Vợ Obama tru tréo: “Donald Trump là ngụy Tổng Thống”

*Vợ Obama tru tréo: “Donald Trump là ngụy Tổng Thống”

      *BẢN TIN THỜI SỰ NỔI BẬT HÔM NAY:

1-BIẾM-MINH HỌA ĐẶC BIỆT

2-CLIPS QUAN TRỌNG:

* Vợ Obama tru tréo: “Donald Trump là ngụy Tổng Thống” và cú đáp trả thấu cáy của TT Trump!
(có thuyết minh)
* OBAMA BỊ CHÍNH Bạn Học Cũ TỐ – OBAMAGATE TỘI ÁC CHÍNH TRỊ LỚN NHẤT NƯỚC MỸ
* California man charged with mail-in voting fraud in three elections
*CLIP VUI: CHÍCH NGỪA CÔ VY
*9 NGƯỜI TC KHAI VỚI CQĐT-BQP ĐƯA 5 TỶ CHO 2 NGƯỜI VN VÀ CHAI LO NHỰA CHỨA VIKHUẨN CÚM VÀO ĐÀ NẴNG
* Biggest Trump Boat Parade of All Time!
* Sau khi gặp chị Kiều sáu múi, vòng bụng của Huy Tí Hon biến đổi kỳ lạ 

*-LƯỢM TRÊN FACEBOOK:

* SỰ KHÁC BIỆT
*ĐỊNH NGHĨA VỢ – VỢ LÀ GÌ
https://twitter.com/seanhannity/status/1264504938471841794?s=20

*- TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

* Trump phản đòn với Michelle Ô-Bà-Má (ơi): Nhờ chồng bà mà tôi đắc cử !
*GS TRẦN THỦY TIÊN: Sự thật âm mưu làm loạn – đổ tội cho TT Trump của đảng DC
* Người thật, việc thật, lời thật của một người thuộc đảng Dân Chủ, nhưng nay đã thức tỉnh, quay về vùng ánh sáng, bỏ lại bóng tối sau lưng.
* TOÀN BỘ SỰ THẬT VỀ TÊN GEORGE FLOYD
* BLACK LIVE MATTER CỦA HUBERT VÕXin mở link để nhìn tận mắt, nghe tận tai bọn lưu-manh BML/Antifa hò-hét đòi người dân nộp nhà, “trả đất” cho chúng y như Việt cộng kéo nhau đi đấu-tố thời thập-niên 1950 và cướp nhà thời 1975.
* Bạn không muốn thấy cảnh nhà thờ bị đốt, tượng thánh bị đập, tượng Đức Mẹ bị bôi bẩn, tượng Chúa Jesus bị đập vỡ mặt.
BẠN NÊN CHỌN AI?
* Nếu suốt ngày đau ốm đừng bỏ qua bài viêt này

*MỜI ĐỌC BÀI VIẾT BIÊN KHẢO GIÁ TRI LỊCH SỬ: “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tiền quí, cheo, tính tiền khi đi chợ …”
* Hành Trình Chia sẻ Với Những Mảnh Đời Bất Hạnh, vừa nhận được:

5-TRUYỆN NGẮN HAY MỜI ĐỌC

* GIỚI THIỆU NHÀ VĂN TRÀM CÀ MAU

*Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc
* Bé Khoai Mì
* MẸ CHỒNG
* Chuyện người đàn bà khi cuộc chiến tàn

6-HỒI KÝ ĐẶC BIỆT:

* Người Ăn Mày Mé Láng
*LINH PHƯƠNG: Giọt Hồng Sương trên thềm Ðịa Ngục
*ĐIỆP MỸ LINK: Người Về

*KÍNH MỜI GHÉ THĂM WEB MỚI
https://hangoc2020.blogspot.com/

6-SA CHI LỆ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NHIỀU THI SĨ

*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:
*PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN * THANH THANH * TÍM * NGUYỄN MINH THANH * Ý NGA * ĐẶNG QUANG CHÍNH *MAI HUYỀN NGA * KIỀU PHONG *THA HƯƠNG * NGUYỄN PHƯƠNG THÚY * SA CHI LỆ *
*LƯU HOÀI *
***
7-DÒNG THƠ XƯỚNG HỌA, QUÝ THI SĨ:

* TÍM * MAILOC * ANH NGUYÊN * GIA CÁT MỖ
* THANH SONG KIM PHÚ * TDN * LÂM HOÀI VĂN *
*SONGQUANG * SÔNG THU * TRỊNH CƠ *
*CAO BỒI GIÀ * LIÊU XUYÊN * THÚY M *
* MINH THÚY THÀNH NỘI * CAO MỴ NHÂN *
* TRẦN NHƯ TÙNG * MỸ NGỌC * NHƯ THU *
*ĐỨC HẠNH * NĂM XÀ TÓN * SÁU THỜI SỰ *
* TÁM KHỎE * CỤ CỬ CALI * ĐỒ LÃNG NHÁCH *
***
*BIẾM-MINH HỌA
*CLIPS QUAN TRỌNG:
* Vợ Obama tru tréo: “Donald Trump là ngụy Tổng Thống” và cú đáp trả thấu cáy của TT Trump!


(có thuyết minh)
* OBAMA BỊ CHÍNH Bạn Học Cũ TỐ – OBAMAGATE TỘI ÁC CHÍNH TRỊ LỚN NHẤT NƯỚC MỸ

* California man charged with mail-in voting fraud in three elections

https://www.foxnews.com/us/california-man-charged-mail-in-voting-fraud-elections
California man charged with mail-in voting fraud in three elections

Paul Best
The Los Angeles District Attorney announced Tuesday that a California man has been charged with mail-in voting f…
A California man has been charged with mail-in voting fraud, accused of casting votes for his dead mother in three different elections.
*CLIP VUI: CHÍCH NGỪA CÔ VY


*9 NGƯỜI TC KHAI VỚI CQĐT-BQP ĐƯA 5 TỶ CHO 2 NGƯỜI VN VÀ CHAI LO NHỰA CHỨA VIKHUẨN CÚM VÀO ĐÀ NẴNG

* Biggest Trump Boat Parade of All Time!

* Sau khi gặp chị Kiều sáu múi, vòng bụng của Huy Tí Hon biến đổi kỳ lạ
***

***
CẢNH ĐẸP – BẤM VÀO HÌNH XEM ĐỔI MÀU ! ( LTT )
Nhớ bấm vào hình xem đổi màu
https://mp.weixin.qq.com/s/cj2hkTMugQvaGFvw_MsAzg
***
*LƯỢM TRÊN FACEBOOK:
* THI VẤN ĐÁP SỰ KHÁC BIỆT
Thầy: Em hãy cho biết sự khác nhau giữa Bộ Y Tế và Bộ Giáo Dục?
Trò: Dạ, Bộ Y Tế thì bán thuốc giả cho người nghèo, còn Bộ Giáo Dục thì bán điểm giả cho người giàu ạ.
Thầy: Chuẩn.

Thầy: Hãy nêu sự khác biệt giữa bán dâm và bán nước?
Trò: Dạ, bán dâm là bán cái của mình có, bán nước là bán cái không phải của mình, bán dâm có 99 phút còn bán nước là 99 năm ạ.
Thầy: Quá chuẩn.

Thầy: Em hiểu thế nào về câu: “Ý Đảng – Lòng dân”?
Trò: Dạ, muốn xem ý Đảng thì đọc báo nhân dân, còn muốn biết lòng dân thì xem phây búc ạ.
Thầy: Cực chuẩn, không cần chỉnh.
**
*ĐỊNH NGHĨA VỢ – VỢ LÀ GÌ* TIN NÓNG THỜI SỰ QUANG TRỌNG:

* Trump phản đòn với Michelle Ô-Bà-Má (ơi): Nhờ chồng bà mà tôi đắc cử !
Ngay sau bài nói chuyện của Michelle Ô-Bà-Má (ơi) chiều thứ hai trong đại hội đảng Rân Trủ Đầu Lừa, đổ thừa cho TT Trump về mọi chuyện nhất là chuyện Cúm Vũ Hán, và gọi TT Trump là “không xứng đáng làm Tổng Thống”, còn chồng của mụ thì biết khom lưng, biết khôn nhà dại chợ nên “xứng đáng hơn”.

TT Trump tweeted: Ừ, thì nhờ chồng bà biết “trị quốc” (giỏi như Khỉ Rừng Xanh) nên tui mới được trở thành Tổng Thống thứ 45 của Hiệp Chủng Quốc.
Cám ơn nghen !

Trump hits back at Michelle Obama after searing DNC speech, says he ‘would not be here’ if not for her husband
***
*GS TRẦN THỦY TIÊN: Sự thật âm mưu làm loạn – đổ tội cho TT Trump của đảng DC1. It is the Power of Truththat makes the sun shine and the winds blow, indeed all things rest upon Truth.

2. You can win a foolish by agreeing with him and you can win a scholar by Truth only. ~ Chanakya.

Mới đây, ngày 4.8.2020, nhà bình luận Barry Shaw có một bài viết rất xuất sắc và trung thực, được nhiều người chuyển cho nhau đọc, với tựa đề: Plot and Deflect. The Democrats’ path to victory. — Bày Mưu Kế và Đánh Lạc Hướng (về phía người khác) là cách để thắng của Democrats. Đó là chiến thuật của hai đồng chí CS Cloward & Piven (the Marxist pair) về việc vận động các nhóm cộng đồng địa phương gây xáo trộn để giành quyền, và áp dụng Thủ Thuật Cấp Tiến (Rules for Radicals) của Saul Alinksy để chống Tổng Thống Trump. Nên biết, Hillary Clinton khi còn là sinh viên, cực kỳ ái mộ Alinksy và hai bên đã trao đổi thư từ với nhau. Democrats cũng như CS, họ đã và đang âm mưu Gian Lận Bầu Cử vào Tháng 11, 2020, nên họ tạt nước “Gian Lận Bầu Cử” vào Tổng Thống Trump trước: Luôn kết tội người khác những gì chính họ đã làm.

Ông Shaw nói thẳng: Democrats biết là họ nói láo nhưng cứ nói, vì đó là một âm mưu chiến thuật để giành quyền. Mục tiêu tối hậu của họ là chiếm quyền và thay đổi nước Mỹ, không phải để cung cấp cho người dân những gì họ muốn, mà làm cho họ lệ thuộc vào một nhà nước chuyên chính, toàn quyền. Democrats know they are lying, but they will do it anyway. It’s part of the strategic plot to seize power. The ultimate aim is to gain power and change the country, not by giving the people what they want, but by making them dependent on an overpowering government.

Nên nhớ, Obama từng tuyên bố: “I will fundamentally transform America”. Và Marxist là Cộng Sản, mà CS dùng bạo động để tiêu diệt đối phương hoàn toàn, không nhân nhượng, xót thương. Chiến thuật CS của Coward-Piven gồm 4 mục tiêu là: 1. Phá vỡ hệ thống an lạc hiện tại; 2. Luôn luôn gây rối và tạo hỗn loạn trong nước; 3. Giành quyền chỉ huy sự hỗn loạn; và 4. Thực hiện Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa CS bằng quyền lực tuyệt đối của nhà nước chuyên chính.

Các đảng viên được huấn luyện (trained Marxits) dùng bạo động (use violence) để gây áp lực lên các lãnh đạo liên bang, tiểu bang, và cộng đồng địa phương. Họ chỉ đạo quần chúng biểu tình và nổi loạn khắp nơi, để mất an ninh và việc làm, tạo suy yếu kinh tế, khiến nhiều người dân cần phúc lợi (welfare), muốn lệ thuộc vào nhà nước (a vital part of communist ideology), để tiến tới lật đổ Hệ Thống Tự Do và Chính Quyền Dân Chủ hiện hữu. Ở nước Mỹ, Democrats luôn dùng mọi cách để giảm đi sự chú ý về âm mưu họ đang làm bằng cách đánh lạc hướng về phía TT Trump. Đây là một thủ thuật tâm lý: Đừng nhìn tôi, hãy dòm ngó ông ta. (Don’t look at me, keep watching him and look for his faults). Chứng Minh:

1) Russian Collusion – Thông đồng với Russia: chỉa oan sai vào TT Trump để hãm hại ông, sau khi Obama đã dùng 8 năm làm chính việc đó: thông đồng với Russia.

Bằng Cớ #1 – Uranium One: Obama và Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã bán 80% Uranium của nước Mỹ cho Putin, qua các Russian companies, nên họ đã tặng lại các số tiền lớn vào Clinton Foundation và mời Bill Clinton qua Moscow nói chuyện để có cớ cho Bill nửa triệu Mỹ kim, và che tội tham nhũng.

Bằng Cớ #2 – Obama bị bắt gặp nói chuyện (mike conversation) với Russian president, Dmitri Medvedev, năm 2012, “This is my last election. After my election, I have more flexibility.“ – Đây là cuộc bầu cử cuối cùng của tôi. Sau bầu cử, tôi sẽ dễ dàng hơn”, và Medvedev đã trả lời “tôi sẽ báo tin này cho Putin”. Russian collusion.

Bằng Cớ #3 – Obama đã dùng Biden “thân mật” với Ukraine, một nước Âu Châu rất tham nhũng lúc đó. Nên Biden và con trai Hunter mới “làm ăn” lớn với một công ty dầu Ukraine, và người ta có thể nghi ngờ Obama được chia phần tham nhũng. Khi Russia xâm lăng Ukraine, Obama cho họ mền và lều (blankets and tents) mà không hề viện trợ quân đội cho họ, nên đã giúp Russia chiếm đóng phần lớn lãnh thổ Ukraine. Đúng là Russian collusion. Sau này, TT Trump đã viện trợ quân đội Ukraine hỏa tiễn chống lại, chứng tỏ TT Trump cứng rắn với Putin hơn Obama. Trong khi báo chí phe tả Mỹ, Việt nói láo ngược lại, theo chỉ thị của leftist Democrats, y như VC, đảng ra lệnh nói gì, báo chí Việt đồng loạt viết tin y hệt, cùng giọng điệu và cả chữ dùng, như con két.

Bằng Cớ #4 – Russian collusion was evident throughout Obama’s term as president, but this was the lie they leveled against President Trump, even before he became president. And they did it by manufacturing a fake dossier based on Russian disinformation obtained with payments from the Democrat National Committee and the Hillary Clinton Campaign to a foreign agent, Christopher Steele, to come up with Russian dirt on Trump, which he did with the disinformation given to him by his Kremlin contacts. This is Russian collusion. Despite a three-year investigation, no evidence was found that linked President Trump with the Russians. But real Russian collusion was evident with Obama personally, his policies, and the actions of his officials. Plot and Deflect.

(Xin đăng trích-đoạn nguyên văn English để không mang tiếng dịch theo ý kiến cá nhân và giúp người trẻ chỉ biết tiếng Anh, đọc được).

2) Tạo ra Khủng Hoảng và đổ tội cho Tổng Thống Trump (Plot and Dítract):

Bằng Cớ #1– Hầu hết các thống đốc và thị trưởng Democrat (Democrat governors and mayors) đã điều hành sai trái (mishandled) Bệnh Dịch Wuhan Virus (nếu không muốn nói là họ cố ý kéo dài việc giam giữ dân ở nhà, dù ở các nơi con số bệnh nhân rất thấp) để cố ý phá hủy nền kinh tế Mỹ thịnh vượng và gây xáo trộn xã hội. Nhiều công dân sẽ không bao giờ hồi phục được từ sự tổn hại kinh tế áp đặt lên họ bởi luật độc đoán của nhóm cầm quyền Democrats.

Bằng Cớ #2 – Các thống đốc và thị trưởng Democrat áp đặt việc giam giữ ở nhà với sự đe dọa bị tù, tiền phạt nặng vào các công dân tuân theo luật pháp, nhưng lại khuyến khích bọn làm loạn ra đường biểu tinh, đốt phá, trộm cướp các cửa hàng, hoặc giết người khi bị ngăn chận. Democrats tạo ra sự hỗn loạn, vô luật pháp, rồi đổ tội cho Tổng Thống Trump. Plot and Deflect – Bày mưu kế phá hoại rồi đánh lạc hướng vào người khác.

Bằng Cớ #3 – Các nhà cầm quyền Democrats đã làm một việc mà các nước dân chủ không bao giờ làm khi có dân nổi loạn, là cắt ngân sách của cảnh sát và phá bỏ uy quyền của các nhân viên công lực, đang thi hành và bảo vệ luật pháp. Đây là sự tiếp trợ cho bạo động và nổi loạn gia tăng. Nhưng chính xác, đây là điều tồi tệ mà Democrats đã làm.

Bằng Cớ #4 – Democrats cố ý gây đốt phá và bạo loạn xã hội để Tổng Thống Trump có nghĩa vụ phải gửi quân lực liên bang tới địa phương dẹp loạn, giúp dân sống ổn định. Democrats liền kết tội ông “độc tài” như “Nazis”. Cho thấy: Đốt nhà rồi đổ tội nhà cháy cho người khác. Plot and Distract.

3) Democrats đã và đang âm mưu gian lận bầu cử nên đánh lạc hướng qua TT Trump:

July 20, 2020, báo cực tả Washington Post phao tin gian dối: “Biden predicts Trump will try to ‘indirectly steal’ the election.” Biden đoán là TT Trump sẽ gián tiếp “gian lận bầu cử”.

Bằng Cớ #1– Các tiểu bang do Democrats cai trị, như Pennsylvania, North Carolina, Maryland, California, Virginia and Colorado, bị tổ chức độc lập Judicial Watch thưa kiện là Democrats không giữ gìn các phiếu bầu đúng cách theo quy định của luật pháp liên bang, để mở cửa cho “bầu cử bẩn thỉu”.

Bằng Cớ #2 – In a May 2020 Judicial Watch’s investigation, it was discovered that there were 800,000 ineligible voters listed in just three Pennsylvania counties. A left-wing group submitted a motion to dismiss claiming these were not illegible but merely “inactive,” but this is precisely where the fraud potentially comes in by malevolent actors activating inactive voters.

Bằng Cớ #3 – Các tổng thống khác sau khi hết nhiệm kỳ, thường về an dưỡng với gia đình, ở nhà riêng trước đây. Họ tôn trọng, không dòm ngó, chỉ trích vị tổng thống kế tiếp, để yên cho vị này làm việc. Riêng Obama mua một biệt thự kín cổng cao tường (nhưng kêu gọi nước Mỹ phá bỏ biên giới, no Wall), ở gần White House, làm việc hằng trăm ngày, lập nên 1 hệ thống vận động bầu cử, trên cả nước, có 250 ngành và 32,000 nhân viên, với ngân sách cả chục triệu Mỹ kim, có bà Valerie Jarrett trợ giúp điều hành (theo IRS). Obama làm việc giúp Biden thắng cử TT, để các việc quá khứ được ém nhẹm luôn. Nếu TT Trump tái cử, có thể toàn bộ nhóm Obama sẽ bị điều tra về misconduct. Họ dùng sách lược của Alinksy và cặp Marxist, Cloward & Piven, để chọc ghẹo, bêu xấu TT Trump (nhưng không đưa ra được bằng cớ).

Pick the target (TT Trump), freeze it, and polarize it. Cut off the support network and isolate the target from sympathy, force him into concessions. Plot and Deflect. Watch out! It’s coming to a polling station near you. Xin tìm hiểu kỹ để bầu người tốt cho dân.

Ngày 12.8.2020

GS Trần Thủy Tiên

Sources: https://www.israelnationalnews.com/News/News.aspx/284731
***
*Người thật, việc thật, lời thật của một người thuộc đảng Dân Chủ, nhưng nay đã thức tỉnh, quay về vùng ánh sáng, bỏ lại bóng tối sau lưng.
MAGA..

CHÍNH TRỊ GIA DA ĐEN ĐẢNG DÂN CHỦ NÓI LÝ DO ỦNG HỘ TRUMP

VERNON JONES: Tôi là người da đen và tôi là người dân chủ. Nhưng “Tôi không bỏ phiếu cho Joe Biden vào tháng 11 này”

“Kể từ tháng Năm khi tôi tuyên bố tôi sẽ ủng hộ Donald Trump làm tổng thống, động cơ của tôi đã bị nghi ngờ, sự chính trực của tôi bị tấn công, thậm chí trí thông minh của tôi bị thách thức. Không sao đâu.

Tôi là một đảng viên Dân chủ trọn đời, nhưng tôi cũng là một người da đen, con trai của một cựu chiến binh Thế chiến II và tự hào là một người Mỹ.

Trong những tuần gần đây, đã có những lời kêu gọi vô lý để giải tán các sở cảnh sát trên khắp đất nước bởi đảng Dân chủ để đáp trả vụ giết George Floyd. Đây là những lời kêu gọi cực đoan sẽ chỉ dẫn đến nhiều nỗi đau và đau khổ hơn trong các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất của chúng ta.

Là cựu Giám đốc điều hành của Hạt DeKalb, Georgia, tôi đã phải quản lý một trong những sở cảnh sát lớn nhất trong tiểu bang. Tôi đã có kinh nghiệm đối phó với các vụ nổ súng của cảnh sát và an ủi các gia đình nạn nhân. Nhưng đồng thời, tôi cũng đã có kinh nghiệm từng bị mất hai sĩ quan cảnh sát da đen. Tôi đã phải an ủi gia đình họ vào giữa đêm và an ủi con nhỏ của họ. Tôi biết trước khi những người khác đang chạy trốn khỏi sự hỗn loạn, các sĩ quan cảnh sát đang chạy vào cuộc chiến để bảo vệ và phục vụ.

Tổng thống Trump đã phát mệt vì cái chết của George Floyd và hoàn toàn cam kết đảm bảo rằng ông ta sẽ không chết trong vô vọng. Tổng thống đã thực hiện một cách tiếp cận hợp lý để chữa lành đất nước chúng ta. Tổng thống Trump nói rõ rằng ông sẽ bảo vệ tất cả người Mỹ, phục vụ như một đồng minh cho những người biểu tình ôn hòa và luôn giữ vững luật pháp và trật tự.

Nhưng những người biểu tình đã quyết tâm gieo rắc hỗn loạn và hủy diệt, tất cả đều nhân danh sự bình đẳng chủng tộc. Nghe này, trong phiên họp lập pháp đầu tiên của tôi tại Hạ viện Georgia năm 1993, tôi đã đệ trình dự luật đầu tiên trong sự nghiệp của mình để xóa biểu tượng chiến đấu của Liên minh khỏi quốc kỳ. Nhưng tôi cũng hiểu việc bảo tồn lịch sử của chúng ta – tốt và xấu. Và tôi vẫn không khuất phục ai trong cộng đồng ủng hộ cộng đồng da đen.

Nhưng không giống như các chính trị gia khác của Washington, tổng thống này thực sự ủng hộ lời nói của mình bằng hành động. Ông đã ký một Sắc lệnh hành pháp về cải cách cảnh sát – thực hiện các bước để xây dựng một cầu nối tốt hơn giữa đàn ông và phụ nữ thực thi pháp luật và cộng đồng của họ.

Sắc lệnh hành pháp mang tính bước ngoặt khuyến khích cảnh sát thực hiện các biện pháp tốt nhất để bảo vệ những người mà họ phục vụ. Nó đặt ra các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cao nhất cho các nhân viên thực thi pháp luật, đồng thời thúc đẩy hòa bình và bình đẳng cho tất cả người Mỹ.

Theo lệnh, chính quyền Trump hiện sẽ ưu tiên các khoản tài trợ liên bang từ Bộ Tư pháp cho các sở cảnh sát đáp ứng các tiêu chuẩn cao này. Ngoài ra, lệnh này còn thúc đẩy việc tạo ra một cơ sở dữ liệu quốc gia về hành vi sai trái của cảnh sát. Cơ sở dữ liệu này sẽ thoát khỏi cảnh sát xấu và giúp tạo ra trách nhiệm giữa các cơ quan cảnh sát.

Joe Biden và chính quyền trước đây đã 8 năm ở Nhà Trắng về vấn đề này ở đâu? Tôi sẽ nói với bạn. Họ đã vắng mặt trong việc thống nhất đất nước này.

Tỷ lệ thất nghiệp da đen dưới thời Biden và chính quyền Obama trung bình là 12,8%. Số người Mỹ da đen trong nghèo đói hầu như không giảm trong thời gian của chính quyền Obama, giảm xuống chỉ còn 145.000 trong tám năm.

Để so sánh, hơn gấp đôi con số đó – 350.000 người Mỹ da đen – đã thoát nghèo chỉ trong hai năm đầu tiên của chính quyền Trump.

Ngay cả trước đó, Biden đã ở đâu trong 36 năm tại Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề này? Tôi sẽ nói với bạn. Anh ấy quá bận rộn hét lên những đứa trẻ của tôi sẽ lớn lên trong một khu rừng, khu rừng là một khu rừng chủng tộc. Khu rừng chủng tộc mà anh ta đang đề cập đến bao gồm cả người Mỹ da đen và da nâu như tôi. Ngay bây giờ, Tổng thống Trump đang được giới truyền thông định nghĩa là một kẻ phân biệt chủng tộc, trong khi thực tế Joe Biden là người có máu mặt đại diện đầy đủ.

Đừng tin lời tôi, hãy nghe những lời của Thượng nghị sĩ Joe Biden nói. Sự thật là, mọi dự luật tội phạm lớn kể từ năm 1976 được đưa ra từ Đại hội này, mọi dự luật tội phạm nhỏ, đều có tên của thượng nghị sĩ Dân chủ từ bang Delwar: Joe Biden. Bây giờ, khi ông Biden đang tranh cử tổng thống trong một đảng Dân chủ vào năm 2020, ông đang cố gắng quét sạch di sản phân biệt chủng tộc của mình dưới tấm thảm. Chúng ta không thể để anh ta làm như vậy.

Joe Biden chịu trách nhiệm trực tiếp cho các chính sách giam giữ hàng loạt trong những năm 1980 và 1990, đã tàn phá cộng đồng da đen. Biden là tác giả của dự luật tội phạm năm 1994 trong đó áp dụng các bản án tối thiểu bắt buộc, không tương xứng đưa hàng trăm ngàn thanh niên da đen vào tù.

Tổng thống Trump đã làm việc để tháo gỡ những bất công trong hệ thống tư pháp hình sự của chúng tôi. Ông đã ký Đạo luật Bước đầu tiên, cải cách lớn đầu tiên cho hệ thống tư pháp hình sự của chúng tôi trong một thập kỷ. Nhờ sự lãnh đạo của tổng thống về vấn đề này, hệ thống tư pháp hình sự của chúng tôi công bằng hơn và cộng đồng của chúng tôi an toàn hơn.

Là người Mỹ da đen, chúng ta cần nhận thức được sự lựa chọn rõ ràng trước mặt chúng ta. Joe Biden đã phản bội người Mỹ da đen trong suốt sự nghiệp của mình ở Washington. Tổng thống Trump đã dành 3,5 năm chiến đấu tại văn phòng để cải thiện cuộc sống của người Mỹ da đen.

Chúng ta không thể bị lừa lần nữa. Những người dân chủ như Biden sẽ thuận tiện xuất hiện trong các khu phố của chúng tôi và nuông chiều chúng tôi từ nay đến tháng 11. Tại sao? Bởi vì họ chỉ quan tâm đến người da đen trong những năm bầu cử.

Sự lãnh đạo của Joe Biden và Tổng thống Donald Trump đang được tiết lộ cho tất cả chúng ta thấy. Joe Biden gây chia rẽ và không hiệu quả. Trong khi đó, Tổng thống Trump đang thống nhất, thực dụng và không sợ hãi.

Người mẹ 90 tuổi của tôi đã qua đời vào tháng Tư. Tôi học được quan điểm độc lập của tôi từ mẹ tôi.

Tôi là người da đen và tôi là người đảng Dân chủ. Nhưng tôi không phải là người bỏ phiếu cho Joe Biden vào tháng 11 này.

Ghi chú: Tác giả Vernon Jones là một Dân Biểu Dân chủ tại Quốc Hội Georgia và là người ủng hộ Tổng thống Donald Trump.

Dịch từ link:
https://dailycaller.com/2020/07/07/j…ig–JQ3m1yRmaQ
***
*TOÀN BỘ SỰ THẬT VỀ TÊN GEORGE FLOYD
https://www.facebook.com/SBTNOfficial/videos/834370767093346/?__cft__[0]=AZX_sZJ4bLhNQzYvzhIqn-X1mw89yRA7bA4ZBCnJv4YHTNC0BQBbaw9Zjqa8jTbps7nZLtGSNXeWfb09zyS3PikWDerpOVPi4-atQyrQx7Mif1Y7FMOl7feaTYtTryUMbhIh0_i8uMEI0-yy4nUO5bob55FJoYbCarQwg3gZ7WuIh6d0FgJabVSMdYHmOSOE65U&__tn__=%2B%3FFH-y-R
***
CẢ HAI ƯCV NÀY ĐỀU CHỐNG VÀ PHỈ BÁNG CÔNG GIÁO
***
Nhận Diện ƯCV TT và Phó TT của Liên Danh Dân Chủ
***
KAMALA HARRIS BỊ XỈ VẢ TẠI PHI TRƯỜNG

https://www.facebook.com/realAnnaPaulina/videos/400618753863793/?__cft__[0]=AZUpD70zR5nzivza9wuEbruGDzyBDzQ8–FO805yo6f7f-hlCSeGd8KVFTJSTX158KLSWupCfZvk3SUEv4olY5oTvuoiqnkohrdXQv2iN2RdUkm9-qY7vZ8mzyi9oRlR9s4N1HBXlec9Oj0b7O-774e4OVj8YdpxgEusggZs_olM8sgd_vcqAGUBRG2Kh_5nq6Gn75TJSaEu9Jkn0QSDJSEXhdvPQRSfhrXAhB26zOr6OA&__tn__=%2B%3FFH-y-R
**
QUẢNG CÁO CỦA JOE BIDEN

https://www.facebook.com/LatinosForTrump/videos/1249216462088305/?__cft__[0]=AZXMRwz-o5eYzmVlAH9Y8epP6AxwV2WArBboZDkkC4FnXEasMUMGvjWvb8TjOi9JHEe97Idh8EitErfggnJ-qFPLxW_zMU45Vp748C1g3ORW45OJKRjsiitTbE1puxLrE2IcABpGRyxcUs7S21YyS-OfRveW1qvOgx9cNgGFUY_P_jd-y1pT02ssOrHz-3K7_v3aPuYHUwGhWqYw-KdaNyilUiupG3awu_RUFznEhVvcbw&__tn__=%2B%3FFH-y-R
***

BLACK LIVE MATTER CỦA HUBERT VÕ

Tối Thứ 4 ngày 12/8, đám đông biểu tình Black Lives Matter ở Thành phố Seattle (Tiểu bang Washington) đã kéo tới các khu dân cư, cầm loa hét lên rằng người da trắng phải từ bỏ tài sản của họ cho người da đen, như một hình thức đền bù – vì những tài sản này kiếm được thông qua “cách này hay cách khác”.

Đám đông vừa tuần hành vừa hét lên “Black Lives Matter”. Đoạn video quay lại sự kiện này đã được Concrete Reporting phát trực tiếp vào tối Thứ 4 thông qua ứng dụng Periscope, và nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội.

[ Xem video tại đây :

https://twitter.com/ThoughtSoup1/status/1293784212789633030https://twitter.com/BenjaminABoyce/status/1293911092062597127

“Hãy từ bỏ ngôi nhà của bạn. Hãy trả lại nhà cho những người da đen. Tôi đã từng sống trong khu phố này và gia đình tôi đã bị đẩy ra ngoài, và bạn đang ngồi trong đó để có một khoảng thời gian vui vẻ với những người bạn da trắng khác của mình” – một trong số hàng chục nhà hoạt động diễu hành qua một khu phố cầm loa hét lên.

[ Nguồn :www.the-sun.com/news/1311590/blm-activists-seattle-white-residents-give-up-homes/ ]

Không chỉ yêu cầu người da trắng từ bỏ nhà của họ, đám đông Black Lives Matter ở Seattle còn hét lên những khẩu hiệu ủng hộ “Tội phạm da đen”. Trong cùng buổi tối hôm đó, những kẻ bạo loạn Black Lives Matter đã đập phá một cửa hàng, và đe dọa chủ của cửa hàng này – sau khi ông gọi điện thoại để cầu cứu cảnh sát.

“Bạn đang phân biệt chủng tộc, bạn đang phân biệt chủng tộc. Đây chưa bao giờ là khu phố của bạn” – đám đông Black Lives Matter hét lên với người chủ cửa hàng da trắng.

[ Xem video tại đây :

https://twitter.com/MrAndyNgo/status/1294114358893531138

https://twitter.com/MrAndyNgo/status/1294252166836756480 ]

Vào Thứ 2 ngày 10/8 ở Thành phố Chicago (Tiểu bang Illinois), đám đông bạo loạn Black Lives Matter đã tấn công khu mua sắm giàu có nhất của Chicago tại Đại lộ North Michigan. Thị trưởng Dân Chủ Lori Lightfoot của Chicago gọi đây là những hành vi trọng tội, nhưng một số nhà hoạt động Black Lives Matter không đồng ý với điều đó. Nhà tổ chức Ariel Atkins của Black Lives Matter đã nói về lý do tại sao cô ấy ủng hộ mọi người cướp bóc và xem cướp bóc như một cách để biểu tình.

