đàn. Thơ có vần đang chuyển sang không vần của thơ Tự Do. Người ta ưa đọc thơ hơn là ngâm thơ. Nhưng đó lại là một vấn đề khác. Mỗi thời điểm có vấn đề riêng của nó.
Ngày xưa đàn anh Đinh Hùng có nói: “Mỗi một người bạn là một phần đời sống của mình”. Thoạt đầu, tôi nghĩ là đàn anh “bốc” đàn anh phán vậy thôi. Nhưng càng già càng thấy đàn anh nói đúng.

Bây giờ nói về thời gian sống ở ngõ Nancy còn lại những ai? Đinh Hùng, Thanh Nam, Thượng Sĩ, Hoàng Thư, Phạm Đình Chương, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Nhật Bằng, Tạ Tỵ, Phan Nghị… đều bỏ chúng ta mà đi rồi. Người gần nhất “lên đường” là Huy Quang Vũ Đức Vinh. Khi nghe tin Vũ Đức Vinh ngắc ngoải, hai ông còn lại ngày xưa hồi ở nhà Thanh Nam là Vũ Quang Ninh và Thái Thủy vội bay sang Seattle thăm bạn, tới nơi thấy bạn mình đã hôn mê nhưng khi nghe: “Vũ Quang Ninh, Thái Thủy sang thăm ông đây”, người hấp hối bỗng chảy hai hàng nước mắt. Vũ Đức Vinh người bạn thường gọi tôi “bạn cũ trên 50 năm” đã từ biệt chúng ta như thế.
Bây giờ còn có người mà kể lại (chuyện Tao Đàn); mai đây không biết còn kể lại với ai?

Hồng Vân
***
* VÂNG! CHÚNG TÔI HÃNH DIỆN ĐÃ CÓ MỘT CẤP CHỈ HUY NHƯ THẾ!(Viết để tưởng niệm Đại tá Nguyễn Bá Thịnh)