Cô Atkins gọi “sự cướp bóc” là một cách để “bồi thường cho người da đen” , và các doanh nghiệp không phải lo lắng về điều đó – vì đã có bảo hiểm chi trả. Theo ý của cô Atkins, có lẽ tất cả các công ty bảo hiểm phải chịu trách nhiệm cho sự phân biệt chủng tộc, mặc dù không biết họ có đủ tiền để chịu đựng cho đến khi có được thứ “công lý xã hội” mà Black Lives Matter muốn hay không.

“Tôi không quan tâm nếu ai đó quyết định cướp một món đồ của Gucci hay Macy’s , hay một cửa hàng Nike, bởi vì điều đó đảm bảo rằng người đó có quần áo” (?) – cô Atkins cho biết.

Tuyên bố của cô Atkins được đưa ra sau một đêm bạo loạn kinh hoàng của Black Lives Matter, chứng kiến hơn 100 vụ bắt giữ, 13 cảnh sát bị thương và thiệt hại tài sản ít nhất lên tới 60 triệu USD.

[ Nguồn :

www.the-sun.com/news/1290045/black-lives-matter-chicago-looting-reparations-george-floyd/

www.wbez.org/stories/winning-has-come-through-revolts-a-black-lives-matter-activist-on-why-she-supports-looting/398d0f3f-73d0-4f2e-ae32-04cceba0d322 ]

Vào Thứ 6 ngày 14/8 tại Thành phố Minneapolis (Tiểu bang Minnesota) , ông John Thompson – Ứng cử viên của Đảng Dân Chủ cho chức vụ dân biểu của tiểu bang, đã dẫn đầu một đám đông Black Lives Matter và cầm loa hét lên “Tôi không đến đây để ôn hòa. Đ* cái hòa bình khốn kiếp của chúng mày” và quay qua hỏi đám đông : “Chúng ta có quyền đốt trụi thị trấn này hay không?”

Ông Thompson cho rằng thật chết tiệt khi tiểu bang Minnesota bị thiêu rụi chỉ vì 20 đôla (Ám chỉ 20 đôla tiền giả mà George Floyd đã cầm). Tuy nhiên, ông Thompson không nói rõ ai là người đã thiêu rụi nó.

[ Nguồn :https://dailycaller.com/2020/08/16/minnesota-democrat-john-thompson-burn-town-down/ ]

Vào Thứ 7 ngày 15/8, Dân biểu Ayanna Pressley của Tiểu bang Massachusetts xuất hiện trên đài MSNBC và kêu gọi “duy trì tình trạng hỗn loạn trên đường phố” (unrest in the streets)

“Cần có bất ổn trên đường phố chừng nào còn có sự bất ổn trong cuộc sống của chúng ta” – Bà Pressley nói, và người dẫn chương trình Tiffany Cross của MSNBC đáp lại : “Đồng ý ! Tôi không bắt bẻ điều đó. Điều đó chắc chắn là chính xác !”

[ Nguồn :

www.the-sun.com/news/1319707/ayanna-pressley-trump-democrats-unrest-streets-protest/

https://twitter.com/RNCResearch/status/1294665801899880448 ]

Đây không phải là lần đầu tiên nữ Dân biểu Pressley kích động các cuộc bạo loạn và tình trạng vô luật pháp trên đường phố, bà đã từng nói điều này vào Tháng 6.

Tuy nhiên, bà Pressley không nói rõ bà có muốn tình trạng đó diễn ra tại khu phố bà đang sống hay không.

[ Nguồn :www.wgbh.org/news/national-news/2020/06/23/rep-ayanna-pressley-on-police-reform-this-is-a-moment-of-reckoning ]

Bà Pressley nằm trong nhóm 4 nữ dân biểu thuộc Đảng Dân Chủ “The Squad” – trong đó nổi bật có nữ Dân biểu theo trường phái Xã Hội Chủ Nghĩa Alexandria Ocasio Cortez của Tiểu bang New York. Tương tự như bà Pressley, cô Ocasio Cortez cũng có phát ngôn gây sốc khi nói về các cuộc bạo loạn cướp bóc của Black Lives Matter vào Tháng 7 :

“Có lẽ điều này có liên quan đến thực tế là mọi người sợ phải trả tiền thuê nhà của họ. Vì vậy, họ đi ra ngoài và họ cần cho con họ ăn, và họ không có tiền nên họ cảm thấy như họ cần phải ăn cắp một ít bánh mì hoặc bị đói”

Tuy nhiên, cô Ocasio Cortez đã không giải thích : Cửa hàng của Nike và Louis Vuitton bắt đầu bán bánh mì từ khi nào ?

Những phát biểu này của cô Ocasio Cortez đã khiến cho chính Thống Đốc Andrew Cuomo (một người cũng thuộc Đảng Dân Chủ) của Tiểu bang New York cũng không thể chấp nhận được.

“Điều này thực tế là không thể xảy ra. Thực tế là không thể có ai đó phạm tội để họ có thể trả tiền thuê nhà. Nếu bạn không thể trả tiền thuê nhà, bạn không thể bị đuổi vào lúc này” – ông Cuomo nói vào Tháng 7.

[ Mời quý độc giả xem chi tiết tại đây :

www.facebook.com/TruyenThongASG/photos/a.109664617355019/160861095568704 ] ***

Xin mở link để nhìn tận mắt, nghe tận tai bọn lưu-manh BML/Antifa hò-hét đòi người dân nộp nhà, “trả đất” cho chúng y như Việt cộng kéo nhau đi đấu-tố thời thập-niên 1950 và cướp nhà thời 1975. 

Câu hỏi 1: Ai chống lưng, dung-dưỡng, chi tiền cho bọn này? 

Câu hỏi 2: Những người Việt – cả tầng-lớp “trí-thức” – đang ra sức chống TT Trump, ủng-hộ Đảng Dân Chủ, tiếp tay với Tầu cộng, chống lưng bọn BLM/Antifa… có mục-đích gì?
NVT
Seattle BLM protesters to strangers: ‘Give up your house. Give black people back their homes.’ https://hotair.com/archives/john-s-2/2020/08/13/seattle-gentrification-protesters-give-house-give-black-people-back-homes/
***
*BẠN NÊN CHỌN AI? TRUMP OR JOE BIDEN1. NẾU Bạn không muốn thấy cảnh nhà thờ bị đốt, tượng thánh bị đập, tượng Đức Mẹ bị bôi bẩn, tượng Chúa Jesus bị đập vỡ mặt.
2. Bạn là chủ một cửa tiệm và bạn không muốn bọn hôi của xông vào đập phá cửa tiệm của bạn. Bạn không muốn phải bưng bao nhiêu đồ để chèn cửa, quét dọn “chiến trường” như những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6 vừa qua.
3. Bạn không muốn thành phố bạn ở trở thành hỗn loạn như Seattle, Portland.

4. Bạn không muốn các thông tin trung thực bị bưng bít trong lãnh vực y khoa, giáo dục … Bạn muốn con cái các bạn được trở lại trường (dĩ nhiên là môi trường an toàn cả thể xác lẫn tinh thần). Bạn không muốn con cái bạn bị nhồi sọ với thiên kiến đảng phái chính trị láo toét. Bạn không muốn con cái bạn trở thành vật tế thần hay con tin để cho các Hiệp Hội Giáo Viên (Teacher Unions) hay Hiệp Hội Trường Học (school unions) lợi dụng để điều đình yêu sách với chính quyền nhằm phục vụ mưu đồ chính trị hóa ngành giáo dục của họ!
5. Bạn không muốn nền tảng của nước Mỹ “In God We Trust” bị phá hủy vì hàng đàn đàn đống đống con mọt, con mối, chân rết của tài phiệt thiên tả len lỏi vào các ban ngành các cấp chính quyền và lũng đoạn, lừa bịp nhân dân Mỹ.
6. Bạn muốn giá thuốc giảm, chi phí y tế giảm. (Bạn muốn được quyền lựa chọn mua Hydroxychloroquine với $30 thay vì mua Remdesivir $3000!)
7. Bạn muốn bảo tồn giá trị đạo đức và trật tự trong xã hội, theo pháp luật.
8. Bạn muốn ngẩng đầu tự hào về nước Mỹ, chứ không để các nước khác trên thế giới nhục mạ thể diện và coi thường nước Mỹ.
9. Bạn muốn đồng đô la nước Mỹ có giá trị cao, kinh tế nước Mỹ thịnh vượng, thị trường chứng khoán Mỹ tăng và ổn định.
10. Bạn muốn có công ăn việc làm ổn định tại Mỹ.
11. Bạn muốn con cái bạn không phá thai và sống buông thả bừa bãi rồi lại đòi chính phủ trả tiền phá thai.
12. Bạn muốn mọi người di dân tới Mỹ đều phải tuân thủ luật pháp Mỹ và không leo rào trèo tường xâm lấn lãnh thổ Hoa Kỳ một cách bất hợp pháp.
13. Bạn muốn tương lai các con cái bạn được sống trong một xã hội văn minh, tân tiến, hòa bình, ổn định, thiện hảo, dưới một chính quyền vì dân, chứ không phải loại chính quyền khủng bố dân và đem bạo lực ra gây hỗn loạn trên đường phố, không phải loại chính quyền thả tội phạm ra đi giết người hôi của trên đường phố.
14. Bạn muốn quỹ tiền hưu, tiền già của bạn không bị biến mất sau 40, 50 năm bạn làm việc cực nhọc.
15. Bạn muốn các cựu chiến binh Mỹ được chăm sóc xứng đáng với sự hy sinh của họ cho quốc gia. Bạn muốn họ được tự do chọn bất cứ bác sĩ nào, mua thuốc ở bất cứ pharmacy nào, và chữa bệnh ở bất cứ bệnh viện nào.
16. Bạn muốn tiếp tục được chào cờ dưới lá quốc kỳ Mỹ với tất cả sự trân trọng tưởng nhớ tới những người đã vị quốc vong thân. Bạn muốn việc đốt quốc kỳ Mỹ sẽ bị ngăn cấm.
17. Bạn muốn tiếp tục được hát quốc ca Mỹ “over the land of the free and the home of the brave” mà không phải là ba lời ca vớ va vớ vẩn nào khác của những tên hèn nhát.
18. Bạn muốn vẫn có cảnh sát để bảo vệ gia đình bạn.
19. Bạn muốn tiền đóng thuế của bạn không bị phung phí vào túi của những tên tài phiệt thiên tả hay những cơ quan ma giáo như WHO, UN.
20. Bạn muốn có được Tự Do để sống tiến tới Chân Thiện Mỹ, chứ không phải thứ tự do để bắn giết, đâm chém, cướp của người vô tội.
21. Bạn muốn Tàu Cộng phải thay đổi cách làm ăn của họ, bằng không họ sẽ phải trả giá cho các thủ đoạn ma giáo của họ. Bạn muốn cơ hội để cho Việt Nam thoát Trung.
Còn nhiều lý do lắm, nhưng tạm trưng ra 21 điều quan trọng trên. Nếu bạn muốn một trong các điều trên, hãy bỏ phiếu cho Donald Trump và các đảng viên đảng Cộng Hòa vào tháng 11 sắp tới này!!
Vote for Donald Trump and all Republican candidates! Kick ALL Democrats out of ALL seats this season! Make our voice heard!
Phong Lan.
***
*Nếu suốt ngày đau ốm đừng bỏ qua bài viêt này

16 LỜI KHUYÊN VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG

1. Giữa sữa và sữa đậu nành, hãy nên chọn đậu nành.
2. Nếu cảm thấy rằng bạn vẫn có thể ăn thêm một nửa bát cơm nữa thì tốt nhất hãy rời khỏi bàn ăn. Chỉ ăn no khoảng 70 – 80% là tốt nhất.
3. Ngay cả khi cơ thể bạn không cảm thấy đói khát, tốt nhất vẫn duy trì uống tối thiểu 4 ly nước mỗi ngày.
4. Nên bổ sung sữa chua nhiều hơn.
5. Tránh xa thuốc lá và rượu.
6. Thêm thành phần ngũ cốc và rau vào chế độ ăn bình thường hàng ngày.
7. Uống trà xanh tốt hơn hồng trà.
8. Coi trọng bữa sáng sẽ tốt hơn là bữa tối
9. Kiểm soát lượng muối
10. Nên đánh răng sau khi thức dậy, sau đó uống nước.
11. Không ăn (uống) nước canh lẩu khi đã được nấu đi nấu lại quá lâu.
12. Ăn mỗi ngày 2 quả táo vào buổi sáng và buổi tối sẽ giải quyết và cải thiện hiệu quả tình trạng táo bón.
13. Ăn trái cây trước bữa ăn tốt hơn sau bữa ăn.
14. Ăn cá ít nhất một lần một tuần.
15. Tránh xa đồ uống có ga.
16. Bạn có thể uống một ly rượu vang đỏ trước khi đi ngủ.

11 LỜI KHUYÊN VỀ VẬN ĐỘNG
1. Tận hưởng ánh nắng mặt trời trong khoảng thời gian từ 8-9h sáng;
2. Nên chạy bộ chậm và đi bộ nhanh
3. Thói quen ngâm chân nước ấm có hiệu quả tốt trong việc ngăn ngừa chứng bệnh giãn tĩnh mạch.
4. Khi tinh thần mệt mỏi, không cần thiết phải tập thể dục để xoa dịu nó, cách tốt nhất là nghỉ ngơi, điều này quan trọng hơn.
5. Hạn chế tập thể thao ngoài trời vào mùa đông khi thời tiết quá lạnh giá.
6, Di chuyển khoảng cách dưới 10 tầng, không nên đi thang máy.
7. Nên thường xuyên đứng xem TV.
8. Tập thể dục trong nửa giờ mỗi ngày thay vì 3 giờ vào cuối tuần.
9. Nên thường xuyên đi dạo
10. Nằm ngủ trên một chiếc giường có đệm cứng vừa sẽ thuận lợi hơn cho sức khỏe cột sống.
11. Nghỉ ngơi ít nhất nửa giờ sau khi tập thể dục rồi sau đó mới có thể đi tắm.

5 LỜI KHUYÊN VỀ SINH LÝ HỌC
1. Không nên ngồi vắt chéo chân (chân chữ ngũ), để tránh không làm đè nén các dây thần kinh.
2.. Quần áo của năm ngoái nên được lấy ra phơi nắng trước khi tiếp xúc và mặc lại.
3. Không nên suốt ngày ăn lại thức ăn thừa.
4. Không nên gội đầu quá nhiều, 2-3 ngày gội 1 lần là được.
5. Buổi trưa nhất định phải nằm xuống nghỉ ngơi, nhưng không nên quá 40 phút.

5 LỜI KHUYÊN VỀ MỐI QUAN HỆ VỚI BẠN ĐỜI
1. Đừng dành quá nhiều thời gian chăm sóc con cái hay các mối quan hệ bên ngoài khác mà bỏ qua việc quan tâm tới chồng/vợ của bạn.
2. Những cảm xúc dành cho người yêu, cũng cần phải đầu tư bằng cả trái tim chân thành và dụng công.
3. Nếu như có xung đột xảy ra, mỗi người nên tự lùi lại 1 bước.
4. Thỉnh thoảng nên tạo ra một chút ngạc nhiên.
5. Đừng quên ngày sinh nhật của người ấy.

5 LỜI KHUYÊN VỀ HẠNH PHÚC
1. Trân trọng mọi thứ bạn đang có trong hiện tại, ngay bây giờ.
2. Con người ta sống vốn chỉ là những trạng thái cảm xúc, tâm trạng. Hãy nắm lấy hôm nay, xây dựng cho ngày mai và lưu giữ mãi mãi ở những ngày sau..
3. Chỉ cần bạn biết cảm nhận mọi thứ bằng trái tim, thì hạnh phúc sẽ luôn luôn hiện hữu ở bên cạnh bạn.
4. Biết đủ là đủ, tự hài lòng chính là hạnh phúc.
5. Chỉ cần có những người thân đồng hành với mình, có bạn bè quan tâm thân thiết, có một cơ thể khỏe mạnh, chỉ như vậy thôi, bạn đã là người hạnh phúc nhất thế giới.

KỸ THUẬT THỞ GIÚP NGỦ NHANH & SÂU 4-7-8
Phương pháp “hơi thở thư giãn”, bao gồm thở vào trong 4 giây, giữ hơi trong 7 giây và thở ra trong 8 giây.
Kỹ thuật thở này đòi hỏi một người phải tập trung vào việc điều hòa hơi thở, thay vì suy nghĩ và lo lắng khi bạn nằm xuống ngủ vào ban đêm.
Cách thở này có nguồn gốc từ một bài tập thở của Ấn Độ tên pranayama (điều hòa hơi thở), hiện vẫn được áp dụng trong yoga, thiền..
Các bước thực hiện:

Bước 1: Thở ra, hoặc thổi hơi ra hoàn toàn bằng miệng. Lưu ý thở mạnh, tạo thành tiếng. Đầu lưỡi đặt đằng sau răng hàm trên.
Bước 2: Đóng miệng, hít nhẹ nhàng bằng mũi, đếm thầm trong đầu đến 4.
Bước 3: Nín thở, đếm đến 7.
Bước 4: Lại thở mạnh ra thành tiếng, đếm đến 8.
Bước 5: Đóng miệng vào và hít nhẹ nhàng, lặp lại toàn bộ quá trình thêm ba lần nữa.
Nếu kỹ thuật này chưa đủ giúp bạn ngủ nhanh thì nên được kết hợp với các vật dụng hỗ trợ như mặt nạ ngủ, nút tai, nhạc thư giãn, tinh dầu khuếch tán hoa oải hương hoặc tránh uống nước có caffeine trước khi ngủ.

QUY TẮC 3 PHÚT SỐNG KHỎE SUỐT ĐỜI
– Chải răng trong 3 phút
Phương pháp đánh răng “3-3-3”, tức là mỗi ngày nên đánh răng 3 lần, sau bữa ăn 3 phút, mỗi lần đánh 3 phút. Nguyên tắc cơ bản khi đánh răng là chải sạch mọi mặt, từ bên trong lẫn bên ngoài của hàm răng.
– Nằm trên giường 3 phút sau khi tỉnh dậy
25% trường hợp đột quỵ và đột tử xảy ra vào buổi sáng từ 7h đến 8h. Người già bị huyết áp cao hoặc mắc bệnh tim, mỗi khi thức giấc không nên ngồi dậy ngay mà trước tiên hãy nhắm mắt dưỡng tâm 3 phút rồi từ từ vận động từ tứ chi đến phần đầu, cổ.
– Đun nước thêm 3 phút sau khi sôi
Khi đun nước cần làm theo các bước: Trước tiên, để nước trong ấm một lúc rồi mới bắt đầu đun sôi; khi nước sôi mở nắp ấm; cuối cùng đợi nước sôi tầm ba phút và để lửa nhỏ. Cách đun này giúp các chất có hại trong nước bay hơi.
– Ăn đồ nóng và uống lạnh cách nhau 3 phút
Sau khi ăn đồ nóng huyết quản sẽ giãn ra. Nếu uống nước lạnh ngay, huyết quản đột ngột co lại làm huyết áp tăng cao dẫn đến đau đầu, buồn nôn, đau bụng. Vì vậy, tốt nhất không nên ăn đồ nóng và đồ lạnh cùng lúc mà nên cách 3 phút.
– Ngâm trà trong 3 phút
Ngâm trà trong nước 70-80 độ C khoảng 3 phút sau đó thay nước và tiếp tục ngâm trà thêm 3 phút nữa làm tăng hương vị của trà. Bên cạnh đó, caffeine tiết ra giúp người uống tỉnh táo, sảng khoái tinh thần.
– Không tức giận quá 3 phút
Năng lượng tiêu tốn trong 10 phút tức giận tương đương khi chạy 3.000 m. Ngoài ra, các phản ứng sinh lý lúc tức giận kích thích cơ thể sản sinh các chất độc phức tạp hơn bất cứ cảm xúc nào. Do đó, người tức giận khó sống lâu. Muốn tăng sức khỏe cũng như kéo dài tuổi thọ, bạn không nên tức giận quá 3 phút.
***
*“Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tiền quí, cheo, tính tiền khi đi chợ …”(phần 21A)
      * Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn về cách dùng tiền quí, cheo, bài ca dao “đi chợ tính tiền” và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ Nôm/chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập đến. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false . Không có nhiều tài liệu Hán Nôm viết về chủ đề tiền tệ trước đây nên người viết dựa vào một số ca dao và thành ngữ/tục ngữ đã được lưu truyền trong dân gian. Các chữ viết tắt khác là NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), ĐNQATV (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt hay Hán). Bài này đánh số 21A vì là một trong loạt bài liên hệ hay cùng chủ đề, như “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa” là phần 21.
1. Tiền quí và quan tiền
VBL ghi rõ tiền quí là tiền lớn so với tiền gián nhỏ hơn. Một tiền bằng 60 đồng và một quan bằng 10 tiền hay 600 đồng (VBL trang 792-795). Có lẽ nên xem lại chữ quan/quán 貫 với nghĩa cổ là dây xâu tiền (1000 đồng – đơn vị tiền cổ đại ở TQ), hàm ý phải dùng nhiều đồng tiền xâu lại với nhau để có một quan hay 600 đồng ở VN. Chữ quan/quán (thanh mẫu kiến 見 vận mẫu hoàn 桓 bình/khứ thanh, hợp khẩu nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết
古玩切,音瓘 cổ ngoạn thiết, âm quán (TVGT, ĐV, QV, NT, TV, LT, VH, CV, TTTH, TG 字鑑, LTCN 六書正譌, TVi/CTT)
古亂反 cổ loạn phản (ThVn 釋文)
古亂切 cổ loạn thiết (NT, TTTH)
古患反 cổ hoạn phản
古患切 cổ hoạn thiết (TV, LTCN 六書正譌)
烏關切,音彎 ô quan thiết, âm loan (TV, LT)
古丸切,音官 cổ hoàn thiết, âm quan (QV, TV, VH)
TNAV ghi vận bộ 寒山 hàn san (khứ thanh)
TNAV cũng ghi vận bộ 桓歡 hoàn hoan (khứ thanh?)
CV ghi cùng vần/bình thanh 官 冠 觀 涫 莞 菅 棺 倌 貫 (quan quan/quán hoàn gian)
CV cũng ghi cùng vần/bình thanh 彎 關 灣 (loan quan)
CV ghi cùng vần/khứ thanh 慣 貫 串 卝 摜 (quán xuyến/quán)
CV cũng ghi cùng vần/khứ thanh 貫 冠 觀 懽 館 悹 痯 祼 果 盥 灌 瓘 鸛 雚 爟 烜 矔 涫 (quán/quan quán/hoan *quả *huyên)
沽歡切 cổ hoan thiết (CV)
烏還切 ô hoàn thiết (CV)
古患切 cổ hoạn thiết (CV)
古員切 cổ viên thiết (TVi)
音眷 âm quyến (TVi/CTT) …v.v…
Giọng BK bây giờ là guàn so với giọng Quảng Đông gun3 và các giọng Mân Nam 客家话: [海陆丰腔] gon5 kwan5 [客英字典] gwon5 kwan5 [沙头角腔] gan5 [客语拼音字汇] gon4 guon4 [台湾四县腔] gon5 kwan5 [陆丰腔] gon5 [东莞腔] gon5 [梅县腔] gwon5 gwan5 [宝安腔] gon5, tiếng Nhật kan và tiếng Hàn gwan.
Như vậy quan là cách đọc phù hợp với âm và nghĩa HV cổ , cũng như dạng đọc quán của cùng một chữ trong các cách dùng tập quán (~ quen), nhất quán, quán thông, quán triệt, quan âm (VBL ~ quán âm) …v.v… Giá trị 600 đồng của một quan còn bảo lưu qua ca dao như
Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa sói trắng đây sen Tây Hồ
Đấy song đây cũng mây liền
Đấy quan đây cũng chín tiền sáu mươi (trích từ Nam Giao Cổ Kim Lý Hạng Ca Dao Chú Giải/sđd)
(Chú ý/NCT: một quan = 9 tiền + 60 đồng = 9 tiền + 1 tiền = 10 tiền).
Tới đầu TK 20, quan tiền (“là sáu trăm đồng”) vẫn còn được dùng như trong bài “Trăng sáng vườn chè” của thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966) – trích một đoạn liên hệ

Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng
Tôi ra đón tận gốc bàng
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem

Hình vẽ lại một quan tiền – để ý xâu chuỗi trên (hai đầu mối ở ngoài cùng bên phải) được chia thành 10 phần bằng nhau (mỗi phần gồm có 60 đồng hay một tiền). Hình trên trích từ cuốn Dictionnaire franco-tonkinois illustré trang 338 (tác giả PG Vallot, Hà Nội 1898). Vì hình dạng của quan tiền quí như trên nên còn được gọi là quan tiền dài.
Xin anh đi học cho ngoan
Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài
Quan tiền dài em ngắt làm đôi
Nửa thì giấy bút, nửa nuôi mẹ già

Ngoài ghi nhận về quan/tiền và đồng trong VBL trang 792-795, LM de Rhodes còn bàn thêm chi tiết về tình hình tiền tệ của TK 17 ở Đàng Trong và Đàng Ngoài:” … Còn thứ tiền đồng trao đổi giữa người Đàng Ngoài thì có hai loại, loại lớn hay loại bé. Loại lớn thông dụng trong khắp nước và đa số do thương gia Tàu đem tới, xưa kia do người Nhật nữa. Còn loại nhỏ thì chỉ dùng trong kinh thành và trong bốn tỉnh ở chung quanh chứ không dùng ở Đàng Trong. Tất cả loại tiền đồng, lớn hay bé đều nhẵn và tròn, khắc bốn chữ trên mặt và tất cả đều có lỗ ở giữa, để dùng dây xỏ vào như thường lệ. Vì thế mỗi dây buộc chừng sáu trăm hoặc mười lần sáu mươi có đánh dấu để phân biệt mỗi sáu chục đồng. Như vậy rất thuận tiện để quàng vào cánh tay hay khoác lên vai khi đi chợ, không cần dùng túi như chúng ta, chỉ dùng dây mà thôi. Còn về giá của thứ tiền này, thì chưa bao giờ chắc chắn và hay thay đổi , theo quy luật cung cầu trong nước. Do đó mấy năm trước đây một trăm tiền đồng lớn giá bằng năm đồng nhỏ. Nhưng vào một thời gian khác, giá những đồng này thay đổi và cao hơn vì trong nước có ít bạc hơn …”.
VBL còn ghi thu thuế là làm thuế, làm quí – cho thấy loại tiền quí (tiền tốt) rất thông dụng trong các hoạt động chính thống về tiền bạc (thuế má, lương bổng, tiền thưởng …):
VBL trang 782
Quí trong cách dùng tiền quí chỉ giá trị cao, được coi trọng (so với tiền gián kém hơn) hay có thể tương ứng với cách dùng tiền tốt trong bài ca dao nổi tiếng “đi chợ tính tiền” sau đây.
2. Đi chợ tính tiền
2.1 Bài ca dao “đi chợ tính tiền” xuất hiện trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư (Lớp sơ đẳng, 1927) do Nha học chính Đông Pháp xuất bản và các tác giả tên tuổi có gốc từ trường Thông ngôn – Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận:
Một quan tiền tốt mang đi
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra
Thoạt tiên mua ba tiền gà
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu
Trở lại mua sáu đồng cau
Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng
Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi
Ba mươi đồng rượu chàng ơi
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hai bảy mười bốn, kẻo chàng hồ nghi
Hai mươi mốt đồng bột nấu chè
Mười đồng nải chuối chẵn thì một quan.
Dựa vào giá trị của các đơn vị tiền tệ đã ghi trong VBL: 1 quan (q) = 10 tiền (t) = 600 đồng (đ) thì khi kiểm lại tổng số tiền đi chợ trong bài trên ta thấy
3 t (gà) + 1.5 t (gạo nếp) + 1.5 t (miếng thịt) + 1.5 t (gạo tẻ) = 7.5 t = 450 đ
3 đ (trầu) + 6 đ (cau) + 10 đ (rau) + 6 đ (chè tươi/trà) + 30 đ (rượu) + 30 đ (mật) + 20 đ (vàng mã để đốt sau khi cúng) + 14 đ (nước mắm) + 21 đ (bột nấu chè) + 10 đ (nải chuối) = 150 đ
Do đó tổng số chi là 450 đ + 150 đ = 600 đ = 1 quan (“chẵn thì một quan”)
Một số tác giả lại ghi câu gần chót là “Hai mươi đồng bột nấu chè” thay vì “Hai mươi mốt đồng bột nấu chè” cho đúng âm vận, thành ra tổng số chi lại là 599 đ (hay 9 t 59 đ, thiếu 1 đ mới chẵn một quan hay 10 t). Một dị bản khác lại viết câu này là “Hăm mốt đồng bột nấu chè” (hai mươi đọc nhanh thành hăm) thì vừa đúng âm vận và vừa đúng một quan hay 600 đ.
2.2 Một dị bản được GS Maurice Durand chép lại (1946/1956) trong “Nam Giao Cổ Kim Lý Hạng Ca Dao Chú Giải” được thư viện đại học Yale lưu trữ, bản này có khá nhiều thay đổi:
Một quan tiền tốt mang đi
Thiếp mua những gì chàng tính chẳng ra
Thoạt tiên mua ba tiền gà
Tiền rưỡi gạo nếp mấy ba đồng trầu
Ngoảnh lại mua năm đồng cau
Tiền rưỡi chả thịt giá rau mười đồng
Có gì chàng tính chẳng thông
Tiền rưỡi gạo mới mười đồng chè tươi
Ba mươi đồng rượu chàng ơi
Ba mươi đồng mật ba mươi đồng vàng
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hai bẩy mười bốn kẻo chàng hồ nghi
Sáu đồng tôm trứng một khi
Mười hai đồng chả cá chẵn thì một quan

Dựa vào giá trị của các đơn vị tiền tệ đã ghi trong VBL: 1 quan (q) = 10 tiền (t) = 600 đồng (đ) thì khi kiểm lại tổng số tiền đi chợ trong bài trên ta thấy
3 t (gà) + 1.5 t (gạo nếp) + 1.5 t (chả thịt) + 1.5 t (gạo mới) = 7.5 t = 450 đ
3 đ (trầu) + 5 đ (cau) + 10 đ (rau) + 10 đ (chè tươi) + 30 đ (rượu) + 30 đ (mật) + 30 đ (vàng mã) + 14 đ (nước mắm) + 6 đ (tôm trứng) + 12 đ (chả) = 150 đ
Do đó tổng số chi là 450 đ + 150 đ = 600 đ = 1 quan (“chẵn thì một quan”).