Sau Tết Mậu Thân, khi vừa đánh thắng nhiều trận lớn, giải tỏa thành phố Phan Thiết trong vòng vây và tiêu diệt toàn bộ đám cộng quân xâm nhập, đơn vị tôi đón mừng một vị trung đoàn trưởng mới. Ông được Đại tá Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn xin bổ nhậm và đích thân đưa đến bản doanh của Trung Đoàn tại Sông Mao, để bàn giao với vị tiền nhiệm. Ông đến nhậm chức với duy nhất một cái “xắc ma–ranh” vác trên vai, trông giống như anh chàng tân binh vừa lãnh quân trang ở một quân trường nào đó. Buổi lễ bàn giao đơn giản nhưng rất trang nghiêm, dưới sự chủ tọa của vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Sau khi tiễn đưa ông cựu trung đoàn trưởng theo ông Tư Lệnh lên trực thăng bay đi, tất cả được lệnh “thao diễn nghỉ” để nghe vị tân Trung Đoàn Trưởng ban chỉ thị: Điều trước tiên mọi người lưu ý là ông rất nhỏ con, nhưng đôi mắt sáng quắc, có nhiều uy lực, tướng đi nhanh nhẹn. Tóc cắt ngắn ba phân, để lộ từ trên đầu sau vành tai bên trái một vết sẹo láng bóng làm tăng thêm cái uy dũng của một người từng dạn dày trận mạc. Sau khi được vị trung đoàn phó trình diện hàng quân, ông đi quanh một vòng bắt tay các sĩ quan thuộc bộ chỉ huy trung đoàn và các đơn vị trưởng. Ông đi đứng, bẻ góc, dậm chân, đằng sau quay, và chào hỏi rất đúng quân cách. Bọn tôi không mấy ngạc nhiên vì đã được biết, trước khi thuyên chuyển về đây, ông từng là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Võ Bị QGVN, một quân trường nổi tiếng tại Vùng Đông Nam Á. Nhưng ngay sau đó ông lại làm chúng tôi ngạc nhiên với câu hỏi đầu tiên của ông: –Các anh có biết tôi đi lính từ cấp bậc gì không? –Thiếu úy! – một sĩ quan lên tiếng. –Sai! –Trung sĩ! – một sĩ quan khác trả lời. –Cũng sai! –Binh nhì – một anh tiểu đoàn trưởng, tốt nghiệp từ Trường Võ Bị, tỏ ra biết ít nhiều về ông. Nhưng rồi tất cả, từ quan tới lính, đều ngơ ngác khi nghe ông bảo: –Cũng chưa đúng! Im lặng một lúc, để gợi thêm sự tò mò, ông lên giọng nói lớn: –Binh ba! Rồi tự giải thích: –Đúng như thế! Binh nghiệp của tôi đi lên từ cấp “binh ba”. Vì khi vào lính nhảy dù, tôi chưa được cho đi đánh nhau mà phải làm hỏa đầu quân, tức là thằng nấu bếp, rồi sau đó làm “ô đô” cho ông đại đội trưởng Đỗ Cao Trí.
Giải thích xong, ông ngẩng mặt lên và cao giọng: –Tất cả các anh nên hãnh diện là đang có một cấp chỉ huy như thế! Phải công tâm mà nói, từ khi ông về chỉ huy, Trung Đoàn đã thay đổi khá nhiều, từ cách tổ chức, sinh hoạt tới chiến thuật phòng thủ, hành quân. Nhưng song song với việc tạo cho đơn vị một khí thế mới để vươn lên, trở thành đơn vị ưu tú với nhiều chiến công hiển hách, ông cũng đã để lại rất nhiều giai thoại, mà đến hôm nay, mỗi lần anh em cùng đơn vị xưa có dịp gặp nhau luôn nhắc tới. Ngày xưa, đó chỉ là những mẩu chuyện vui để cùng cười, nhưng bây giờ tất cả trở thành những kỷ niệm mang theo nhiều cảm xúc. Trước tiên phải công nhận là ông rất liêm khiết, công minh. Ngay cả cái xe jeep của ông cũng đích thân ông ký giấy nhận xăng, và mỗi khi xong công việc, tài xế đưa ông về trước tư thất rồi quay lại đậu trước văn phòng. Vợ con ông không được phép ngồi trên xe, chứ đừng nói đến việc sử dụng. Ông không hề dùng một người lính nào cho gia đình hay trong công việc riêng. Trong đơn vị có anh Hoàng Văn An, sau khi tốt nghiệp Khóa 20 VB cũng được bổ sung về Trung Đoàn. Anh An là em (thúc bá) của vợ ông. Khi anh An còn là SVSQ thì ông đang là Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ. Một lần đi phép về trễ một ngày, anh An bị ông gọi lên văn phòng bảo: “Nếu là SVSQ khác tôi tha, nhưng vì chú là em nên tôi phạt chú 7 ngày trọng cấm!” (Sau này anh An cho biết đó là 7 ngày trọng cấm duy nhất trong hồ sơ quân bạ của anh). Với các sĩ quan già, ông xưng hô “ông, tôi”, nhưng với mấy thằng sĩ quan trẻ như bọn tôi, ông chỉ gọi “mày” hoặc “chú mày” và xưng “tao” như em út trong nhà. Sau một cuộc hành quân, ông thường mời tất cả sĩ quan thuộc BCH Trung Đoàn và các đơn vị đóng chung quanh, dùng cơm với ông. Điều đặc biệt là đích thân ông đi chợ, lựa và mua cá, mua rau. Món ông thích nhất là cá rô chiên. Được ông mời ăn cơm phải nói là một cực hình. Nhưng không ai có thể vắng mặt bởi ông sẽ điểm danh. Nói là mời nhưng phải xem đó là lệnh. Trong bữa ăn ông thường luận về các món ăn dân giã và cách nấu nướng. Có một lần anh đầu bếp không hiểu ý của ông, đánh vảy, chặt vi mấy con cá rô, chiên vàng xong mang bày lên bàn, bay mùi thơm phức, nhưng rồi bọn tôi bất ngờ tròn mắt, khi ông ném cả đĩa cá vào sọt rác và la cho một trận! Ông bảo, con cá rô mà mất vảy và cái vi thì còn ăn cái gì? Lâu lâu ông cũng mời một số sĩ quan tham mưu cũng như các tiểu đoàn trưởng đến tư thất của ông dùng cơm. (Tư thất là một villa khá đẹp nằm trong doanh trại do Sư Đoàn 5 của Đại tá Wòng A Sáng để lại). Các bữa cơm do chính tay vợ chồng ông nấu nướng. Điều làm chúng tôi ái ngại nhất, là phu nhân của ông không được ngồi chung mà là người hầu bàn. Hầu bàn chính hiệu chứ không phải làm cảnh. Bà đứng sau lưng, rót nước, xới cơm vào bát và đưa cả từng tấm giấy lau miệng cho “thực khách”. Bà là một người đàn bà có nhan sắc, phúc hậu và là một “phu nhân” hiếm hoi mà tôi đã gặp trong cuộc đời binh nghiệp. Bà không hề biết (và có lẽ không được quyền biết) bất cứ điều gì của đơn vị. Cả đám sĩ quan bọn tôi ngồi trong bàn ăn, bà không biết cả tên và ai đang giữ chức vụ gì. Chúng tôi rất nể phục bà, nhưng cũng thấy tội nghiệp cho bà. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, giá mà vị “phu nhân” nào cũng như bà thì quân đội và đất nước mình có lẽ đã khá hơn. Trong bữa ăn, ông cũng thường kể về cuộc đời và binh nghiệp của mình, đôi lúc có chút xúc động nhưng luôn với niềm hãnh diện: ….
Giống như Tướng Đỗ Cao Trí, ông rất lưu tâm tới hàng hạ sĩ quan (từ cấp bậc hạ sĩ). Ông gần gũi, chăm lo đời sống và thỉnh thoảng tập trung họ lại để nói chuyện, tâm tình, trao đổi kinh nghiệm chiến trường và việc chỉ huy tiểu đội. Ông thường bảo chúng tôi: –Bọn mày phải nâng đỡ đám hạ sĩ quan này, nhưng cũng phải để ý học hỏi kinh nghiệm của họ. Chính cấp tiểu đội, trung đội mới quyết định chiến trường! Ông nói tiếng Anh giọng Bắc, không giỏi lắm, bất chấp cả văn phạm, nhưng các cố vấn Mỹ đều hiểu và nể ông ra mặt. Gặp ông là tất cả đứng nghiêm chào. Ông bảo gì họ cũng nghe. Có lần ông nói thẳng với mấy tay cố vấn Mỹ: –Các anh đến đây là để giúp chúng tôi những gì chúng tôi cần, còn chuyện đánh nhau là chuyện của chúng tôi. Các anh đừng xía vào. Đánh bọn du kích VC mà đánh theo kiểu Mỹ của các anh là hỏng! Ông ra lệnh tất cả sĩ quan phải nói được tiếng Anh. Không biết phải học. Nói sao cho Mỹ nó hiểu là được. Nhờ vậy mà anh Cố vấn trưởng nghe theo đề nghị của ông, tổ chức ngay một số lớp dạy Anh văn cho tất cả các sĩ quan, đặc biệt về phương pháp đàm thoại và cách liên lạc, hướng dẫn các phi công oanh tạc cơ của Hoa Kỳ. Bản doanh Sông Mao nằm giữa Phan Rang và Phan Thiết, nhưng đường bộ mất an ninh. Ông muốn mỗi tuần phải có hai chuyến Chinook để chở lính đi phép và cho gia đình binh sĩ được ra phố mua sắm, học hành. Vậy mà chỉ mấy ngày sau là anh Cố vấn trưởng lo xong. Không biết vì sao Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lượng Quân Sự Mỹ tại Cam Ranh, biết thành tích đánh giặc và cả sự liêm khiết của ông, nên lâu lâu ghé lại Trung Đoàn thăm và hàn huyên với ông. Tướng Peers thường đưa ngón tay cái lên nói đùa với bọn tôi: các anh có một ông “boss” rất tuyệt vời! Đầu năm 1969, trong kế hoạch “tự lực tự cường”, Bộ TTM ban hành chỉ thị, mỗi đơn vị phải thành lập một trại chăn nuôi, Trung Đoàn có một trại chăn nuôi khá lớn, do một vị thiếu úy lớn tuổi (thăng tiến từ cấp binh sĩ) trông coi với hơn 20 lao công đào binh. Trại chăn nuôi thống thuộc Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ. Một hôm cả BCH Trung Đoàn và các sĩ quan từ cấp đại đội trưởng trở lên, được Ông Tỉnh Trưởng Bình Thuận mời khoản đãi vì Trung Đoàn vừa phối họp với Tiểu Khu trong một chiến dịch bình định, đánh tan các đơn vị cộng quân hoạt động trong phạm vi của tỉnh. Tất cả tập trung tại Căn cứ Trinh Tường (Trung Đoàn dùng làm hậu trạm) để đi đến tòa tỉnh. Trên đường đi, ông bất ngờ thấy bên vệ đường có một người đang thả heo giống. Ông ra lệnh dừng lại, xuống xe và đứng xem. Bọn tôi rất ngượng ngùng còn ông thì cứ tỉnh bơ quan sát. Cuối cùng ông khen con heo (đực) tốt và ra lệnh cho anh trung úy đại đội trưởng CHCV thương lượng với người chủ để mướn. Sau buổi tiệc ông dùng trực thăng cho anh đại đội trưởng chở con heo và người chủ bay về hậu cứ Sông Mao để gây giống cho trại heo. Chúng tôi có một trận cười đến nôn ruột, và thấy tội nghiệp cho anh đại đội trưởng rất “mô phạm” vì là một giáo sư trung học bị đông viên vào Khóa 16 Thủ Đức. Nhưng sau này trại heo đã thu nhiều lợi nhuận vì sản sinh rất nhiều heo con béo tốt. Được chọn là trại chăn nuôi “kiểu mẫu” của Quân Đoàn II&QK2. Chúng tôi càng kính phục ông hơn. Vào khoảng giữa năm 1969, Ban Truyền Tin nhận một cuộc điện thoại (qua hệ thống siêu tần số) trực tiếp từ văn phòng Đại tướng Cao Văn Viên, TTMT, lệnh cho Trung Đoàn, cho xe ra sân bay Sông Mao để đón một vị trung tá, thuyên chuyển đặt thuộc quyền sử dụng của Trung Đoàn. Thấy một việc bất thường, ông Trung Đoàn Trưởng gọi lại, thì được văn phòng TTMT cho biết: “đó là Trung tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù. Ông uống rượu ngà ngà say, đến tìm đại tướng để phản đối về việc sử dụng Nhảy Dù của ông không đúng chỗ. Ông khá thân thiết và được Đại tướng Viên trọng nể khi còn ở Nhảy Dù. Thấy ông say và lớn tiếng, Đại tướng bỏ đi ra ngoài, ông Trung tá Nhảy Dù (có lẽ do say quá) la hét một chặp rồi cởi bộ đồ nhảy dù vất trên bàn bảo trả lại cho đại tướng. Đại tướng giận quá, ra lệnh dùng máy bay riêng của đại tướng và cho hai Quân cảnh ‘áp tải’. ông thẳng ra Sông Mao giao cho Trung Đoàn. Lệnh bổ nhiệm sẽ do Phòng Tổng Quản Trị gởi đến sau. Máy bay đã cất cánh hơn nửa tiếng rồi.” Ông Trung Đoàn Trưởng vội vàng ra lệnh cho các sĩ quan thuộc BCH tháp tùng ông ra phi trường chào đón Trung tá Hùng, ông cũng cho gọi cả anh lính kèn đi theo. Khi máy bay đáp xuống, Ông và tất cả sĩ quan đứng thành một hàng dọc, đích thân ông chỉ huy dàn chào, có cả kèn thổi “nghênh đón thượng cấp”. Điều đặc biệt làm chúng tôi ngạc nhiên hơn là ông đứng nghiêm trình diện Trung tá Hùng, với cả cấp bậc, số quân, như một tân binh hay một SVSQ trong quân trường: –Trung tá Nguyễn Bá Thịnh, số quân 48/300340 trình diện Trung tá! Vẫn trong thế đứng nghiêm, ông mời Trung tá Hùng lên xe ông, còn ông thì đi chung xe với chúng tôi về doanh trại. (Tôi chưa thấy ông lái xe bao giờ). Đến nơi, ông hướng dẫn Trung tá Hùng lên nghỉ ngơi uống nước tại văn phòng Trung đoàn trưởng. Ra lệnh cho anh Đại đội trưởng CHCV sang tư thất của ông, cùng ông đích thân dọn dẹp và dành căn phòng của vợ chồng ông cho Trung tá Hùng. Ông bà dọn sang phòng nhỏ phía sau. Nhưng khi ông sang mời Trung tá Hùng về tư thất, thì Trung tá Hùng quyết liệt từ chối, bảo ông chỉ xin một cái ghế bố và sẽ ở trong Trung Tâm Hành Quân (Trung Đoàn có một TTHQ khá lớn và kiên cố). Bọn tôi bàn tán với nhau, không ai hiểu cung cách đối xử kỳ lạ của hai ông trung tá. Ông Trung Đoàn trưởng thì lại đứng nghiêm đưa tay chào từ xa, mỗi lần gặp ông Trung tá vừa thuyên chuyển tới đặt dưới quyền chỉ huy của mình. Ngược lại ông Trung tá Nhảy Dù cũng một điều kính thưa, hai điều kính thưa ông Trung tá Trung đoàn trưởng? Đến chiều, Trung tá Thịnh ra lệnh cho anh đại đội trưởng ĐĐCH đích thân sang tư thất của ông mang cơm chiều sang cho Trung tá Hùng. Lúc ấy ông gọi chúng tôi lại để dặn dò: –Các chú mày phải lễ phép và lo lắng thật chu đáo cho Trung tá Hùng. Ông là ông Thầy của tao. Ngày trước khi ông là đại đội trưởng Nhảy Dù, thì tao là thằng Hạ sĩ 1 mang máy và làm tiểu đội trưởng cho ổng. Ổng đánh giặc khỏi chê, nổi tiếng từ thời Pháp cho đến bây giờ. Mấy thằng Tây, kể cả sĩ quan, mà lôi thôi là bị ông chửi như tát nước vào mặt. Khi Đại tướng Cao Văn Viên còn trung tá, làm Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù thì ông Hùng đã là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc mà ông Viên rất nể nang. Ông không giao cho Trung tá Hùng bất cứ công việc gì. Nhiều lần Trung tá Hùng yêu cầu phải giao cho ông một công việc, bất cứ việc gì cũng được. Nhưng ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm: –Xin Trung tá làm cố vấn cho tôi. Trung tá Hùng lại dậm chân, than phiền: –Tớ đi lính là để đánh giặc chứ đếch biết làm cố vấn cố véo gì sất! Trung tá quên tớ là thằng “Cai Hùng” Nhảy Dù à? Ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm: –Thôi, xin Trung tá thấy thích làm cái gì thì làm! Cuối cùng Trung tá Hùng nhận một công việc không có trong bản cấp số: Sĩ quan thường trực tại Trung Tâm Hành Quân. Ăn ngủ tại chỗ. Có mặt 24/24! Kể từ hôm ấy, Trung tá Thịnh cũng cho kê một cái ghế bố trong TTHQ để ngủ với Trung tá Hùng. Một hôm, vào khoảng 2 giờ sáng, Việt cộng pháo kích vào BCH Trung Đoàn. Nhờ có máy nhắm hồng ngoại tuyến mới được trang bị, một vọng gác phát hiện đặc công xâm nhập vào doanh trại. Ông giao việc điều động cho Trung tá Hùng, rồi đích thân chỉ huy hai toán Viễn Thám đi lùng, giết hơn 20 tên đặc công bằng lựu đạn và bắt sống 3 tên khác, đang tìm cách chui qua hàng rào phòng thủ. Trung tá Hùng thì leo lên nóc TTHQ lắng nghe tiếng “depart” để xác định vị trí súng cối địch, cho Pháo Binh phản pháo chính xác, sau đó 2 chiếc cobra do cố vấn Mỹ điều động kịp thời đến mục tiêu xạ kích. Đại Đội Trinh Sát được lệnh truy kích, thu được 2 súng cối 82ly, 2 ống phóng hỏa tiễn và một số súng cá nhân, hơn 15 xác địch còn bỏ lại trận địa. Trận phản công chớp nhoáng và chính xác với thắng lợi hoàn toàn, bên ta vô sự. Đúng là chiến công của hai ông trung tá gốc Nhảy Dù! Những lúc tâm tình với chúng tôi, Trung tá Hùng cũng đã hết lời ngợi ca Trung tá Thịnh. Ông thường bảo: –Ông Trung đoàn trưởng là một tay đánh giặc rất “lì” và chỉ huy rất “chì” trong binh chủng Nhảy Dù. Trong cấp tá, ông là người có nhiều huy chương nhất, chỉ sau ông Sơn Thương. Hình như trên 20 cái nhành dương liễu, sao vàng sao bạc đếm không hết, còn chiến thương bội tinh thì cũng hơn 10 cái! Rồi ông đùa: –Bao nhiêu lần đã tưởng ông đi đứt, nhưng có lẽ nhờ nhỏ con quá nên đạn bắn không trúng! Khoảng hai tháng sau, chiếc máy bay riêng của Đại tướng Cao Văn Viên bay trở lại Sông Mao. Lần này thay vì hai anh Quân Cảnh, thì chở theo hai sĩ quan Nhảy Dù để đón Trung tá Đào Văn Hùng về lại Sư Đoàn Dù. Nhưng chỉ sau đó một thời gian, (chính Trung tá Thịnh cho biết), ông bị ra khỏi binh chủng, về một đơn vị bộ binh, rồi bị tai nạn xe hơi nên mù mắt và ngã bệnh đến gần như mất trí nhớ. Sau này, bọn tôi được biết Trung tá Đào Văn Hùng cũng là một người rất đặc biệt📷 đã tạo nhiều giai thoại trong binh chủng Nhảy Dù. Ông là sĩ quan lớn tuổi và rất thâm niên trong Nhảy Dù, thường thích nhận mình là “Cai Hùng”, như niềm hãnh diện về một thời trai trẻ khi còn là một anh hạ sĩ trong lực lượng nhảy dù Pháp, và người ta đặt thêm cho ông cái tên “Hùng Gà” vì ông rất mê đá gà. Những năm giữa thập niên 1960, ông đã từng là Lữ Đoàn Trưởng có tiếng của Nhảy Dù. Thời Trung tá Nguyễn Bá Thịnh làm trung đoàn trưởng, Tướng Trương Quang Ân là Tư Lệnh Sư Đoàn. Có lẽ vừa là niên đệ từ trường VBLQĐL lại vừa là đàn em trong binh chủng Nhảy Dù, nên ông rất kính nể và luôn đề cao Tướng Ân. Ngày 8/9/1968, khi Tướng Ân bị hy sinh cùng phu nhân trong một tai nạn phi cơ ở Đức Lập, BCH Trung Đoàn đang đóng ở Cà Ná, chỉ huy cuộc hành quân trong vùng ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận–Bình Thuận. Khi nghe tin, Trung tá Thịnh bật khóc và than thở tiếc nuối một vị tướng tài – chuyện rất hiếm hoi đối với một mẫu người cứng cỏi như ông. Thấy vậy, tôi an ủi: –Thôi, trung tá đừng buồn tiếc nữa. Một con én đâu có làm được một mùa Xuân! Ông trợn mắt, nhìn tôi, quát: –Mày ngu thế! Ít ra trong mùa Xuân cũng còn có được một con én chứ! Cả bọn chúng tôi bụm miệng cười. Lần đầu tiên nghe ông nói một câu văn hoa như thế! Nhờ mắng tôi, nên ông hết khóc. Ông rủ tôi và anh trung tá cố vấn Mỹ, gọi mấy chú lính hộ tống, theo ông ra bờ biển phía trước, bên một ghềnh đá, mà ông bảo là vô số cá đang tập trung trú ẩn ở đó. Anh cố vấn Mỹ không tin và hỏi xin ông cho đích thân anh ném thử một trái lựu đạn. Ông lưỡng lự rồi gật đầu. Có lẽ đây là một quyết định ngoại lệ so với bản tính nghiêm khắc cố hữu của ông. Và quả đúng như ông nói, đám lính và cả anh trung tá Mỹ lặn xuống bắt cả mấy trăm ký cá mang về. Sau khi chia cho các tiểu đoàn, ông đích thân chỉ huy làm mấy món cá đãi cả BCH Trung Đoàn, Toán cố vấn Mỹ và Đại Đội Trinh Sát. Sau ngày Tướng Trương Quang Ân mất, ông tỏ ra chán nản. Ông được Tướng Đỗ Cao Trí kéo về Quân Đoàn III/Vùng 3 CT và dự định đề cử giữ chức tỉnh trưởng nào đó. Ông cho bọn tôi biết rồi bảo: –Tớ có nhiều chữ nghĩa gì đâu mà làm quận với tỉnh. Đi lính là để đánh giặc. Trường Võ Bị có dạy ai đi làm tỉnh trưởng đâu. Tớ vẫn thích nắm trung đoàn. Hôm rời Trung Đoàn, ông cũng chỉ vác theo một cái “xắc ma–ranh” như hồi ông đến. Tất cả chúng tôi thật cảm động và tiếc nuối khi phải chia tay ông. Một cấp chỉ huy thanh liêm, bình dân, gan dạ. Khi bắt tay tôi, ông khen “chú mày khá lắm” và rơm rớm nước mắt. Trước đây, không ai nghĩ một người cứng rắn, đanh thép như ông lại giàu tình cảm với đàn em, thuộc cấp mà ông đã giấu kỹ trong lòng. Sau đó, ông về làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52, thuộc Sư Đoàn 18BB. Không biết ở đơn vị mới này ông có thay đổi ít nhiều gì không. Tôi chỉ còn nhớ, có lần báo Sóng Thần “đánh” Tướng Trí về một vụ gì đó. Ông lên tiếng hết mình bênh vực và ca ngợi Tướng Trí, bị báo chí mỉa mai gọi ông là “Chuẩn Đại tá”. Ông chửi thẳng thừng: đám báo chí này bố láo! Chẳng biết tí gì về Tướng Trí, chỉ giỏi nằm nhà khoác lác! Với Tướng Trí thì đừng có giỡn mặt! Mới biết ông, ai cũng nhìn thấy ở ông sự cứng cỏi, nghiêm khắc, nhưng khi đã thân tình mới biết là ông cũng rất vui, thích đùa cợt. Có lần anh Hoàng Văn An (Khóa 20VB) kể lại: Năm 1970, An đang làm việc tại Sài Gòn, được Trung tá Thịnh cho vợ chồng anh được sử dụng căn cư xá của ông nằm trong Trại Đào Bá Phước, vì đơn vị của anh trú đóng gần nơi này. Một hôm Trung tá Thịnh đến thăm và rủ An đến thăm Tướng Đỗ Cao Trí và ông cụ Đỗ Cao Lụa, thân phụ của Tướng Trí. Ông cụ quý mến Trung tá Thịnh như là em út trong nhà. Trên đường đi, Trung tá Thịnh cười, bảo anh An: –Hôm nay chú mày sẽ được Tướng Trí rót rượu mời đấy! Biết tính ông anh rể của mình ưa đùa, anh An chỉ cười. Khi bước vào nhà Tướng Trí, chỉ có Cụ Lụa đón chào vui vẻ. Nói chuyện một chặp, Tướng Trí về với đầy đủ quân phục và cấp bậc 3 sao trên cổ áo. Tướng Trí vừa chào ông cụ và hai người khách, ông cụ bảo: –Trí! Mày đi rót mấy ly rượu mang đến đây. Tướng Trí là một đứa con chí hiếu và lễ phép. Rót 3 ly rượu whisky mang đến mời ông cụ cùng cả Trung tá Thịnh và anh An. An mặc thường phục và được Trung tá Thịnh giới thiệu là em vợ. Anh An bắt tay Tướng Trí mà thấy “run” trong lòng. Trên đường về, ông bảo An: –Chú mày thấy tao nói có đúng không? Quan ba mà được Tướng Trí bưng rượu mời, sướng nhé! Một lần, nhân dịp anh cố vấn trưởng bay vào Sài Gòn họp, chúng tôi theo trực thăng đáp xuống thăm ông ở Đồi Phượng Vỹ (Doanh Trại Trung Đoàn 52) sau khi ông vừa trở về từ chiến trường Cam Bốt. Ông mời bọn tôi uống rượu. Khoe đây là loại rượu đặc biệt, hảo hạng, có tiền không mua được. Ông kể lại chuyện ông chỉ huy Chiến Đoàn 52, sang hành quân “giải tỏa” Kampong Chàm. Thành phố sầm uất thứ nhì của Cam bốt sau Nam Vang. Khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, ông được ông In Tam, thị trưởng (sau này có thời là Thủ tướng của Cam Bốt) làm lễ đón tiếp ông long trọng như một vị anh hùng. Ông được mời vào dinh thết đãi, trước một đội vũ công toàn là những cô con gái đẹp. Ông thị trưởng In Tam bảo nhỏ, ông thích cô nào cứ chọn, ông nghiêm mặt lắc đầu. Ông thị trưởng cho cận vệ mang đến cho ông một xách Samsonite chứa đầy tiền. Ông bảo ông là một cấp chỉ huy của Quân đội VNCH thi hành nhiệm vụ, chứ không phải lính đánh thuê. Cuối cùng để làm vui lòng ông thị trưởng, ông theo xuống hầm rượu và lấy 6 chai rượu hảo hạng. Ông kể lại rồi cười: –Thấy gái đẹp và tiền từ trên trời rơi xuống thằng nào chả ham, nhưng lỡ đã đóng vai anh hùng rồi mà đưa tay lấy thì còn ra thể thống gì! Bọn tôi chọc ông, bảo là “Chef hơi quân tử tàu! Cứ xách cả hai thứ về đây thì bây giờ thầy trò mình lên hương và khắ khá rồi!”. Ông vỗ đùi cười. Lúc này trông ông thấy hiền khô. Ngày 23/2/1971 nghe tin Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, chúng tôi chắc chắn Trung tá Thịnh buồn lắm. Không biết ông có khóc và tiếc thương như lúc ông nghe tin Tướng Trương Quang Ân hy sinh gần ba năm trước? Vào đầu tháng 4/1972, tôi nghe tin ông chỉ huy Chiến Đoàn 52 (–) chỉ có 2 tiểu đoàn và đại đội Trinh Sát, đã rất khôn khéo và dũng cảm điều động phản công một cuộc phục kích qui mô của hơn hai trung đoàn địch tại khu vực Cần Lê (15 cây số Bắc An Lộc). Một cuộc phản công đẫm máu kéo dài gần bốn ngày trên một tuyến phục kích dài hơn ba cây số, mà địch chiếm hoàn toàn ưu thế về cả quân số cũng như địa thế. Cuối cùng Chiến Đoàn của ông đã gây tổn thất nặng nề cho địch và vượt khỏi vòng vây. Vị Trung tá Cố Vấn Mỹ, tuy bị thương, nhưng không chịu tản thương, ở lại bên cạnh Trung tá Thịnh, cùng chiến đấu và yểm trợ hết mình. Trên nhiều báo chí, có bình luận về chiến công này và đã dành cho ông nhiều lời khen ngợi: “Trung tá Nguyễn Bá Thịnh, gốc Nhảy Dù, là cấp chỉ huy tài giỏi, biết linh hoạt ứng phó trong mọi hoàn cảnh và trạng huống, về kỹ thuật lãnh đạo chỉ huy, ông rất được lòng các cấp dưới quyền và toàn thể các Cố vấn Mỹ thật tình kính nể mến thương. Trung tá Walter D. Ginger, Cố vấn trưởng, dù đã bị thương, nhưng từ chối tản thương, vẫn tình nguyện ở lại sống chết với Trung tá Thịnh cùng đơn vị bạn đồng minh của mình.” Tháng 6/1972, ông được đặc cách thăng cấp đại tá và sau đó một thời gian nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt để làm Tham Mưu Trưởng. Đến cuối năm 1973, ông lại nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Chỉ Huy Tham Mưu đảm trách chức vụ Trưởng Khối Giám Sát Các Lớp. Khi ấy, trường vừa ổn định sau khi từ Đà Lạt chuyển về Long Bình để tiếp nhận một khu doanh trại rất khang trang của Quân Đội Hoa Kỳ giao lại. Đầu năm 1974, nhân dịp theo học một khóa tham mưu tại Huấn Khu Long Thành, tôi đến thăm ông, và bất ngờ gặp thêm một ông trung đoàn trưởng cũ khác nữa, Đại tá Trần Quang Tiến. Hai ông ở chung trong một cái bunker (rất đẹp và đầy đủ phương tiện của một sĩ quan cao cấp Mỹ để lại). Ông nhất định tự tay làm cơm đãi tôi. Tôi ái ngại, xin phụ một tay, nhưng ông nghiêm mặt trợn mắt nhìn tôi: –Mày là khách của chúng tao. Chớ có lộn xộn. Ông bảo Đại tá Tiến nấu cơm và hái rau (do ông trồng), rồi rủ tôi mang cái vợt đi theo ông ra mấy trụ đèn điện phía trước để bắt con cà cuống. Ông bảo: –Món này mà thiếu mấy giọt cà cuống là vất đi! Lúc nào cũng vậy, ông hãnh diện về cái tài nấu nướng còn hơn cả tài đánh giặc và chỉ huy đơn vị của ông. Đúng là thức ăn ông nấu rất ngon, nhưng ngồi ăn với hai ông Thầy cũ tôi không thoải mái lắm. Nhớ tới ngày xưa, khi ông còn ở Trung Đoàn, mỗi lần được ông mời ăn cơm là bọn tôi cảm thấy như… hết đói! Ông dặn tôi, cứ cuối tuần lại ở đây chơi với ông. Có hôm ông còn dắt tôi đến chào Tướng Phan Trọng Chinh, Chỉ Huy Trưởng. Đó cũng là lần duy nhất tôi được gặp vị Tướng nổi danh này. Cùng gốc Nhảy Dù, nên Tướng Chinh có vẻ rất thân thiện và quý mến ông. Một thời gian, sau khi tôi rời khỏi Long Thành trở về đơn vị, thì ông cũng đi lãnh một trách nhiệm mới: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp. Năm 2003, nhân dịp từ Bắc Âu sang Cali thăm mấy đứa con đang theo học ở đây, tôi rủ vài thằng bạn cùng đơn vị cũ đến thăm ông. Ông vui lắm. Bây giờ tuổi đã khá cao, người ông trông càng nhỏ lại, nhưng tiếng nói vẫn đanh thép, đôi mắt vẫn sáng quắc, nhanh nhẹn như xưa. Và đặc biệt với phu nhân, ông vẫn tỏ ra uy quyền như lúc trước. Ông gọi bà từ nhà sau lên chào chúng tôi, rồi bảo: –Bà xuống lo mấy cái mâm nhang đèn, chút nữa đi lễ chùa, để bọn tôi nói chuyện! Vốn đã nghèo, sang Mỹ ông càng trắng tay. Dù khá lớn tuổi ông vẫn đi làm cho đến khi về hưu. Cũng như ngày xưa khi còn trong lính, bây giờ dù với những công việc rất tầm thường nhưng ông luôn vui vẻ và tận tụy làm tròn trách nhiệm. Với bất cứ ai ông cũng tỏ ra rất tư cách. Hầu hết đồng nghiệp trong sở nghe nói ngày xưa ông từng là đại tá chỉ huy một trung đoàn tác chiến, họ rất nể trọng. Ông bảo bây giờ ông bà ăn chay. Ông còn mời chúng tôi ngày mai trở lại ông sẽ tự tay nấu mấy món chay đãi bọn tôi. Bọn tôi tin là ông nấu rất ngon, nhưng thấy tội nghiệp ông, nên tìm cách chối từ. Chia tay ông, lòng chúng tôi thấy thật buồn và có chút xót xa, thương cho một con người hiến gần cả một đời cho quân đội, tạo biết bao chiến công và bao lần sống chết với đất nước, để rồi về già vẫn phải vất vả với kiếp tha hương. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Ông qua đời sau đó vài tháng, ngày 16/05/2003. Thời chỉ huy đơn vị chúng tôi, ông là một vị Trung Đoàn Trưởng tốt. Cương trực, liêm khiết, công minh, làm việc hết mình. Ông xem đơn vị như là nhà mình và đám sĩ quan như là em út trong gia đình. Lâu lâu trợn mắt, hò hét la rầy, nhưng rất thương yêu và không hề phạt thuộc cấp. Điều đáng nhớ nhất, là ông để lại cho chúng tôi rất nhiều giai thoại, để bây giờ, mỗi lần có dịp gặp nhau, nhớ tới ông bọn tôi thường kể lại như là những kỷ niệm vui, và cũng thật dễ thương của một thời binh nghiệp. Nhớ hôm lễ nhậm chức, sau khi tự nhận binh nghiệp của mình đi lên từ cấp bậc “binh ba”, ông bảo: “Các anh nên hãnh diện đang có một người chỉ huy như thế!” –Thưa vâng! Chúng tôi rất vui và cũng rất hãnh diện đã từng có một ông Thầy như thế.
Phạm Tín An Ninh
***
*ĐOÀN XUÂN THU: Chiếc áo bà ba hình chữ Hỉ
Đoàn Xuân Thu