Để hiểu hơn giá trị của đồng tiền vào thời nhà Nguyễn, hãy xem qua lương bổng của “quan chức nhà nước” vào giai đoạn này:
– Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.
– Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.
– Lính, thơ lại, phục dịch … lương mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo. So với giá sinh hoạt bình thường như một chỉ đạo năm Cảnh Hưng thứ tư (1741) định giá bò lớn 5 quan, bò nhỏ 3 quan và lợn 2 quan (theo Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương sđd).
Thế mới cảm thông sự cố gắng của người vợ lo cho chồng đi thi để hi vọng có tương lai gia đình tươi sáng hơn, thành ra phải chắt chiu từng quan cho từng tháng như bài ca dao đi chợ tính tiền trên. Bài “đi chợ tính tiền” trên cho thấy sức sáng tạo của người vợ, dù mua gì đi nữa cũng không quá số tiền đã dành dụm cho cuộc sống gia đình.Học giả Trần Trọng Kim từng nhận xét về thực trạng xã hôi thời trước trong Việt Nam Sử Lược (Chương VI: Chế độ và tình thế nước Việt Nam đến cuối đời Tự Đức):”Người trong nước chia ra làm bốn hạng là: sĩ, nông, công, thương … Mỗi phường có thợ cả, thợ phó và thợ, và phường nào có tục lệ của phường ấy. Những người làm nghề thợ thường là người ít học, quanh năm ngày tháng đi làm thuê làm mướn chỉ được đủ ăn mà thô… công nghệ không có, buôn bán không ra gì, trừ việc cày cấy làm ruộng ra thì người nghèo đói không có nghề nghiệp gì mà làm ăn cả, cho nên thuở ấy tuy một tiền được bốn bát gạo, mà vẫn có người chết đói, vì rằng giá gạo thì rẻ, nhưng kiếm được đồng tiền thật là khó. Người đi làm thuê khôn khéo, thì mới được một ngày một tiền, không thì chỉ được 18 hay 30 đồng tiền mà thôi. Sự làm ăn ở chỗ thôn quê đã vất vả mà lại thường bị nhiều sự hà làm, ai có đồng tiền ở trong nhà thì lo sợ đủ mọi đường: nào sợ kẻ gian phi trộm cắp, nào sợ giặc đêm giặc ngày cướp phá, cho nên phải chôn phải giấu cho kín”.
Một nhận xét ở phần này là vần -i trong bài trên (nghi – khi – thì) có dùng âm thì nhưng chữ Nôm dùng lại là thìn/thần HV 辰 thay vì thì HV 時, hiện tượng kị húy tên vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì 阮福時) cho ta thấy bản Nôm này viết sau năm ra lệnh kị húy thứ tư của vua (1861) – tham khảo thêm bài viết “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì” cùng tác giả (NCT).
2.3 Đi chợ tất niên
Một bài ca dao khác cũng cho thấy một cách tính tiền khi đi chợ – trích từ trang này https://cadao.me/the/quan-tien/
Sáng nay đi chợ tất niên
Em đây cầm một quan tiền trong tay
Sắm mua cũng khá đủ đầy
Nào cau, nào thuốc, trái cây, thịt thà
Độc bình mua để cắm hoa
Hột dưa, bánh mứt, rượu trà, giấy bông
Tính hoài mà cũng chẳng thông
Còn ba trăm sáu chục đồng tiền dư
Vội chi, em cứ thư thư
Anh đây sẽ tính chừ chừ cho em
Sáu mươi đồng tính một tiền
Mà ba trăm sáu chục đồng nguyên vẫn còn
Vị chi em mới tiêu xong
Cho hột dưa, bánh mứt, giấy bông, rượu, trà
Trái cây, cau, thuốc, thịt thà
Độc bình cùng với hương hoa là bốn tiền
Ba trăm sáu chục đồng nguyên
Tính ra chính thị sáu tiền còn dư

Dựa vào giá trị của các đơn vị tiền tệ đã ghi trong VBL: 1 quan (q) = 10 tiền (t) = 600 đồng (đ) thì khi kiểm lại tổng số tiền đi chợ trong bài trên ta thấy
Tiền chi ra = 4 t = 4×60 đ = 240 đ (mua hột dưa, bánh mứt, giấy bông, rượu, trà … độc bình, hương hoa)
Tiền mang đi chợ trước khi mua sắm = 10 t (= 1 quan)
Tiền mang về lại = 10 t – 4 t = 6 t = 6×60 đ = 360 đồng (“ba trăm sáu chục đồng tiền dư”).
Thành ra chàng trai đã giải thích rất chính xác tại sao cô nàng mang một quan đi chợ, khi về thì chỉ còn lại ba trăm sáu mươi đồng mà thôi.
2.4 Giai thoại về bà Hồ Xuân Hương
Tương truyền nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822) muốn mượn 5 quan tiền của Chiêu Hổ, nhưng khi nhận được thì chỉ có ba quan tiền, bà liền làm thơ trách Chiêu Hổ rằng
Sao nói rằng năm lại có ba
Trách người quân tử hẹn sai ra
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa…
Và Chiêu Hổ họa lại rằng
Rằng gián là năm, quí có ba
Bởi người thục nữ tính không ra
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa…
Nếu biết được giá trị của đơn vị tiền tệ ghi trong VBL thì ta có thể thông cảm cho Chiêu Hổ vì đã dùng tiền gián (tiền kém, một quan chỉ bằng 360 đồng hay 3 phần 5 tiền quí) thay vì tiền quí (một quan bằng 600 đồng) mà bà Hồ Xuân Hương đã có ngụ ý trong thơ. Năm quan tiền gián thì chỉ bằng ba quan tiền quí vì tỷ số 3 phần 5 này. Tỷ số 3/5 hay 6/10 còn thấy trong cách dùng “chục gián”: theo LM Gustave Hue trong Dictionnaire annamite-chinois-français (1937), gián là 6 phần mười (~ 6/10) như “chục gián” là 6 (chục gián = six/P trang 328 sđd). Một nhận xét ở đây là bài thơ này có thể liên hệ đến một cách dùng tiền đặc biệt vào thời trước hay là một vỉa tiền đã hiện diện từ thời LM de Rhodes (VBL trang 794 hay Béhaine/1772-1773, Taberd/1838, Theurel/1877): một vỉa tiền là một xâu năm quan tiền xấu (tiền gián) bằng ba quan tiền tốt. Năm quan tiền còn gọi là một vác tiền (Đàng Ngoài), cách dùng cục bộ này phù hợp với quê quán và hoạt động (td. dạy học trò ở Hà Nội) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Rất ít tài liệu viết về tập hợp năm quan tiền hay một vác tiền, vỉa tiền sau thời VBL so với bài thơ trách móc trên của bà chúa thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương.
VBL trang 794: một vỉa tiền = 5 lần 600 = 3 ngàn đồng
2.5 Sách Sổ Sang Chép Các Việc: sau đây là bảng tính tiền cách đây hơn 2 thế kỉ của LM Philiphê Bỉnh, cùng thuộc thế hệ nữ sĩ Hồ Xuân Hương, và cũng dựa vào đơn vị quan, tiền và đồng – trích từ “Sách Sổ Sang Chép Các Việc” trang 524/525 do chính tay ông viết:

Không những cho thấy liên hệ quan, tiền và đồng – trang trên còn cho ta hối suất giữa đơn vị tiền Bồ-Đào-Nha pataca và tiền VN vào khoảng đầu TK 19. Giá trị của một quan tiền theo LM Béhaine (sđd, 1772/1773) là bằng 3 phần 4 một đồng pataca, dựa vào hối suất từ trang này ta có thể tính ra một quan tiền là
1 pataca = 1 quan 3 tiền 20 đồng = 13 tiền 20 đồng = 780 đồng 20 đồng = 800 đồng
1 quan = 3/4 x 800 đồng = 600 đồng đúng như trị giá vào thời VBL ở trên.
LM Taberd, tuy chép lại hầu như nguyên vẹn tự vị Annam Latinh của LM Béhaine, đã không ghi hối suất 3/4 đồng pataca này trong tự điển năm 1838, có lẽ đồng pataca không còn dùng nữa (so với Macao vẫn còn dùng pataca) hay hối suất không còn như trước nữa.

3. Tiền cheo
3.1 Cheo chỉ của hay quà biếu/tặng (dona/L – VBL trang 102 – không nhất thiết là tiền mặt /NCT) cho làng xã của mình (chỗ mình ở ~ patriæ/L) khi có lễ cưới, ăn cheo là đám cưới (nuptiæ/L) “Lan Giai nộp cheo cứ lề” CNNAGN 44b, cheo có một dạng chữ Nôm là chiêu HV 招. VBL đã ghi nhận nhiều tục lệ hay hoạt động đặc biệt thời xưa của VN như đánh lửa, tang tóc, ăn cheo, bẻ tiền bẻ đũa, ăn năn (ăn cỏ/rau năn), xem giò (coi bói bằng chân gà), mực tàu (thước dây để kẻ đường thẳng), xuy đồng, đầu rau, nước mlồi (Chiêm Thành)…Có nhiều cách dùng từ cheo như ăn cheo, nộp cheo, đóng cheo, phá cheo, cheo cưới, cheo chạy tang, cheo làng …v.v…
VBL trang 102
Có vẻ như Đàng Trong không tha thiết với tục “cheo làng” nên các LM Béhaine (1772/1773) và Taberd (1838) ghi rằng/đánh đồng cheo là tiền của tặng trong đám cưới (VBL ghi rõ là tặng cho làng xã địa phương khi cưới), để ý dạng chiêu HV 招 của chữ Nôm cheo
Béhaine/Taberd (sđd)

Ca dao cũng thường nhắc nhở tục lệ này như
Nuôi lợn thì phải vớt bèo
Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng
Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa (44b) có nhắc đến nộp cheo
蘭佳納招拠例
Lan giai nộp cheo cứ lề
Gần đây hơn, cụ Huỳnh Tịnh Của (1895 – Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Tome II trang 131 – xem hình chụp lại bên dưới) giải thích chi tiết hơn – để ý tiền cheo làng ghi là ba quan (khác làng – đáng lẽ là chỉ có hai quan bốn tiền) so với một quan tám tiền (ca dao) hay mức giới hạn một quan hai tiền (Đại Nam Thực Lục – xem trang dưới). Rõ ràng là tiền cheo nộp thay đổi tùy địa phương (không gian) và thời nào (thời gian), đây cũng là một tục lệ dễ bị lợi dụng và một gánh nặng không nhỏ khi có dự định cưới hỏi trong xã hội phong kiến, để cho có người từng đặt vấn đề trong ca dao lưu truyền rằng
Bắc thang lên hái ngọn trầu vàng,
Hỏi thăm chị Xã nộp cheo làng mấy quan?

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Tome II trang 131
Xưa kia đám cưới mà không có cheo làng thì cũng như là không được thiên hạ cộng đồng chấp nhận, cũng như không có giấy hôn nhân chính thức vậy (td. giấy giá thú – Certificate of Marriage/NCT). Khi nhận cheo thì quan chức địa phương mới cho giấy chứng nhận hôn thú dù hai người thành hôn có biết chữ hay không. Có khi tiền cheo còn nặng hơn tiền cưới như trong lời trần tình của anh chàng si tình sau đây
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.
Để ý là tiền cheo là 1 quan 8, nhiều hơn tiền cưới 3 tiền (tiền cưới là 1 quan 5 như ghi nhận trong bài ca dao). Gánh nặng của tiền cheo đã khiến ‘nhà nước’ phải ra lệnh giới hạn mức thu tiền cheo, như theo Đại Nam Thực Lục quyển 3 ghi ”Đại phàm lấy vợ lấy chồng, chẳng qua cốt được cặp đôi mà thôi, còn lễ cưới thì nên châm chước trong sáu lễ, lượng tùy nhà có hay không, chứ không được viết khế cố ruộng. Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì người giàu 1 quan 2 tiền, người vừa thì 6 tiền, người nghèo 3 tiền, người làng khác thì gấp đôi. Nếu có kẻ cẩu hợp chửa hoang thì phạt người gian phụ 30 quan và cha anh 3 quan để giữ phong hóa”.
Cũng như tục “bẻ tiền bẻ đũa” đi theo làn sóng Nam Tiến vào các vùng đất mới, Đàng Trong cũng có tục “nộp cheo” này nhưng dân chúng lại không xem trọng như lời kể của LM Lefèbvre “Tôi không biết lệ “cheo làng” ở Đàng Ngoài như thế nào nhưng tôi biết nó không được xem trọng ở Đàng Trong. Từ đầu tiên, “cheo” có nghĩa là thông báo (avertir ou informer); từ thứ hai, “làng” nghĩa là các vị bô lão trong làng. Lệ này là có người nào đó muốn cưới một cô gái trong làng, phải tìm đến các bô lão trong làng ấy với trầu và rượu trong một số làng này hay với một số tiền nào đó trong một số làng khác, và thông báo với họ rằng mình muốn cưới một cô gái nào đó làm vợ. Nếu anh ta không thi hành bổn phận này và cô vợ có thai, thì anh ta sẽ phải nộp tiền phạt vì tội thông dâm”.
3.2 Cheo có khả năng liên hệ đến chiêu HV 招; cũng như tương quan yêu 腰 – eo, phiêu 薸 – bèo, tiêu 宵 – teo … Chiêu có phạm trù nghĩa khá rộng: gọi (bằng tay > vẫy tay gọi ), xưng ra (thông báo – đây là nét nghĩa của cheo/chiêu thân/cho biết hôn nhân giữa hai người), tìm/cầu, kén rể, bài hiệu … Chữ chiêu 招 (thanh mẫu 章 chương vận mẫu 宵 tiêu, bình thanh khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết
止遙切 chỉ diêu thiết (TVGT, ĐV, QV, CV)
諸遙切 chư diêu thiết (NT, TTTH)
之遙切,音昭 chi diêu thiết, âm chiêu (TV, VH, LT, CV, TVi)
朱傜翻 chu dao phiên (BH 佩觿)
時饒切 thì nhiêu thiết (TV, VH, LT)
祁堯切,音翹 kì nhiêu thiết, âm kiều (TV, VH, LT, CV, TVi)
TNAV ghi vận bộ 蕭豪 tiêu hào (dương bình)
CV ghi cùng vần/bình thanh 昭 鉊 招 釗 炤 朝 鼂 (chiêu *chiếu trào)
CV ghi cùng vần/bình thanh 韶 㲈 招 佋 昭 詔 苕 (thiều chiêu *chiếu điều/thiều)
CV ghi cùng vần/bình thanh 橋 招 荍 劭 喬 僑 翹 轎 蟜 蹻 嶠 (kiều chiêu *kiệu *kiểu)
時昭切,音韶 thì chiêu thiết, âm thiều (CV, TVi)
職交切,音昭 chức dao thiết, âm chiêu (CTT) – thời CTT giao đọc gần như jiāo và chiêu đọc gần như zhāo (rất giống nhau)
之笑切,音照 chi tiếu thiết, âm chiếu (KH)
之由切。音周 chi do thiết, âm chu (TVi, KH) …v.v…
Giọng BK bây giờ là zhāo so với giọng Quảng Đông ziu1 và các giọng Mân Nam 客家话: [沙头角腔] zau1 [客语拼音字汇] zau1 zeu1 [宝安腔] zau1 [客英字典] zhau1 cheu1 [陆丰腔] zhau1 [梅县腔] zhau1 [东莞腔] zau1 [海陆丰腔] zhau1 [台湾四县腔] zeu1 潮州话:ziê1/zio1, ziou1/ziao1, giọng Mân Nam/Đài Loan chiau/chio, tiếng Nhật shō và tiếng Hàn cho, gyo. Một âm cổ phục nguyên của chiêu là *tjew đọc gần như cheo tiếng Việt, phản ánh phần nào khuynh hướng bảo lưu âm cổ trong quá trình hình thành tiếng Việt thời VBL: tương tự như mựa (vô), mùi (vị) …v.v…
Tóm lại, các tài liệu của LM de Rhodes khi đọc kỹ sẽ cho ta nhiều chi tiết thú vị: giá trị của một quan so với tiền và đồng vào TK 17 vẫn khá cố định cho tới cuối thời nhà Nguyễn. Dựa vào đó mà các bài ca dao về tiền đi chợ hay tiền cheo, thuế má trước đây có thể được giải mã một cách chính xác hơn. Điều này cũng cho thấy tư duy phân tích (analytical thinking) của tây phương thường chú trọng nhiều đến lượng như tiền bạc/thời gian so với phẩm: VBL dành 4 trang cho mục tiền (trang 792-795) so với số lượng tài liệu Hán/Nôm/chữ quốc ngữ trước đây khá hiếm hoi về cùng đề tài (tài chính). Cách liệt kê của LM Philiphê Bỉnh trong Sách Sổ Sang Chép Các Việc cũng cho thấy ảnh hưởng tây phương (để ý đến từng chi tiết/số lượng) và cũng là những bảng kế toán thu chi đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Hi vọng bài viết này gợi ý cho bạn đọc tìm hiểu sâu xa hơn về tiền VN, phản ánh phần nào thực trạng xã hội và lịch sử.
4. Tài liệu tham khảo chính
1) Đào Duy Anh (1938) “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” NXB Quan Hải tùng thư – tái bản nhiều lần như NXB Nhã Nam (2014) …v.v…
2) Pigneau de Béhaine (1772/1773) – Bá Đa Lộc Bỉ Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM – 1999).
3) Philiphê Bỉnh (1822) “Sách Sổ Sang Chép Các Việc” NXB Viện Đại Học Đà Lạt, 1968.
(1822) “Truyện nước Anam Đàng trong quyển nhị” tài liệu viết tay của chính tác giả còn lưu trữ trong thư viện tòa thánh La Mã.
4) Cristophoro Borri (1631) “Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina (Nhiệm vụ mới của các cha dòng Tên ở Vương quốc Đàng Trong – NCT) bản dịch của tác giả Phạm Văn Bân 4/2011 – xem toàn bài trang này https://thunhan.org/images/file/OGaaTdIb0wgQAKwp/mar-31-11-cristoforo-borri-vietnamese-avril-5-1-.pdf.
5) Nguyễn Minh Chính (2019) “Tục lệ “Cheo làng” trong cưới xin ở Địa phận Đàng Ngoài và Đàng Trong” đăng trên mạng như https://gpquinhon.org/q/on-co-tri-tan/tuc-le-cheo-lang-trong-cuoi-xin-o-dia-phan-dang-ngoai-va-dang-trong-1645.html …v.v…
6) Đỗ Quang Chính (1972) “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659” NXB Đuốc Sáng (Sài Gòn).
7) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” Tome I, II – Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d’Adran (SaiGon).
8) Maurice Durand (1946/1956) “Nam Giao Cổ Kim Lý Hạng Ca Dao Chú Giải” bản chép tay bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ – thư viện đại học Yale (Mỹ).
9) Gustave Hue (1937) “Dictionnaire annamite-chinois-français” Imprimerie Trung-hoà – NXB Khai Trí (Sài Gòn) in lại năm 1971 theo bản gốc năm 1937.
10) Trần Trọng Kim (1919) “Việt Nam Sử Lược” NXB Trung Bắc Tân Văn (Hà Nội) – tái bản nhiều lần.
11) Alexandre de Rhodes (1651) “Phép Giảng Tám Ngày” – Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 – Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên.
(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính – NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991).
“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).
“Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên – Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).
12) Jean Louis Taberd (1838) – tên Việt là cố Từ – “Dictionarium Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale).
13) Nguyễn Cung Thông (2011) “A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?” – có thể xem toàn bài trên các trang http://www.daophatngaynay.com/vn/tap-chi-dao-phat-ngay-nay/Bai-viet-chon-loc/9925-A-Di-Da-Phat-hay-A-Mi-Da-Phat.html …v.v…
(2016) “Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài … thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)” có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyencungthong/ncthong_CachDungXuongThuyenTrenTroiVaRaDoiP1.pdf
(2016) “Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min … Tiếng Việt thời LM de Rhodes” – có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyencungthong/ncthong_CachNoiToiTaTaoToP2.pdf
(2016) “Huyền Tráng, Huyền Tảng hay Huyền Trang? Hiện tượng đồng hóa âm thanh (phần 2)” – có thể tham khảo hai bài viết này trên các trang mạng như http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-qt/con-nguoi-qt/21409-huyen-trang-huyen-tang-hay-huyen-trang-hien-tuong-dong-hoa-am-thanh-phan-2.html
(2015) “Sinh thì là chết?” – có thể tham khảo ba bài viết này (đánh số 11.1 đến 11.3) trên các trang mạng như http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=21612
(2013) “Tản mạn về từ Hán Việt thời-thì” có thể xem toàn bài trang này https://khoahocnet.com/2013/06/15/nguyen-cung-thong-tan-man-ve-tu-han-viet-thoi-thi-phan-6-2/
(2012) “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường tôn giáo – vài vết tích sau thời nhà Nguyên trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.3)” – có thể xem toàn bài trang này http://pgvn.vn/nghien-cuu/201508/Nhung-dot-song-giao-luu-ngon-ngu-Viet-Trung-qua-con-duong-ton-giao-vai-vet-tich-sau-thoi-nha-Nguyen-trong-tu-dien-Viet-Bo-La-phan-1-3-49809/
14) Tạ Chí Đại Trường (2004) “Sử Việt Đọc Vài Quyển” NXB Văn Mới, 2004 (California, Mỹ) – trang 84 đến trang 105 viết về tiền quí và tiền gián theo dòng lịch sử.
15) Pierre-Gabriel Vallot (1898) “Dictionnaire franco-tonkinois illustré” NXB F.H. Schneider (Hà Nội).
***
*Hành Trình Chia sẻ Với Những Mảnh Đời Bất Hạnh, vừa nhận được:

A. Hai bạn Trí & Dung Trần, California 200 nhờ trao lại cho anh em TPB.
B. Anh Nguyễn Lê , Fort Worth Texas : 200 mua gạo cho anh em TPB.
C. Đạo hữu Diệu Đức, Houston Texas : 100 —————————-.
D. Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton Ca : 100 tặng cho cô Vãi Giác Ngọc Phước.

Cảm ơn quý thân hữu, sẽ làm đúng theo lời dặn dò.
Thân kính.
Nguyễn Huy Điền

Quỹ dự trữ:

1.Gia đình Nguyễn Lê 200 đã trao
2.Đạo hữu Diệu Mai,Antioch California: 100 đã trao
3.Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton California: 100
4.Cô Minh Hải, Cerritos California 500

1. TPB Nguyễn Phúc Hồng, số quân: 45/620529 Đại đội 961, Tiểu đoàn 4 Thám báo Địa Phương Quân
Tiểu khu Định Tường. Bị thương năm 1972 tại Mỹ Tây, Cái Bè. Cụt chưn phải vì đạp phải mìn.
Hiện cư ngụ tại 58 ấp Chợ, xã An Thới Đông, Huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho cũ).
Điện thoại: 037 326 6152.

2. TPB Chế Văn Thiệt, số quân: 54/839911 Đại đội 3, Tiểu đoàn 432 Hắc Báo, Chi khu Cái Bè,
Tiểu khu Định Tường. Bị thương cụt chưn trái, vì dẫm phải mìn . Hiện cư ngụ tại tổ 16. Kinh 1000.
Ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Trung. Huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Điện thoại: 098 661 7916.

3. TPB Phạm Văn Năm, sanh năm 1947, số quân: 67/404196, Tiểu đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu,
đơn vị đóng tại Dalat. Đơn vị trưởng Đại Úy Hây. Bị thương năm 1973 tại Đà Lạt, đạp mìn, cụt chưn phải.
Địa chỉ: ấp Tân Phong, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Điện thoại: 0948 631 290

4. TPB Nguyễn Hữu Nên, số quân: 530394 Nghĩa quân, Chi Khu Hữu Lễ, Tiểu khu Kiên Giang,
Bị thương tháng 4/1975 tại quận Hữu Lễ, đạp mìn, cụt chưn phải
Địa chỉ: ấp Tám Xáng 1, Xã Đông Hòa, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Điện thoại: 0387 078 608

Theo lời dặn dò của anh chị Trí & Dung Trần, 100 dollars mố mắt cho người dân nghèo bị đục thủy tinh thể, 100 tặng anh em TPB Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ năm Canh Tý 2020, 100 còn lại cho người nghèo. Sô tiền sau, cô Giác Ngọc Phước đã đem trao lại cho hai gia đình sáng hôm nay, mỗi gia đình 50 đô la.

5. Con của tử sĩ Nguyễn Văn Long, số quân anh Long: 61/181802. Trung Đoàn 46, Sư Đoàn 25 Bộ Binh.
Tử trận năm 1971 tại Campuchia. Cậu Nguyễn Văn Thanh tay chưn bị liệt, nghèo lắm. Người chị đi làm
vất vả mà không đủ để nuôi đứa em trai tàn tật, phụ hồ, nhưng không phải lúc nào cũng có việc, sống
nhờ tình thương của bà con lối xóm, hết sức tội nghiệp.
Hiện cư ngụ tại nhà trọ số 26 phòng # 3 đường Hưng Phú, Quận 8. Trao quà của anh chị Trí & Dung Trần,
chị em ôm nhau khóc. (theo lời kể lại của cô Ngọc Phước)
Ngoài ra cô Giác Ngọc Phước còn mua thêm nhu yếu phẩm như mì gói, dầu ăn, đường, nước tương,
nước mắm, bột ngọt, lạp xưởng, bánh ngọt biếu thêm.

6. TPB Võ Văn Tâm, số quân: 807549, Nghĩa quân đóng tại Kiến Phong KBC 4685. Bị thương năm 1974 tại Kênh 3, Cao Lảnh, Kiến Phong. Trúng đạn xương sống, liệt toàn thân, nằm một chổ, thật nghèo.
Địa chỉ: 308/5 Hàn Hải Nguyên, phường 10, quận 11. Điện thoại người vợ: 0707 062 532.

Các anh em TPB và nhóm nhỏ, chân thành cảm ơn anh chị Trí & Dung Trần đã đồng hành với chúng tôi,
cùng chia xẻ sự sống với những mảnh đời bất hạnh.

Trân trọng
Anh Điền

Kính tặng các anh em TPB nghèo

A. Đạo Hữu Diệu Đức, Houston Texas : 100.đã trao cho 4 anh
B. Anh chị Minh Hồng Đỗ: Houston Texas : 200.đã trao cho 8 anh
C. Anh Nguyễn Lê , Fort Worth Texas : 200.
D. Đạo Hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas: 100.đang đi trao tại Gò Công
C. Đạo Hữu Quảng Minh, Houston Texas: 100.
E. Cô Phương Nga Duran, Houston Texas: 100.
F. Đạo Hữu Diệu Tuyên, Fullerton California: 200.

G. Đạo Hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas mua gạo giúp các anh TPB: 100.

Hành Trình Chia Xẻ Với Những Mảnh Đời Bất Hạnh:

1. Cụ bà Ngô Thị Lầu 100 tuổi, Bellevue Wa 100.đã trao cho 4 anh
2. Ông Bà Uông Bình Chương, Kent Wa 200.đã trao cho 8 anh.
3. Đạo hữu Thường Lạc, Bellevue Wa 100.đã trao cho 4 anh
4. Đạo hữu Diệu Hạnh, Bellevue Wa 100.đã trao cho 4 anh
5. Bà Thanh Tâm, San Diego California 300.đã trao cho 12 anh.
6. Ông Bùi Đức Lạc, San Jose California 100.đã trao cho 4 anh
7. Người Lính Công Binh Vũ Ngọc Nhinh, Anaheim Ca 100..đã trao cho 4 anh
8. Hai cô em Chúc & Xuân, Orange County California 200..đã trao cho 8 anh,
9. Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas 100 đã trao 15 bao gạo
10. Hai cô Diệu Xuân & Diệu Nhàn, Houston Texas 200 đã trao 30 bao gạo
11. Cụ bà Nguyễn Thị Sáng, Houston Texas 150 đã trao cho 6 anh.
12. Cô Phương Nga Duran, Houston Texas 50 đã trao cho 2 anh
12A. Bà Thanh Tâm Nguyễn, San Diego California 100 đã trao cho 4 anh
14. Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton Ca 100 đã trao
15.. Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas 50 đã trao .
16. Hồi hướng công đức cho hương linh đạo hữu Nhật Hoàng 100 đã trao cho 4 anh.
17. Người Lính Trường Bộ Binh Thủ Đức,Orange County Ca. 5.000.000 đã trao cho 10 anh.đợi 1
18. Bạn Thái Truyền Hoàng, Kent Wa 4.500.000 đã trao cho 9 anh
19. Hồi hướng công đức cho hai cụ bà Đào Thị Mào, Đào Thị Ba: 500 Đã trao cho 10 anh
20. Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton Ca 100 đã trao 15 bao gạo
21. Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas 100 đã trao 15 bao gạo
22. Cháu Vy Nguyễn, Houston Texas 100, đã trao
23 Người Lính Trường Bộ Binh Thủ Đức,Orange County Ca:5.000..000 đồng.Đã trao cho 10 anh. đợi 2
24 Hải Quân Lưu Đày Phạm Nguyên Khôi, Santa Clara Ca: 100 đã trao cho 4 anh
25. Anh Nguyễn Minh Thắng, Canada 250 Canada đã trao
26.Hồi hướng công đức cho ông Nguyễn Văn Hương pháp danh Minh Phú & bà Đào Thị Mào:50 đã trao
27.Hồi hướng công đức cho Ông Nguyễn Văn Hương pháp danh Minh Phú & Bà Đào Thị Mào:150 đã trao
28.Hồi hướng công đức cho Giu Se Nguyễn Lê Phước: 150. đã trao cho anh TPB Lê Văn Lảnh, Bến Tre
29.Hồi hướng công đức cho ông Mai Đức Phi pháp danh Nhật Hoàng, Westminster Ca: 100 đã trao cho 4 anh
30. Cô Thủy Lê, Orange County California : 100 đã trao
32. Anh Tân Nguyễn, Virginia 4.000…000 đồng, đã trao cho 4 anh
31. Anh Nguyễn Bình Minh, Sacramento California: 500 đã trao cho 10 anh, tại Đắk Lắk
32. Bạn Lâm Chí Tâm, Renton Wahington : 200 đã trao cho 8 anh
33. Gia đình họ Dương để hồi hướng công đức cho hương linh chú Phạm Hữu Ích 200. đã trao cho 8 anh
34. Hồi Hướng Công Đức cho Hương Linh ông Lê Đình Khai Pháp Danh Tâm Minh Hiển. 200. đã trao cho 8 anh
35. Hải Quân Lưu Đày anh Nguyễn Duy Thành, San Jose California: 100. đã trao cho 4 anh.

36. Anh Nhật Tân, San Diego California: 300 đã trao cho 12 anh tại Buôn Ma Thuột
37. Doan Schulz, Houston Texas 100, đã trao cho 3 anh.
38. Hải Quân Lưu Đày Nguyễn Hùng Sơn, Pittsburg Ca 100 ̣đã trao cho 4 anh.
39. Cô Nga Đào, Boston Massachusetts 100 đã trao cho anh Thanh TQLC
40. Đạo hữu Diệu Đức, Houston Texas 100 ̣đã trao cho 4 anh tại Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận
41. Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas 100 đã trao cho 4 anh.
42. Anh chị Nguyễn Lê Đại & Hoa, Houston Texas 200 đã trao cho 8 anh
43. Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton California 100 đã trao cho 4 anh
44. Cô Phương Nga Duran, Houston Texas 50 đã trao cho 2 anh
45. Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas 100 đã trao cho 4 anh,
46. Shelly Nguyễn Garden Grove, California 100 đã trao cho 4 anh
47. Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hoà, Houston Texas 100 gạo đã trao
48. Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton California 200 gạo đã trao
49. Đạo hữu Diệu Đức, Houston Texas 50 gạo đã trao
50. Anh chị Nguyễn Lê Đại Hoa, Houston Texas 100 gạo đã trao
60. Hai cô Diệu Xuân, Diệu Nhàn, Houston Texas. 200 gạo đã trao
61. Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California 500 đã trao cho 20 anh.
62. Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas 100 Gạo đã trao
63. Đạo Hữu Diệu Tuyên, Fullerton California 100 Gạo đang trao.
64. Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton California 100 đã trao cho Ông Lâm Vinh.

65. Người Lính Già Trần Khánh, San Jose California: 200.

Hơn 5 tấn gạo ngon được trao tận tay các anh em TPB nhờ vào lòng hảo tâm của các anh chị:

Cô Vy Nguyễn, Houston Texas: 300 kilos
Cô Trần Thị Kim Phụng và chú Trần Hữu Đức, Bellevue Wa: 300
Cụ bà Nguyễn Thị Sáng , Houston Texas: 300
Anh Timothy Vũ: 150
Mai sử + Phúc, An, Khang, Saigon VN: 70
Anh chị Nguyễn Lê Đại & Hoa, Houston Texas: 300
Cô Diệu Tuyên, Fullerton California: 300
Cô Thân Mỹ Thùy, Houston Texas 300
Hải Quân Nguyễn Minh Chính, Seattle Wa 300
Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas 300
Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas 150
Hai cô Diệu Xuân & Diệu Nhàn, Houston Texas 300
Cô Diệu Tuyên, Fullerton California: 150
Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hòa, Houston Texas 150
Đạo hữu Minh Thông & Diệu Hoà, Houston Texas 150
Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton California 300
Đạo hữu Diệu Đức, Houston Texas 75
Anh chị Nguyễn Lê Đại Hoa, Houston Texas 150
Hai cô Diệu Xuân, Diệu Nhàn, Houston Texas. 300

Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas 150

Cô Diệu Tuyên, Fullerton California: 150

Làm chưn giả cho anh em TPB:

Bạn Đạo Diệu Tuyên, Fullerton California 350 dollars. Đã làm cho anh Triển cụt hai chưn.
Cô Minh Hải, Cerritos California 2.000 đã làm cho 6 anh cụt dưới gối, 1 anh trên gối..
Cô Thân Mỹ Thùy, Houston Texas 500 đã làm cho hai anh
Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas: 500 đã làm cho hai anh
Cô Thân Mỹ Thùy & anh Nguyễn Lê, Fort Worth Texas: 1.500 Đã làm cho 6 anh
Cô Thân Mỹ Thùy và anh Nguyễn Lê, Fort Worth Texas: 250 đã làm cho anh Nguyễn Văn Lang
Gia Đình họ Dương làm chưn giả xin hồi hướng cho Ông Bà Dương Thái Ban 250.đã làm cho anh Sơn
Gia Đình Nguyễn-Lê làm chưn giả xin hồi hướng cho Giuse Nguyễn Lê Phước 250.đã làm cho ông Thuận

Giúp trẻ em mồ côi, khuyết tật, người già neo đơn, chùa Bửu Thắng, Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk.(đã trao)

Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas: 100
Nguyễn Ngọc Trường Chinh, Fullerton California 100
Bạn Đạo Thân Mỹ Thùy, Houston Texas 100
Bạn đạo Diệu Hòa & Minh Thông, Houston Texas 100
Nguyễn Lê Phước, Houston Texas 100
Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California 100
Cô Chúc & Xuân, Orange County California 100 Mua mền khăn
Cô Mai Trần, Thụy Điển (Sweden) 1.200..000 đồng bạc VN mua mền,khăn
Nguyễn Dũng, Dalat Lâm Đồng 2.000.000 đồng bạc VN mua mền khăn
Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California : 100
Đạo hữu Diệu Tuyên, Fullerton California: 100

Trẻ em mồ côi, khuyết tật, người già neo đơn, khiếm thị chùa Từ Ân, Bà Rịa (đã trao)

Hồi hướng công đức cho hương linh đạo hữu Nhật Hoàng, Westminster Ca: 100
Cậu Nguyễn Công Thiện, Anaheim California: 200
Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas: 100
Cụ Bà Ngô Thị Lầu 99 tuổi, từ mẫu của hiền huynh Trần Vĩnh Tánh
Anh Nguyễn Minh Đạt
Cậu Trần Hữu Đức
Đạo hữu Trúc Danh: 300
Nguyễn Ngọc Trường Chinh, Fullerton California 200
Bạn Đạo Thân Mỹ Thùy, Houston Texas 100
Bạn đạo Diệu Hòa & Minh Thông, Houston Texas 100
Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California 100
Anh chị Chung Qui & Lan, Bothell Wa 200
Cô Hồng Hà, California 100
Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California : 100

Đạo hữu Diệu Tuyên Fullerton California: 100

Giúp các em bị bịnh ung thư đóng tiền Hóa và Xạ trị Chemotherapy & Radiation Therapy, đang được điều trị tại
Bịnh Viện Ung Thư Nguyễn Văn Học. (đã trao)

Thân hữu Ẩn Danh, San Jose California 500
Cụ Bà Ngô Thị Lầu 99 tuổi, từ mẫu của hiền huynh Trần Vĩnh Tánh.
Anh Nguyễn Minh Đạt..
Cậu Trần Hữu Đức.
Đạo hữu Trúc Danh: 400
Nguyễn Ngọc Trường Chinh, Fullerton California 200
Bạn Đạo Thân Mỹ Thùy, Houston Texas 200
Bạn đạo Diệu Hòa & Minh Thông, Houston Texas 100
Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California 100
Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas: 200
Hồi hướng công đức cho ông Mai Đức Phi pháp danh Nhật Hoàng, Westminster Ca 200
Đạo hữu Diệu Mai, Antioch California: 100.
Cụ Bà Ngô Thị Lầu, Bellevue Washington: 1.000

Hành trình đem ánh sáng lại cho người dân nghèo bị đục thủy tinh thể: 2.650 dollars (đã mố mắt)

Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ Năm Canh Tý 2020, Quà Tết Muộn, Cứu Đói Mùa Dịch Coronavirus: 22. 350 US dollars
900 Canadian dollars 26.000.000 đồng bạc VN

Cư Sĩ Giác Ngọc Phước & Thiện Tài Nguyễn Huy Điền tường trình.

*Dien H. Nguyen
***
*TRUYỆN NGẮN HAY CHỌN LỌC:

* GIỚI THIỆU NHÀ VĂN
                               TRÀM CÀ MAU
*Mời nghe 2 Truyện ngắn Khỏi mỏi mắt đọc:
*Xin bấm vào mỗi link để nghe  một truyện ngắn.

Tuoi Gia La Tuoi Sung Suong Nhat-Final _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3        14124

 An Va Song-Final _Tram Ca Mau (Nguyen Ha doc).mp3     19120
***
* Bé Khoai Mì
> Nguyễn Thị Hữu Duyên.

> Căn nhà của cặp vợ chồng người Mỹ trắng đối diện nhà Hà vừa đăng bảng bán được ba tuần thì đã có người mua. Gia đình chủ mới dọn đến mấy hôm rồi, sự có mặt của họ làm xáo trộn đời sống đang an bình của Hà. Vẫn biết quả đất tròn nhưng chẳng lẽ nó nhỏ như vậy sao?
> Hôm qua đi làm về Hà nghe Hợp bảo gia đình mới bên kia chỉ có ba người, một người đàn ông ngồi xe lăn chắc cũng trên sáu mươi tuổi, một phụ nữ còn trẻ, xinh đẹp khoảng ngoài ba mươi và một bé gái độ ba bốn tuổi.
> Hà nhìn chồng nhíu mày:” Vậy họ là cha con ông cháu hay chồng già vợ trẻ, con mọn?”
> “Làm sao biết được, hômnào mình sang thăm rồi sẽ biết.”
> Hợp lắc đầu, vô tư. Đàn ông là thế nhưng đàn bà lại khác, với bản tính tò mò sẵn có của phụ nữ, Hà vừa nấu ăn vừa phóng mắt sang nhà hàng xóm. Qua màn cửa sổ nơi phòng khách Hà loáng thoáng thấy bóng người đàn ông trung niên đang ngồi trên xe lăn chơi đùa với bé gái kháu khỉnh. Cả người đàn ông và cháu bé đều trông rất quen nhưng Hà không thể nhớ nỗi là ai.
> Sáng nay khi ra xe Hà thấy sânnhà bên ấy ướt nước có lẽ họ rửa sân và tưới cây cảnh vì đã mấy tháng nay ông bà già Mỹ ấy về ở với con nên nhà này không ai chăm sóc… Người phụ nữ duy nhất bên ấy trẻ trung cao ráo xinh đẹp đang dọn dẹp ngoài gara không thấy rõ mặt nhưng hình như rất quen, dáng dấp này Hà đã gặp đâu đó và bao giờ mà không thể nào nhớ nỗi. Ai nhỉ? Hà chịu thôi, không tài nào nhớ được, có lẽ người giống người.
> Trong bửa ăn chiều, Hợp bảo ngày mai thứ bảy, là ngày nghĩ, em thu xếp sắm chút quà rồi hai vợ chồng qua chào láng giềng vì “nhứt cận lân nhì cận thân,” anh sẽ đi mua một con búp bê làm quà cho bé gái, Hà đồng ý và phụ họa “Dạ, bà con xa chẳng qua láng giềng gần mà anh” Đồng hồ trên tường chỉ 11 giờ đêm vậy mà Hà cứ chong mắt hết nhìn lên trần nhà lại xoay qua khung cửa sổ suy nghĩ lung tung không thể nào ngủ được. Dáng dấp người đàn ông này gợi nhớ một người, có thể nào là anh ấy sao? Còn đứa bé thì trông giống…à, chị à khẽ trong cổ họng, cái não đã chịu mở ra rồi.
> Hà ngồi phắt dậy, rón rén rời khỏi giường bước nhẹ bước ra bàn rót ly nước lọc uống cạn một hơi, tỉnh người,câu hỏi quay quắt trong đầu: giống bé Khoai Mì quá, chẳng lẽ đó là anh Phúc cha của bé Khoai Mì còn cháu gái là con của Khoai Mì? Chẳng lẽ người con gái mình nhìn chưa rõ mặt ngoài gara là bé Khoai Mì? Đúng rồi, cô ấy có vóc dáng giốnghệt mẹ nên Hà nhìn thấy quen vì mẹ Khoai Mì gần gũi với Hà năm sáu tháng nên Hà nhớ rất rõ.. Còn chồng Khoai Mì đâu sao không thấy? Trước giờ họ ở đâu?
> Bao nhiêu câu hỏi xoay quanh nhà hàng xóm ấy nhảy múa trong trí Hà. Chị chép miệng đứng lên “Đợi ngàymai sẽ rõ,” rồi êm êm trở lại giường, nhè nhẹ nằm xuống bên chồng.
> Đã quyết định thế nhưng sao vẫn không khép mắt được, người mới cảnh xưa bỗng chốc hiện về như muốn chia sẻ cùng bóng đêm nỗi dậy sóng trong tâm hồn chị. Hà làm sao quên được hình ảnh người đàn ông của mối tình đầu đời, nếu thật sự là anh ấy thì sao nhỉ? Vui haybuồn? Đã không thành vợ thành chồng thì biết được tin tức nhau sống gần nhau chắclà sẽ vui.
> Hà nhẩm tính, đã hơn ba mươi năm rồi còn có thể nhận ra nhau không? Lại nhớ đến bài thơ Tình già của Phan Khôi mà bây giờ thấy giống tâm trạng của mình, “Hai mươi bốn năm xưa (còn mình thì khoảng 34 năm rồi, Một đêm vừa gió lại vừa mưa (Mình và anh Phúc chia tay nhau vào đêm hè) Bên ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ. Đôi mái đầu xanh kề nhau than thở…”
> Hà khẽ thở dài nhớ lại thời gian ấy.
> ***
>
> Đó là năm 1976 Hà tốt nghiệp lớp 12 trong thời điểm đổi thay của đất nước, sau đó về nhà nấu cơm chờ đợi kiếm việc làm thích hợp để giúp gia đình vì ba đã đi cải tạo. Đầu năm 1977 Hà ghi danh học khoá sư phạm cấp tốc sáu tháng do Sở giáo dục đào tạo. Khi tốt nghiệp Hà và khoảng hai mươi anh chị, bạn, được “Đảng và nhà nước phân công” về công tác ở vùng kinh tế mới xã Lộc Ninh huyện Dương Minh Châu,tỉnh Tây Ninh.
> Vùng đất này được chính quyền khai phá “cơ bản,” có nghiã là những cây cổ thụ to thì được đội”cưa xẻ” của phòng Kiểm Lâm đốn hạ hết chở đi cưa xẻ, lấy gỗ bán lại cho công trường xây dựng hoặc các cơ quan có nhu cầu xây dựng. Dân từ thành phố lên vùng kinh tế mới sẽ được cấp đất và cho sáu tháng nhu yếu phẩm để sống khai phá tiếp phần đất được phân cho mình ít nhiều tuỳ theo số lượng nhân khẩu; rồi tiếp tục khai phá cho trở thành đất sản xuất. Những phần đất ấy đa số còn nhữngcây con thì dân dùng búa, rìu, hoặc cưa tam giác tự hạ xuống làm củi để nấu nướng hoặc bán cho những chuyến xe đò chở về tỉnh, lấy tiền mua thêm gạo, nước tương, nước mắm, mì gói, khô mắm mà ăn. Đất thì dùng cuốc, xẻng để cày xới mà”tăng gia sản xuất, trồng trọt chăn nuôi” cho đúng đường lối và chính sách Đảng là “nhà nhà có đất, người người có đất,” ai cũng tự làm chủ lấy đất của mình, thật lý tưởng (?)
> Có gia đình thì sẽ có trẻ em,có trẻ em thì phải có trường học thế là từng “Đoàn giáo viên xung phong” được đào tạo cấp tốc, sáu tháng, ba tháng tuỳ theo từng địa phương. Đoàn giáo viên xung phong này sẽ phải đi khai phá đất, mở trường học và kiến học sinh vô để cho có học sinh mà dạy, nếu không thì bị “mất dạy,” màkhi bị mất dạy thì sẽ bị kiểm điểm, bị phê bình, bị ghi vô lý lịch “Không thực hiện tốt công tác được giao.”
> Đoàn của Hà có tám thầy, bảy cô; các Thầy “quan hệ kết nối” với bộ đội và uỷ ban xã để vận động xây cất trường và nhà tập thể cho giáo viên, kế hoạch sau ba tháng phải xong để khai giảng năm học mới vào đầu tháng chín.
> Thế là đoàn giáo viên chia nhau mỗi người một việc, các cô đạp xe đi vòng vòng khắp nhà dân để lấy danh sách trẻ trong độ tuổi đi học mời gọi đến trường. Các thầy ráo riết cất trường,vách đất, lợp tranh, ghế học trò làm bằng những cây rừng có thân tròn nhẵn đường kính cở cổ tay em bé. Khoảng năm hay sáu cây ghép lại thành một băng cho ngồi vừa cái mông đóng lên cái giá gỗ có chân chôn xuống nền, mỗi băng bề ngang khoảng bốn tấc, bề dài khoảng hai mét ngồi được năm em (ngồi riết chai đít hết.) Bàn viết thì cũng làm theo cách ấy, nhưng trên mặt bàn có phủ tấm ván cho bằng phẳng dễ viết, những miếng ván này đưa thẳng từ xưởng cưa về nên còn sần sùi, sợ các em bị dằm sóc vào tay nên các cô phải dùng tiền túi mua giấy nhám về chà cho mòn những cái dằm lớn, dằm nhỏ để an toàn cho các em.
> Nhà tập thể giáo viên cũng cất xong nhưng các cô giáo không dám ở vì thiếu thốn đủ thứ. Không giường mà chỉ ngủ võng, mỗi người được cấp cho cái võng nylon hai lớp, cột vào hai đầu cây cột nhà rồi chui vào giữa nằm, giản đơn tiện lợi khỏi giăng mùng. Muỗi chích nát lưng, khi trời nóng thì trùm một lúc mồ hôi đổ hầm hập, do đó chỉ có các thầy ở còn các cô giáo được gửi trọ nhà dân xung quanh trường.
> Hà và hai chị bạn được giới thiệu ở trọ nhà bác Sáu bán nước giải khát cách trường khoảng năm trăm mét. Bêncạnh nhà bác Sáu là nhà vợ chồng anh chị Phúc dân ở Bùi Môn, gia đình anh có máy dệt vải. Anh cưới chị vào tháng 10 năm 1974, chị về làm vợ, làm dâu chưa được bao lâu thì đến ngày mất nước. Gia đình anh có tên trong danh sách”Tư sản mại bản” bị tịch thu hết máy móc và căn nhà ở Bùi Môn; còn căn nhà và mảnh vườn nhỏ ở Củ Chi gia đình dời về đó, vợ anh phải mua gánh bán bưng để lo cho gia đình. Mỗi sáng chị đón xe lam đi đến chợ Cầu muối ở Sàigòn mua mấy bao khoai lang về rửa từng củ khoai, nấu từng nồi khoai rồi chở từng thúng khoai trên baga xe đạp ra chợ chiều gần nhà bán kiếm từng đồng lời nuôi gia đình. Anh Phúc là sinh viên năm thứ hai trường kỹ thuật Phú Thọ nên biế chút đỉnh về máy móc. Anh che tấm bạt, treo lên hàng rào cái bảng “Bơm vá xe đạp.”
> Năm 1976, trong đợt đổi tiền lần thứ nhất “năm trăm chỉ đổi lấy có một đồng,” ba anh đã uất ức đến đứng tim mà chết.
> Mấy tháng sau mẹ anh vì quâ buồn lo sầu khổ nên cơn đau bao tử bộc phát nặng phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Mỗi ngày được phát cho ba chục viên thuốc xuyên tâm liên uống làm ba lần,thời đó bệnh viện không có thuốc, bệnh gì cũng thấy bác sĩ cho uống cùng thứ thuốc ấy. Tim, gan, phèo phổi gì cũng dùng xuyên tâm liên để trị. Uống được mươi ngày, bệnh càng nặng cho đến một đêm bà lặng lẽ về với ông không một tiếng rên than, chỉ thấy bờ môi bà rướm máu có lẽ bà đã cắn chặt để nén cơn đau đớn.Bác sĩ ghi vào hồ sơ bệnh án “Bệnh nhân chết vì bị ung thư bao tử”.