Mới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em : “Muỗi này ! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng : “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế !

Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường.

Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.

Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ Nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.

Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.

Muội dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi : “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao ?” Muội nói : “Muội không biết”. Tôi nói : “Đi hỏi ba Muội đi !”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.

Ba Muội nói : “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.”

Tôi nói : “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.”

Muội nói : “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói : “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.”

Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái.

Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng Chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một Quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.

Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được !

Mùa Hè năm 1972 : mùa Hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào Thủ Đức.

Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về ! Tôi sẽ trở về ! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.

Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.

Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng Tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi : từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.

Một năm lính trôi qua, khi Tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.

Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bệnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe Hồng thập tự chuyển tôi về Bệnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt.

Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.

Tôi nằm Bệnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định Y khoa.

Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.

Tôi hỏi Muội : “Đẹp tiếng Quảng là gì ?”. Muội nói : “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.

Cả tháng trời nằm Bệnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.

Tôi nài nỉ : “Em còn đang sức lớn, má ơi !””

Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.

Tôi hỏi : “Chữ Tàu đó nghĩa là gì ?”

Muội nói : “ Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới ”.

Tôi hỏi : “Muội muốn màu gì ?”

– “Màu đỏ hên lắm ! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.

Tôi nói : “Thôi ! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.

Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.

Tôi bảo : “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói : “Muội sẽ chờ.”

Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.

Muội nói : “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”

– “Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.

Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định Y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.

Tôi chỉ là một Sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc Binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về.

***

Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

– Má ơi !

Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc. Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan ! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.

Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một Sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện Công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn ! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó Công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ ?

Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi !

Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu ? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu ?

Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.

***

Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên Công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.

Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.

Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.

Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời Trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng : “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói : “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”.

***

Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng Thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp Tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai !

– “Đi xích lô hông ? Chú ba !” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.

– “Chèn ơi ! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”

– “Chết sao được ! Sống nhăn răng ra đây nè.”

Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.

– “Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”

– “Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao ?”

– “Thôi lâu rồi ! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”

– “Thì bán cho mấy ổng.”

– “Ổng nào ? À mấy ông Cách mạng hả ? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”

Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.

Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.

Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.

Tôi hỏi : “Chú bây giờ làm gì để sống ?”

– “Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ ! Nhớ hồi xưa mình vui quá !”

Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.

Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.

Chú nói : “Con Muội ! Nó gởi cho nị. Con Muội ! hu hu ! Nó chết rồi !”

– “Muội ơi !”

– “Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu ! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết ! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội : “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con !”

Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói : “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra ? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”

– “Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chỗ.”

– “Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận Quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”

Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.

– “Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu !”

Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ Hỉ tôi may cho em ngày cũ.

Muội ơi ! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.

Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

– “Muội ơi ! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ Hỉ của chúng mình theo, ra biển !”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne
***
* BÍCH HUYỀN: ĐƯỜNG RA VĨNH PHÚ

Bích Huyền

Ngồi trong toa của con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. tay khư khư ôm chặt chiếc túi xách trong lòng, tôi nhìn theo Dim đang cố len lỏi tìm lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần ra tới cửa, Dim còn ngoảnh lại nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe. Tôi cũng khóc. Nước mắt tôi làm nhòa đi hình ảnh Dim trong giây phút ngắn hai chị em chia tay nhau. Dim như bị xô xuống khỏi con tàu…

Xa xa, sân ga Bình Triệu dưới những ngọn đèn vàng vọt không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn. Người đi, kẻ lại, người mang, kẻ vác… xô đẩy, chen lấn nhau. Tiếng la hét, tiếng gọi nhau í ới trên một khoảnh đất gồ ghề, tăm tối. Tôi cũng vừa từ đám đông đó lên đây. Bọn cán bộ nhà nước được lên tàu trước từ ga Phạm Ngũ Lão, trên những toa riêng hoặc những toa có giường nằm…

”Thật may, nếu không có Dim đi tin thì làm sao mình còn đủ hành lý!” Lần đầu tiên tôi thấy Dim khỏe quá! Hai tay hai túi xách nặng, cồng kềnh, chen đám đông phăng phăng mở lối cho tôi lên tàu. Bọn cướp giật trà trộn giựt xách tay, rạch ví, móc túi. Tiếng la thất thanh. tiếng chửi thề. Tiếng khóc, tiếng gọi nhau… tất cả tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Thần kinh tôi như muốn đứt ra. Hai chị em chỉ kịp bám lấy song sắt của toa tàu là đã như có người đẩy lên rồi. “Kìa! Nó giựt đồng hồ của tôi!” “trời ơi! ví của tôi đâu mất rồi!” Mặc kệ. Mạnh ai nấy chen. Chân tôi bị dẫm lên đau điếng. Áo quần tôi tả tơi, xốc xếch, đầu tóc rối bời.

Giờ đây, tôi ngồi trên tàu, dưới kia cảnh tượng vẫn đang tiếp diễn…

Tiếng còi hú vang báo hiệu sắp đến giờ khởi hành. Tiếng còi dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa còn bé, tôi đã từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui sum họp, nỗi buồn chia ly. Tiếng còi tàu lanh lảnh âm vang trong lòng tùy theo tâm trạng của mỗi người. Lòng tôi hôm nay, tiếng còn nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe dọa những con người thất thế – như tôi – một thân một mình đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo” tại một nơi rừng sâu, nước độc tận cùng miền Bắc.

Không có một bóng người đứng trên thềm ga đưa tin. Không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, như tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Thúy u buồn ngày nào trong một ca khúc tin đưa nào đó… Xa rồi, chỉ có hàng ngàn con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga giành giựt tranh nhau từng miếng cơm sạn mốc, từng manh áo rách.

”Giấy tờ đâu? Mở túi này ra!” Giọng hách dịch của tên kiểm soát. Rồi những khuôn mặt lạnh lùng của toán công an kinh tế phía sau. Một tên nghênh ngang cầm đèn pin, bất kể rọi vào cả mắt hành khách. Một tên cầm chiếc gậy ngắn, xấc xược thọc thọc vào hành lý của khách… Đến lượt tôi: “Giáo viên. Về Bắc nghỉ hè à? A, đi thăm nuôi chồng học tập cải tạo. Thăm nuôi tù thì nói mẹ nó ra đi. Học tập học tiếc cái nỗi gì với cái bọn ngụy ác ôn đó. Thôi, khỏi xét.” Lẽ dĩ nhiên, xét làm gì ba cái đồ lương thực. Họ muốn bắt những con buôn. Tôi cố nén tức giận, tủi hờn, mừng rỡ nhận lại tờ giấy phép, không có tờ giấy này tôi không thể vượt qua mọi cửa ải từ Nam ra Bắc. Chạy chọt hàng bao nhiêu nơi, chờ đợi hàng bao nhiêu ngày, tôi mới có được mảnh giấy đen thui này đây.

Họ di chuyển xuống hàng ghế dưới, tiếp tục hạch sách, lục lọi. Và hành khách tiếp tục năn nỉ, van xin. Hàng hóa nào có nhiều nhặn gì cho cam! Chục mét vải. Dăm gói bột ngọt. Rổ rá nhựa, xô xách nước. Bình nước mắm… Vậy mà có người vẫn khóc ngất khi bị tịch thu. Nồi cơm độn mì, độn khoai tay chỉ mong vào tiền lời nhỏ nhoi đã mất cả rồi.

Tiếng máy xình xịch. tiếng còi tàu rú lên từng hồi như thúc giục, như đồng lõa với những việc làm sai trái trên con tàu mang tên Thống Nhất Bắc Nam.

Bên ngoài trời tối, không một ánh sao. Sương khuya lạnh buốt. Vài con đom đóm lập lòe. Chung quanh tôi, mọi người đều đã nằm ngủ la liệt. Người trải miếng ni-lông dưới chân ghế chật hẹp, người nằm ngả nghiêng trên đồ đạc, ngổn ngang chật cả lối đi. Võng mắc chi chít. Tiếng ngáy, tiếng thở mệt nhọc vang lên. Tôi mệt mỏi tựa đầu vào thành ghế gỗ. Có lẽ chỉ còn có một mình tôi thao thức nên thấy đường dài. Nhớ mẹ, nhớ con, nhớ nhà.

Thế là tôi đã phải xa nhà, xa những người thân yêu, vượt mấy ngàn cây số, đi đến một nơi xa lạ. Làm sao tránh khỏi lo âu? “thân gái dặm trường”, lời nói người xưa thật đúng tâm trạng của tôi bây giờ.

Cũng trên quãng đường này, trong toa xe lửa của một thời xa lắc – thuở còn đi học – ánh mắt long lanh, giọng cười ròn rã reo vui suốt cuộc hành trình. Trại hè Nha Trang. trại hè Thống Nhất Huế. Trại hè sinh viên Huế-Saigon Đà Lạt. Mỗi mùa hè là một mùa tưng bừng hứa hẹn. Còn đâu nữa những tiếng cười khúc khích, tinh nghịch của các bạn tôi trong những đêm không ngủ? Các bạn học cũ của tôi, giờ phiêu bạt nơi đâu? Phạm Hữu Lộc, Bùi Thức Phước, Nguyễn Long Hải, Duy Trác… trong những trại tập trung cải tạo của Cộng Sản. Ấu Oanh, Hoàng Oanh, Ngọc Diệp, Kim Oanh… bán đứng buôn chạy quần áo cũ, thuốc tây. Hồng Thủy, Hồng Hảo, Ngọc Tâm, Hương Kiều Loan… ngàn trùng cách biệt.

Tôi cố quên đi những gương mặt đang say men chiến thắng Nguyn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương, Kim Tuyến. Tôi ngậm ngùi thương tiếc Lê Hữu Bôi, bị thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Bốn năm “giải phóng miền Nam” rồi, bốn năm quay cuồng, vật lộn với cuốc sống mới, có bao giờ được một vài phút suy tư?

Qua mỗi lần tàu ghé một sân ga, bất kể ngày đêm, hàng hóa rỡ xuống, chất lên nhanh chóng gọn nhẹ. Bọn chỉ huy đoàn tàu kết hợp cùng bọn công an kinh tế buôn bán thì còn sợ gì ai xét. Trong khi những người dân, hàng chỉ có một chút xíu thôi mà vẫn bị dòm ngó, hoạch họe đủ điều.

Những giỏ soài Nha Trang của vợ chồng chú bộ đội ngồi trước mặt tôi đã biến mất. Những giỏ soài treo toòng teng trên đầu, những giỏ soài la liệt dưới sàn tàu đều trống trơn. Càng đi xa hơn thì hành lý trên tàu càng vơi nên hành khách còn có lối đi. Hành khách buôn dọc đường. Xã hội chủ nghĩa cấm buôn bán cá thể mà hầu như cả nước đều buôn. Cán bộ công nhân viên mua được nửa ký đường, lon sữa, mươi gam bột ngọt mỗi tháng đều mang ra chợ bán cho người buôn, kiếm chút tiền bù đắp vào đồng lương ít ỏi. Cũng nhờ đó mà tôi mới mua được những thực phẩm thăm nuôi chồng. Tôi thở dài ngao ngán cho kiếp sống đói nghèo.

Tàu càng rời xa miền Nam, làng mạc càng hiu hắt. Bốn năm tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội là đây? Đồng ruộng khô cằn, xóm làng xơ xác. Con tàu đưa tôi vượt qua vĩ tuyến 17, tới miền Trung “ôi, quê hương xứ dân gầy” của nhạc sĩ Phạm Duy. Dân không chân lấm tay bùn – vì đồng ruộng bỏ hoang – mà sao đen đủi. Gương mặt ngơ ngơ ngẩn ngẩn, đứng trước những thau nước chờ khách trên tàu xuống mua rửa mặt, rửa chân.

Một bà cụ lưng còng xuống, manh áo vá không đủ che thân, xách ấm nước đi bán rong. Đường tàu mỗi lúc một xấu, nhất là Thanh Hóa. Con tàu tròng tranh nghiêng ngả. Đồ đạc rơi đổ cả vào người.

Làng quê miền Bắc kia sao? Tôi ngờ mình đang nằm mơ. Bởi hiện thực quá phũ phàng.
“Việt Nam đất nước ta ơi,
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn…”
Miền Bắc hai mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể. Đồng ruộng xóa mờ ranh giới, bao la bát ngát thẳng cánh cò bay… Chỉ là hình ảnh tưởng tượng của cán bộ vẽ ra, khi tuyên truyền, khoác lác với dân miền Nam. Trước mắt tôi… đồng khô, nắng cháy. Xa xa xóm làng hoang vắng. Quán nước bên đường che bằng một mái tranh cũ nát, chiếc chõng tre lỏng chỏng một vài món quà lặt vặt: viên kẹo bột vàng, trái chuôi thâm đen. Điếu cầy tre, ấm nước, ly trà cũ bẩn… Mỗi lần tàu ngừng, hành khách tranh nhau mua từng bát cơm khô cứng, lèo tèo một ít rau xào…

Tôi đến Ga Hàng Cỏ – Hà Nội sau ba ngày, ba đêm trên tàu như một người bị tra tấn. Rã rời, mệt mỏi. Hà Nội hiện ra trong mắt tôi với tất cả sự nghèo nàn, lạc hậu. Đèn đường vàng vọt. Trong nhà, ánh điện lù mù nhưng tôi vẫn nhìn thấy nhà nhà ngồi quanh mâm cơm để dưới đất. Đó là hình ảnh đầu tiên về Hà Nội.