> Anh Phúc cố nuốt nước mắt ngược vào lòng, bán phần đất bên cạnh nhà lo cho mẹ mồ yên, mả đẹp. Thời gian ấy chị vừa có thai hai tháng, vì hôi cơm tanh cá, không ăn uống được nên chị ốm yếu, xanh xao, gầy rọc hẳn, anh không cho chị bán buôn nữa vì sợ ảnh hưởng cái thai.
> Số tiền bán đất còn lại mòn dần vì anh sửa xe cũng không đủ sống, anh quyết định bán luôn căn nhà”đăng ký” đi kinh tế mới lập nghiệp. Anh thầm tính, với số tiền ấy sẽ đủ nuôi vợ con khoảng ba năm, còn anh thì sẽ sống với số lương thực của nhà nước cấp và cố gắng lao động để trồng trọt chăn nuôi ba năm sau con lớn, vợ khoẻ và cùng anh nuôi gà vịt bán cũng có được cuộc sống ổn định. Thôi thì, phải biết theo thời thế mà sống vả lại anh cũng muốn giống như nhà thơ nào đó “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao.”(*)
> Thời thế này thì đành phải thế, anh chưa từng biết cái khổ cực của lao động tay chân như thế nào, chưa từng cày sâu cuốc bẩm ra sao nên anh tưởng mọi việc sẽ như mình tính. Rõ là”chưa thấy quan tài chưa đổ lệ,” sau này anh tâm sự với Hà như vậy.
> Đa số dân lên vùng Kinh tế mới đều được nhà nước khuyến khích trồng cây mì vì cây khoai mì không bỏ thứ gì, củ mì dùng để ăn, làm bột, xác mì nuôi heo, thân cây và vỏ củ mì cho bò ăn hoặc phơi khô làm củi, lá già cho bò ăn, đọt mì non luộc lên chấm muối dành cho người ăn cũng qua bữa. Anh Phúc làm đổi công với bác Sáu đã trồng được mấy công mì và vẫn còn đang tiếp tục khai phá đất để trồng thêm.
> Một hôm chị bị thai hành mệt và khó thở anh vội vàng đưa chị đi trạm xá khám thai quên khoá cái tủ sắt duy nhất anh mang từ Sàigòn lên nên kẻ gian lẻn vào lấy hết số tiền và vàng của anh chị. Từ đó hai vợ chồng thường xuyên ăn cơm độn khoai mì như bao nhiêu ngườikhác, chỉ thương cho chị đang mang thai gần ngày sinh nở.
> Khi Hà và hai bạn đến ở nhà bác Sáu, bọn Hà và bác Sáu thường chia xẻ lon gạo, tô canh tép hay chén cá kho cho chị, để chị có thêm phần dinh dưỡng nuôi thai nhi trong bụng. Họ thân nhau như ruột thịt, mọi người giúp anh chị sắm quần áo, khăn tã cho bé, nôn nao mong sớm được thấy mặt bé ra đời.
> Ngày 25 tháng 12 năm 1977,giai đoạn khổ nhất từ sau 30-4 -1975, chị chuyển bụng hạ sinh một bé gái đẹp như thiên thần. Vì ăn uống thiếu thốn nên chị kiệt sức nhiều trong hậu sản; hai tháng sau chị bị ngộ độc khoai mì và ra đi vĩnh viễn.
> Chỉ có hai năm mà đội lên đầu ba vành tang trắng, tưởng chừng anh Phúc không còn nước mắt để khóc nữa. Nỗiđau như chai lì vô cảm, không ai thấy anh nhỏ một giọt lệ nào khi đưa tang vợ; anh chỉ rơi nước mắt khi ôm con thơ vào lòng âm thầm ngồi trước bàn thờ mỗi đêm.
> Nhớ vợ, thương con anh cô đơn với thân gà trống nuôi con và gọi bé là: Khoai Mì, hỏi vì sao anh lại gọi bé tên ấy và anh có định làm khai sinh với tên khác cho bé không? Mắt anh ửng đỏ, giọng trầm buồn: “Tôi muốn qua cái tên đó nhắc nhớ cái chết của vợ tôi, vàcũng để cho tôi đừng quên bổn phận mình với đất nước với đồng loại đang trongcảnh đói nghèo, bi đát tột cùng này.”
> Hà và hai người bạn trọ chung nhà bàn với bác Sáu mang bé về chăm sóc cho anh được rảnh tay lo kiếm tiền nuôi con. Anh Phúc lúc đầu còn ngần ngại chưa đồng ý, anh lắc đầu nguầy nguậy, bác Sáu kiên nhẫn giải thích: “Anh à, được các cô giáo thương cháu giúp nhưvậy là quý quá. Anh cần phải lo đi làm thêm kiếm tiền mua sữa cho cháu; sống nơi rừng thiêng nước độc này cháu còn bé dễ bệnh tật, anh phải có chút tiền mà đưa cháu đi bác sĩ hoặc lo thuốc thang khi cần. Vả lại anh là đàn ông đâu biết cách chăm sóc trẻ con như chúng tôi.”
> Nghe có lý và cũng nể bác Sáu nên anh thuận tình, vả lại hai nhà sát cạnh nhau chứ có xa xôi cách trở gì đâu.Từ đó bé Khoai Mì là con chung của mọi người, bé kêu ba cô giáo bằng mẹ khi bắt đầu bi bô tập nói.
> Dường như biết thân phận mình bé Khoai Mì rất dễ: dễ ăn, dễ ngủ, dễ tắm, dễ nuôi, dễ mọi thứ và đặc biệt là rất khoẻ mạnh. Không đủ tiền mua sữa hộp nên bé phải bú “độn” với nước cơm pha đường thùng mà không bị đau bụng hay tiêu chảy. Thật ngán ngẩm cái giai đoạn lầm than ấy, “lao động là vinh quang” nên người lớn ăn cơm độn khoai, bé bú độn nước cơm thay sữa mà không ai dám hé môi than phiền lời nào. Cứ mỗi tối anh nhận Khoai Mì về ngủ với con.
> Một năm qua mau, nhìn bé chập chững bước những bước đầu đời lòng anh cũng nguôi ngoai nỗi thương nhớ vợ hiền.
> Tình cảm thật khó nói, nó đến bất ngờ chỉ với một chữ “yêu”, nó trêu ghẹo, nó gây thờ thẩn, nó tạo nhớ nhung nhưng không thể định nghĩa được nó. Ai đó đã viết “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu, Có nghĩa gì đâu một buổi chiều. Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu” Cũng thể ấy, Hà thương con rồi yêu cha từ lúc nào không biết; anh Phúc cũng đã nhìn Hà bằng ánh mắt âu yếm tự bao giờ không hay.
> Tình cảm giữa hai người nảy sinh qua cây cầu nối là bé Khoai Mì. Hè năm 1979, Phúc theo Hà về thăm gia đình cô và nhân dịp này anh ngỏ lời xin được tổ chức “Lễ tuyên bố” với Hà.
> Nhưng Mẹ không tán thành mối tình này vì cho rằng Hà là con gái mới lớn lại đi lấy một người hơn đến bảy tuổi, đã có một đời vợ, có con riêng cộng thêm cái nghèo. Mẹ giọt vắn giọt dài tỉ tê:
> “Gia đình mình đã quá khổ, mẹ mong con có tấm chồng kha khá cho đở cực tấm thân, lại giúp được cho các em phần nào.”
> Hà nao lòng trước những giọt nước mắt của mẹ, cô như đứng trước ngã ba đường, còn năm đứa em thơ dại và phải lo thăm nuôi ba trong trại cải tạo mỗi quý.
> Tuy mối tình đầu đời có tạo cho Hà nhiều cung bật cảm xúc nhưng cô là người sống với lý trí nhiều hơn. Do đó suy tới nghĩ lui nhiều đêm trằn trọc cô quyết định nếu không thành vợ thành chồng với anh Phúc, Hà nguyện sống độc thân trọn đời để cùng mẹ lo cho giađình.
> Tình yêu mới nẩy mầm như cây non hé nụ, không thể phát triển thêm vì bị tình cảm và bổn phận đối với gia đình đè nặng như cây lớn đè cây bé. Hôm nói cho anh biết mẹ không chấp nhận việc hai người thành thân, Hà gục đầu vào vai anh nức nở: “Nếu không thành vợ anh thì em sẽ ở góa trọn đời. Em quyết định rồi, em ở vậy lo cho mẹ và các em, em hứa sẽ cùng anh lo cho bé Khoai Mì đến lớn nếu anh không bước thêm bước nữa.”
> Từ sau đêm ấy, Hà rũ rượi nhưcon chim bị thương. Mỗi lần ôm Khoai Mì vào lòng, trái tim Hà thắt từng cơn,thầm nhủ “Chờ thời gian sẽ năn nỉ mẹ thêm.” Anh Phúc cũng lảng tránh không dám gặp Hà thường, nỗi buồn và sự cơ cực khiến anh già trước tuổi.
> Bé Khoai Mì càng lớn càng giống mẹ như đúc, gương mặt trắng hồng giữa nắng trưa hè đôi má như hai qủa lựu rám nắng, cặp mắt to, đen bóng tợ hai hạt nhản lúc nào cũng sáng rực lung linh như hai vì sao đang nhấp nháy. Mỗi khi nghe gọi đến tên, bé cười nhoẻn đôi môi đỏ mộng trên chiếc miệng nhỏ xíu trông xinh xắn vô cùng, Hà và mọi người vẫn thương yêu lo lắng cho bé.
> Đầu xuân 1980, anh Phúc xin phép đưa bé về Sàigòn để thăm bà nội của anh. Đêm ấy, sau khi Khoai Mì ngủ, Hà phụ sắp soạn quần áo của bé để anh mang theo, Hà nhìn anh qua ánh đèn dầu leo lét:
> “Anh định đi mấy ngày để em biết mà soạn đồ cho Khoai Mì?”
> Anh kéo Hà ngồi xuống bên cạnh, nâng cằm người yêu lên nhìn sâu vào đáy mắt luôn u buồn của Hà, nén xúc động anh thì thầm vừa đủ Hà nghe:
> “Hà nè, anh ra đi lần này không biết bao giờ trở lại. Bà nội gom góp được số vàng cho anh và chú Út đi vượt biên, mang cả bé Khoai Mì theo. Xin lỗi em, anh phải ra đi chưa biết thếnào, sống chết ra sao, anh xin tạ lỗi vì đã không thể mang em theo được cho đến tận cùng trời cuối đất như lòng hằng ao ước. Nếu anh còn sống, quả đất còn tròn và mình còn có cơ duyên gặp lại nhau mà em vẫn độc thân anh sẽ xin lấy em làmvợ.” Anh nói một lèo như thể sợ bị ai ngăn lại, Hà chới với như vừa bị tung lên khoảng không.
> Chóang váng, mụ mẫm, ánh mắt đã buồn càng thêm u uất nhìn chằm chằm anh khiến anh phải quay đi lãng tránh,ôi ánh mắt này có lẽ sẽ theo anh suốt đời.
> Hà cắn chặt môi, cố nén nỗi đau vào lồng ngực. Giọng anh như gió thoảng bên tai, đứt quãng “Anh xinlỗi,…. cho anh xin lỗi em ngàn lần… Anh thề yêu em đến trọn kiếp này. Hãyquên anh đi em, rồi thời gian…” Anh định nói thời gian sẽ là liều thuốcmầu nhiệm giúp em quên anh, nhưng Hà đã vuột khỏi tay anh bỏ chạy về nhà.
> Vậy đó, tình yêu của Hà và anh Phúc chấm dứt kể từ đêm chia tay ấy.. Thế rồi, một tháng, hai tháng… một năm trôi qua không có tin tức gì cha con Khoai Mì. Để chạy trốn kỷ niệm Hà xin nghỉ dạy, chuyển qua công việc thuyết minh phim cho đội chiếu phim tỉnh đoàn và về ởvới gia đình.
> Vì nhớ bé Khoai Mì và vẫnk hông có ý định lập gia đình nên Hà đã quyết định mang về một bé gái bị bỏ rơi giữa chợ để nuôi làm con. Hà nghĩ rằng sẽ không bao giờ có người đàn ông nào khiến tim Hà rung động như anh Phúc. Ban đêm Hà đi thuyết minh phim, ban ngày mua bán những mặt hàng nhu yếu phẩm kiếm thêm thu nhập. Khi con gái nuôi được năm tuổi Hà gặp Hợp, rồi những buổi hẹn hò, những lần họp bạn bình thơ, những chuyến công tác thuỷ lợi chung làm sâu đậm thêm tình cảm giữa hai người.
> Thấy Hợp có nhiều đức tính giống anh Phúc trái tim Hà lại rung động bởi sợi tơ tình được nối lại với nhịp yêu. Hà kết hôn với Hợp mang theo con gái nuôi về Sàigòn sống với gia đình chồng cho đến khi sinh được con trai mười tháng thì cả gia đình chồng đậu phỏngvấn đi Mỹ theo diện H.O. Hợp cũng có tên trong danh sách xin đi Mỹ trước khi gặp Hà bảy năm.
> Ngày chia tay chồng, Hà quayvào phòng ngồi bó gối nhìn con, đắng lòng nhớ lại lần chia tay với anh Phúc,tuy có khác nhau nhiều nhưng vẫn là hai chữ “chia tay.” Với Phúc là chia tay một mối tình vô vọng, không mong gì có dịp đoàn tụ với nhau. Với chồng là sự chia tay trong hy vọng đoàn tụ nơi một xứ sở mới tốt đẹp hơn; lần chia tay này Hà đã là gái một con trông mòn con mắt với nhiều cám dỗ cho cả hai.
> Thời gian qua nhanh, rồi cũng đến ngày Hà được chồng bảo lãnh qua Mỹ với hai con. Gia đình hạnh phúc, con cái thành nhân, con gái đi dạy học, con trai đang học trường Y, vợ chồng Hà vẫn còn đi làm. Bây giờ không ngờ gặp lại anh Phúc và bé Khoai Mì nơi đây. Tại sao anh phải ngồi xe lăn? Anh bị tai biến chăng? Bao lâu rồi? Lâu nay anh vẫn sống độcthân?
> Cố nhắm mắt nhưng cái đầu lì lợm vẫn mở, Hà nhìn lên đồng hồ, đã ba giờ sáng. Hà cố dỗ giấc ngủ với dự địnhngày mai sẽ làm ổ bánh khoai mì nướng (món bánh anh Phúc thích nhất) mang sang tặng nhà “hàng xóm.”
> ***
> Tám giờ sáng, Hà ra sân tưới cây chị cố ý đưa mắt sang nhà đối diện vì Hà muốn biết chính xác có phải là cha con bé Khoai Mì không? Cửa vẫn đóng im ỉm, chắc họ còn ngủ nhưng không thấy xe đậu ngoài sân, có lẽ cô ấy đậu trong gara. Hà thất vọng vào nhà chuẩn bị cơm trưa và làm bánh như đã định.
> Từ cửa sổ nhà bếp Hà nhìn quan hà đối diện rất rõ, chị vừa nấu nướng vừa để ý chờ bên kia mở cửa. Khoảng chín giờ ba mươi, họ về đến, à, họ đi chợ sớm Hà hồi hộp bước ra sân vườn đứng bên cây ổi sum suê vờ tìm ổi nhưng thực ra ánh mắt lọt qua khe lá chăm chú quan sát những người từ xe xuống.
> Kia rồi, người phụ nữ rời tay lái xuống mở cốp xe lấy chiếc xe lăn đẩy lại phía cửa bên kia, đỡ người đàn ông ngồi vào xe. Hà đưa tay chặn ngực, tim đập thình thịch. Đúng là anh Phúc và Khoai Mì rồi, cô ấy đẹp và giống mẹ quá, giống từ gương mặt đến vóc dáng, cả tướng đi cũng giống. Anh Phúc trông dày dạn hơn nhưng không thể nào Hà nhầm lẫn cái gương mặt chữ điền với hàm râu quai nón ấy. Hà ngồi bệt xuống khoảng đất có bụi hồng nhung um tùm mắt dõi theo cha con họ trong hồi hộp và xúc động. Hà quệt vội hai giọt lệ nóng vừa lăn dài. Khoai Mì tiếp tục đỡ con gái xuống xe,cháu khoảng ba, bốn tuổi giống y Khoai Mì lúc còn nhỏ. Bé chạy đến đòi đẩy xe cho ông, hạnh phúc hiện rõ trên gương mặt của cha con ông cháu họ.
> Hà đứng lên môi hé một nét cười mãn nguyện chị lẩm bẩm: “Thật quả đất vẫn tròn,” chị đi vội vào nhà để chuẩn bị nướng ổ bánh khoai mì. Vừa làm bếp chị vừa nghĩ đến thái độ anhPhúc không biết sẽ ra sao với cuộc hội ngộ bất ngờ này, cả chồng chị nữa? Biết tính chồng nhân hậu và rất cảm thông nên Hà mới dám dành cho anh sự ngạc nhiên này. Chị tủm tỉm một mình “Hợp ơi, anh luôn là người chồng tốt và là ngườiyêu tuyệt vời của em, anh Phúc chỉ là người của dĩ vãng mà thôi, em biết anh hiểu lòng vợ anh mà.”
> Hà ngồi trước gương nhìn kỹ từng nét trên mặt, kẻ lợt lằn chì đen lên mi mắt trông có vẻ buồn hơn, Hà nhớ anh Phúc thường bảo “Đôi mắt em buồn thiu à”; dặm tí phấn hồng, phớt nhẹ lớp son chị săm soi từng nét thắc mắc “Không biết anh Phúc có nhận ra mình không?” Thảo nào Phan Khôi đã viết “…tình cờ đất khách gặp nhau, Đôi mái đầu đều bạc. Nếu không quen lung đố nhìn ra được, con mắt còn có đuôi.” Chị cố che lấp mấy dấu chân chim nơi đuôi mắt bằng chút phấn hoá trang.
> Mười một giờ trưa, đoán chừng gia đình hàng xóm chuẩn bị bữa ăn đã xong vợ chồng Hà sắp xếp qua thăm trước giờ ăn “Để kịp tặng ổ bánh cho họ ăn tráng miệng,” Hà nói.. Chị hồihộp tay xách ổ bánh thơm lừng tay ôm con búp bê còn trong hộp, ông xã nhấn chuông. Thiếu phụ ra mở cửa vừa thấy vợ chồng Hà cô vui vẻ mời vô phòng khách,cô xin lỗi vì mới về chưa ổn định nên chưa qua chào gia đình Hà được. Lát sau cô đẩy xe lăn cho bố ra chào khách, anh Phúc vui vẻ bắt tay Hợp, hai người tự giới thiệu với nhau.
> Nãy giờ Hà cố ý kéo dài thời gian mở quà cho cháu gái và quay lưng về phía anh Phúc để nén xúc động. Khi chị quay lại chào anh mặt đối mặt, anh sửng sốt ấp úng:
> “Xin lỗi… là Hà phảikhông?”
> “Dạ là em đây,”giọng chị lạc đi “Thật không ngờ gặp lại bố con anh ở nơi này, em cứ ngỡ là mơ.”
> Niềm vui vỡ oà, sóng mũi cay cay hai hàng nước mắt ứa ra Hà quay sang chồng.
> “Anh Đây là anh Phúc và con gái là Khoai Mì mà em đã thường kể cho anh nghe, anh nhớ không?”
> Chồng Hà cũng bất ngờ như anhPhúc. Hai người đàn ông nhìn nhau thoáng một nốt lặng, mỗi người một suy nghĩ. Không biết họ nghĩ gì nhưng chắc chắn là họ tìm cách tránh sự khó xử cho cả hai, chắc chắn họ không muốn Hà buồn. Khoai Mì đặt vội khai nước lên bàn sà xuống cạnh Hà, ôm vai chị lắc lắc gìọng gấp rút, vui mừng, phá tan bầu không khí ngỡ ngàng của mọi người:
> “Vậy cô là cô Hà mà khi con còn bé cô đã nuôi con thay mẹ đây sao? Ôi, không ngờ con được gặp cô ở đây, cô đẹp quá, ba con nhắc cô hoài và kể cho con nghe về thời khốn khổ đó. Ngoài cô còn hai cô và bà Sáu cùng nuôi con nữa đúng không cô?”
> Vừa lau nứớc mắt vừa vuốt tóc Khoai Mì, Hà chỉ biết gật đầu chứ không thốt thành lời. Anh Phúc hít một hơi dài rồi thở ra nhè nhẹ, hết nhìn chồng Hà rồi đến hai người phụ nữ lắc đầu:
> “Thôi, hai người đừng làm cho ông trời đổ mưa nghen. Đàn ông chúng tôi sợ nước mắt lắm đó, phải không anh?”
> Anh Phúc khéo léo kéo chồng Hà vào cuộc, thế là câu chuyện tự nhiên hơn sau phút giây ngỡ ngàng của cuộc gặp gỡ bất ngờ này. Nhờ vậy, câu chuyện dần tự nhiên, thoải mái.
> Một bữa cơm trưa thân mật được góp với món cá kho tiêu và canh mùng tơi nấu tôm tươi của Hà mang qua. Hai người đàn ông vừa trò chuyện vừa nhâm nhi vài chai bia, Hà và Khoai Mì cũng cụng ly rượu đỏ mừng ngày hội ngộ.
> Anh Phúc cho biết lần đi vượt biên đó trời thương nên một tuần họ đến đảo, sáu tháng sau bác của anh Phúc ở Úc bảo lãnh ba người qua đoàn tụ. Tại Úc anh đã một thân nuôi Khoai Mì với đồngtiền trợ cấp của chính phủ. Đến khi cháu đủ tuổi đi học thì anh cũng đi làm và vẫn sống cảnh gà trống nuôi con; anh thường kể cho con nghe cuộc sống khốn khổ ở Việt nam và lý do mẹ mất.
> Anh thường nhắc đến những ân nhân đã giúp anh nuôi cháu và mối tình không thành của anh với cô Hà. Anh làm phụ bếp cho nhà hàng ban ngày, buổi tối ở nhà với con để nhắc nhở và giúp con học hành, hai bố con anh là nguồn khích lệ lẫn nhau. Anh Phúc chọn tên Mỹ cho Khoai Mì là Kiera vì mái tóc đen nhánh giống mái tóc của mẹ. Nhưng ở nhà anh vẫn gọi là Khoai Mì. Khoai Mì là học sinh giỏi mỗi năm, cô tốt nghiệp ngành nha khoa theo mong ước của bố. Chồng cô là bác sĩ ở Mỹ qua Úc thực tập để bảo vệ luận án tiến sĩ, trong thời gian đó họ gặp nhau.
> Theo chồng về Mỹ sống ở Ohio là một tiểu bang khá lạnh, khi con gái được hai tuổi thì chồng Hà vĩnh biệt vợ đẹp con thơ trong một tai nạn giao thông. Hôm ấy anh con rể chở cha vợ đi từ Michigan về Ohio, tuyết rơi dầy đặc hạt tuyết to như những mảng bông của trái gòn từ trên cây rơi xuống trắng cả bầu trời và ngập cả đường, Đến một cua quẹo gắt anh đã giảm tốc độ nhưng vì không nhìn thấy rõ lằn ranh anh không định vị được nên tay lái trượt qua len đường bên kia. Xe ngược chiều cũng không thắng kịp và tay lái bị trượt theo tuyết, tai nạn xảy ra cả hai tài xế đều tử vong. AnhPhúc bị chấn thương hai chân bất tỉnh, sau tai nạn hai chân anh liệt hẳn không còn cử động được nữa từ đó anh Phúc phải di chuyển trên xe lăn.
> Anh lắc đầu hướng ánh mắt thương cảm về con và cháu: “Số phận nghiệt ngã cứ đuổi theo Khoai Mì, thật tội cho nó, mới chừng ấy tuổi đầu đã hai lần chịu tang; mới hai tháng đã mang tang mẹ, hơn nửa đời người lại đội tang chồng. Nếu không có nghị lực chắc cháu đã ngã qụy chứ không đứng nổi đến ngày nay để lo cho bố, cho con”
> Hà cố nuốt nhưng cổ họng nghẹn lại không trôi được miếng cơm. Anh Phúc cho biết quyết định chuyển về Cali sống là theo ý của Khoai Mì, cô bảo Nam Cali thời tiết ôn hoà hai chân bố sẽ không đau nhức thường xuyên như ở xứ lạnh. Năm trước cô nộp đơn xin việc ở các trung tâm nha khoa đến năm nay mới có chỗ chấp nhận. Xin được việc làm ở quận Cam, Khoai Mì bèn tìm mua nhà và quyết định di chuyển ngay. Không ngờ thượng đế nhân từ còn cho anh và Khoai Mì có được niềm vui là tìm được căn nhà vừa ý mà lại được gặp Hà sau mấy mươi năm bặt vô âm tín.
> Anh nhìn Hợp ánh mắt xa xăm giọng bức xúc: “Cũng may là đi được đến bến bờ tự do chứ nếu còn kẹt lại ởViệt Nam ngày nay không biết bố con tôi ra sao? Có thể cháu Khoai Mì đang mua gánh bán bưng hay bán vé số dạo hoặc đi làm mướn làm thuê…”
> Hợp đồng tình:
> “Anh nói đúng lắm, biết bao nhiêu đứa trẻ chứ không riêng gì cháu khi qua được đất nước tự do trở thành nhân tài. Nếu các cháu ở lại Việt nam chắc chắn không được đi học tới nơi tới chốn thì nói gì đến chuyện phát triển tài năng cho được.”
> Anh Phúc mời mọi người nâng ly chúc mừng cho buổi hội ngộ như huyền thoại này:
> “Biết Hà có mái ấm giađình, có người chồng tốt và con cái đều thành nhân lòng tôi vô cùng ấm áp và mừng vui. Từ nay tâm hồn tôi sẽ nhẹ nhàng và không còn tiếc nuối gì nữa. Ít nhiều gì Hà cũng là ân nhân của bố con tôi nên xin phép anh Hợp cho Khoai Mìđược cơ hội đền ơn đáp nghiã mẹ nuôi của cháu.”
> Ông xã Hà mở lời:
> “Từ nay sống cạnh nhau đây, anh cho phép chúng tôi xem gia đình anh như người nhà, anh lớn tuổi hơn nên làm anh của chúng tôi, còn cháu (anh quay sang Khoai Mì) hãy xem cô chú như ba mẹ cháu vậy, cháu cứ gọi cô Hà là mẹ nếu thích còn chú là ba, vì suýt chút nữa cô Hà cũng đã là mẹ cháu rồi, đúng không?”
> Hợp cười giòn sau câu hỏi khiến mọi người bật cười theo. Khoai Mì nhìn bố dò ý, anh Phúc khoát tay với con:
> “Còn không cám ơn ba mẹ đi, từ nay có thêm người thương yêu con lo cho cháu ngoại và con gái bố là bố mừng rồi đấy.”
> Hà mở vòng tay, Khoai Mì nhào vào hôn chị chùn chụt giọng nhẹ như gió thoảng: “Từ nay con có mẹ rồi. Mẹ ơi…”
> Tiếng gọi thiêng liêng ấy khiến mọi người đều xúc động. Hà đi cắt ổ bánh khoai mì bưng đến bàn, anh Phúc chớp chớp mắt cảm động vì không ngờ Hà còn nhớ đến món bánh thuở cơ cực ấy, anh nhìn sang Khoai Mì, nhìn Hà rồi lại nhìn ổ bánh, cả ba như nhập nhoè trong mắt anh. Bưng điã bánh mời Hợp, Khoai Mì vòng tay như trẻ con:
> “Dạ, con xin cám ơn ba Hợp cho con được làm con của ba mẹ. Xin mời ba dùng bánh.” Cô cũng mời anh Phúc và Hà cùng thưởng thức món bánh nướng mang tên cô do tay mẹ Hà làm. Hà vuốt tóc Khoai Mì, lòng bồi hồi, lặng yên để lắng nghe con tim đang thổn thức với niềm hạnh phúc bất ngờ vừa đến, chị vấn lòng: “Tôi đang mơ hay tỉnhđây?”
**
* MẸ CHỒNG
Tác giả : Hồng Nhung Ngày đăng: 2020-08-14
– Tao đi từ Nam ra Bắc tao không thấy có đứa con dâu nào như mày.
– Con đi khắp cái gầm trời này cũng không có người mẹ chồng nào như mẹ.
– Tao thì làm sao?
– Thế con thì làm sao?
– Mày chả làm sao, mày là nhất. Đi ra ruộng thì đi luôn đi. Ban ngày thì mải đi chơi, tối tắt mặt trời đổ lúa vào xay. Làm việc không khoa học chỉ có nghèo suốt đời con ạ.
– Con nghèo thì mẹ cũng nghèo theo, nên đừng có mà trù ẻo.
Ngày nào bọn tôi cũng được nghe – dân ca và nhạc cổ truyền- miễn phí từ hai mẹ con nhà bà cụ Thao.
Cụ năm nay tám mươi tuổi rồi, con dâu cụ thì hơn bốn mươi tuổi. Nghe đâu bảo ngày xưa cụ sức yếu, sảy mấy lần mới sinh được chú Tự. Vì là con cầu tự nên bà chiều chú lắm, từ nhỏ tới lớn muốn gì được nấy. Ngày chú Tự cưới cô Tin bà cụ cũng chẳng thích lắm, vì cô Tin học hết cấp một là nghỉ rồi. Nhưng chú Tự kiên quyết nên cụ phải cắn răng tổ chức lễ cưới. Cưới xong cô Tin sinh liền tù tì ba đứa con gái, cụ cứ bĩu môi mãi là đồ không biết đẻ.
Cụ bảo cô Tin, liệu mà sinh thêm thằng cu nối dõi, kẻo lúc bố chúng nó đi gái lại ngồi mà khóc. Con gái là con người ta. Cô Tin nghe thế bực mình bảo,
– Con gái là con người ta, con dâu đích thực mẹ cha mua về, thế sao mẹ không đối xử tốt với con đi, con nào chả là con, con trai mẹ có ở nhà chăm mẹ đâu, toàn thân con hầu hạ.
Bà cụ hừ một cái rõ dài rồi quay mặt vào tường, chẳng nói gì thêm.
Mỗi ngày đều nghe thấy mẹ chồng con dâu nhà cụ kẻ xướng người tùy, hay hơn cả xem kịch nói trên VTV1 mỗi tối thứ bảy. Hôm nào không thấy hai mẹ con cụ cãi nhau, là thấy xóm hiu hắt hẳn.
Có một sớm, tôi vừa cho kem đánh răng vào miệng, thấy bà cụ nhà bên hậm hực gào toáng lên:
– Tay tao bưng trầu, đầu tao đội lễ, tao rước mày về cái nhà này, chứ không phải con giun cái kiến nó tha mày về mà mày không biết lớn biết bé, đi không thưa về không gửi.
– Mẹ ngủ ngáy o o, đấm bảy ngày chả hự, con thưa gửi kiểu gì? Mà con đi bừa chứ đi đâu mà thưa với gửi, mẹ bớt bớt cái tính cổ hủ đi.
– A, tao cổ hủ, mày chê bà già này cổ hủ, để tao gọi chồng mày về xem nó có cho mày một trận không, mày dám chê mẹ nó à?!
– Mẹ đi mà gọi, con chả ngán. Mẹ chửi xong rồi thì ra ăn bánh quấn đi không nguội.
– Tao không ăn.
– Không ăn tận trưa mới có cơm đấy, lát bọn trẻ về nó ăn hết lại chả kêu. Bà Tư bún làm riêng cho mẹ đấy.
– Hừ, cái con mụ Tư bún chỉ khéo mồm, bán thì đắt, mày chỉ khéo vẽ vời tốn tiền.
– Thế mẹ có ăn không?
– Chả ăn thì sao?
– …
Tôi cười nuốt cả kem đánh răng.
Cả làng tôi đều biết bà cụ Thao là địa chủ hết thời, ai cũng sợ cụ. Ngày cụ còn trẻ còn khỏe, đanh đá nhất làng, chẳng ai dám động đến cụ. Thế mà không hiểu sao cô Tin chịu được những gần hai mươi năm. Nghe đâu ngày cô Tin mới về làm dâu, làm bà cụ tăng huyết áp mấy lần, cụ còn dọa thắt cổ tự tử. Thế là cô cắt ngay cái màn tuyn, nối thành cái dây dài treo thòng lòng từ nóc nhà xuống, rồi bảo cụ leo lên. Cụ tức quá chửi ầm lên, nói cô muốn giết cụ. Cô phì cười bảo là cụ tự muốn chết, nếu không muốn chết thì xuống bếp ăn cháo cá đi không nguội nó tanh. Cụ chọn cháo cá. Vừa ăn vừa hừ, hừ, hừ.
Chú Tự đi làm xây dựng mãi dưới Quảng Ninh, một năm chẳng về được mấy lần. Bà cụ tuổi già hay ốm, hay nũng, hay giận. Chỉ có cô Tin mới trị được cụ. Mỗi lần hàng xóm nói cô khổ, vớ được mẹ chồng ghê gớm, cô cười hi ha,
– Người già với trẻ con là một, dỗ dành một tí là ngoan như bống ấy mà.
Ban đầu mọi người nghĩ cô khôn khéo ý tứ, cho là cô ba phải, sau rồi phát hiện ra cô chẳng bao giờ đi nói xấu mẹ chồng ở bất cứ đâu. Thành ra mỗi ngày thấy mẹ con cô – hát tuồng- , ai cũng dỏng tai lên nghe rồi đem đi buôn bán trong những vụ dưa lê ngoài ruộng. Mà bà cụ gắt gỏng là thế, nhưng đi đâu cũng một câu con Tin nhà tôi, hai câu con Tin nhà tôi. Sau hàng xóm cũng quen, lại nghĩ chắc cô Tin và bà cụ kiếp trước là nghiệt duyên, kiếp này phải trả nợ, cả đời dính vào nhau.
Hàng ngày hai người tranh chấp toàn chuyện lông gà vỏ tỏi. Từ việc hát ru con tới việc tắm cho lợn, mà cuối cùng toàn bà cụ thua. Vừa ăn vừa thua, vừa phơi lưng cho con dâu bóp thuốc vừa lầm bầm chửi biết thế ngày xưa tao ép thằng Tự lấy đứa nhiều chữ hơn. Học nhiều nó mới ngoan. Cô Tin cười ha hả,
– Làm gì có ai nhiều chữ bằng mẹ, văn thơ mẹ cả cái chuồng trâu nhà mình chứa không hết.
– Cha tiên sư bố mày…
Một hôm, cô Tin cuống lên đi tìm bà cụ. Chả là không biết bà cụ nghe ai nói chú Tự có bồ. Thế là cụ bỏ ăn, nằm liệt hai ngày. Cô Tin gọi chú Tự về gấp, chú bảo bận chưa về được. Sáng hôm sau cô đi chợ, về thì không thấy cụ đâu. Cô tìm nhà trên xóm dưới, rồi hoảng hốt chạy ra ao, ra giếng, không thấy bóng người. Cô cuống lên gọi điện thoại,
– Mẹ anh chết rồi anh có về không hả? Không thấy mẹ anh đâu, anh về ngay còn kịp tìm xác.
Chú Tự về nhanh như một cơn gió, bốn giờ chiều đã có mặt ở nhà, hàng xóm hỗ trợ tìm cụ từ trưa không nghỉ. Thấy chú về cô khóc toáng lên, đánh chú thùm thụp, miệng liên tục
– Sao giờ anh mới về, không thấy mẹ đâu cả, không thấy mẹ đâu cả. Thiu hết cả bánh giò rồi.
Bổng có tiếng nói :
– Mới có từ trưa thiu thế nào được?
Cả nhà: ” … “
Không biết cụ chui từ đâu ra, cả người lấm lem. Cô Tin nín bặt cả khóc. Cả xóm trắng mắt. Ai nấy đều thở phào. Chưa kịp phào xong thì cụ ngã lăn quay ra đất, mọi người lại tán loạn đưa cụ đi trạm xá cấp cứu. Bác sĩ bảo cụ bị tụt huyết áp do quá đói. Rồi bác sĩ nguýt cô Tin một cái rõ dài,
– Đúng là một mẹ nuôi được mười con chứ mười con không nuôi nổi một mẹ.
Cô Tin: ” … “
Truyền được nửa chai đường thì bà cụ tỉnh lại, thấy con dâu khóc thút thít cụ xì mặt ra:
– Mày định khóc bây giờ cho đủ để lúc tao chết mày không khóc nữa phải không?
Cô Tin: ” … “
– Bánh giò có mang theo không?
– …
– Biết ngay mà, chỉ có giả bộ thảo hiền là giỏi.
– …
Có mẹ chồng giỏi ăn nói nó khổ thế đấy.
Cô hỏi cụ,
– Mẹ trốn ở đâu cả ngày mà tìm mãi không thấy.
Bà cụ hừ một cái,
– Trốn trên cái hố mối bãi chè sau nhà chứ đâu. Mày cứ động tí là đầu óc lú lẫn, bã đậu.
– …
Trưa hôm sau bà cụ được về nhà. Sau khi ăn xong bát cháo gà tần thuốc bắc, cụ gõ cái gậy xuống đất, bắt chú Tự quỳ xuống trước bàn thờ ông cụ Thao. Chưa kịp nói gì cụ đã phang túi bụi.
– Con chó có đuôi, con người có ý thức. Vợ anh ở nhà bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, để anh ra ngoài ăn chơi đàng điếm hả?
– Con không có.
– Tôi quản anh có hay không hả? Tôi là tôi biết hết, anh chê tôi già mắt kém anh định qua mặt tôi phỏng? Đường đường là thằng đàn ông, văn chương chữ nghĩa bề bề, thần l`… nó ám thì mê mặc lòng. Tôi nói anh biết, nhà tôi chỉ có mình con Tin được có tên trong gia phả. Mấy con yêu tinh quạ cái kia đừng hòng bước chân vào. Anh khôn hồn thì biết đường mà về nhà hối lỗi với vợ con. Tôi chỉ có ba đứa cháu, tôi không cần cháu trai, anh thích đi kiếm con hoang con ở thì cút khỏi cái nhà này. Hừ, hừ, hừ.
Sợ bà cụ tăng huyết áp, cô Tin đuổi chú ra nhà ngoài, tối đó cô ngủ cùng bà. Sáng hôm sau cô bảo chú:
– Mẹ bảo tay mẹ bưng trầu đầu mẹ đội lễ mẹ rước tôi về, nên nhà này của tôi. Anh cứ chọn đi, bà cụ chả sống được mấy nữa, bà chỉ có mình anh, anh sống sao thì sống.
Nửa tháng sau người ta thấy chú Tự xách ba lô về, sau đó đi theo mấy ông thợ cả ở làng nhận mấy công trình nhà văn hoa thôn bản.
Còn bà cụ và cô Tin ở nhà vẫn cất bài ca đi cùng năm tháng.
– Thế gian được vợ hỏng chồng. Nhà mày thì hỏng cả ông lẫn bà.
– Không phải đều là con mẹ à?
– Tao mà đẻ ra cái loại chúng bay à?
– Thế chồng con chui ra từ cái lỗ nẻ nào?
– Cái loại rạch giời rơi xuống chứ sao.
– Rồi rồi, con thần con thánh, sét đánh không chết. Mẹ ngồi im con kỳ lưng, trơn là ngã gẫy cổ bây giờ.
– Hừ. Hừ. Hừ.
Hồng Nhung
*
* Chuyện người đàn bà khi cuộc chiến tànLê Hải Lăng

Chị Thương dồn ba đứa con vào một góc lều xong. Chị cầm một cái cán cuốc chống cái bạt cho căng. Nước mưa ào ào đổ hoà cùng tiếng gió rừng hú ghê rợn. Chị chống phía trái thì sập bên phải. Rút cục không chống nổi với mưa gió cái lều tạm dựng bị sụp hoàn toàn. Mấy đứa con áo quần tóc tai ướt đẩm như chuột lột. Một đứa con thứ hai tên cu Tèo lấy tay dụi nước mưa trên trán rồi khóc lóc hỏi mẹ:
– Mẹ ơi ! Tại sao mẹ lại bỏ hết nhà cửa mà tự nhiên tới ở chỗ này ?
Chưa kịp cách nghĩa cho con nghe. Thằng anh của Tèo là cu Tới đang cởi cái áo ra vắt nước cho khô phân trần với em:
– Không phải tại mẹ tự nhiên ra cái khu kinh tế mới này đâu. “Giải phóng” tịch thu nhà mình rồi đuổi đi đó em. Mai mốt lớn một xíu nữa rồi hiểu hoàn cảnh đau buồn của mẹ.

– Thế có phải mấy người mang súng cùng nhóm người mang khăn quàng đỏ vứt bỏ sách vở bàn học của em lại một chỗ rồi đốt hết không vậy ?
– ừa. Tao nhớ không lầm là trước ngày lấy nhà rồi đưa mình lên đây tao thấy lố nhố người lạ mặt cộng mấy ông trên phường với lại đội quân ô hợp lung tung phèng tới giật cướp tống khứ tất cả mẹ con nhà mình nữa đó.

Hai anh em đang trao đổi chuyện qua rồi mà cơ hồ như còn in đậm mãi trong đầu. Cơn gió rừng tạt mạnh làm thằng cu út tên Cường run cầm cập. Nó mở cái rương đựng áo quần tìm một bộ đồ. Một vài con chuột lù lù chạy ra. Nó hoảng hốt la ơi ới. Chị Thương cũng vừa trở về khi đi tìm một người đàn ông ở dưới chân núi để nhờ dựng lại các cây cột. Thấy chuột mừng quá. Mẹ con chị Thương không ai bảo ai tự động cầm cây chạy đuổi bắt. Chuột lủi mau quá thế là lại được tiếp tục ăn bo bo gạo thúi với rau rừng.

Đêm xuống chậm. Bầu trời biến dần những đám mây đen. Cơn mưa tạm dứt. Người đàn ông giúp dựng lại cái lều xong rồi nhìn chằm chặp vào mặt chị Thương đoạn nói bâng quơ:

– Hết mưa cuối chân trời có ráng mây hồng, đỏ, tím đẹp thật. Cảnh đẹp người đẹp.

Chị Thương không nhịn được cười:
– Cảnh chết chóc thế này mà anh lại mơ mộng quá đổi.

– Tôi cũng muốn mớm một chút khôi hài với chị thôi mà. À mà quên hỏi chị anh đâu rồi ?

Chị Thương bậm môi nghiêm nét mặt nhìn xa xăm rồi trả lời nhát gừng:
– Chồng tôi thấy còn sức lực nên xung phong đi làm thủy lợi đào kinh cũng ở trong tỉnh này thôi.

– Chị có dấu diếm gì tôi không đấy. Phần đông những gia đình đi kinh tế mới ra đây là vợ con bọn “nguỵ quân nguỵ quyền”. Chúng nó được cách mạng khoan hồng cho đi học tập cải tạo cả rồi.

Chị Thương đổi sắc mặt:
– Xin lỗi anh là ai mà chạy theo a dua chửi những người chiến sĩ bảo vệ miền đất tự do dân chủ là “ngụy”.

– Tôi nói cô biết cô lầm rồi. Tôi là cán bộ trong ban cai quản cái khu kinh tế mới này. Bây giờ cô còn mở miệng phản động.

– Tôi tưởng anh là người cùng hoàn cảnh bị đày ra chốn này như tôi. Thế thì tôi không dám tiếp chuyện với quan quyền đâu.

Người cán bộ mở lời mật ngọt:
– Thôi mà người đẹp. Cho mình đuà vui một tí xem nào.

– Xin lỗi. Anh đừng có trở giọng sàm sở. Yêu cầu anh có thái độ lịch sự tối thiểu đối với tôi.

– Được rồi ở đó mà hỗn hào. Nhớ mặt nghe sẽ biết tay mà.

Chị Thương biủ môi trương mắt nhìn người cán bộ bước chân đi.

Cả bốn mẹ con như nằm ngủ dưới trời. Chị Thương nhớ lại từng khúc phim thời buổi hai vợ chồng mới quen nhau tham gia sinh hoạt hướng đạo đi cắm trại tại vùng biển. Hồi đó vui chi lạ. Càng nghĩ chuyện cũ chị thiếp đi lúc nào không hay.

Ngoài kia tiếng gió xào xạc, tiếng côn trùng như khóc than ai oán trong cái đêm tỉnh mịch của rừng sâu.
* * *
Trong trại tù gọi là cải tạo. Anh Việt chồng chị Thương đếm trên ngón tay đi trình diện học tập 10 ngày mà thắm thoắt bao nhiêu năm cùng tháng tận đi qua vẫn nằm trong rọ củi sắt giữa núi đồi. Cứ mỗi lần tới ngày lễ thì anh nghe phong phanh hy vọng được thả. Hôm nay cả trại được ăn đặc biệt hơn mọi khi.

Quản giáo ra lệnh là trong số 10 người chia một thau cơm trắng. Việt nằm trong cái tổ làm phận sự chia cơm. Chia cho 8 người xong đến lượt phần người thứ 9 bị người bạn nào đó vô tình đụng vào làm rớt xuống đất cát. Việt lấy phần của mình trao cho bạn đồng thời lấy chổi quét đi để tránh tình trạng người khác tiếc của bốc lên ăn vào làm đau bao tử mà chết. Chờ mọi người ăn xong Việt chuồn xuống nhà bếp đi lục lọi cơm cháy mà trước đó Việt biết có một số trại viên nấu bếp thường để dành phơi khô cho những lúc đi lao động thiếu ăn.

Việt giở cái chảo này lên, mở cái nắp soong kia ra tìm được miếng cơm cháy. Hếch lỗ mũi lên vì sung sướng. Quay mặt lui bị một bàn tay ông quản giáo chận trước mặt:
– À ra mầy. Có người báo cáo là mầy đổ cơm tao chưa trị tội mầy phản loạn nội quy. Giờ mầy lại vô nhà bếp định ăn cắp phá hoại gì nữa đây ?

Nói vừa dứt câu. Quản giáo xuống lệnh đánh kẻng cho toàn trại họp để phê bình kiểm thảo.

Năm người mang đòn gánh và cái mền ở ngoài khuôn viên trại nơi cái lều phong vương(bệnh sắp chết đưa vào đây) mới bước vào. Quản giáo quát tháo doạ nạt:
– Tụi bây khiêng chôn có 3 người mà đi cả buổi. Thôi ! khoan đem cất dụng cụ vào kho để đó để chôn cái thằng này nữa.

Tất cả trại viên sững sờ nhìn mặt nhau đoán mò. Thời gian gần đây ngày nào cũng có người chết vì sốt rét, chết vì đói, chết vì bị tra tấn hành hạ, chết vì những cái cùm nhục hình. Ai cũng lo lắng không biết lúc nào tới lượt mình. Chết ở chiến trường là chuyện chiến tranh. Còn chết sau cơn binh lửa đã tàn nơi cái nhà tù nhìn qua về máu đỏ da vàng một mẹ Việt Nam tức tưởi nhục nhả lắm. Cho nên mọi tù nhân cố lê lết nở nụ cười trước lưỡi hái tử thần để còn mong sum họp với gia đình.

Khi người trại viên cuối cùng lùa đàn heo ngoài vòng đai vào trại. Cũng là lúc trưởng trại tù lên tiếng:
– Hôm nay ta đã bắt gặp thằng bác sĩ quân y hèn hạ. Thằng sĩ quan “ngụy” vô nhà bếp ăn cắp. An ninh đem nó ra đây trình diện.

Việt bị trói hai tay ra phía sau. Việt đứng như bức tượng sống. Một gã bộ đội sấn tới đạp một cái vào hông rồi chế riễu:
– Tất cả chúng mầy thấy chưa. Cách mạng ta không có những hạng người này. Mầy có ý kiến gì tao cho mầy khai.

Việt khoan thai trả lời:
– Ngày nào các ông cũng bắt chúng tôi khai báo lý lịch. Các ông nói ai khai đúng làm tốt thì cho về sớm. Chúng tôi có người giữ đàn bò, có người giữ đàn heo, cho các ông làm thịt ăn riêng. Chúng tôi vào rừng lao động khổ sai chín chết một sống. Chúng tôi bệnh không có thuốc. Chúng tôi chết bạn bè không có ai dám khóc. Chúng tôi là người mà các ông xem như là súc vật. Chúng tôi là người Việt Nam mà các ông cứ chụp mũ phản động như là người nước ngoài xâm chiếm. Chuyện tôi nhường phần cơm cho bạn để rồi chính tôi phải ăn một miếng cơm cháy để sống có gì là tội. Một bác sĩ hành nghề là để cứu mạng sống con người các ông còn đày vào đây cho chết. Các ông vì lợi ích xã hội ở chỗ nào mà trả thủ đành đoạn nhứ thế này đã chứ ! Bao nhiêu kỹ sư, chuyên viên, giáo sư về khoa học kỹ thuật, giáo dục các ông tống vào đây cho làm rẩy, phá rừng, giữ chó giữ gà để vợ con người ta không nơi nương tựa thế nào gọi là đạo đức.

– Câm mồm đi. Đồ quân ác ôn. An ninh đâu đem thằng này đi cùm cho đến chết.

* * *
Nơi cái khu kinh tế mới giết người không gươm dao cũng chẳng khác gì trại tù giam cho kiệt sức mà chết. Phần thì đói không có ăn. Phần thì đi phá rừng chỉ thấy cây cối trồng trên cát sạn. Phần thì bệnh không có thuốc uống. Các con đứa thì bị phù thủng, đứa bị ghẻ lở từ mặt tới chân, đứa thì mỗi lần iả là cả chùm sán lãi theo ra. Chị Thương thì đêm hôm phập phùng lo sợ không biết cái băng trong ban quản trị bất lương hành hạ người gìa đàn bà con nít lao động trong hoàn cảnh nghiệt ngã rồi bệnh mà chết như nhiều người bà con ở đây đã bị. Người dân quá khổ thành thử không ai có đủ trí lực để quan tâm kẻ khác cùng hoạn nạn. Cán bộ thì ngang tàng phách lối coi nhẹ đời sống dân bị đày lên đây. Chị Thương nhớ rõ mồn một mãi cái cảnh một người bị rắn cắn cả một đội lao động cuốc đá bó tay. Cán bộ có thuốc trừ rắn cắn cũng không cho viện cớ là để dành quan chức. May thay có cô con gái nào đó biết cách chửa mẹo. Cô ta thọc tay vào chỗ kín rồi phết lên nơi phần rắn cắn cho kẻ bị nạn. Thế là nọc độc bị rút đi mà khỏi chết.

Thấy con cái càng ngày càng đói ăn không chịu nỗi bởi chúng nó quen sống cảnh sung túc. Chị Thương cùng nhiều người đồng cảnh ngộ vạch ra con đường thoát chạy khu ma vương ôn dịch này.

Thế rồi trốn về được phố đi tìm nhà người bạn học cũ xin tá túc. Việc đầu tiên là chị Thương nghĩ tới thôn quê miền Trung nơi mà ông bà nội sáp nhỏ sống ở đó. Có thể về ngoài ấy mà cũng có thể vá víu sống tạm bợ trong cái hẽm này đến đâu hay đó. Mấy đứa con chạy lăng xăng như kẻ lạc loài trong phố cũ. Thằng con lớn nhớ da diết bạn bè cô giáo mà không biết làm sao mà được trở lại lớp. Thằng con thứ hai thèm cầm quyển vở và cái vụ làm trò chơi. Chúng nó mất hết cả rồi. Thằng con út thấy mẹ ngồi rũ rượi bắt chí trên đầu. Nó buột miệng:
– Mẹ ơi ! Mẹ nói ba đi làm xa sao không gởi tiền về cho mẹ mua gạo muối cho chúng con ăn hở mẹ? Con nhớ ba con nhớ nhà. Mà mẹ đưa con về lại nhà đi.

Chị Thương nghĩ tới căn nhà tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt khi không bị người thắng cuộc nhân danh cách mạng “giải phóng” mà mượn dài hạn đi rồi. Bàn cờ ra nông nỗi thế này cũng tại mình đời bắt làm kẻ thua cuộc. Chị giấu hết nước mắt tang thương trong lòng rồi vuốt tóc con vỗ về:
– Ba con đi làm lâu ngày mới có nhiều tiền đó con. Hôm nào mẹ con mình tha hồ mà ăn uống no đủ.

Chị Thương kêu hai đứa cu Tèo, cu Tới cùng ngồi bệt xuống đất nghe lời dặn dò:
– Con cu Tới lãnh phận sự lên ga tàu bán báo. Thằng cu Tèo lo chuyện theo mẹ đi lượm đồ ve chai phế thải.

Thằng cu Tèo méo miệng:
– Con không chịu đâu. Con thấy đường phố xe díp (Jeep) như ba chạy đón con đi học về hồi nào. Sao mẹ không cho con vô trường lại. Khi ở trên rừng chưa về đây mẹ hứa với con rồi mà.

Thằng cu Tới chen vào:
– Thôi em muốn đi học thì theo anh đi bán báo. Báo in đầy rừng chữ Xã hội chủ nghĩa tha hồ mà ngồi đầu đường xó chợ đọc với học.

Chị Thương mớm lời dạy con:
– Nghề nào cũng được miển là đừng làm nghề ăn cướp cả ngày lẫn đêm như bọn người lớn nhan nhản hàng ngày trước mặt.

* * *
Bữa nay bán báo không được bao nhiêu. Thằng cu Tới quay qua bạn cùng nghề tên Hiền:
– Mầy than van cái con khỉ gì. Bán không được thì cha mẹ mầy lo bao che cả gia đình. Mầy có lần nói với tao là con nhà cách mạng mà.

– Thật ra ba tớ là cách mạng 30 mà thôi.

– Hèn chi ăn sau đẻ muộn bỏ công đi phất cờ để cho đồng đài đạp nồi niêu soong chảo nó chở hết trương mắt ra ngó.

– Còn mầy là con cách mạng tháng mấy mà cũng đi bán báo như tớ.

– Tao đấy à. Tao con ông 3 mai bị lột sạch kể cả bản thân vợ con. Người lớn trả thù tận cùng bằng số tao mới gặp mầy chốn này.

– Tớ biết ra rồi nhà nước muốn trai trẻ miền Nam như tụi mình tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên XHCN để xuống ngang hàng với miền Bắc.

– Thôi đừng nói chuyện heo, lợn, đậu phụng, lạc rang nữa. Tao hỏi kinh nghiệm của mầy về bán báo trên tàu lửa để tao học hỏi thêm.

Như gãi trúng chỗ ngưá. Hiền đằng hắng một cái rồi lên mặt dạy đời:
– Nhờ ngày 30 mà tớ bỏ học. Bây giờ mới thực sự làm thầy cho đồng bọn như mầy. Hãy nghe tớ vung chiêu mời khách trên tàu lửa đây nè:

– Ông ơi ông mua cho tôi tờ báo. Mua mở hàng đi. Báo quốc doanh viết ra bán chớ không có tặng. Ông mua để biết hôm qua mơ gặp người trong mộng. Ông mua để thằng tuổi trẻ bị đuổi học được có việc làm để sống. Ông thương cho kẻ ngã ngựa sa cơ thất thế có chén cơm độ nhật.

Thằng cu Tới cắt ngang:
– Mầy đọc sớ Táo quân trình thiên đường như thế này người ta không mua thì làm sao ?

– Mầy cứ cầm tờ báo đi lui đi tới phất qua phất về trước mặt chọc người ta ghét rồi bỏ tiền ra mua cho mầy trốn khuất mắt đó mà.

– Ừ mầy nói có lý đó nghe. Khi nào tao có nghề gì mới tao dạy lại mầy chịu không ?

– Gì cũng được nhưng đừng dạy nghề giết người anh em như nhổ cỏ không dùng gươm dao.

– Thế thì vào nghề còn đảng còn mình.
– Mầy phải chờ 10 đời lý lịch mới mặc được cái áo xanh áo vàng khủng bố dân lành chớ không phải dể đâu nhá !

– Tai vách mặt rừng coi chừng bắt vô nhà đá đếm lịch đấy. Thôi tao về nhà ăn cơm kẻo sáng giờ cồn cào ruột non ruột gìa ra đây.
* * *
Một tháng trôi qua bốn mẹ con tảo tần bưã đói bữa no cũng nhờ người bạn học Gia Long chia cho chỗ ăn chỗ ngủ. Một lần chị Thương đếm những đồng bạc chắt chiu rồi chạnh nghĩ tới phụ trả điện nước. Chị nói với chị Hạnh chủ nhà:
– Bạn tốt với mình quá trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Bạn cho mình phụ chút về chuyện ăn ở.

– Bạn đề cập tới mình mới nói ra đây. Mình bị cái ông tổ trưởng dân phố, mấy tên bạn dân khu vực kêu lên gọi xuống đòi khai báo người lạ trong nhà. Mình sai đứa em ra trà nước cho họ không biết để yên tới lúc nào. Vả lại bạn thường về khuya nên mình cũng nói xạo với họ là mình chưá chấp người ăn mày ngủ qua đêm mà thôi. Xin lỗi bạn vì chỉ có cái xã hội trả thù trả oán thế này mình mới nói xấu bạn thân sau lưng để chúng mình sống còn.

– Mình nhớ mãi tinh thần giáo dục nhân bản từ học đường Gia Long. Mà xã hội đạo đức là đúng rồi từ lớp năm lớp tư (lớp 1, 2) đã học môn Đức dục và Công dân giáo dục chứ có ai dạy tuổi ô mai hận thù chém giết nhau đâu.

Hai người đang ngồi trước nhà nói chuyện. Chị Hạnh thấy một người lối xóm lượn qua lượn lại phía trước. Hạnh đoán biết đây là loại người theo dõi sinh hoạt trong nhà chị. Chị ra hiệu cho chị Thương lẻn vào nhà. Rồi chị mở miệng chửi đổng:
– Đồ cái quân khốn kiếp. Phường vô lại ăn không ngồi rồi đi chỉ điểm hại phường hại khóm.

Chửi xong chị Hạnh vô nhà.

Tên công an khu vực cũng vừa tới đúng lúc. Hắn gõ cửa xét nhà. Thấy chị Hạnh hắn hỏi:
– Bà đưa hộ khẩu tôi xem.

– Anh vô ra cái hẽm này bao nhiêu lần anh biết nhà tôi quá mà.

– Tổ dân phố báo cáo nhà bà có người lạ tới ở mà không khai trình.

– Bạn học của tôi dân cùng thành phố cả mà.

– Thế thì tôi mời bà bạn kia cho xem giấy tờ.

Chị Thương mở cái giỏ đan bằng lá dưá rồi cầm tờ giấy CMND chìa ra.
Tên CA nhìn xong đoạn hạch hỏi:
– Tại sao bà không ở cái địa chỉ này mà tới đây dự định hoạt động gì ?
– Nhà tôi bị giặc cướp rồi.
– Rõ ràng giặc Mỹ nó ác độc dã man hơn cả quỹ quái.
– Không. Mỹ tới đây mang súng đạn cùng chúng tôi bảo vệ phần đất tự do. Khi họ về mang theo hai bàn tay trắng. Họ không chiếm lấy một thước đất nói chi tới làng mạc phố xá biển đảo. Nhà tôi bị “giải phóng” mượn dài hạn xài chơi.

Tên CA đấm tay vào tường giận dữ:
– Nhất định bà là CIA cài lại. Bà theo tôi về đồn để điều tra ra ngọn ra ngành.

Hai ngày sau chị Hạnh nhận giấy lên bệnh viện nhận xác bạn. Theo hồ sơ bệnh lý công an nói là bị đau nặng trước khi đưa đi cấp cứu. Khi những đứa con tới ôm xác mẹ. Đứa nhỏ nhất mang tên Cường rờ tay vào vú. Từng cục sưng đọng máu còn hiện lằn roi. Đứa con lớn tên Tới rờ tay lên đầu. Từng lỗ hổng lạ lắm trong chân tóc. Đứa con thứ nhì tên Tèo của chị Thương ôm chầm lên thân thể mẹ van lơn:
– Mẹ ơi ! bao giờ ba về nuôi nấng các con…

Ba anh em nhìn xác mẹ rồi nhìn thân phận mình nước mắt tuôn trào theo nhau đầm đìa xuống áo.

Trời về khuya. Bên kia con phố nóc nhà ai trăng thanh bình rọi xuống trên đống gạch hoang vu.

Lê Hải Lăng
***
*HỒI KÝ ĐẶC BIỆT:

* Người Ăn Mày Mé Láng

*Thiên Phong

Một buổi chiều mùa hè, trời mưa khá to nổi bong bóng. Dòng nước cuốn dài theo bờ măng trên đường Lê Thánh Tôn chảy về phía đường Nguyễn Huệ kéo theo tất cả rác rến dân chúng xả ra đường che lấp các miệng ống cống thoát nước của đô thành, làm nước tràn thành vũng lên các bờ măng trên đường đi. Xe tôi ngừng trước cửa của hãng Hàng Không Việt Nam, tôi bước vào cửa cầu thang lên văn phòng. Cánh cửa vừa mở tôi gặp ngay ông già Tư Râu độ chừng năm mươi tuổi ăn xin thường túc trực hơn hai tháng nay nơi cột đèn trước cửa HKVN. Ông tìm sự giúp đỡ của tha nhân kẻ đi qua người đi lại để sống độ nhựt. Thân trần trùi trụi, lòi các ba sườn của người lớn tuổi thiếu dinh dưỡng, các vết thương nhiều đốm đen lớn nhỏ còn rỉ máu và nước vàng trên lưng. Phía sau hai cánh tay ốm tong teo chỉ còn da nhiều hơn thịt. Vừa thấy tôi bước vào ông vội lật đật ôm hành trang là chiếc bao bố tời gói ghém tất cả gia tài sự nghiệp của đời không nơi nương tựa trong tuổi xế chiều, định bước đi ra ngoài.
– Sao Ông Tư Râu, ăn cơm chưa, hôm nay có khá không? Ngoài trời mưa to gió lớn thổi lạnh lắm, đứng đó đi để tôi bảo ông Hai gác dan đem cho ông cái áo mặt đỡ lạnh…
– Dạ…
Tiếng run run có vẻ vì lạnh và các vết thương trên người đang hành ông. Tôi vừa bước cửa vào văn phòng thấy ông Hai đang quét dọn lau chùi bàn ghế.
– Chào ông Phó…– Chào ông Hai. Soạn trong quần áo đánh tơ nít của tôi có cái áo nào ấm ấm và chiếc quần dài đem xuống cho ông Tư Râu mặt đỡ lạnh rồi bảo ông lên đây gặp tôi ở phòng họp.
– Dạ… Ông Hai gác dan đi ra mà chưa hiểu ý tôi nên hỏi lại. Ông Phó bảo tôi dẫn ông Tư Râu lên phòng họp?
– Ðúng rồi…
Tôi đợi chừng mười lăm phút, bước ra cầu thang nhìn xuống thấy ông Hai và ông Tư Râu đang dằng co, kẻ kéo tay người dằng lại, có tiếng của ông Hai: Anh Tư ơi! lên đi đừng để Ông Phó đợi trên đó… phiền lắm. Tôi liền bảo:
– Ông Tư Râu ơi, lên đây tôi có chút việc muốn nói với ông.
Chờ ông Tư Râu bước lên khỏi cầu thang, quần áo chỉnh tề vào phòng họp tôi chỉ ghế ngồi, ông còn chần chừ chưa dám ngồi, còn đứng xớ rớ lòng đang bỡ ngỡ nhìn chung quanh…
– Ngồi đi ông Tư Râu ơi!
Ông ngồi ghé ngoài mép bờ ghế và ôm trong lòng túi balô, nhìn tôi trong ánh mắt dò hỏi có chuyện gì đây…
– Ông Tư Râu nên ngồi tự nhiên đi, để cái balô xuống sàn, mình còn nói chuyện cùng nhau lâu lâu một chút.
Ông Tư Râu ngồi tử tế trên ghế, ông Hai đem hai tách nước trà vô, tôi mời ông Tư Râu dùng trà cho ấm. Tôi hỏi ông Tư Râu vài câu xin ông thành thật trả lời cho tôi thì tôi có thể giúp ông để chữa có thể lành các vết thương trên người ông. Hôm trước cách đây hai tuần, khi ông ngồi trước cột đèn vào buổi trưa, ông cởi áo ngồi khóc vừa rên vì các vết thương hành hạ ông.
Tôi có hỏi ông vì sao bị thương vậy, ông còn do dự không muốn trả lời. Tôi có nói thêm, ông nói đi tôi có thể giúp ông chữa bịnh mà không tốn tiền đâu mà lo.
Ông Tư Râu nhìn tôi với đôi mắt bơ phờ nửa tin nửa ngờ vực của người quá đau khổ trong tâm tư. Im lặng không một lời nói, nhìn lên trời cao xanh như đang tìm những dĩ vãng đau thương hay để đánh giá một tia hy vọng nào đó trong lời hứa của tôi cho cuộc đời ông.
– Hôm nay tôi xin lặp lại lời hứa hôm trước đó, ông Tư Râu suy nghĩ sao cho tôi biết ý kiến. Ông Tư Râu mắt sáng lên như người đi lạc giữa rừng rậm hoang vu gặp được ông tiều phu chỉ đường ra khỏi cơn mê hồn trận mới chịu mở miệng:
– Ông Phó hứa… giúp tôi đây… không biết tôi lấy gì để đền đáp… công… ơn đó… (tiếng nói ông Tư Râu sùi sụt đứt khoảng hai hàng lệ rơi có lẽ vì quá cảm động), làm cho tôi cũng thấy mủi lòng. Nhờ thánh thần thiên địa phù hộ cho tôi gặp được quới nhơn giúp đỡ. Chẳng nói dấu gì với Ông Phó, tôi tên là Châu Văn Tư sanh đẻ 1920 tại quận Ba Ðộng tỉnh Trà Vinh (vừa nói vừa cúi xuống balô mở ra lấy thẻ kiểm tra còn khá mới trong cái bóp da đã cũ kỹ đưa cho tôi xem). Lớn lên trong nghề đánh cá mùa gió êm, làm ruộng mùa mưa bão, sống với gia đình ở quân Ba Ðộng. Sau lấy vợ tên Ðào Thị Nở sanh năm 1924 ở làng Mé Láng cùng nghề làm ruộng. Thời cụ Ngô Đình Diệm làm tổng thống tôi có đi lính Địa Phương Quân, rồi được bầu làm xã trưởng một xã của làng Mé Láng quận Ba Động tỉnh Trà Vinh. Vùng thường đụng độ chết sống với tụi du kích địa phương để bảo vệ dân làng trong tám năm. Cũng có nhiều ân oán thù hận giang hồ, tôi có được hai người con trai sau cũng đi lính Ðịa Phương Quân, chưa lập gia đình cũng ở Mé Láng.

Ngày đầu tháng giêng ta năm 1962, một tiểu đoàn viêt cộng chánh quy từ miền Bắc xâm nhập bằng ghe máy đổ bộ lên làng Mé Láng trong một đêm mưa gió bão bùng. Làng báo cáo lên quận rồi quận lên tỉnh, sáng ngày sau cuộc hành quân từ tỉnh đổ quân xuống một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân tỉnh xuống làng Mé Láng, trời mờ mờ sáu giờ sáng cho đến mười giờ trưa hai bên dằng co với nhau làng Mé Láng thành tro bụi, dân làng, nghiã quân, địa phương quân, nhân dân tự vệ chết cũng nhiều trong đó có vợ và hai thằng con trai của tôi vì cháy không nhìn được xác. Vào khoảng mười giờ có một tiểu đoàn chính quy của bên ta Biệt động quân đổ xuống tiếp viện có máy bay săn giặc và đầm già đến yểm trợ cuộc hành quân đánh tụi nó tan tành banh xà rông. Lúc máy bay đến chúng tôi rút lui từ trong làng về hướng quân bạn ngoài ruộng lúa. Trời thần đất mẹ ơi, tụi nó đeo dính khắng theo, bị phi cơ thả một trái bom đầu tiên nổ ra vùng ánh sáng xanh chụp rớt xuống đụng đâu cháy đó, nước, cây cỏ, đất sình gì cũng cháy hết trơn hết trọi hà. Quỷ thần thiên địa ơi, tui là người chạy đầu, xa gốc trái bom nổ chụp ở ngọn trúng sau lưng tui năm mười ánh sáng thôi mà thấy nóng. Tui chui xuống nước còn nóng hơn nữa, đứng dậy cởi áo bỏ ra nhìn phía sau đám việt cộng bị cháy lên khói, chết quá xá cỡ thợ mộc… Tui cố gắng chạy trối chết về phía quân tiếp viện vvà bất tỉnh luôn… cho đến khi mở mắt ra thì thấy đang nằm điều trị ở bênh viện tỉnh Trà Vinh. Tui nằm úp mặt xuống, ở trần truồng nhòng nhọng mình mẩy tui được thoa một chất nhớt nhớt và đắp nước đá có rất nhiều mục đen chấm nhỏ nhỏ bằng đầu ngón tay út sau lưng, giây nhợ tùm lum tùm la… nhưng vẫn còn thấy nóng. Các ông y tá khi thấy tôi mở mắt mừng rỡ la lên: Ông Tư tỉnh rồi. Sau đó có hai vị bác sĩ một Mỹ, một Việt đến thăm có hỏi tôi còn nóng nhiều ít, tôi trả lời ít. Ông bác sĩ Mỹ nói, bác sĩ Việt dịch là tôi đã sống lại rồi, nhưng còn phải tinh dưỡng lâu lâu. Sau hai tháng ở bịnh viện tỉnh các mụt chấm đen nhỏ đã kéo da non tôi được xuất viện cho về nhà. Trời đất quỷ thần thiên địa ơi, ông Tư Râu nói trong tiếng nấc, vợ bị chết cháy không nhìn được xác và hai đứa con trai đều hy sinh trong trận đánh ở Mé Láng. Nhà cửa cháy rụi, bây giờ chỉ còn tấm thân tàn ma dại nầy trên cõi đời ô trọc thôi. Tui không thể trở về sống ở Mé Láng được vì lúc nầy tụi nó về đông lắm. (Tính ra ông Tư Râu mới có bốn mươi bốn tuổi mà thấy già như ông già sáu bảy mươi tuổi vậy.)
Từ đó tui rời bỏ xứ sở ra đi lên Sài Gòn để kiếm thằng em đi lính nhảy dù không ngờ nó đã chết trong trận Bào Sung. Không kiếm được việc làm vì các ông chủ thấy những vết thương tưởng đâu tôi bị bịnh cùi lở. Tui sống lây lất đầu đường xó chợ tha phương cầu thực, tối ngủ dưới các gầm cầu qua những đêm mưa gió bão bùng. Các vết thương lâu lâu nó nóng lên chảy nước vàng lở ra càng ngày càng lớn thêm có những đêm trời mưa lạnh nó nhức tận xương tủy chỉ còn có nước ngồi đâu đó dưới hàng hiên chợ Bến Thành chịu trận cho qua đêm.
Ðôi mắt ông Tư Râu mờ lệ nhìn ra cửa sổ như hồi tưởng lại những nỗi kinh hoàng trông đêm việt cộng tấn công tàn sát dân làng Mé Láng năm xưa. Khi ông Tư Râu dứt lời, tôi bảo:
– Trễ lắm trong tuần nầy tôi cố gắng tìm chỗ để chữa những vết thương cho ông Tư.

Tôi xách hộ cái balô của ông Tư Râu đưa ông xuống cầu thang, trời đã hết mưa, để ông ra chỗ cột đèn tiếp tục cuộc đời hành khất của ông. Ông nói cám ơn tôi với khuôn mặt vui tươi đầy hy vọng. Tôi trở lại văn phòng ngồi trầm ngâm lòng tôi se thắt lại, đau khổ cho dân tộc Việt sao quá nhiều thảm cảnh thương đau. Dân chúng giữa hai lằn đạn Quốc gia và Cộng sản quá tàn nhẩn và ê chề trong cảnh chiến tranh vì miền Bắc vô thần đem trận giặc vào Nam gây không biết bao nhiêu cảnh điêu tàn tang tóc cho dân tộc Việt.
Mé Láng một làng nhỏ của quận Ba Ðộng tỉnh Trà Vinh. Tôi còn nhớ rõ một buổi sớm mai, trong phi vụ hành quân đời phi công khu trục, tôi bay cùng Ðại úy Faucett huấn luyện viên Không Lực Hoa kỳ của Phi Ðòan Farm Gate để định chuẩn ra phi tuần trưởng khu trục.
Mé Láng, lần đầu đời tôi mới nghe đến địa danh đó nếu không có trận chiến tranh Việt Nam. Một làng nhỏ bên trong nhiều thửa ruộng được cấy lúa lên màu xanh lơ nhiều miếng vườn cây ăn trái lá cành xanh um. Bên ngoài mé bờ biển giáp nối với Thái Bình Dương thật nên thơ ngoạn mục, nếu không có chiến tranh Mé Láng là nơi lý tưởng để sống cuộc đời an nhàn thanh tịnh.

Chúng tôi cất cánh từ phi trường Biên Hòa, một phi tuần nặng bốn phi cơ T28 mang bom WP (White Phosphorous, Lân tinh), và hỏa tiễn 2.75. Khi vừa đến, liên lạc được với phi cơ quan sát bắn trái khói màu chỉ điểm mục tiêu. Tôi nhìn xuống đó là một xóm làng độ chừng hai trăm căn, nhà lá có, nhà gạch ngói có đang cháy khói tỏa mịt mù thẳng lên trời vì hôm nay yên lặng không có gió. Sau khi đánh hỏa tiễn xong mục nói trên, chúng tôi bay về hướng tây cách Mé Láng chừng hơn hai cây số. Nơi quân bạn Biệt Ðộng Quân đang đụng độ với địch cố thủ trong một miếng vườn xanh tươi cây trái sum suê chừng năm mẫu tây. Quân địch đào hố và công sự phòng thủ kiên cố chung quanh là những miếng ruộng lúa lên xanh tươi đầy nước nên quân bạn khó tấn công vào mục tiêu vì không có điểm tựa. Ðại úy Faucett cho tôi biết mình sẽ đánh bom WP Lân tinh) và yêu cầu tôi báo cho quân bạn đừng vào chiếm mục tiêu sau khi đánh bom WP. Vì sợ lân tinh sẽ làm thương tích cho quân bạn, phải đợi ít lắm là một tuần lễ để lân tinh cháy hết rồi hãy vào. Ðây là lần đầu tiên dùng bom WP (Lân Tinh) trên chiến trường Việt Nam. Tôi thông báo cho phi cơ quan sát và quân bạn xong, chúng tôi nhào xuống thả trái bom WP đầu tiên nổ tỏa ra một vùng ánh sáng trắng xanh như hoa pháo bông bao trùm chừng năm mươi thước ngoài ngọn những đốm trắng li ti thật đẹp rớt xuống nước vẫn còn cháy lên khói… Phi tuần bốn phi cơ đánh trong vòng hai mươi phút miếng vườn cháy và lên khói hoàn toàn cây lá vàng đen cháy úa. Một bức họa chiến tranh điêu tàn khủng khiếp làm lòng tôi xốn xang đau xót cho người dân Việt phải chịu cảnh màn trời chiếu đất khi làng xã bị đốt cháy tan hoang.Phi tuần đánh xong trở về căn cứ Biên Hòa vô sự. Tôi có hỏi Ðại uý Faucett tại sao quân bạn không chiếm mục tiêu liền được thì được trả lời: Phải chờ cho Lân Tinh cháy hết rồi mới vào chiếm mục tiêu vì rất nguy hiểm cho quân bạn có thể bị cháy nếu đạp lên Lân tinh. Tôi không ngờ ba năm sau tôi gặp lại ông Tư Râu nạn nhân của cuộc đánh bom Lân tinh ngày đó ở Mé Láng, làm lòng tôi ân hận đau xót nghẹn ngào thương cho người dân vô tội phải chịu trăm cay ngàn đắng trong cuộc chiến chống xâm lăng.
Chiều hôm nay tôi về sớm lên căn cứ Tân Sân Nhứt tìm ông bác sĩ Giụ, Y sĩ trưởng Trung Tâm Y Khoa KQ, xem ông có giúp đỡ gì được ông Tư Râu không. Bác sĩ Giụ bảo về vấn đề lân tinh lúc đó KQVN chưa có khả năng chữa cho, ông đề nghị tôi ra ngoài Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ (US Army 3rd Field Hospital) của Mỹ đóng trước cổng Phi Long xem sao? Tôi ra tìm bác sĩ Newman y sĩ trưởng của Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ tôi thường liên lạc với ông trong những trường hợp cấp cứu khẩn cấp khi có phi cơ lâm nạn, lúc tôi làm chỉ huy trưởng căn cứ Tân Sân Nhứt vào năm 1964. Tôi được gặp ông Newman trình bày về tình trạng của ông Tư Râu, vì những vết thương từ trái bom Lân Tinh, ông bảo sẽ cố gắng chữa cho ông Tư Râu nhưng không dám hứa sẽ lành bệnh.
Ðược lời như cởi bớt đau buồn, trên đường về nhà khu cư xá Hàng Không Việt Nam ở đường Ðinh Tiên Hoàng Ðakao. Tâm tôi cầu nguyện mong sao việc cứu chữa cho ông Tư Râu được kết quả mỹ mãn để lòng tôi vơi đi được chút tình buồn ân hận và lương tâm đỡ cắn rứt của đời phi công khu trục. Một đêm trằn trọc không nhắm mắt ngủ được, chỉ mong cho mau sáng để đem ông Tư Râu đi chữa bệnh. Vào lúc một giờ sáng nghe tiếng nổ của pháo kích và tiếng còi báo động hụ lên từng chập trong đêm khuya âm u như nhắc nhở dân chúng thần chết đang lảng vảng trên không phận Sàigòn. Tiếng còi xe cứu thương bí bo nghe lanh lãnh rợn người từ nhiều nơi đồng hướng về phía sân bay Tân Sân Nhứt. Sáng tôi đi làm đem theo một quần dài, một áo sơ mi, một áo thun lót và đôi dép cho ông Tư Râu thay để đi chữa bệnh. Sáng nay vào văn phòng tôi có bảo ông Hai chừng nào ông Tư Râu đến chỉ vào phòng tắm cho ông tắm rửa thay quần áo để đi chữa các vết thương trên người ông. Chừng nào xong cho tôi biết. Ngồi trên văn phòng từng hai của trụ sở Hàng Không Việt Nam nhìn xuống đường Nguyễn Huệ hôm nay thứ sáu trời đẹp nắng ấm. Trước cửa toà Ðô Chính cũng vắng bóng các sinh viên biểu tình yêu cầu ông thị trưởng Văn Văn Của thả các sinh viên ra về tội chống đối chánh phủ của người nghèo do Thiếu Tướng KQ Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung ương. Ở bên kia đường rạp hát bóng Rex dân chúng đi xem xuất mười giờ sáng khá đông, tuồng ‘Vertigo’ của Alfred Hitchkock do hai tài tử thượng thặng thủ vai nam chánh James Stewart và vai nữ Kim Novak. Ngày mai tôi dự định đem Nhỏ và hai con Thiên Nga và Hồng Hải đi xem phim Vertigo.
Tiếng gõ cửa ông Hai dẫn ông Tư Râu vào quần áo chỉnh tề tuy có hơi rộng, tóc chải cột phía sau, và râu đã cạo thành ra ông Tư không râu nhìn thấy như người trẻ ra hơn mười tuổi. Tôi bảo:
– Ông Tư cạo râu rồi trẻ ra mà đẹp trai nữa. Ông Tư cười vui ra mặt. Hôm nay tôi sẽ đưa ông Tư đi chữa các vết thương trong bệnh viện Mỹ ở Tân Sơn Nhứt. Bây giờ ông đem tất cả đồ đạc trong bao bố tời ra xem thứ quần áo gì cũ rách vá tả tơi và những dụng cụ như đôi đũa mun, cái muỗng bạc, cái ca và bi đông đựng nước của quân đội không cần thiết bỏ hết đi.
Cuối cùng tất cả quần áo cũ đồ đạc bỏ đi gia tài sự nghiệp chỉ còn lại một cái muỗng bạc, cái bóp cũ kỹ một gói cuộn giấy báo quấn giây thun và tấm ảnh. Ông Tư cầm ảnh lên rồi ôm vào ngực hai dòng lệ nóng chảy tuôn xuống đôi má hóp khô cằn. Ông nhìn ra phương trời xa xôi như muốn gởi lòng mình về tận hướng làng Mé Láng cố mong tìm lại hình bóng thân yêu của người vợ, một giọng nức nở nghẹn ngào… Trời ơi!!! em Nở ơi! Sao đời anh khổ quá vậy nè… Ông Hai bỏ đi ra ngoài, tôi cũng mủi lòng ngồi yên im lặng quay mặt đi chỗ khác để che dấu hai hàng lệ từ từ chảy như để chia sẻ nỗi đau khổ của ông Tư Râu mà lòng tôi tự hỏi: Vì đâu và tại sao Dân Việt… Hận thù nhau? Chém giết lẫn nhau. Oan Nghiệt ơi? Ðau thương ơi?.. Sau cùng nỗi buồn lòng đã lắng xuống ôngTư Râu cầm gói giấy báo vừa mở ra đưa cho tôi xem toàn là giấy một đồng, năm đồng, mười đồng, và nói:
– Chẳng nói dấu gì ông Phó, mấy năm nay tôi đi xin được cần kiệm gom góp một số tiền là hai ngàn hai trăm đồng để mong ngày nào đem về làng Mé Láng xây lại mồ mả cho vợ con.
Ông Tư Râu như còn luyến tiếc ngồi mân mê quần áo và các món đồ dùng trong balô vừa tính bỏ đi có lẽ các món hành trang đã theo ông để chia sẻ những nỗi buồn vui trong cuộc đời hành khất bao nhiêu năm qua vì họa chiến tranh. Tôi liền bảo:
-Thôi cái balô của ông cứ giữ đây và tôi cất giùm cho, chừng nào chữa bênh xong rồi về đây lấy lại. Tôi sẽ biếu cho Ông Tư bằng số tiền giấy lẻ đó, bốn tờ giấy năm trăm và hai tờ một trăm để bỏ vào bóp cho tiện. Còn số tiền lẻ đó ông Tư gói lại cho kỹ cất vào trong balô tôi giữ đây cho ông Tư để ngày nào chữa hết bịnh trở về đây nhận lại balô. Chờ cơ hội thuận tiện đem tiền đó về xây mồ mả vợ con.
Ông Tư Râu nhìn tôi với đôi mắt vẻ ngờ ngợ gật đầu hình như chưa tin được khi nghe những lời tôi vừa cho ông biết và lặp lại:
– Ông Phó cho tôi tiền chẳn và giữ lại số tiền lẻ sau khi tôi lành bịnh, ông Phó cho tôi về xây mồ mả vợ con… phải không?
– Ðúng rồi ông Tư ơi!!!
Ông Tư liền tuột xuống đất quỵ lạy tôi để tỏ cử chỉ cám ơn tôi vừa nói:
– Trời thần thiên địa ơi!.. Câu nói chưa dứt, tôi vội đỡ ông Tư đứng lên hai tay ông còn run vì quá xúc động và tôi nói:
– Ông Tư ơi, đừng làm vậy khổ lòng tôi! Thôi mình ra xe đi lên bịnh viện đừng để trễ giờ hẹn.
– Cám ơn ông Phó.

Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ (US Army 3rd Field Hospital)

Chúng tôi ra xe trực chỉ về hướng Tân Sơn Nhứt, tôi cho ông Tư Râu biết sẽ được vào bệnh viện Mỹ để điều trị. Tôi đã lo xong rồi ông Tư khỏi lo lắng gì hết cứ yên tâm mà chữa trị. Trên đường đi, tôi ghé tiệm phở bà Dậu để dùng trưa, nhìn ông Tư râu ăn tô phở nóng gắp từng miếng thịt, từng miếng bánh phở cọng rau thơm và húp muỗng nước lèo cuối cùng. Ông Tư uống ly chanh muối ngon lành làm lòng tôi vơi bớt nỗi ân hận buồn đau vì đã gây thương tích cho một người dân mà cũng là một chiến hữu đồng chiến tuyến với tôi.

Chúng tôi đến Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ thấy có rất nhiều người Việt đứng lố nhố trước văn phòng. Kẻ khóc sướt mướt người than trách thánh thần, khi người thơ ký đưa vào ngồi chờ bác sĩ Newman. Chúng tôi mới biết trong đêm qua việt cộng pháo kích căn cứ Tân Sân Nhứt lạc ra khu phố đường Trương Minh Giảng cách Lăng Cha Cả vài trăm thước làm thiệt mạng bốn người lớn, sáu trẻ em và hơn hai mươi người bị thương toàn là đám người dân vô tội. Ông Bác sĩ Newman cùng nhân viên bệnh viện đang cấp cứu các nạn nhân bị thương tích trong một phòng riêng biệt phía cuối bệnh viện. Chúng tôi chờ chừng mười lăm phút, ông bác sĩ Newman trở về, bước vào văn phòng, nhìn ông trong bộ quần áo bác sĩ xanh mầu da trời dính đầy máu vì ông đã cùng các bác sĩ khác và ý tá của bệnh viện làm trọn đêm cứu cấp các nạn nhân bị thương tích vì pháo kích. Tôi đứng dậy bắt tay ông và giới thiệu ông Tư Râu. Chúng tôi được bác sĩ Newman đưa xuống phòng chữa bệnh nhiều bệnh nhân người Việt bị thương trong đêm qua. Y tá chỉ cho ông Tư một cái ghế bố trong phòng bệnh nhân có người y tá Việt thông dịch viên lại làm giấy tờ nhập viện cho ông Tư. Bác sĩ Newman bảo tôi cho ông Tư biết phải nằm đây chừng hai tháng để chữa vì phải lấy thịt các vết thương ra thử xem lân tinh có ăn thấu vào tới xương chưa. Cắt các vùng thịt bị nhiễm lân tinh bỏ đi rồi mới lấy da ở bụng và nơi đùi đắp vào các vết thương. Cả một công trình cứu chữa nhiều vất vả phải cần đến bàn tay các bác sĩ chuyên môn để chữa trị. Bác sĩ Newman nhờ tôi hỏi ý kiến ông Tư, vì ông còn mạnh khoẻ đi đứng được nên cũng giúp đỡ quét dọn trong phòng các bệnh nhân khi cần. Còn khi nào nằm chữa bệnh thì thôi. Tôi báo ông Tư biết và hứa sẽ vào thăm ông Tư hàng tuần hoặc khi cần thiết và ông Tư phải ký giấy tờ chịu trách nhiệm về việc cứu chữa vì không có thân nhân, và tôi ký tên làm chứng. Ông Tư thay đồ ra mặt quần áo bệnh viện lên nằm nghiêng trên ghế bố để y tá lấy máu các thớ thịt mẫu trên các vết thương đem thử nghiệm.
Tôi từ giã ông Tư và chào bác sĩ Newman ra về và không quên để số điện thoại lại khi có việc cần văn phòng thông báo cho tôi rõ. Trở về phần sở tôi theo đường Trương Minh Giảng vừa qua khỏi Lăng Cha Cả những nhà cửa còn bốc lên những đám khói cuối cùng mà các anh em sở chữa lửa đô thành đang cố gắng dập tắt.

Bên lề đường kẻ ngồi đang khóc cho người thân đã chết trong đêm qua. Người đứng khoanh tay rầu rĩ tiếc của nhìn cảnh nhà cháy tan tành đang lo cho ngày mai vợ chồng con cái biết lấy đâu để làm mái ấm, phải sống màn trời chiếu đất. Trường hợp người dân lành vô tội, như hoàn cảnh ông Tư Râu và dân tình Mé Láng, người dân thành thị đường Trương Minh Giảng, họ lưỡng đầu thọ… đạn địch và bạn, dân thành thi thì ăn… đạn pháo 122ly của đám giặc Hồ vô thần tàn ác, dân thôn quê thì hưởng… bom WP vô tình của quân bạn, thật trớ trêu cho cảnh người dân vô tội của một nước nhược tiểu phải chịu tai ách oan ương giữa hai giòng lý tưởng Tự do và Cộng sản đang tranh dành nhau trên mảnh đất Việt thân yêu. Còn những người Mỹ như ông bác sĩ Newman chẳng hạn, từ một phương trời xa lạ nào đó đã rời bỏ mái ấm gia đình vợ con để đến nơi nầy ra tay cứu chữa cho các nạn nhân bị pháo kích trong đêm qua. Nhưng thanh niên Mỹ ở những nơi đèo heo hút gió ngày đêm ghìm súng giữ giặc nơi Ashau, Alưới, Khe Sanh, U Minh, Chương Thiện, Ðổ Xá, Ðak Tô, Ðak Sút, Bình Ðịnh, Hoài Ân… những chiến trường dầu sôi lửa bỏng trên phần đất mà không phải quê hương của họ. Có khi hy sinh cả tánh mạng trong những phi vụ như Tr/Úy O’Connor đã gãy cánh cùng Th/úy Võ Trường Chí trên chiến trường đẫm máu miền đồng bằng sông Cửu Long trong buổi sáng mờ sương. Một Ðại/Tá Sauers ngày chót trong phi vụ cuối cùng tua cố vấn hai năm cho Sư Ðoàn 4 KQ VNCH đã về miền miên viễn cùng Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh Tư lệnh Sư Ðoàn 4 KQ. Nhưng mà họ đang giúp giữ hai chử ‘’Tự Do’’ trên mảnh đất miền Nam cho dân tộc Việt. Chỉ nói vì tình người xin đừng bàn về chánh trị, họ là các người anh hùng vô danh, họ hưởng được gì, phải chăng hưởng vài vòng hoa chiến thắng hoặc vài tấm bảng khẩu hiệu ‘’Hoan Hô’’. Nhưng cuối cùng họ hưởng không ít sự hận thù chửi rủa của những tở báo miền Nam thân cộng hay các nhà Sư, các ông Cha hòa hơp hòa giải và cả một số dân chúng hưởng được Mỹ viện trợ. Họ và chánh phủ họ không màng đến được trả ơn. Và khi họ dứt hai năm nhiệm vụ ở VN, khi trở về Mỹ được bọn phản chiến dẫn đầu là Jane Fonda và chồng Tom Hayden chào đón với những câu chửi rủa tàn tệ, nào kẻ giết trẻ thơ, giết ông già bà cả.
Tôi ngừng xe lại vì có hồi còi hụ của xe cứu thương chạy ngược chìều, đang sắp ngừng đậu trước một căn nhà tường gạch sụp đổ cháy tiêu tan. Người mẹ đang hớt hơ hớt hãi chạy theo một anh lính chữa lửa đang bồng trên tay một em bé đầu xanh vô tội chừng bốn năm tuổi máu me đầy người còn thoi thóp được tìm thấy dưới đống gạch vụn vách tường đổ vỡ.
Anh lính chữa lửa đang hối hả chạy đem ra xe cứu thương, các anh em y tá cho em thở oxy cửa xe đóng lại xe hụ còi inh ỏi chạy về hướng bệnh viện đô thành. Xe cứu thương xa khuất dần trên đường Trương Minh Giảng. Tôi rồ máy xe chạy đi mắt mờ, lòng bùi ngùi thương cảm tình cảnh người dân Việt đau thương, tội tự hỏi tại sao dân tộc tôi phải chịu nhiều cảnh ngang trái. Hận Thù ơi!!!… Ðau thương ơi!!!… Oan Nghiệt ơi!!!.. Cho đến bao giờ mới chấm dứt cảnh tương tàn. Những hình ảnh vừa qua làm tôi nhớ đến Nhỏ và các con tôi đang làm gì giờ nầy. Trên đường về sở làm tôi ghé xe qua nhà thăm một chút Nhỏ và con tôi. Xe vừa qua đường Ðinh Tiên Hoàng để rẽ vào cư xá Hàng Không Việt Nam, tôi vừa ngừng lại ở sân đậu trước nhà, nhìn ngoài bãi cỏ Nhỏ tôi và các con Thiên Nga, Hồng Hải ‘’Tímunchô’’ đang vui đùa trên bãi cỏ xanh trước nhà. Nhỏ tôi và Thiên Nga đang chơi cút bắt, còn Tímunchô đang tập đạp chiếc xe máy ông nội vừa mua cho trong tuần vừa qua, một bức họa thanh bình gia đình quá êm đẹp giữa mùa ly loạn đã làm ấm lại lòng tôi. Bước vội vã về hướng Nhỏ và các con tôi, Tímunchô vừa nhìn thấy tôi la lên: Bố dề… Bố dề… Tôi tới ôm Thiên Nga, Tímunchô và Nhỏ tôi vào lòng. Trong vòng tay tôi là cả một bầu không gian hạnh phúc tràn đầy mà tôi nguyện lòng sẽ cố gắng giữ mãi… Tiếng nói líu lo Thiên Nga, Tímunchô… Sao Bố dề sớm dậy… Sao Bố dề sớm dậy….Tímunchô ngước mặt nhìn tôi… Hai giọt lệ vô tình đã rơi vào mặt con… Sao Bố khóc dậy Bố… Không, Bố đâu có khóc đâu vì cái nón của Tínmunchô quẹt trúng vào mắt bố nên chảy nước mắt đó thôi. Nhỏ nhìn thẳng vào mắt tôi tiếng êm dịu hỏi… Có chuyện gì vậy Bố… Tôi tươi cười trả lời… Có chuyện… chiều nay đi xem hát bóng tuồng Vertigo… ở rạp Rex, suất bốn giờ cho đến chừng cỡ bảy giờ ra đi ăn cơm tiệm luôn, Nhỏ khỏi phải nấu cơm. Có tiếng đồng thanh hoan hô của Thiên Nga và Tímunchô.
Sau ba ngày, tôi được điện thoại chiều hôm qua cô thư ký ông bác sĩ Newman gọi cho biết lên gấp. Tình trạng ông Tư đang gặp khó khăn trong việc chữa trị khi đang mổ các vết thương để lấy các vùng thịt bị nhiễm lân tinh ra bỏ đi thì bị xốc bất tỉnh. Hôm nay sẵn dịp lênTân Sân Nhứt giải quyết vấn đề lương tháng mười ba cho các nhân viên HKVN. Tối ghé qua thăm ông Tư Râu xem tình trạng như thế nào, trên đường đi lên TSN lòng tôi như tơ vò trăm mối. Lo cho tính mạng Ông Tư Râu nếu có mệnh hệ gì muôn phần trách nhiệm về tôi. Lòng tôi muốn cứu ông Tư Râu đem đi chữa bịnh lại hại đời ông. Tôi tự hỏi sao Trời Phật, Chúa lại để cho đời tôi vào ngõ cụt, trong tình huống nghẹn ngào nghịch cảnh như thế nầy. Tôi không biết làm gì hơn vì ngoài tầm tay nhỏ bé của tôi, chỉ còn lòng kính cẩn dâng lời nguyện cầu xin Phật, Chúa phù hộ giúp đỡ cho ông Tư Râu tai qua nạn khỏi trong tình trạng thập tử nhứt sanh nầy. Sau nửa giờ xe đến cổng bộ Tổng Tham Mưu QÐVNCH, tôi rẽ xe vào hướng đến cửa Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ. Hôm nay bệnh viện có lẽ trở lại bình thường vì các nạn nhân bị thương trong vụ pháo kích vừa qua đã được chăm sóc trong lúc khẩn cấp và được di tản về các bệnh viện đô thành hết rồi. Tôi bước vào cửa văn phòng thư ký, ông bác sĩ Y sĩ trưởng Newman cũng vừa vào đến bắt tay tôi và bảo: Tất cả đều xong tốt cả rồi, ông Tư Râu đã tỉnh lại và đang được chăm sóc ở phòng hồi sinh.
Tôi theo chân bác sĩ Newman vào thăm ông Tư Râu, đang nằm thở đều đều được ghi trên máy đo tim. Giây nhợ tùm lum như người phi hành gia sắp lên cung trăng, mang ống hơi thở dưỡng khí, dây truyền máu vào tay. Sau khi bác sĩ Newman thăm nghe tim phổi và bảo với tôi mọi sự đều tốt cho ông Tư Râu. Tôi nhìn lên trời thầm cám ơn Trời, Phật, Chúa đã đáp lời cầu nguyện của tôi cho ông Tư Râu được bình an. Ông nằm sấp trên giường bệnh trải ra trắng, đầu nằm nghiêng qua bên tay phải thở đều đều, trên hai cánh tay và lưng những vết mổ được băng bó kỹ càng sau khi mổ xong. Tôi đếm được tám vết trên lưng và sáu vết trên hai cánh tay ông Tư Râu. Mười bốn vết hằn được ghi lại vĩnh viễn ngàn đời bằng lửa đạn… bạn nhầm lẫn, trên thân người chiến sĩ quốc gia, mà tôi chính là kẻ gây lên tai nạn đó. Lòng tôi đau buốt nghẹn ngào, tôi tới nắm bàn tay xương xẩu lạnh, hình như hơi ấm từ tay tôi chuyền qua làm ông Tư từ từ mở mắt nhìn tôi cố gắng mỉm cười trên vành môi tái xanh khô héo của người mới trở về từ cõi chết. Tôi nói:
– Bác sĩ vừa bảo với tôi ông Tư khỏe mạnh rồi đó ráng tịnh dưỡng đừng lo lắng gì hết có hại cho sức khỏe. Chừng tháng sau ông Tư sẽ được trở lại đời sống bình thường.

Tay ông Tư Râu bóp nhẹ tay tôi và gục gặc đầu như thầm hiểu những lời căn dặn của tôi và vì có lẽ quá cảm xúc hai dòng nước mắt chảy dài xuống gò má khô cằn nhăn nheo của người dân vô tội qua quá nhiều đau khổ trong chiến tranh. Tôi tạm biệt ông Tư Râu và theo bác sĩ Newman trở lên văn phòng. Bác sĩ Newman cho tôi biết sớm lắm ngày mai ông Tư Râu sẽ được dời ra khỏi phòng hồi sinh. Khi đang mổ tới vết thương cuối cùng ở tay vì chất lân tinh đã thấm vào xương tủy nên phải cạo một ít xương ra cho sạch chỗ bị nhiễm lân tinh. Có lẽ vì yếu sức ông Tư Râu bị bất tỉnh nhưng tim vẫn đập đều và máu bơm vào đầu bình thường làm cho óc vẫn hoạt động. Tôi nói chân thành cảm tạ bác sĩ Newman và các nhân viên bệnh viện đã lo giúp đỡ và chăm sóc ông Tư Râu. Tôi kiếu từ bác sĩ Newman ra về lòng khoan khoái nhẹ nhõm như người vừa trút được gánh nặng ngàn cân trên đôi vai trách nhiệm nặng nề về sự chết sống của ông Tư Râu.

Tôi thấy lòng sảng khoái hân hoan đến làm việc với anh em ở các phần sở Hàng Không Việt Nam trên Tân Sân Nhứt. Vào đến phòng họp còn năm phút trước mười một giờ, các anh em đại diện các phần sở nhân viên trên bốn trăm người trong phòng chật cứng. Ông Lâm Ngọc Diệp, Phó giám đốc nhân viên phi hành và không phi hành. Ông Việt Phó giám đốc kỹ thuật và ông… Phó giám đốc tài chánh đưa tôi vào bàn chủ tọa, sau ba hồi chuông reo vang tất cả hội trường đều an tọa, ông phó giám đốc Diệp đứng lên điều khiển đọc chương trình buổi họp hôm nay. Bắt đầu trước giới thiệu quan khách chủ tọa đoàn và các đại diện các phần sở liên hệ trước xin các quý vị sau đó rồi sẽ vổ tay, sau đọc chương trình buổi họp về lương tháng mười ba, có bốn mươi lăm phút để thảo luận và mười lăm phút ý kiến của ban giám đốc Hàng Không Việt Nam mà ông Phụ Tá Chủ tịch Nguyễn Hồng Tuyền đại diện Chủ tịch Tổng Giám Ðốc HKVN ông Phạm Long Sửu. Sau khi ông Lâm Ngọc Diệp giới thiệu quan khách, các phần sở liên hệ xong một tràng pháo vổ tay chấm dứt. Ông tuyên bố khai mạc và xin ông Phụ tá có đôi lời với tất cả các nhân viên và mời cô Vương Thúy Lan phó trưởng phòng tố tụng làm thơ ký buổi họp.
– Chúng tôi hôm nay lên đây trước để chuyển lời Chủ tịch Tổng giám đốc HKVN ông Phạm Long Sửu vì hôm nay ông có dự buổi họp cùng bên Bộ Giao thông Vân tải để bàn về việc bành trướng thêm các đường bay hải ngoại. Trước chào mừng tất cả quí vị và sau để cùng quí vị bàn luận về vấn đề lương tháng mười ba cho toàn thể nhân viên HKVN của niên lịch 1965 nầy. Chúng tôi trên ban giám đốc đã quan tâm đến việc làm tích cực của tất cả nhân viên trong ba tháng vừa qua và xin quí vị nghe lời báo cáo của ông… Phó giám đốc tài chánh thông báo cho quí vị biết rõ tình hình tài chánh của công ty, tôi xin giới thiệu ông Trình.
– Xin thông báo cùng quí vị, tình hình thu nhập tài chánh công ty rất khả quan, trong ba tháng vừa qua rất khích lệ tổng số thu gia tăng thêm 7% trên số thu dự định và nếu chúng ta tiếp tục như sự tiến triển trong ba tháng vừa qua cho tròn năm nay, thì tháng tưởng thưởng mười ba của tất cả các nhân viên không thành vấn đề. Ông phó giám đốc tài chánh dứt lời… tiếng vổ tay hoan hô vang dậy.
– Như vậy chúng ta chắc ai cũng đồng ý về lời trình bày về tháng mười ba của ông Phó giám đốc tài chánh, để rút ngắn thời giờ cho buổi họp hôm nay, chúng tôi có câu hỏi sau đây:
– Có ai không đồng ý nhận lãnh tháng mười ba xin đưa tay lên cho biết ý kiến.

Tất cả hội trường đều im lặng với nỗi lòng thoải mái và hân hoan vì chắc được tháng mười ba, chỉ có một người đứng lên… có tiếng ồn ào phản đối của tất cả hội trường… (có tiếng ai nói… Không muốn lãnh hả… để tui lãnh giùm cho… ngồi xuống đi cha nội ơi!!! Không lãnh hả để tụi tui lãnh đầu năm đánh xập xám cho vui nhà vui cửa…) Tiếng hội trường cười rộ lên làm vui nhộn cho buổi họp hôm nay. Ông Phó giám đốc Lâm Ngọc Diệp yêu cầu tất cả giữ im lặng để tiếp tục buổi họp, và xin người vừa đứng lên tự giới thiệu và phát biểu.
– Tôi tên là Henri Hoạt, trưởng ban đại diện công nhân công ty HKVN xin có ý kiến, nếu chủ tọa đoàn chấp thuận, anh xin tiếp tục. Ông Lâm Ngọc Diệp nhìn tôi như hỏi ý kiến, tôi gật đầu. Ông Diệp nói chấp thuận. Anh Henri Hoạt nói, nếu được lãnh tháng mười ba thì ban giám đốc cho chúng tôi lãnh ra sao? chia ra hai phần một phần lãnh trước kèm theo với tháng mười một và một phần lãnh kèm theo với tháng mười hai hay là lãnh trọn luôn trong tháng mười hai? Lại có tiếng ai đó nói lớn lên… có được lãnh tháng mười ba là đã sướng quá rồi, trước sau gì cũng lãnh lo lắng chi cho mệt… Bỏ qua đi tám!!!..)
– Ý kiến nầy phải hỏi lại ông Phó tài chánh mới được.
– Ðể tiện việc số sách cuối năm, tôi xin đề nghị ban giám đốc cho lãnh tháng mười ba tưởng thưởng cùng với tháng mười hai cuối năm thì rất dễ dàng tiện việc sổ sách cho văn phòng tài chánh, tiếng hoan hô ầm lên cả hội trường.
– Vậy để tiết kiệm thời giờ để các anh em còn trở lại làm việc, chúng tôi xin chuyển lời ông Chủ tịch Tổng giám đốc về quyết định của hội đồng quản trị, (hội trường im thin thít chờ nghe…) theo lời đề nghị của ông Chủ tịch tháng tưởng thưởng mười ba… đã được chấp thuận, tiếng hoan hô và tiếng cười rộn rã ầm vang cả hội trường. Còn hơn nửa giờ chúng tôi xin cho quí vị biết sơ qua các chương trình dự định năm năm bành trướng 1965/1970 công ty HKVN trong tương lai, nội địa thêm các tuyến đường bay Sài Gòn, Rạch Giá, Hà Tiên, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Phan Thiết, Phan Rang, Tuy Hòa, Qui Nhơn, Quảng Ngãi… Các tuyến đường bay hải ngoại hướng Ðông Bắc, tuyến đường bay nối dài qua từ Hồng Kông 1965/66 đến Seoul Nam Hàn và Tokyo Nhật Bổn, về phía Ðông Nam tuyến đường bay thẳng qua Sidney Úc Châu. Về phía Tây Nam nối tiếp tuyến đường bay từ Thái Lan đi đến Indonesia và Birmani trong năm 1966/67.

Ðể tăng cường về phi cơ sẽ mướn thêm cho nội địa của các hãng hàng không bạn như China Air Lines và Far Eastern của Ðài Loan. Mướn/Mua thêm Boeing 727 cho các tuyến đường bay hải ngoại và cùng hùn/chia vớí CAS (Continental Air Servises) 1965/1972 thay thế Air America, chỉ bay riêng cho các cơ quan hành chánh và tòa đại sứ Mỹ. HKVN lo sửa chữa và bảo trì các phi cơ. Vào cuối năm 1966/67, tăng cường mở đường bay Âu châu qua Pháp. Chuẩn bị nối liền Tokyo qua Mỹ San Francisco và Los Angeles nếu tình hình cho phép, chương trình liên lạc PanAm để mướn/mua 6 phi cơ 707/320 vừa chở hành khách và hành lý. Vào năm 1968 sẽ có hai chương trình:
1) – Là thành lập thêm công ty Hàng Không Chuyên Chở có tên VAT (Việtnamese Air Transport).
2) – Hùng vốn với Hilton Hotel xây cất một Hotel năm sao, sáu từng chừng hai ngàn phòng. Từng một với đầy đủ khu buôn bán lẻ, nhà hàng và bộ chỉ huy HKVN, trên miếng đất mà hiện tại Bộ Giao Thông Vận tải đang chiếm giữ. Bộ sẽ dời đi nơi khác vì nơi đây quá nhỏ cho sự bành trướng của Bộ Giao thông Vận tải trong tương lai.
Ðó là chương trình bành trướng công ty HKVN trong tương lai, sau cùng xin kính chúc quí vị có nhiều sức khỏe và cố gắng thêm lên trong công việc hằng ngày và giữ vửng lòng tin vì sự thành công của công ty HKVN nằm trong tay quí vị. Sau đây nhờ cô Vương Thúy Lan thơ ký buổi họp đọc laị biên bản, xin quí vị Phó giám đốc ký tên vào và chuyển về phòng hành chánh công ty HKVN để trình lên Ông Chủ Tịch Tổng Giám Đốc.

Buổi họp chấm dứt trong sự vui vẻ của tất cả đại diện cho các nhân viên phần sở. Khi ra về lòng được nhiều phấn khởi vì tháng mười ba tưởng thưởng đã thành sự thật không còn thắc mắc lo âu bàn cãi nữa trong giờ làm việc của các cơ quan liên hệ. Buổi họp được bế mạc trong niềm phấn khơỉ của tất cả nhân viên HKVN.

Trên đường trở về văn phòng, lòng tôi khoan khoái chi lạ, công tác cho hãng đã được kết quả mỹ mãn và việc ông Tư Râu hồi tỉnh lại đem đến cho tôi niềm vui nội tâm yên ổn thoải mái cho tình người phi công khu trục. Sau khi thông báo kết quả buổi họp cho Trương Ðăng Lượng chánh văn phòng, ông chủ tịch còn đang họp với Bộ Công chánh về việc xin Bộ Ngoại giao giới thiệu công ty HKVN đến các nước liên hệ để được mở thêm các tuyến đường hàng không trong tương lai.
Chiều nay về đến nhà cùng Thiên Nga, Hải Tímunchô và Nhỏ yêu của tôi đi ăn mì Cây Nhãn, chưa bao giờ tôi được sống hai ngày cuối tuần hạnh phúc tròn vẹn cùng gia đình nhỏ bé của chúng tôi.

Sau hai tuần công tác để mở thêm đường bay quốc tế ở Ðài Loan và Seoul Nam Hàn trở về trình bày cho ông chủ tịch công tác về việc bành trướng các đường bay được theo ý muốn. Chỉ chờ ngày ông Chủ tịch đi thăm viếng xã giao Ðài Loan, Nam Hàn và ký giấy tờ là xong. Anh tổng thư ký Trương Ðăng Lượng cho biết có điện thoại của văn phòng Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ gọi, và cho biết tình trạng sức khỏe của ông Tư rất khả quan. Ngày hôm sau trước khi lên thăm ông Tư, tôi ghé qua tiệm chú Khén mua tô hủ tiếu khô có nước lèo để riêng, và lại chỗ bánh mì Ba Lẹ mua hai ổ đem lên cho ông Tư. Đến Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ, tôi ghé vào văn phòng của Y sĩ trưởng gặp ngay bác sĩ Newman chào đón tôi và cho biết chừng một tuần lễ nữa để vá thêm bốn vết thương ở tay trái là xong, chờ lành thêm thời gian không hơn hai tuần nữa ông Tư có thể xuất viện. Tôi theo chân bác sĩ Newman xuống thăm ông Tư nơi phòng nằm dưỗng bịnh chung với các binh sĩ Hoa Kỳ. Vừa trông thấy tôi, ông Tư ngồi dậy mừng rỡ và chảy nước mắt, vì có lẽ sợ tôi bỏ bê ông ta vì thấy hai tuần vừa qua tôi vắng mặt. Tôi ngồi xuống an ủi ông Tư, vì tôi bận công tác hải ngoại hai tuần, mới vừa về hôm qua nay lên thăm liền ông Tư đây. Tôi có mua cho ông Tư một quần Jeans và cái áo tay ngắn kiểu Hạ Uy Di, có thêm tô hủ tiếu và bánh mì thịt nguội Ba Lẹ nữa cho Ông Tư đây. Tôi biết chắc mấy tuần ở đây ăn cơm Mỹ ngán lắm rồi phải không. Ông Tư bước xuống giường theo tôi ra phòng dành cho thân nhân thăm viếng, chân, tay, lưng còn băng bó lổn ngổn nhưng gương mặt ông Tư có thần và hình như sức khỏe đã trở lại khả quan. Ông Tư ngồi xuống bàn và xin phép cho ăn hủ tiếu. Vừa ăn ngon lành tô hủ tiếu và ổ bánh mì Ba Lẹ, vừa nhìn tôi với đôi mắt thầm cảm ơn, ông Tư dùng xong tôi mới lời hỏi chuyện:
– Ông Tư thấy sức khỏe ra sao, và các vết thương còn nóng và đau nhức như hồi xưa không?
– Dạ hết nóng rồi, sức khỏe khá tốt hết còn nhức nhối khi trời nóng hay lạnh, ăn ngủ được ngon giấc, không còn thức giấc ban đêm vì các vết thương hết hành hạ rồi.

Ông Tư cho tôi coi ở đùi và ống chân các chỗ lấy da để ‘’vá’’ các vết thương trên lưng và tay cũng đã bắt đầu kéo da non. Nghe ông Tư nói lòng tôi thấy yên vui, nỗi đau buồn đã vơi bớt được phần nào trong tâm não, thầm cám ơn Trời, Phật, Chúa đã ban ơn cho ông Tư được thoát khỏi sự chết từ từ âm thầm đến trong những phút sống cuối đời phiêu bạt. Tôi từ biệt ông Tư ra về, ông Tư cám ơn các món đồ tôi mua cho và mong gặp lại tôi trong tuần tới. Trên đường về lòng tôi rối vò trăm mối, làm sao đây chỉ còn ba tuần nữa thôi. Khi Ông Tư rời bịnh viện, rồi về đâu, không lẽ tôi lại trả ông về cuộc đời hành khất nữa sao. Rày đây mai đó sống nhờ các tha nhân thương hại cho từng đồng bạc, hay vài chục xu. Ngày dựa cột đèn dơ tay xin chút tình thương của đồng loại, đêm về sống dưới gầm cầu mưa gió lạnh lùng cô đơn cho kiếp đời lang bạt. Không biết ông có dự định muốn trở về Mé Láng nữa không, nơi một lần chiến tranh đã phá nát gia cang, vợ con bị chết cháy thê thảm? Tôi phải tìm một ngõ đường sáng sủa hơn để ông Tư làm lại cuộc đời dang dở, mới thỏa lòng ân hận và đau xót của tình người phi công khu trục. Làm sao cho cuộc đời ông Tư Râu được bình thường trong tương lai, vì kiếp người như ông Tư chịu quá nhiều tai ương hoạn nạn tàn phá.

Mỗi tuần tôi đều có lên thăm ông Tư, tình trạng sức khỏe rất khả quan, đi đứng vững vàng, đã làm giúp bịnh viện trong các công tác như đem nước uống hay cà phê cho các thương binh Hoa kỳ, đốt thuốc lá, quét phòng… Tuần lễ thứ ba tôi được thông báo cuối tuần vào ngày thừ sáu ông Tư sẽ được cho xuất viện. Ngày thứ hai vào làm việc tôi bàn cùng ông Hai, người lo chăm sóc văn phòng, để tìm chỗ ở cho ông Tư Râu, và công việc thì sẵn Air Việt Nam đang trên đà bành trướng, việc cho ông Tư một chỗ làm chắc không khó. Làm nhân công khuân vác hành lý hoặc làm trong nhà nấu thức ăn cho các chuyến bay hải ngoại, hay nhân viên chăm sóc vệ sinh văn phòng. Ông Hai đưa ý kiến để giúp cho ông Tư, cho ở không tiền thuê cùng nhà ông Hai mướn trong ba tháng đầu, và sau đó chia 2 phần 5 tiền mướn. Tôi đưa tiền ông Hai đi chợ trời mua một cái vali cỡ trung và mua bốn bộ quần áo, khăn lông, một ghế bố và cái mùng chiến trận cho ôngTư Râu. Tuần lễ qua mau thứ sáu đến, tôi ghé nhà hàng Thanh Thế mua bốn chục tôm chiên lăn bột, bốn chục gỏi cuốn, bốn chục chả giò và sáu chai rượu chát: ba chai đỏ Cabernet Savignon và ba chai Chablis trắng, đem lên làm quà cho các bác sĩ và nhân viên của Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ. Tôi lên đến vào khoảng mười hai giờ cũng vừa bữa cơm trưa, tôi vào phòng làm việc của bác sĩ Newman nhờ cô thơ ký cho người tiếp tay tôi bưng những hộp đồ ăn vào, cũng vừa khi bác sĩ Newman vừa trở về phòng có dẫn theo ông Tư Râu. Trong bộ quần Jeans áo sơmi xanh nhạt cụt tay, mặt mày có da có thịt lanh lẹ tỏ ra người đã được chữa trị lành hết các vết thương của chiến tranh.