Nhà anh chị tôi ở tầng thứ tư của một khu nhà tập thể vùng Kim Liên. Chỉ là một phòng nhỏ hai mươi mét vuông. Độc nhất một cái giường cũ mọt dành cho bố mẹ và đứa con út còn bé. Hai đứa con lớn học đại học nằm dưới đất. Kệ sách vở đụng trần nhà. Dưới gầm giường lỉnh kỉnh bát chén, nồi niêu, xô nước. Gia đình anh chị tôi điển hình cho giới trí thức Hà Nội: chồng, cán bộ nghiên cứu khoa học, vợ bác sĩ. Tôi rùng mình lo sợ tương lai.

Hà Nội với những con đường nhỏ hẹp, đầy ổ gà, bụi bậm. Hà Nội với nhà cửa cũ nát, xiêu vẹo. Hà Nội với con người nhâng nhâng, nháo nháo, chửi thề nói tục. Không phải một thủ đô văn minh lịch sự như theo lời những cái máy nói đã mạt sát Sàigon, ca tụng Hà Nội – mà trong những buổi học tập chính trị ròng rã qua năm tháng, chúng tôi đã phải nghe. Hà Nội trong ký ức tôi, trong thơ, trong nhạc… chỉ là hư ảo.

Lên ga Bình Triệu, xuống ga Hàng Cỏ: kinh hoàng. Tiếp tục cuộc hành trình, tôi đáp tàu đi Vĩnh Phú. Ga nhỏ, người đông. Mùi hôi thối dưới đất, mùi mồ hôi nồng nặc trong ánh nắng hè gay gắt. Tôi muốn nôn oẹ. Lại bị hạch sách, nạt nộ khi làm thủ tục để được lên tàu. Lại chen lấn, xô đẩy. Tôi chạy mãi tìm cửa lên tàu. Toa nào cũng chật cứng người. Cuối cùng chỉ còn giành được một chỗ đứng ở cuối nơi toa tàu nối nhau. Khi con tàu ra khỏi thành phố, một số thanh niên leo lên nóc, tôi mới có một chỗ để ngồi bó gối.

”Ban nãy tao leo lên toa chở lợn, gà. Bị đuổi xuống.”

”Xã hội này là súc vật sướng hơn!”

Tôi nghe tuổi trẻ miền Bắc nói chuyện như thế.

Gió thổi mát lạnh. Trời vần vũ cơn mưa. Cứ ngồi như thế này cho đến tối hay sao? Thế rồi sức chịu đựng của tôi vẫn vượt qua những trận mưa trời làm ướt sũng toàn thân, những trận mưa than từ ống khói tàu nhả xuống. Cũng may là than đá, nếu không biết bao nhiêu hành khách kém may mắn không được ngồi trong toa như tôi sẽ bị nhuộm đen như thế nào?

Con tàu nặng nềđi qua những cánh rừng cọ xác xơ, những đồi chè cằn cỗi thưa thớt dưới cơn nắng cháy.
“Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi,
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca…”
Tôi không hiểu sao Tố Hữu lại có thể làm được những câu thơ với những hình ảnh tươi đẹp như thế?

Ga Ấm Thượng là trạm cuối cùng, tôi xuống. Nơi đây chỉ là một túp lều tranh vách nát giữa vùng đất đìu hiu của miền thượng du Bắc Việt. Bốn bề hiu hắt, vắng vẻ. Trời chập choạng tối. Ánh đèn dầu leo lắt run rẩy như muốn tắtlàm tăng thêm vẻ hoang vu.

Tôi sẽ ở lại đây một đêm.

Sau một ngày dài ngồi bó gối trên tàu, tôi muốn ngả lưng trên chiếc giường tre ọp ẹp có trải manh chiếu nát. Những con rệp lâu ngày bị đói rủ nhau ra tung hoành làm tôi phải bật dậy suốt đêm. Sáng sớm đã có tiếng xì xầm ở bên ngoài. Dân quanh vùng lén mang chuối, gạo, gà… bán cho những người thăm nuôi tù. Họ giành nhau để được tên cán bộ nhà ga phân phối khuân vác từng thùng lương thực xuống thuyền để lấy tiền công.

Sang đò ngang, lại chuyển đò dọc. Tiền khuân vác, tiền chuyên chở, bao nhiêu cũng phải trả.

Con thuyền cũ chòng chành vì nặng hành lý. Khách trên thuyền chỉ có khoảng năm người. Từ Saigon hay từ các tỉnh miền Nam đi thăm nuôi. Thuyền không có mái. Hơi nóng từ trên trời giội xuống, từ dưới nước bốc lên. Tôi như muốn ngất lịm đi vì say sóng. Đây là con sông Lô trong nhạc Văn Cao. Không có tiếng hò, tiếng hát trên sông. Chỉ có tiếng mái chèo đập nước, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền. Hai bên bờ sông, chỉ toàn là cây dại. Hoàn toàn im lặng.

Khi mặt trời đứng bóng, thuyền cập bến đò Ngọc. Trái với tên bến Ngọc, bến đò này toàn sỏi đá lởm chởm. Từ bờ sông lên tới đường đi, chúng tôi phải trèo lên từng phiến đá sắc cạnh. Phụ nhau kéo đồ đạc lên rồi ngồi chờ xe trâu tới thuê chở chuyển đồ vào trại.

Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây khô. Bên kia sông, không một mái nhà. Cỏ cây chằng chịt. Phía sau lưng, hoang vắng. Một lối đi nhỏ mất hút sau rặng cây rậm rạp. Đứa bé trai khoảng trên mười tuổi, không biết từ đâu xuất hiện. Chiếc quần ngắn cũ chắp vá đủ màu bọc ngoài đôi chân gầy guộc. Lấm lét nhìn chung quanh, nó đến gần chúng tôi, khẽ nói:

”Cho nhà cháu vác vào trại nhá! Tiền công rẻ hơn xe trâu.”

”Trại có gần đây không hả cháu? Đi chừng bao lâu? …”

Chợt thằng bé chạy vụt vào lùm cây.

”Này, chị kia, nói chuyện gì với nó thế?”

Tên công an, mặt non choẹt, vác súng đi tới: “Gia đình nhà đó “nà” bọn “nười” lao động. Không chịu sản xuất, chỉ định “nàm” thuê.”

Đưa đôi mắt nhìn khắp lượt có vẻ đe dọa, hắn hất hàm nói tiếp: “Đợi đấy. Sẽ có xe của Hợp tác xã phục vụ. Ai không tuân lệnh, cúp thăm nuôi.”

”Việt Nam tham dự Thế Vận Hội mang về ba cúp: Cúp điện, cúp nước, cúp lương thực. Giờ đây lại sắp lãnh thêm một cái cúp nữa.” Tiếng thì thầm, rúc rích của hai thanh niên đi cùng chuyến.

Tiếng lọc cọc từ xa mỗi lúc một gần. Xe trâu đến. Những mảnh cây ngang dọc sơ sài đóng vào nhau. Bốn bánh xe đẽo bằng gỗ. Sợi dây thừng lớn nối từ cổ xe vào mình một con trâu già. Cán bộ hợp tác xã nhảy xuống khỏi xe. Chúng mời nhau điếu thuốc lá Thủ Đô. Lương thực được chúng tôi khuân chất lên xe. Bao nhiêu thùng là bấy nhiêu tiền. Thùng to, nhỏ giá chở khác nhau. Tên cán bộ ngồi trên một thùng đồ vững vàng nhất. Chiếc roi mây quất nhẹ vào mình trâu để con trâu bước đi. Ngươì thăm nuôi lẽo đẽo đi bộ theo sau. Trời nắng. Đường gồ ghề những đá. Người và vật lê bước nặng nhọc. Đi, đi mãi… Sâu tít vào rừng. Đường vòng vèo tưởng như không có lối ra. Qua những con suối cạn, ì ạch mãi chúng tôi mới đẩy được xe qua. Tên cán bộ ngừng lại cho con trâu nghỉ mệt. Dãi nhớt đầy miệng, trâu thở phì phò. Tội nghiệp cho cả trâu. Tội nghiệp cho cả người thăm nuôi. Cổ tôi khô. Đầu nhức như búa bổ. Tôi ngồi vật xuống cỏ…

Trời đã xế chiều, ánh nắng nhạt dần. Người và vật vẫn tiếp tục cuộc hành trình trong yên lặng. Có tiếng lá khô vỡ vụn. Không phải tiếng xào xạc của lá cây rơi rụng. Không phải tiếng chân chạy của thú rừng.

Cặp mắt tôi như sáng lên. Một toán người bẻ lá đi ra. Có người thân quen không nhỉ? Bộ quân phục của binh chủng thủy quân lục chiến dù phai màu theo năm tháng, dù bị rách vá bởi kiếp đọa đầy, vẫn không làm mất đi vẻ thông minh sáng sủa của những người tù. Vai vác cuốc, tay cầm xẻng, bi đông nước lủng lẳng thắt lưng, các anh nhìn chúng tôi với ánh mắt cảm thông, chia sẻ.

Tên công an thấp bé ôm súng chạy xộc lên phía trước. Tôi đi sát bờ cỏ, len lén rắc kẹo lên lối đi. Những mảnh giấy cuộn tròn thật nhỏ vội vàng chuyền tay. Lời nhắn gửi của các anh gửi về Saigon.

Quãng đường rộng hơn, bằng phẳng. Đó đây, thấp thoáng mái nhà. Tôi gặp Ngô Kim Thái, bạn học cũ Trưng Vương đi trở ra. Chúng tôi chỉ kịp chào hỏi nhau vài ba câu. Sắp tới K5. “K1 hả? Còn đi lâu lắm…”

Xe trâu mỗi lúc một nhẹ hơn khi ghé qua một K. Tôi là người cuối cùng, đi vào K có con số nhỏ nhất. Lố nhố vài người đến trước đứng trên thềm. Mọi người nhanh nhẹn phụ giúp chuyển đồ trong khi tôi trả tiền xe.

Xếp đồ vào phòng qui định, tôi chỉ kịp nhận giường chiếu là buông mình nằm mê mệt.

”Chị! Dậy đi chị! Không trình giấy, ngày mai làm sao được gặp?”

Nghe đến giấy tờ, tôi bật người lên. Quên cả nhức đầu. Tú, người lay gọi tôi, có gương mặt trái soan, còn rất trẻ. Tú đi chuyến tàu đêm, đến đây từ sáng.

”Phòng tắm ở đâu?”

”Phòng tắm hả?” Tú cười chỉ về hướng sau nhà.

”Mấy tấm phên che không kín. Có còn hơn không. Nhưng nước bẩn lắm. Phải xuống tít dưới kia lấy nước ở suối. Em có mua được một cái xô. Cho chị mượn đó.” Tôi cảm ơn người bạn mới.

”Trước anh làm gì?”

”Chiến tranh chính trị.”

”Cấp bậc?”

”Trung tá. Chức vụ luôn nhé! Tham mưu trưởng trường Đại Học chiến tranh chính trị Đà Lạt.”

”Chết, chức to quá! Chồng em cũng chiến tranh chính trị. Cấp úy nhỏ nhất thôi. Mà chị ơi, đúng rồi! Chính trị tội nặng nhất. Họ gọi là thành phần ác ôn, tập trung tại K1. Không biết họ nhốt mấy ổng có gần đây không nhỉ?” Tú thì thầm. “Họ cấm không cho người thăm nuôi ra khỏi khu này, cho nên… em chẳng biết gì hơn.”

Tôi nhìn quanh, Vẫn cỏ cây chằng chịt. Chỉ có hàng rào chung quanh khu tiếp tân này là được cắt xén cẩn thận, ngay ngắn. Ngôi nhà ba gian. Tường cây, mái bằng lá cỏ khô, nền đất. Hai gian dành cho thân nhân. Khoảng sân nhỏ với những bồn hoa, luống cây cảnh xếp bằng sỏi đá đơn sơ. Khung cảnh nơi đây chắc chắn phải có bàn tay của những người tù. Lòng tôi chùng xuống. Ngậm ngùi. Phía xa là nhà bếp. Trong ánh lửa bập bùng, thấp thoáng bóng người mẹ già, người vợ trẻ lui cui đun nấu thức ăn tươi cho ngày mai. Thịt gà kho gừng, thịt bằm ớt rang khô. Bát canh rau, thịt kho trứng… Những món ăn quen thuộc như chìm vào quên lãng – vì bên ngoài cũng thiếu thốn, có được ăn đâu?

”Chị có nhìn thấy những cây nhang cắm trên cành cây phía đằng kia không? Của một bà phòng bên cạnh. Ổng chết lâu rồi.”

Tôi lạnh người. Sáng nay mới biết. Dã man. Để người ta lặn lội ra đây?

Đêm xuống. Bao trùm núi rừng. Tôi thao thức không ngủ. Lo lắng. Chỉ mong trời sáng. Cuối cùng tôi cũng thiếp đi được một chút để rồi được đánh thức bởi tiếng khua động của mọi người chung quanh.

Giây phút chờ đợi như kéo dài. Hơn tám giờ, hai tên công an ôm giấy tờ đến, lững thững trong khi mọi người nôn nóng. Gọi tên ai, người đó mới được vào phòng đợi.

”Con chị tên gì?”

Kỳ quá! Hôm qua đã ghi rồi mà. Người đàn bà ấy đã đứng tuổi, đi cùng chuyến đò với tôi. Tên công an thì chưa đến hai mươi tuổi. Bà đáng tuổi bà, tuổi mẹ hắn.

”Thưa ông…”

”Này, chị phải bỏ ngay cái giọng quan niêu phong kiến ấy đi nhá!”

Giọng rụt rè: “Thưa anh…”

”Ai anh em gì với cái nhà chị?”

Tiếng nói cất lên như một tiếng thở dài:

”Thế bây giờ tôi phải gọi như thế nào đây?”

”Gọi nà cán bộ. Báo cáo cán bộ. Biết chưa?”

Lần lượt mỗi người vào như bị hỏi cung. Mỗi người bị tên công an vặn vẹo, nạt nộ. Gian phòng nhỏ hẹp, chỉ đủ kê một cái bàn nhỏ ở góc cửa ra vào, tên công an ngồi làm cái việc hỏi cung. Một cái bàn dài, rộng kê ở giữa. Thân nhân ngồi một dãy. Phía bàn đối diện dành cho tù nhân. Vị trí của mỗi người tùy theo sự sắp xếp của công an.

Và giây phút chờ mong đã đến. Người thân của chúng tôi đã được giải tới. Mọi người trong phòng nhốn nháo. Người ngồi bên trong đứng lên để được nhìn rõ hơn. Những người tù thong dong bước tới mỗi lúc một gần. Quần áo mang trên người còn nguyên nếp gấp. Quần áo mang theo, nhưng lần này sao rộng thùng thình như đi mượn. Cặp mắt ai cũng sáng lên khi nhận ra người thân yêu.

Tên công an áp giải bắt xếp hàng ở dưới sân. Hắn hất hàm cho từng người vào. Hơn bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những nét thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng chẳng mấy tự do. Khóc thì sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.

Năm phút. Mười phút. Thời gian trôi nhanh. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lõng. Toàn những chuyện đã viết trong thư. Đôi mắt tên công an gườm gườm. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn đâm vào da thịt.

Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà sắp lên xe trâu. Tôi nhìn theo chồng đứng vào hàng để giải về. Chúng tôi theo ra cổng, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nhìn theo cho đến khi toán người đã khuất vào lùm cây.
“Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Thuở còn đi học, nghe cô Tỉnh giảng Kiều say mê. Nhưng chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi buồn cô phụ. Tôi nuốt nước mắt nghẹn ngào. Bỗng dưng vạn vật mờ tất cả.

Trích từ tập hồi ký Lối Cũ Chẳng Sao Quên
(The Trail I Never Forget)
tác giả: Bích Huyền
***
*NGÂN BÌNH: LỆCH

Ngân Bình

Trời ạ! bỗng dưng vợ tôi ôm mộng trở thành thi sĩ và điều kinh khủng là cô ấy đang tập tành làm thơ. Cứ mỗi khi vợ có một niềm đam mê mới thì đời tôi coi như… trầy trụa bấy nhiêu ngày.
Ðể xem…
Có một ngày vợ đi “shopping” về, vừa bước vào nhà, vừa hổn hển thở:
– Anh! ra xe mang đồ vào giùm em.
– Em lại mua cả trăm thứ quần áo, phấn son nữa phải không?
Vợ nháy mắt với tôi kèm theo một nụ cười… hờ hững như mây trôi:
– Không, những món em mua hôm nay rất lạ, vì… em chưa từng mua bao giờ.
– Là cái gì?
– Ra xe, đem vào rồi sẽ biết.
Và tôi đã choáng váng mặt mày khi nhìn thấy khung vải, cọ, sơn, sách dạy vẽ cùng những thứ lỉnh kỉnh khác mà tôi không can đảm hỏi… cái này để làm gì?
Những ngày, những tuần và những tháng sau đó, nhà cửa mỗi ngày thêm bề bộn, còn cha con tôi thì bữa no, bữa lưng lửng với các món ăn nấu vội vàng, mặn không ra mặn, ngọt không ra ngọt, cứ lơ lớ như những tác phẩm dang dở nửa chừng xuân đang nằm la liệt trong garage. Cứ mỗi lần vợ lôi tôi vào “phòng nghệ thuật” hí hửng hỏi, anh thấy bức tranh này em vẽ ra sao, tôi lại nghiêng đầu, nghiêng cổ – không phải để ngắm nghía mà thật ra tôi đang tập thể dục đầu, cổ, vai. Và câu kết của tôi bao giờ cũng là:
– Tài nghệ của em quá siêu, anh không đủ khả năng để phê bình, chỉ thấy… nó… đẹp.
Vợ chỉ cần một chữ đẹp là đủ. Cô nàng vênh mặt lên, cứ y như nhà danh họa đại tài:
– Anh nói đúng, đâu phải ai cũng có trình độ thưởng thức lối vẽ trừu tượng của em.
Tôi muốn phá lên cười “cái kiểu quẹt màu lên vải như em thì cần gì trình độ. Bảo đảm anh quẹt sẽ đẹp hơn em, vì anh đã từng là thợ sơn mà”. Nhưng tôi vốn “biết người, biết ta” nên chọn cách “im lặng là vàng” để con cái có được một mái nhà che nắng, che mưa.
Cũng may, ông thần nhức mỏi ngự xuống tay vợ vào một sáng mùa Ðông. Sau mấy tuần đi bác sĩ Tây lẫn bác sĩ ta, châm cứu đủ kiểu không kết quả, vợ cử động “bàn tay năm ngón” – trông chẳng kiêu sa chút nào – mắt nhìn chăm chăm vào tác phẩm đủ màu, đủ sắc của mình, giọng ngậm ngùi:
– Em định vài ngày nữa sẽ gửi bức tranh này tham dự cuộc thi, nhưng chưa xong đã đau tay. Tiếc quá… nếu không hết đau, chắc em phải gác lại niềm đam mê này.
Tôi xuống ngay “một câu vọng cổ”:
– Ừ! tiếc thiệt… đúng là trời cao ghen ghét phận má hồng… ông trời mà cũng ghen với tài năng của em… thì phải biết.
Vợ đưa tay ôm ngang lưng tôi, dúi đầu vào ngực tôi, nũng nịu như chú mèo con đáng yêu.
– Không sao, chỉ cần anh nhận ra tài năng của em là đủ rồi.
Trời ạ! tôi “xạo” vậy mà vợ cũng tin… Thật là tội nghiệp. Nhưng cha con tôi còn đáng tội nghiệp hơn, vì nếu vợ còn tiếp tục làm bạn với cọ, với sơn thì cả nhà sẽ tiếp tục được nuôi sống bằng mì gói, pizza, sandwich.
Từ ngày gác cọ, vợ lại quay sang ôm cái radio suốt ngày để nghe chương trình phát thanh Việt Nam. Nhưng tiết mục vợ ghiền nhất là chương trình nhạc yêu cầu. Mỗi ngày, cứ bốn giờ chiều, từ hãng trở về, bước chân vào nhà là tôi lại nghe giọng vợ ong ỏng trên điện thoại “Cho tôi yêu cầu nhạc phẩm… để tặng chị bạn tên…”. Lắm lúc không giấu được sự bực bội khi nhìn cái bếp lạnh tanh, tôi cằn nhằn:
– Nhà thiếu giống gì băng nhạc mà em phải yêu cầu.
Vợ chu mỏ giải thích:
– Thời buổi này ai mà chẳng có băng nhạc đầy nhà, nhưng vui ở chỗ tuy không ngồi cạnh nhau, nhưng nhờ tặng qua, tặng lại mà mình biết bạn bè cũng đang nghe nhạc với mình.
– Hứ! mất thì giờ lãng nhách.
Vợ đứng lên ngoe nguẩy:
– Ðúng là người không biết giao thiệp.
Tôi lên giọng mai mỉa:
– Ai mà chẳng biết em giỏi về cái khoa giao thiệp rộng.
– Biết vậy thì ráng mà học hỏi người ta.
Nhìn thấy vợ mở tủ lạnh, lấy rau, lấy thịt ra chuẩn bị nấu nướng, tôi liền êm giọng nịnh nọt, vì cái bao tử đang rột rẹt kêu nài:
– Ừ! chắc mai mốt anh phải theo em “học nghề” mới được.
Chẳng cần đợi lâu, ngày hôm sau… vừa bước vào nhà, ngồi xuống cởi giày, vợ đã lôi tôi ngồi xuống ghế, giọng hớn hở:
– Nghe nè! nghe nè.
Một giọng nói quen thuộc phát ra từ radio:
– Bài hát này tôi xin tặng anh chị Sô, chúc anh chị một buổi chiều vui vẻ, hạnh phúc.
Trong lúc nhạc được phát đi, vợ thì thầm vào tai tôi:
– Em chọn bài hát rồi, anh gọi lên đài tặng lại anh chị Thinh nhe.
Tôi trợn mắt:
– Chi cho phiền vậy?
– Phiền cái gì, người ta tặng mình thì mình phải tặng lại. Ðây là một hình thức giao thiệp. Anh muốn “học nghề” của em thì phải bắt đầu từ chỗ này. Nghe chưa?
“Nghe chưa?”. Sao y như má tôi thường lên giọng dạy dỗ khi tôi còn bé. Tôi ngồi yên mà trong lòng ấm ức. Ít phút sau, vợ nhét vào tay tôi mảnh giấy, ra lệnh tôi đọc nguyên văn những gì vợ đã ghi. Tôi nhìn vợ, đầu gật gù với nụ cười nửa miệng. Sau khi tôi giới thiệu tên và bản nhạc muốn yêu cầu, cô xướng ngôn viên cất giọng trong trẻo:
– Anh có muốn gửi tặng bài hát này cho người thân hay bạn bè nào không?
Sau khi nhìn theo ngón tay của vợ đang di chuyển trên hàng chữ viết sẵn, tôi ngẩng đầu nhìn lên trần nhà, giả giọng chân quê:
– Tui yêu cầu để nghe mình ên chớ hổng tặng ai hết.
Tiếng cười khúc khích vang lên từ máy thu thanh:
– Anh vui tính ghê. Chúc anh nghe nhạc vui vẻ nhé.
Vui thế nào được khi mắt vợ long lanh lửa, bàn tay móng đỏ chói chang xé toang mảnh giấy nhỏ xíu. Tôi hả hê cúi xuống, xách giày đi thẳng vào phòng tắm, dù biết rằng chiều nay mình bị đói meo vì “thợ nấu” chắc chắn sẽ đình công, để treo mỏ anh chồng không biết thế nào là lễ độ đối với vợ.
Trong lúc tôi đang tính kế để đối đầu với cuộc chiến tranh lạnh sẽ xảy ra thì vợ gõ cửa phòng tắm, giọng “khẩn trương”:
– Anh ơi! thằng Ray đang ở thư viện, năm giờ anh nhớ đón nó. Em đi công chuyện, chút nữa sẽ mua thức ăn đem về cho ba cha con.
Hả? Tôi đang tỉnh hay mơ? Có thể nào… tôi chẳng những không bị chì chiết mà lại còn được ăn ngon. Chuyện khó tin… nên không biết có thật hay không. Tôi thấp thỏm chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ dài lê thê. Cuối cùng bài toán khó đã được giải đáp.
– Anh nhớ vợ chồng chị Thu Ân không?
Miếng cánh gà chiên nước mắm thơm ngậy chưa kịp đưa lên miệng tôi phải vội vàng buông xuống, ra vẻ chăm chú nghe.
– Nhớ chứ… nhưng lâu lắm mình không gặp.
– Bởi vậy, lúc nghe chị Ân gọi điện thoại em ngạc nhiên vô cùng. Và càng ngạc nhiên hơn khi chị vừa khóc, vừa nói muốn gặp em gấp, vì ngoài em ra, không ai có thể giúp được chị. Biết chuyện quan trọng nên em không dám chần chờ.
Tôi nhâm nhi món ăn khoái khẩu với nụ cười đồng tình. Thì ra, nhờ cú điện thoại đúng lúc của chị Thu Ân mà tôi đã thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Ha! Ha!!! còn ai hiểu vợ hơn tôi. Khi được bốc lên tận mây xanh, vợ sẵn sàng làm tất cả mọi chuyện để chứng tỏ những lời được khen tặng rất đúng, dù cái đúng đó chưa đến năm mươi phần trăm.
– Anh biết chuyện gì đã xảy ra không?
– Chuyện gì vậy em?
– Chồng chị Thu Ân có nhân tình. Chị quá đau khổ chỉ muốn chết mà thôi. Nhưng em nói, nếu có chết thì trước khi chết chị cũng phải trừng trị anh chồng cho đích đáng.
Tôi hớp một ngụm bia – ân huệ vợ ban cho:
– Trừng trị bằng cách nào?
– Ly dị!… cái thứ đàn ông phản trắc đó làm sao có thể sống chung được nữa. Nhưng nếu đã ly dị thì cũng phải làm cho ra lẽ. Làm sao cho “nó” không cất đầu lên nổi. Làm sao cho “nó” thân bại danh liệt. Làm sao cho “nó” bước ra khỏi nhà chỉ có cái quần xà lỏn mà thôi.
Vẻ hùng hổ của vợ làm tôi có cảm tưởng “nó” chính là tôi.
– Chi mà ác vậy em?
– Chưa hết đâu, em còn đề nghị chị Ân đăng lên báo để “nó” ê mặt với những người từng quen biết và nể trọng “nó”.
– Ác quá em à!
Vợ nghiến răng:
– Chưa đủ ác đâu anh. Em sẽ còn nhiều chiêu ngoạn mục nữa, nếu người đó là anh.
Tôi nghe xương sống mình lạnh toát. Nhưng chưa lạnh bằng lúc chồng chị Thu Ân hét như muốn đập vỡ cái điện thoại:
– Anh Sô!… sao anh có vợ mà không biết dạy, để chị ta phá gia cang người khác. Vợ tôi đã có tính đa nghi bệnh hoạn mà vợ anh còn đổ thêm dầu vào lửa. Tôi đã thâu được tất cả những lời của vợ anh nói qua điện thoại. Nếu vợ anh còn tiếp tục xúi giục vợ tôi làm điều xằng bậy, gây thiệt hại cho danh dự và hạnh phúc gia đình tôi, tôi sẽ đưa chị ta ra tòa. Còn anh.. lo mà dạy dỗ vợ đi. Tôi cảnh cáo vợ chồng anh đó.
Dù là người vô can, tôi vẫn muốn nói lời xin lỗi. Nhưng chưa kịp mở miệng thì anh đã dập máy một cách giận dữ. Như thế có nghĩa là tôi cũng chưa kịp nói với anh, trong nhà này, tôi là người bị dạy dỗ chứ làm gì được quyền dạy dỗ ai. Tối đến, tôi kể lại nguyên văn những lời hằn học của chồng chị Thu Ân. Vợ không sợ còn vênh mặt tự đắc:
– Như vậy là cái chiêu của em đã làm cho “hắn” rúng động.
Tôi xuống giọng năn nỉ:
– Thôi em ơi, đừng làm quân sư quạt mo nữa, coi chừng có ngày mang họa.
– Bộ anh tưởng ai cũng có thể làm quân sư được sao. Tại anh cứ xem thường em, chứ từ hồi đi học tới giờ, bạn bè em, đứa nào gặp chuyện buồn phiền, rắc rối đều tâm sự với em để nhờ giúp ý kiến.
– Nói thật… anh thấy ý kiến của em lạ hơn mọi người. Trong khi những người khác luôn khuyên can nên “chín bỏ làm mười“ thì em lại chủ trương phải đánh lớn, đánh mạnh, đánh cho đá nát vàng phai.
– Cái kiểu anh nói là xưa rồi. Bây giờ thời đại nào mà người phụ nữ phải nhẫn nhục, cam chịu, lại còn cúi đầu phục tùng, hầu hạ chồng như thời bà nội, bà ngoại của mình. Nè! chiều nay Hải Minh gọi em cho biết, nó có ý định ra một tờ báo và ngỏ ý mời em cộng tác. Anh chờ mà xem tài nghệ của em. Em sẽ thổi một luồng gió mới vào tờ báo qua mục “gỡ rối tơ lòng”.
Hy vọng đây chỉ là tin vịt, chứ nếu không…tờ báo nào đó chưa thấy ngày sinh nhưng tôi đã đoán được ngày tử của nó.
o O o
Ước gì tôi biết độn thổ để có thể biến mất sau khi nghe vợ hí hửng đọc bốn câu thơ mới sáng tác trong lúc ngắm nghía tôi đang chén thù, chén tạc với bạn.
Xin anh đừng uống rượu
Vì khi anh uống rượu
Tóc tai anh dựng đứng
Mặt mũi anh đỏ lè…
Một trận cười nắc nẻ vang lên, vợ hứng chí khoe khoang:
– Từ hổm tới nay em làm được hai mươi bài thơ rồi. Bữa nào em tổ chức một đêm thơ ở vườn hồng nhà em, mời các anh chị đến tham dự để nghe em đọc thơ…
Tiếng vỗ tay lại vang lên đôm đốp, vợ thích chí cười toe toét nhưng không để ý đến những cái nháy mắt đầy vẻ chế giễu của một vài người.
Vợ mê làm thơ không thua gì lúc mê vẽ, cha con tôi lại phải ăn “cao lương mì vị” đều đều. Vì, có khi đang nấu nướng, vợ phải dẹp nồi niêu, xoong chảo qua một bên, khi hồn thơ lai láng bất chợt trỗi dậy. Khổ nỗi, nếu như đánh đổi bữa cơm ngon, để được thưởng thức một bài thơ tuyệt vời thì tôi cũng vui lòng. Ðằng này, chữ đi đằng chữ, vần đi đằng vần. Khi tôi hỏi “Ủa! thơ gì mà vần điệu kỳ cục vầy nè”, thì liền bị “nàng thơ” mắng mỏ “Làm thơ mà cứ theo kiểu bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng trắc là xưa rồi. Thơ của em là thơ tự do, phóng khoáng. Anh chưa đủ trình độ để thưởng thức đâu, nên có nghe thì cũng như vịt nghe sấm thôi”. Tôi còn nói gì được nữa khi bị xếp vào loại thiếu trình độ.
Có lần tôi hỏi vợ:
– Em đã đọc truyện ngắn “Tình không đẹp như thơ ” của nhà văn Nguyễn Thị Thanh Dương chưa?
– Nguyễn Thị Thanh… Dương… cái tên quen quen. Ồ! có phải cô nhà văn có cặp mắt liếc sắc lẻm mà lúc trước anh hay nói, nhìn thấy là nhớ ngay bài hát “hồn lỡ sa vào đôi mắt em” đó không?
– Ư…ừ… nhưng điều anh muốn hỏi là em có đọc…?
Tôi chưa dứt lời vợ đã nghiêm nghị chất vấn:
– Chắc người xưa của anh có đôi mắt giống cô Thanh Dương này, nên anh khen hoài phải không?
– Ðừng kiếm chuyện lãng xẹt. Anh muốn đọc cho em nghe một câu văn trong truyện ngắn của cô ấy “Mấy đứa làm thơ toàn là mấy đứa dở hơi, sống trên mây”…
Lần này, tôi cũng chưa dứt lời, vợ đã thút thít:
– Anh đang xiên xỏ em đó phải không? Vợ người ta làm gì cũng được chồng ủng hộ. Còn anh… lúc nào cũng muốn ém nhẹm tài năng của em. Hu hu!!! Có ai vô phúc như tôi không này?
– Em hiểu lầm ý anh rồi! anh định nói… cô nhà văn này, xưa nay viết rất hay, nhưng lần này thì… “dở ẹt”.
– Anh đừng có ngụy biện, đừng có xỏ lá.
Vợ đứng lên vùng vằng bỏ đi sau khi ném cho tôi cái liếc mắt sắc hơn dao.
Ông bà ta thường bảo, nồi nào úp vung nấy, nhưng ông tơ bà nguyệt ơi! ngày se tơ, kết tóc cho vợ chồng tôi, chắc ông bà đang say say, xỉn xỉn, nên nồi, vung lệch lạc cho đời tôi nhiều khi… cười ra nước mắt.
NB
(Trích tuyển tập “Như Cánh Lá Mong Manh”)
***
*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:

* PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN *NGUYỄN MINH THANH * ĐẶNG QUANG CHÍNH * TÍM * GIÁNG XƯA * NGƯ LANG * NHƯ NHIÊN * Ý NGA * ĐANG PHONG HÀ MAI NGUYÊN * ĐỖ ĐĂNG TRIỂN * SA CHI LỆ *

*THI SĨ ĐA TÀI PHẠM THIÊN THƯPHẠM THIÊN THƯ

Cuối xuân ta lại tìm qua
tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
sớm thu ta đánh đò sang
bên đường cổ mộ lại vàng cúc hoa

Trúc thưa cổng gió ơ hờ
em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
sông ơi xanh nhé một dòng
mùa xuân cấp rổ ra đồng vớt hoa

Đường dài xao xác chim ca
người còn khoác nón theo tà dương nao
ván cờ bầy trắng bông đào
sao lên núi thẫm trăng vào chén không

Đồi thu vắt suối mây hồng
chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
bấc sầu lửa lụn chờ em
lệ xưa ai đã đổ nên đầu này…

PTT ( động hoa vàng)
***
THI SĨ & DỊCH GIẢ TRẦN QUỐC BẢOĐƯA THU VÀO MỘNG
Thơ Trần Quốc Bảo

Trăng trắng ngà, giữa ngàn sao lấp lánh,
Sương mơ màng, trên đỉnh núi xa xa
Cúc nở nụ cười chúm chím vàng hoa
Tường vi đỏ, như môi cô hàng xóm.

Nắng hồng trên cỏ, chớp lia đom đóm,
Ấy là Thu!… Thu đã tới trước nhà!
Chào đón Nàng, có giọng hát sơn ca
Đàn bướm nhỏ, bay chập chờn khiêu vũ.

Cả rừng phong, áo muôn mầu quyến rũ,
Liễu nghiêng đầu, hong mái tóc xanh lơ
Mây lưng trời, bỗng dừng lại ngẩn ngơ
Gió mơn trớn đa tình hôn trên má.

Chao ôi! Thu dịu hiền… yêu Thu quá!
Một trời Thu… hay tất cả là Thơ?
Ánh trăng thanh, nhuộm vũ trụ huyền mơ
Đêm buông xuống, Thu đưa ta vào mộng.

Đành đã biết, Thu ôm tròn lẽ sống,
Nhưng xá gì… lá rụng với mây bay!
“Thu ẩm hoàng hoa tửu” (*) ngất ngây say
Há phải đợi Đông về ngâm Bạch Tuyết!

Rót tự trái tim, những dòng trác tuyệt,
Đưa Tình Thu, lên Cung Nguyệt mơ màng
Xa chốn trần ai, ô nhiễm, hỗn mang
Thu nhập hồn Thơ… lênh đênh Trời Mộng!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia.
Địa chỉ điện thư của Tác Giả
quocbao_30@yahoo.com
**
Chuyện Gà Mẹ – Thơ Trần Quốc Bảo

Chuyện Gà Mẹ

Cháy rừng lớn bên Cali,
Người người hối hả tản đi cấp thời!
Lửa hồng nghi ngút lưng trời,
Khói than mù mịt, khắp nơi kinh hoàng!

Từng đàn chim chóc, thú hoang,
Tan bầy hốt hoảng, tìm đàng thoát thân.
Góc đồi kia, lửa tàn dần,
Một người Cứu hỏa, tới gần kiểm tra.

Chợt anh, nhìn thấy con gà,
Toàn thân cháy trụi, thiệt là thê lương!
Nằm bên ổ trứng dễ thương.
Hóa ra, khi lửa bốn phương bừng bừng

Gà-rừng Mẹ, vẫn rửng rưng,
Vẫn nằm ấp Trứng, tưởng chừng ôm Con!
Chết trong biển lửa kinh hồn!
Ôi! Tình Mẫu Tử … cao hơn non ngàn !!!

Chuyện “Gà” xúc động tâm can!
Hỏi “người”, sao nỡ bạo tàn “Phá thai” ?
Mẹ giết con – chẳng đoái hoài!
Hỡi ôi! độc ác hơn loài Qủi vương!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
***
THI SĨ TRẦM VÂN & GIÁNG XƯA ***
*THI SĨ NGUYỄN MINH THANH
*Tắm Tiên ( Suối Tiên )

Những chiều nương rẫy việc vừa xong
Sơn nữ rủ nhau xuống giữa dòng
Nước biếc trong veo ngời mắt biếc
Cười vui tắm suối truyện thong dong

Suối rừng Tây Bắc rất nên thơ
Huyền ảo lung linh nước vỗ bờ
Dung dị trữ tình và lãng mạn
Bông hồng sơn nữ đẹp như mơ

Ngực trần thanh thoát những tiên nga
Nét đẹp thiên nhiên núi ngọc ngà
Thoải mái tung tăng trong suối bạc
Mơn man nước biếc cọ làn da

Làn da nõn trắng cánh hoa Ban
Nắng lụa vàng ươm chiếu dịu dàng
Phơi phới dung nhan tròn mỹ lệ
Tóc huyền nghiêng chảy bóng mây tan

Ảo ảo tuyệt vời những nét cong
Lung linh sóng nước ánh cầu vồng
Hài hòa hoa cảnh bên bờ suối
Tiên nữ ngậm mình trong nước trong

Chim hót trên cành đứng lặng thinh
Say men ngơ ngẩn đắm tia nhìn
Thanh tân tuyệt tác trong nghệ phẩm
Thánh thiện nhu hòa tỏa đẹp xinh

Hai bờ cây cối cũng lặng trang
Thưởng thức tinh anh của đại ngàn
Giọng nói thanh tao dường Khướu hót
Tiếng cười trong trẻo nắng Xuân sang

Khăn Piêu tươi hồng dệt áng mây
Cho môi thêm thắm má thêm hây
Lung linh Mák Pém* hai hàng cúc
Xanh lụa quanh eo phớt mũi hài

Dây Xà Tích** bạc thả bên hông
Chiếc váy tuyền đen gió phập phồng
Nâng bóng tiên nga về bản Thái
Cõi lòng khổ khách bỗng… bâng khuâng…

Bên dòng mộng, thực nỗi bơ vơ…
Mặt suối xôn xao… bỗng hững hờ…
Dăm đóa… hoa Ban đang chao đảo…
Lênh đênh… trên nước biết về đâu..?!!
NGUYỄN MINH THANH
( Trại tù Khe Thắm 1978 )

* Cúc áo hình Cánh Bướm bằng bạc.
**Đồ trang sức của phụ nữ Thái gồm nhiều mắt xích, bằng bạc.
***
*THI SĨ ĐẶNG QUANG CHÍNHEm gái chân dài

Xưa ghi lại vài câu thực tế
Kẻ dài lưng tốn vải ích gì
Kẻ dài lưng không là kẻ sĩ
Chỉ ăn no, xong lại hay nằm

Xưa coi nhẹ phận gái má hồng
Dù dài lưng cũng là phụ nữ
Lo chồng con gánh vác việc nhà
Một chữ nam, viết vô mười nữ

Thời buổi nay đảo lộn tùng phèo
Gái dài lưng thân cao thước bảy
Thêm chân dài ai cũng ngợi khen
Bọn đàn ông đề cao hết mức

Trường túc bất chi lao, có phải…?
Ai không lao, ai phải phóng lao
Anh ham phóng, anh mau mất sức
Người nằm lì chịu pháo tấn công

Chuyện đời xưa, chuyện nay cũng thế
Trên chiến trường như trên cái giường
Tấn tới tấp, địch thua thì thắng
Hết đạn rồi, còng địch cũng thua

À lạ nhỉ…? hơn thua chi đó
Gái chân dài nhiều loại nhe anh
Gà móng đỏ, móng xanh ai thích…?
Dân mô-đen, hoa hậu tốn tiền

Nghề chơi đó, có chơi có chịu
Nghề chơi nào cũng lắm công phu
Mua phụ nữ bằng tiền bằng bạc
Tham nhũng rồi có lúc tiêu ma…!

Đặng Quang Chính
***
*NỮ SĨ Ý NGA & THI SĨ NGŨ LANG ***
*NHƯ NHIÊN
Thật nghĩa Đi Chùa

Bạch Thầy!
Đi chùa tìm chút bình an
Ai dè chùa cũng rộn ràng không ngơi..
Lên chùa tìm chút thảnh thơi
Dè đâu chùa cũng như đời ngoài kia..
Cũng này nọ, cũng phân chia
Cũng son, cũng phấn trau tria khác gì!..
Trước chùa ”Mô Phật”, từ bi..
Ra đằng sau bếp thị phi dẫy đầy..
– Con không đến nữa thưa thầy..
Về nhà đóng cửa từ rày yên tu..
Lên chùa con thấy lu bu..
Dạ, xin sám hối nói như lòng mình..

Này con!

Thầy thông cảm được tâm tình..
Chùa là cửa Phật, chúng sinh ra vào.
Chùa cho bá tánh, đồng bào
Chùa như bịnh viện chữa bao bịnh tình…
Chùa không huyên náo, linh đình
Chuyện đời đa sự đã rinh vào chùa.
Chùa không phải chốn hơn, thua
Bởi lòng còn nặng tranh đua bước vào.
Thế nhưng chùa vẫn đón chào..
Vì mong nhân thế ngày nào đổi thay..

– Hoa sen mọc giữa bàn tay
Hay là nở giữa bùn lầy bẩn nhơ ?
Hoa thành rác chỉ vài giờ
Rác thành hoa phải đợi chờ chuyển lưu..
Nghịch duyên tu được – là tu
Đừng mong vạn sự giống như lòng mình.
Tâm bình thì cảnh sẽ bình
Tu là chấp nhận tâm tình thế gian!

– Đi chùa nên biết tự An
Đi chùa hãy học Đạo vàng Như Lai..
Ai làm chi đó mặc ai
Mỗi người mỗi tật.. quan hoài mần chi!
Đi chùa biết ”Tự Quy Y”
Trong ta có Phật tuệ tri, nhắc mình..

– Khi lòng chưa thực lặng thinh
Thì bao cái khổ chúng sinh vẫn còn..
Cho dù có chạy lên non
Não phiền chưa dứt.. đời hoàn khổ đau.
Tu lấy Hỷ Xả làm đầu
Chuyện người ” thội kệ ”, nhiệm mầu phút giây!

Xoay ra, lòng mãi loay hoay
Nhìn vào, thanh tịnh, là đây Phật về..
Trong phiền não có Bồ Đề
Sát na tỉnh thức cần kề Như Lai.

Như Nhiên – T Tánh Tuệ
Như Nhiên Thích Tánh Tuệ YouTube Channel :

https://www.youtube.com/c/Nh%C6%B0Nhi%C3%AAnTh%C3%ADchT%C3%
***
*THI SĨ ĐỖ ĐĂNG TRIỂN***
*THI SĨ KIẾU PHONG ***
*SA CHI LỆ
KẺ ĐÀO NGŨ

Ta nhơ nhớ nhờ bạn bè giữ súng
Rồi lịm dần mất hút tới hư vô
Cõi hư vô thơm ngát những nấm mồ
Ta rụt rè ngây ngô không thèm chọn

Tình cờ gặp mấy thằng đào ngũ sớm
Tay bắt mặt mừng tủi tủi than van
Ta khoe trần gian thay đổi thăng trầm
Thằng thỏa thích kể non bồng nước nhược

Đứa khề khà rượu huỳnh hoa hạnh phước
Đứa chê ta chừng đó tuổi đã già
Ta xấu hổ trần tình thật xót xa
Và nguyện ước được về đây họp mặt…

Ta sợ hãi chui vào thân nhức buốt
Mở mắt nhìn thôi quá đỗi ngạc nhiên
Ai liệng ta trong bốn vách tường điên
Giường trắng phếu từng bộ xương cử động

Ta ú ớ la âm thanh rời rỗng
Những oan hồn lạnh rúm đói khát rên
Gào khẩn thiết đòi ba lô súng đạn
Bởi mất hết rồi ở trận Thiện Ngôn

Xác trần truồng mục rã chưa ai chôn
Ta tóe óc mọc gai cùng mình mẫy
Mắt trừng trừng hằn học suốt đêm cay
Liếm láp mãi từng vết thương rỉ máu

Bạn bè ơi! Ta nghẹn ngào thua cuộc
Chí tang bồng chưa phỉ đã buông tay
Chắc tụi mày nỡ nào mà trách móc
Vì tao bây giờ người ngợm khó coi

Tổ Quốc ơi! Thân ta đà lạnh cứng
Tóc còn xanh mà thẹn với non sông
Đạn còn réo mà giả từ vũ khí
Để làm tên “đào ngũ” giữa đoạn trường

Lỡ tay súng nên đổ thừa định mệnh
Nhưng khí hùng vẫn ngạo nghễ đời trai
Ta tuốt gươm thề: SUỐT ĐỜI THÚC NGỰA
Dẫu chiến trường bôi xóa tuổi tên ai!…

*SA CHI LỆ * Viết trong Quân Y Viện Tây Ninh
ĐÊM THẤY BẠN HIỆN VỀ

Thanh ơi! Mày còn than cô độc?
Tòng ơi! Mày còn giận tao không?
Một lạy này xin mày tha thứ
Một lạy này chúc mày hiển thần

Đồ tế lễ – một bầu kỷ niệm
Tao uống hoài mỗi chuyến hành quân
Đêm tao dưới hố cá nhân
Thấy mày đứng đó thổi hồn phất phơ

Mày nhắm mắt hay ngàn đời mở mắt?
Tao thương mày hay mày phải thương tao?
Thương tao một đời vợ con bận bịu
Gào chiến tranh tuổi trẻ sớm bạc đầu…

Dù không nói chắc mày cũng hiểu
Tao bây giờ theo gió đẩy đưa
Nuôi mộng lớn chờ thời may rủi
Bởi đạn bom có mắt bao giờ!
*SA CHI LỆ Viết trong QYV/TN
ĐIỀM LẠ

Vầng hồng rựng giữa trán em
Ta chưa ngồi dậy bàn điềm chiêm bao
Nghe trong mạch máu tự trào
Vạn ly biệt khép mi giao chiến buồn

Ngày ôm mặt lạ xa nguồn
Đêm soi kẽ hở tình luôn ngậm ngùi
Bước từng bước nghẹn đường thôi
Áo xưa nhăn nhíu nhớ bời bợi ra

Em lên phố kết đèn hoa
Ta so lại phím cầm ca một mình
Ngoài kia tàu mãi lênh đênh
Ta xui xũi cát bật thành tiếng kêu

Tay em hạnh phúc thật gần
Còn ta với mãi đụng rừng núi cao
Mây giăng tứ phía lao xao
Một ngày mới lạ cào nhàu thân ta!

*SA CHI LỆ
NGUYỆT

Nguyệt sơ khai mọc phương tây
Nhân gian gióc lệ không đầy túi thu
Trẻ con đòi mặc áo tu
Đốt đèn soi đá tìm phù du ăn

Nguyệt thanh xuân mọc phương nam
Tỏa hương bích ngọc non trầm huyền vi
Người sao đẹp lạ quí phi
Cài thơ lướt thướt mê si nhạc thần

Nguyệt trung niên mọc phương Đông
Đêm ngồi dệt lụa tóc ròng cô đơn
Sương thiên lý vọng tủi hờn
Đợi chờ bạc áo chập chờn binh đao

Nguyệt hạ tuần mọc phương Bắc
Ma quỷ cười lơ láo nhặt điêu tàn
Bây giờ gió hỏi hồn oan
Làm sao dừng lại lượm ngàn quạnh hiu?

*SA CHI LỆ *Thơ thời chiến
myhan245@gmail.com
https://hangoc2020.blogspot.com/
https://www.facebook.com/1sachile
***
*NỮ SĨ TÍM

*ÁI QUỐC

Trí thức lưu vong ÁI QUỐC đâu ?!
Cộng đồng hải ngoại rắn không đầu
Chia năm thực lực, mưu gian độc
Xẻ bảy tiềm năng, kế ác sâu
Tự đại bành ky làm phách bạo
Cái TÔI tổ chảng tưởng mình ngầu
Không mau thức tỉnh Rồng Tiên mất
Thù riêng quẳng bỏ khôn liền gấp
Mất nước tương lai nếu đợi lâu

Tím Sept/22/2020
**
*Bài THẮM SẮC HOA

Có một nàng tiên đến viếng ta
Vai thon dáng mỏng cánh tay ngà
Yêu kiều duyên dáng chìm thân cá
Sắc nước hương trời nhạn phải sa.
Ánh mắt long lanh mê hoặc khách
Âm thanh dìu dìu đắm say mà
Ai người lỡ hẹn cùng thì tứ,
Mang đến cho mình thắm sắc hoa.

ĐANG PHONG(22-09-20)
**
Hà-mai-Nguyên.

BẠN GIÀ…
BẠN GIÀ QUEN BIẾT BẤY LÂU NAY,
ĐẠP ĐẤT,ĐỘI TRỜI BAO THÁNG NGÀY.
MẤT NƯỚC CHIA LY ĐI MỖI NGẢ,
LY HƯƠNG GẶP LẠI Ở NƠI NÀY.
HÃY NÊN QUA LẠI MÀ VUI SỐNG,
BUÔNG BỎ ƯU PHIỀN LẪN ĐẮNG CAY
.
MAI-HUYỀN-NGA.
***