Không ai có thể nhìn ra ông Tư Râu hành khất ngày xưa, hôm nay là người thanh niên trai trẻ đầy sức sống. Tôi cũng vui lây. Ông bác sĩ Newman cũng lấy làm sung sướng đã chữa lành người bệnh nhân có căn bệnh khó tánh mà đây cũng là một trong những người đầu tiên ông ra tay cứu độ. Ông bảo cho tôi biết dù ông Tư Râu có vẻ khỏe mạnh nhưng chưa biết kết quả thực thụ trường kỳ trong tương lai ra sao. Còn phải theo dõi bệnh nhân và sau một tháng phải bảo ông Tư Râu trở lại khám bệnh. Tay chân còn yếu đừng cho làm việc gì nặng nhọc hoặc bưng sức nặng trên mười ký lô, đừng nên uống rượu nhiều có thể làm sưng hoặc ung thối những miếng da thịt vá các vết thương. Ông Tư Râu phụ bưng các món ăn qua phòng ăn của các nhân viên bệnh viện, bày ra trên bàn và khui rượu ra. Tôi mời bác sĩ Newman cùng tất cả các các bác sĩ chuyên khoa mổ xẻ và y tá nhân viên cùng nâng ly trước để nói lên sự biết ơn của ông Tư Râu và tôi, sau mừng người nạn nhân của chiến tranh mà bác sĩ Newman cùng tất cả quý vị có mặt hôm nay đã ra tay cứu độ được thành công tốt đẹp. Ông bác sĩ Newman cùng tất cả các nhân viên bệnh viện đồng chúc ông Tư Râu nhiều may mắn. Buổi tiệc bắt đầu, các món ăn chả giò, gỏi cuốn và tôm lăn bột chiên cùng rượu chát đỏ Cabernet Savignon được tất cả người bạn đồng minh rất khoái khẩu và hoan hô. Chúng tôi từ biệt ra về ông Tư Râu bắt tay từ giã các người bạn chân tình đã giúp chỉnh trang lại mảnh đời vô vọng thành một cuộc đời đầy tương lai và có ý nghĩa sống cho ông Tư Râu. Trên đường về văn phòng của tôi, ông Tư Râu nói cám ơn tôi với dòng lệ và sự lo lắng.

Không biết tôi chở ông về văn phòng làm gì đây, viển ảnh hành khất đen tối đang ám ảnh tâm tư. Ông khóc thành tiếng, cây cột đèn trước cửa HKVN quen thuộc hằng ngày, mái hiên chợ Bến Thành những trưa hè nắng cháy da, hay gầm cầu chữ Y trong những đêm cô độc lạnh buốt xương nằm nhìn đếm trăng sao… Tôi chia sẻ cùng ông và muốn ông Tư Râu nhờ dòng lệ tuôn ra cho hết tất cả tâm tư thầm kín đau khổ của mảnh đời vô vọng hành khất ngày qua để không còn đọng lại trong tiềm thức dù rằng chỉ một mảnh nhỏ bụi khổ đau của ngày qua… Ðể ông Tư Râu sống trọn đầy nghị lực mà ông đang phải bươn bả nhào vô chấp nhận đương đầu với cuộc sống mới trong tương lai…
Xe cũng vừa đến, thấy ông Hai đang quét dọn hàng ba trước cửa hãng Hàng Không Việt Nam. Ông Hai theo chân tôi và ông Tư Râu lên văn phòng, hai người rối rít hỏi thăm nhau, vào đến phòng khách ông Tư Râu đã thấy balô của ông đã có sẵn đó và cái vali nằm kế bên cùng ghế bố và chiếc mùng quân đội mà ông đã quen thuộc. Ông tư Râu hết nhìn tôi rồi đến ông Hai như tìm hiểu việc gì xảy ra đây cho cuộc đời ông trong tương lai? Thấy ông Hai và tôi cười vui, ông Tư Râu cũng cười với những giọt nước mắt lưng tròng và sự lo lắng thấm kín.
– Ngồi xuống ghế đi ông Tư Râu, ông xem lại balô coi còn đủ đồ như trước khi ông đi chữa bệnh không?
Ông Tư Râu nói một câu đầy ân nghĩa:
– Thưa ông Phó và ông Hai, tôi không xem lại và tôi chắc chắn đồ của tôi còn đủ và có thêm một tình thương vô bờ bến mà ông Phó và ông Hai dành cho tôi trong những ngày qua, lúc tôi được chữa bệnh.

Với cử chỉ lanh lẹ ông Tư Râu móc túi lấy cái bóp ra, lấy hai ngàn hai trăm đồng trả lại cho tôi.
– Ông Tư Râu ơi, giữ đó đi hôm nào về xây mồ mả cho vợ con. Ðây ông Tư Râu nghe kỹ, những gì tôi dư định cho cuộc sống trong tương lai, nếu ông Tư Râu thấy không vừa lòng thì cho tôi biết để tôi lo liệu sau. Bây gìờ về phần chỗ ở, ông Hai cho ông Tư Râu về ở chung trong ba tháng đầu không lấy tiền sau đó rồi sẽ tính sau. Công việc làm tôi đã lo xong rồi, cho ông Tư Râu vào làm với hãng Hàng Không Việt Nam trong nghề phụ bếp ở Tân Sơn Nhứt. Nhà ông Hai cũng ở gần đó, đi làm rất tiện lợi, như vậy ông Tư cho biết ý kiến ra sao?
Vừa nghe tới đó ông Tư Râu oà lên tiếng khóc trong sung sướng và nói:
– Tôi không biết nói gì hơn ngoài hai tiếng cám ơn từ đáy con tim. Những gì ông Phó và ông Hai đã chỉ bảo, tôi xin nhận với tất cả lòng hân hoan thành thật và sự vui mừng ngoài sự tưởng tượng của đời tôi.

Ông Hai mở vali ra, chỉ tất cả quần áo đồ dùng trong đó là của ông Tư Râu, cả mùng mền và chiếc ghế bố nữa đó. Tôi bảo ông Hai dẫn ông Tư Râu xuống văn phòng ông Chỉnh chánh sở nhân viên làm giấy tờ vào làm HKVN. Ngày mai, ông Hai chở giúp ông Tư Râu lên trình diện phần sở sản xuất phần cơm cho các phi vụ đường xa và ngoại quốc ở Tân Sơn Nhứt để bắt đầu cuộc sống mới.

Năm giờ chiều, văn phòng đóng cửa nhân viên ra về, tôi vừa xuống cửa cầu thang, nhìn thấy ông Chỉnh chở trên xe giúp ông Tư Râu chiếc vali, ghế bố và mùng. Còn ông Hai chở ông Tư Râu trên xe Mobilette trực chỉ hướng về Trương Minh Giảng, nhà ông Chỉnh và ông Hai gần bên nhau. Trên đường về với vợ con tôi cảm thấy lòng khoan khoái vô ngần, vì sự đau khổ thầm kín của đời người phi công khu trục được giải tỏa một phần nào. Khi nhìn hình ảnh ông Tư Râu ngày hôm nay đi đứng bình thường, sức khoẻ khả quan không còn dấu vết của ông già hành khất khổ đau vì bệnh tật, khập khểnh lê từng bước chân đi lần vào con đường cuối nhỏ hẹp của định mệnh quá khắt khe dành cho ông Tư Râu.

Tháng sau tôi chở ông Tư Râu đi khám bệnh lại và được bác sĩ Newman cho biết tình trang sức khỏe ông Tư Râu rất khả quan nhưng về sau coi chừng nhắc nhở ông để ý cánh tay phải vì vết thương ăn sâu nên coi chừng bị mục xương. Chiều đó về tôi được ông Chỉnh báo cho biết, giấy cảnh sát đòi ông Tư Râu ngày mai trình diện tại bót đô thành đường Trần Hưng Ðạo về vấn đề vì trùng tên sao đó và khai không đúng lý lịch là vợ chết, trong việc kiểm tra an ninh cho nhân viên vào làm ở Hàng Không Việt Nam. Sau khi đi trình diện cảnh sát xong ông Chỉnh chở ông Tư Râu về văn phòng gặp tôi, báo cho tôi biết vì cảnh sát đã truy tầm ông Tư Râu trong gần một năm nay mà không tìm ra tung tích. Trong cuộc hành quân càn quét của quân đội VNCH vào mật khu VC ở tỉnh Trà Vinh quận Trà Cú có bắt được nhiều người trong đó có một ngươì đàn bà hiện đang nhốt ở khám tỉnh đường Trà Vinh chờ điều tra và kiểm chứng. Khai tên Ðào Thị Nở là vợ của ông Châu Văn Tư làm xã trưởng Mé Láng bị việt cộng bắt lùa đi để dùng làm chị nấu ăn (chị nuôi) sau cuộc tấn công vào Mé Láng tháng giêng năm 1962. Ông Tư Râu đã chứng minh được mình là xã trưởng ở làng Mé Láng nhờ tờ giấy chứng nhận của ông cựu quận trưởng và thẻ kiểm tra mà ông Tư Râu còn cất giữ. Nên cảnh sát cho hai tuần lễ gia hạn để ông Tư Râu trở về Trà Vinh gặp người đàn bà khai là vợ, để kiểm chứng có đúng sự thật hay không? Sau lời trình bày của ông Chỉnh tôi nhìn thấy trên mặt ông Tư Râu nửa mừng nửa lo, mừng vì nghe tin người vợ còn sống, lo là không biết tụi VC lưu manh có lấy giấy tờ thẻ kiểm tra của vợ là Ðào Thị Nở ghép vào cho cán bộ của chúng nó để qua mắt nhà cầm quyền VNCH hay không? Tôi bảo ông Chỉnh làm giấy phép cho ông Tư Râu mười lăm ngày nghỉ để về lo việc gia đình.

Sau một tuần lễ ông Tư Râu trở lên Sài Gòn có dẫn theo một người đàn bà cỡ độ bốn mươi. Khi mới nhìn tưởng đâu cũng trên sáu mươi tuổi, có lẽ vì thiếu dinh dưỡng, tuy ốm yếu nhưng nhưng lanh lẹ, giới thiệu cùng tôi là vợ, và bà Tư cám ơn tôi:
– Nhờ Trời Phật phù hộ nên nhà tui đã gặp được ông Phó cứu giúp trong cảnh khốn cùng, được chữa lành bệnh và đi làm. Nếu không có… „chiện“ được đi làm… „diệc“ mà còn sống cuộc đời ăn mày thì tui chắc ở tù suốt đời vì chẳng bao giờ cảnh sát tìm ra tông tích được ông nhà tui đâu.

Tôi gọi ông Hai lên gặp bà Tư Râu, hôm nay có thêm khách ở nhà cho vui. Tôi cũng chúc cho ông bà Tư Râu được an vui và nhiều sức khoẻ. Ngày mai ông Tư Râu dẫn bà Tư đi đến cảnh sát để chứng mình đã lãnh vợ ra và điều chỉnh lý lịch trong tờ khai an ninh của hãng Hàng Không Việt Nam. Sau ba tháng ông bà Tư Râu chia sẻ tiền nhà cùng ông Hai và bà Tư được vào làm cùng sở với ông Tư Râu lo việc rửa các mâm và rau cải. Có lần tôi ghé thăm ông Hai và ông bà Tư Râu, thấy các ông đang nhậu bia Heineken và bà Tư Râu đang lo các món nhâm nhi. Thấy tôi bước vào, ông Hai khoe liền, từ ngày có ngườì em trai kết nghĩa và cô em gái ông Hai được an hưởng tình gia đình ấm cúng mà từ lâu nay ông đã mất đi sau khi vợ ông qua đời ở làng Ba Xe quận Long Tuyền Cần Thơ, trong một đêm Tây ruồng bố vào năm 1945. Ông Hai bỏ làng ra đi từ đó. Như trong gia đình bà Tư Râu lo cơm nước và rửa chén bát vệ sinh trong nhà.

Từ cuối năm 1967 tôi rời Air Việt Nam trở về Không Quân ra Nha Trang ở Căn cứ Huấn Luyện KQ rồi về vùng Bốn làm chỉ huy trưởng Căn Cứ KQ Sóc Trăng. Sau đó, 1971 trở lại vùng Hai làm chỉ huy trưởng Căn Cứ 60 Chiến Thuật KQ Phù Cát Bình Ðịnh cho đến ngày rời bỏ VN mến yêu ngày 30 tháng tư năm 1975. Khi ngồi viết lại những dòng chữ nầy tôi xin nhắn cùng ông Tư Râu về việc chính tôi là người phi công khu trục vô tình đã thả trái bom lân tinh gây nên những vết thương muôn đời trên thân thể ông Tư Râu mà ngày xưa tôi không đủ can đảm thú nhận chuyện đau lòng đó cùng ông. Ðến năm nay ông Tư Râu cũng đã chín mươi tuổi nếu còn sống trên cõi đời nầy hay đã hoá ra người thiên cổ rồi xin ông Tư Râu nhận nơi đây những lời chân thành tạ tội của một người phi công khu trục.

Có một lần vào năm 2006, khi đi dự đêm hội ngộ HKVN ở Westminster, Los Angeles có người bạn thuật cho tôi nghe một chuyện sau ngày mất nước ở HKVN. Trong buổi họp các nhân viên HKVN để cán ngố tuyên truyền, sau khi dứt lời một cán ngố bảo: Cách mạng đã về, thành công trong công việc giải phóng quê hương dưới sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy. Các đồng bào hãy hồ hởi phấn khởi lên làm việc gấp trăm lần hơn Mỹ Ngụy để bảo vệ nền dân chủ tự do thành công của cách mạng. Có ai có ý kiến gì không? Trong phòng im lặng không có ai lên tiếng trả lời, cán ngố liền chỉ bà Tư Râu, cụ bà phát biểu đi chứ! Bà Tư đứng dậy chậm rãi nói: „Nhờ Trời Phật Thánh Thần Thiên Ðịa phù hộ, hoan hô Cách mạng thành công… dìa thành… làm ơn ’’diệt’’ luôn tụi….’’diệt cộng’’… đừng để chúng nó pháo kích lung tung… „diết“… chết dân lành vô tội…“

Thiên Phong
hoiquanphidung.com
***
*LINH PHƯƠNG: Giọt Hồng Sương trên thềm Ðịa Ngục
Linh Phương

Có những kỷ niệm dù vui hay buồn, ta ngỡ rằng sẽ quên đi theo tháng ngày tháng bận rộn của nợ áo cơm nơi xứ lạ quê người. Nhưng không! Khi những ngày của tháng Tư trở về thì lòng tôi chợt bâng khuâng. Trong ký ức tôi hiện rõ lên từng nét của kỷ niệm xưa như mới vừa xảy ra đây thôi.

Tôi làm sao quên được lúc bị chuyển từ trại Phan Đăng Lưu sang nhà giam T. 30 Chí Hòa, tất cả các nam tù nhân chính trị, và những người vượt biển bị bắt thì được dồn vào khu ED, vì tôi là nữ tù nhân thuộc thành phần “phản cách mạng” thì được nhét vào phòng của các “chị em ta” chung với các nữ Cán bộ thoái hóa tham nhũng. Phòng chật ních thêm hơn sau vụ chuyển trại nên mọi sinh hoạt trở nên hạn chế, kể cả từng muỗng cơm hay nước muối. Tôi được phân công đi đổ rác hay phơi áo quần; mỗi khi được đi làm như thế thì tôi rất phấn khích vì được đi ra ngoài hít thở không khi và giãn gân cốt; và thêm nữa, tôi được đi qua những phòng trong khu để thoáng nhìn những ai đã bị tóm hay là được nhắn tin miệng qua những câu nói vụn vặt rất lý thú…

Chẳng hạn có một anh nói hay hát lên trích câu trong nhạc phẩm “Mùa Ðông Của Anh” lời của Trần Thiện Thanh như sau:

– “Em ơi sao em không thương nó, mà để nó đau nằm liệt chiếu vậy?” Rồi có tiếng ai hát: “Xưa hôn em một lần rồi anh ho lao gần chết, xong em đi rồi thì anh ói ra máu; em đi đi thà anh không được hôn còn hơn vô Nhị Tì… là tì tì tì …”

– “Báo cáo em, anh muốn đăng ký theo em xuống kia đổ rác để anh thổ lộ nỗi lòng mà đã từ lâu anh ấp ủ ứ ư lúc bên T.. Hai…ự ứ…mươi (20) từng từng tưng từng tưng tưng từng tưng…”

Lại có những câu nói nghe thì như là vô thưởng vô phạt, nhưng đó như một lời khuyên:
– “Em có thương anh thì thương cho trót, chứ đừng bép xép thì hết đường về.”
– “Cưng ơi cưng có bị cho ăn bánh “hỏi “hay “thịt quay” thì bình tĩnh mà ăn, chứ đừng hấp tấp thì vào hầm than nha cưng.”

Lúc đó tôi không hiểu “hầm than” là ở đâu và có nghĩa gì? Sau nầy, vì có nếm qua thì tôi mới hiểu được nỗi hãi hùng của hai tiếng “hầm than” này!

Trong trại thường có các tù nhân lao công được lấy từ các tù nhân có hạnh kiểm tốt để làm tạp dịch hoặc họ được đi theo các cán bộ quản giáo sai làm những việc vặt. Nhắc lại thời gian ở trong trại giam tập thể không lâu, sau mỗi lần tôi bị đi “làm việc” về, tôi thường bị cán bộ gán cho nào là “Không tự giác, không thành khẩn khai báo.” Trên giấy tôi độc nhất chỉ khai lý lịch thôi, còn phần khai báo sự việc tôi luôn luôn để trắng.

Vì thế, sau vài lần “làm việc” không có kết quả, đột nhiên vào một chiều kia, họ ra lệnh tôi thu xếp đồ đạc để chuyển trại. Tôi đã có kinh nghiệm qua những lần trước, từ T.20 qua sở Công An Thành Phố, đến Sở Nội Vụ, thế nên, tôi thản nhiên đi theo tên cán bộ để đi lên tầng ba của nhà giam Chí Hòa. Họ liền giam tôi trong một phòng nhỏ, trước đây là phòng dành cho tử tội. Tại đây, tôi bị còng hai chân và hai tay cả ngày lẫn đêm; cơm ăn thay vì được hai chén và bốn muỗng cà phê nước muối, thì nay họ xén bớt chỉ còn một chén rưỡi và hai muỗng nước muối cho một ngày mà thôi.

Việc tắm rửa thì mỗi tuần một lần với một sô nước; trên thân tôi chỉ có bộ áo quần duy nhất từ ngày tôi bị họ bắt cho đến ngày về là gần ba năm trường. Ngày thì nóng hầm hập, đêm thì lạnh cóng; chỉ có một chiếu rách trên sàn xi măng lạnh lẽo đầy vết máu đã khô đen lâu ngày. Nhìn lên trần nhà thì tôi thấy đầy những con dơi bám chặt.

Họ nói là nhốt tôi riêng tại khu biệt giam này để mà suy nghĩ và tự giác thành khẩn khai báo. Riêng tôi thì dùng thời giờ để ôn tập ngón nhạc trên sàn xi măng và học luyện lại trí nhớ. Tôi học lén bằng cách gõ ngón tay vào tường, và qua lỗ tò vò nơi khung cửa sổ tôi ra dấu bằng các ngón tay để “nói chuyện với các bạn tù…” Tại đây, tôi ra dấu hiệu bằng ngón tay rồi ráp vần lại để liên lạc với bạn tù nơi các phòng bên. Vì chỉ một mình tôi là nữ tù nhân chính trị, nên tôi đã được các bạn tù nam đặc biệt đối đãi đẹp như đôi khi họ ném cho viên đường cái kẹo; khi thì cây kim đã gảy ngang để vá áo. Trong thời gian này, tôi được học tiếng Nga với thầy Đạt, tiếng La-tinh với thầy Tiếng, xem chỉ tay hoặc hướng nhà cửa với thầy Diệp hoặc ngồi tĩnh tâm để giữ sức khỏe…Các thầy nói trên là những tu sĩ Công giáo có dính líu trong tổ chức chính trị. Các vị này đã khuyến khích nâng đỡ tinh thần tôi trong những lần tôi đi “làm việc,” nói thẳng ra là tôi đã bị các tên cai tù tra khảo tinh thần lẫn thể xác.

Nếu ai đã qua đoạn đường tù ngục thì mới thấu hiểu được tình người trong chốn địa ngục trần gian của Cộng sản. Nơi đây phơi bày mọi tánh nham hiểm, phản trắc, bán đứng, lừa dối, hợm mình, ganh tị. Tuy nhiên, cũng tại chốn ngục tù này đã cho thấy tình thương yêu của con người về sự hi sinh, dù có nguy hiểm đến tánh mạng cũng không nao núng nhưng thật ra rất hiếm hoi. Nơi ngục tù là cái thước đo được lòng trung tín của con người qua từng thỏi đường, miếng thịt, muỗng muối, xã ớt hay thỏi xà phòng để thách thức lẫn nhau, cho nên tinh thần của mình phải rất vững vàng trong các tình huống nói trên.

* * *

Tôi kể lại sau đây một chuyện thật đã xảy ra trong chốn địa ngục trần gian, một câu chuyện mà mỗi khi hồi tưởng, lòng tôi vẫn còn đầy ắp lòng quí trọng và cảm kích về một người bạn tù đã vì tôi mà anh đã phải bị trừng phạt nơi chốn biệt giam. Lúc tôi chuyển trại sang T.30, tôi chỉ biết người bạn tù ấy đi làm lao động như những tù nhân lao động khác; mỗi ngày anh mang cơm đến các phòng biệt giam dành cho các chính trị phạm. Có một lần, sau khi bị kêu đi “làm việc” xong, trên đường về nơi biệt giam, tôi đã đi không nổi nữa, vì các vết thương trên mình, tôi té quỵ nhiều lần. Anh ấy đi ngược chiều với tôi, anh bèn để thùng cơm xuống đến đỡ tôi đứng lên thì anh bị tên Cán bộ đánh vào đầu, anh lại còn bị hắn ta đá vào bụng. Sau đó, tôi nghe tin anh bạn tù này đã bị chúng kiểm điểm và không cho anh làm công việc lao động những ngày sau đó. Thế nhưng, anh bạn tù này vẫn không ngán, anh không được chúng cho giao đi chia cơm thì anh đã nhờ bạn tù khác lén bỏ viên Vitamin trong cơm cho tôi, khi thì vài hạt đậu phụng hay viên kẹo trong cơm.

Gương mặt anh bị bầm sưng nhai cơm không được vì anh đã bị bọn cai tù đánh đập, nhân lúc không có cán bộ trông chừng, anh bèn lén từ phòng bên dùng dây quăng sang phòng tôi miếng muối cùng tán đường mềm hay miếng chanh nho nhỏ để ngậm. Tuy các món này đầy bụi bặm nhưng có hề gì, lúc đó các món ấy như thuốc tiên mà tôi xem là phép lạ từ những người đã không ngại nguy hiểm giúp đỡ tôi qua cơn đau đớn. Thể xác tôi bị đau đớn sau những lần bị đi “làm việc” với Cán bộ, nhưng không đáng kể gì nếu so đến sự mất mát lớn lao vì bị phản bội giữa những người gọi là đồng lý tưởng. Tôi tự bào chữa cho họ rằng vì họ không thể chịu đựng nỗi đói khát, nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy buồn thăm thẳm, tôi thật sự cô đơn vì không có bạn tù tri kỷ, vì có những người đã làm mất niềm tin trong tôi,

Có những lúc tôi được ra ngoài sân tắm nắng, anh bạn tù lao động ấy đã nhận ra tôi, và anh đã hỏi thăm sức khoẻ, anh khuyên tôi đừng buồn. Tôi chỉ khẻ nói: “Nỗi buồn là hạnh phúc của đời tôi, vì đã vận vào rồi khó mà dứt.”

Vài hôm sau, tôi nhận được bức thư xếp nhỏ giấu dưới ca cơm.Tôi ngạc nhiên và xem thư với lời viết rất cảm động. Tôi không biết tại sao anh biết tôi vào tù và biết luôn cả nghề nghiệp bên ngoài của tôi. Trong thư anh đặt cho tôi tên là Phong Linh có nghĩa “Tâm tư thả cho gió.” Rồi sau đó, tôi nhận được thư anh lia lịa khi thì nồng nàn mơ ước về cuộc đời mới sau khi đưọc ra khỏi nhà tù, khi thì giận hờn vì anh ta không nhận được hồi âm. Làm sao tôi trả lời thư anh được, bởi vì tôi vẫn chưa biết gì về anh; vả lại, nội qui trong trại rất ngặt lại đầy ăng-ten…

Đã có một lần người đó bị bọn cai tù trừng phạt vì anh đã giúp tôi. Tôi muốn tránh sự liên lụy cho anh nên im lặng, và càng im lặng thì anh càng liều hơn khiến tôi sợ hết hồn. Có một đêm tôi đang ngồi cầu nguyện với Chúa thì nghe tiếng sột soạt, tôi ngỡ rằng đó là tiếng động của lũ dơi bay trở về như thường lệ từng đêm. Nhưng không! Tiếng động nầy nghe càng lúc càng gần… Tôi đang phân vân và muốn tìm ra đó là tiếng động gì. Thình lình, trong bóng đêm một khuôn mặt hiện ra bên khung cửa tò vò, có tiếng thở hổn hển và giọng nói đứt quảng:
– “Anh đây Linh à, anh thương em lắm! Can đảm lên nha em. Anh tặng cưng hoa hồng anh mới hái đây!”

Tay anh lấy từ trong lớp áo nơi ngực ra một hoa hồng tuyệt đẹp. Phản ứng tự nhiên, tôi cố rướn người để vói tới hoa hồng anh đưa, nhưng quên đi là đôi chân và đôi tay bị còng, vì thế nên tôi bị té sấp xuống nền nhà vô cùng đau điếng. Lúc đó, tôi mới hoàn hồn định thần là mình đang bị xiềng cùm trong nhà tù, nên la lên:
– “Anh xuống đi, xuống, xuống, kẻo chúng thấy là chết. Xuống, xuống đi.”

Thế mà anh tỉnh bơ lại còn nói:
– “Em đừng lo, các Cán bộ còn đang nhậu thịt cầy. Hôm nay là ngày lễ nên họ nhậu nhẹt. Linh à, anh mơ ước sau nầy về, ra ngoài được em đàn cho nghe vì anh thích nghe tiếng đàn Piano lắm!”

Nói xong anh tụt xuống và chạy nhanh trong bóng đêm mất hút. Tinh thần tôi bị chấn động, tôi tự hỏi với cách nào mà anh ấy leo lên tầng lầu ba để liều tặng tôi hoa hồng mà không sợ Cán bộ? Ở đâu mà anh ấy có hoa hồng tươi như thế? Tôi lo sợ rằng đến sáng khi cán bộ mở cửa phòng để kiểm soát, và lòng phân vân không biết giải quyết thế nào đây, thôi thì tôi phải nhai và nuốt cả cành hoa hồng, kẻo họ phát giác ra chuyện thì rắc rối to…

Đến trưa, lúc đi chia cơm, anh bạn tù lao động ấy cứ nhìn tôi cười hoài mà còn làm bộ gải đầu, dụi mắt. Ý nói có người nhắn tin. Tôi cứ làm như không biết mà trong lòng rối beng, không biết người ấy còn có hành động gì nữa đây? Lòng thầm mong là anh ta phải ớn nội qui trong trại mà đừng làm gì nữa. Nhưng khi đêm về, anh ấy lại rút trong áo ra một hoa hồng nữa. Lần nầy tôi bình tĩnh hơn nên nói:
– “Anh đừng làm như vậy nữa, kẻo nó thấy là ăn đạn đó!”

Anh nói: “Anh lấy hoa hồng trong vườn của Trưởng khu để tặng em. Em đừng lo, họ không thấy đâu, vì ống máng xối nầy rất chắc chắn. Mấy ngày trước anh đã tìm cách làm bể mấy cái đèn ở đây rồi,” vừa nói anh còn ôm máng xối đu qua đu lại và còn cười cười làm tôi run.

Tôi giục: “Anh hãy xuống đi!”

Anh nói: “Ngày mai anh sẽ gởi giấy để em viết thư cho anh.

Tôi nói: “Thôi, không được đâu!”

Anh nói: “Tù như cùi rồi không sợ lở nữa!” Vừa nói anh vừa làm một nụ hôn gió nữa. Xong rồi anh theo máng xối để tụt xuống đất dông mất.

Tôi vừa phập phòng lo sợ mà vừa buồn cười, trong lòng tôi lo lắng nếu các bạn tù bên phòng tập thể thấy rồi báo cáo thì chết.

Đến gần sáng, tôi soạn lại bổn cũ là nhai nuốt thêm một hoa hồng nữa. Trưa hôm ấy, phòng biệt giam kế cận gõ và hỏi:
– “Đêm qua làm gì mà nghe sột soạt thế?”

Tôi đành nói:
– “Đêm qua nóng quá không ngủ được, lại mấy con dơi động ổ hay sao mà cứ bay suốt đêm làm nhức cả đầu.”

Tiếng bên buồng bên trái có tiếng nói:
– “Hãy cẩn thận, tai vách mạch rừng đó… tội nầy họ gán chưa xong lại chồng thêm tội khác thì khó về với các con.”

* * *

Khi nghe các bạn tù nhắc đến các con, lòng tôi chợt nao nao xót xa, vì từ ngày bị bọn Cộng sản bắt đi đến nay đã hơn một năm rồi, nhưng tôi chưa được gặp mặt các con nhỏ, không biết các con tôi sống như thế nào? Khi bọn Cộng sản đọc lệnh bắt tôi về tội “phản cách mạng,” họ đã lục soát và tịch thu sạch sành sanh các vật dụng trong nhà, đến sách vở tài liệu, các công trình về âm nhạc mà tôi đã dày công nghiên cứu và biên soạn. Trong nhà tù, họ đã dụ dỗ và khai thác tình cảm lòng mẫu tử, chúng nói rằng nếu tôi thành khẩn khai báo hay tố giác những ai trong tổ chức thì tôi sẽ được gặp mặt con và tôi sẽ được cứu xét để ra tù sớm. Tôi không tin những điều họ hứa, vì khi tôi bị bắt họ đã nói: “Yên tâm đi, chính quyền Cách mạng rất sáng suốt, nếu chị không chống phá cách mạng thì sau ba ngày chị sẽ về với các con của chị.” Thế mà bây giờ đã hơn một năm rồi họ vẫn còn giam cầm tôi và kêu đi “làm việc.” Tôi đã bị họ tra khảo đủ điều thì làm sao tôi tin được lờI của bọn chúng. Khi Cộng sản tra hỏi tù nhân có làm việc đó hay không? Nếu ta trả lời “Không, Không,” thì đối với bọn chúng đấy có nghĩa là đôi khi “Có” và những câu trả lời của ta sẽ bị họ vặn vẹo, suy diễn theo đầu óc đặc sệt của họ với các lý luận ngu đần …

Sau này khi trở về, ra ngoài với các con, tôi mới biết rằng các con tôi đã khổ đến bậc nào! Cậu con lớn phải tìm công việc nuôi các em bằng cách nhặt bao nylon, plastic ngoài đường; cậu em kế phải giúp lặt vặt công việc mua bán ngoài đường chỉ đủ tiền nuôi bốn miệng ăn một bửa trong ngày. Trong nhà thì rỗng không, chẳng còn gì để bán được nữa để mua thực phẩm. Các bạn bè tôi và người thân thì họ sợ bị liên lụy, thế nên, họ xa lánh và trở nên ghẻ lạnh, các con tôi bơ vơ đói khát bệnh hoạn và nhận ra được câu: “Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai!” Ôi! Những hình ảnh ấy cho đến giờ này vẫn còn hằn sâu đâm trong trí nhớ chúng, và chúng nó luôn nhắc cho nhau lấy đó làm kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại.

* * *

Trở lại câu chuyện, sau sự việc ấy đến mấy ngày sau, tôi không nhìn thấy anh ấy ra làm việc nữa; tôi gợi chuyện với anh tù lao động đưa cơm thì thấy gương mặt anh ta kín như bưng càng làm tôi lo lắng, nhưng tôi cũng đành, không biết làm cách nào dò hỏi thêm.

Thường lệ, buổi chiều sau khi đưa cơm thì kẻng đánh báo hiệu để cán bộ đi điểm danh để xét phòng lần cuối trong ngày cũng là lúc cán bộ nghỉ làm việc thì đấy cũng là thời gian các tù nhân tha hồ nói chuyện, liên lạc với phòng bên hoặc làm gì tùy ý trong phòng. Tuy nhiên, lần nầy sau khi điểm danh, Cán bộ kêu tôi đi ra ngoài, ra lệnh xét phòng và bảo đi theo họ.

Qua khu GH đến văn phòng mà sau nầy tôi biết đó là phòng làm việc của tên Trưởng khu. Khi bước vào phòng thì hắn ta nhìn tôi chằm chặp và hỏi:
– “Chị vào đây bao lâu?”
– “Gần một năm.” Tôi nói.
– “Chị biết chị có tội gì không?” Hắn ta hỏi.
– “Cán bộ biết sự việc của tôi như lòng bàn tay thì tôi còn nói gì nữa.”

Hắn ta gằn giọng:
– “Chị là thành phần phản cách mạng, phản động. Nhà nước đưa chị vào là phải thành khẩn khai báo, cải tạo tốt, chấp hành nghiêm túc nội qui của trại chứ không phải vào đây làm loạn chị biết không. Lộn xộn là ông bẻ càng hết!”

Tôi im lặng không trả lời hắn. Hắn lại hỏi:
– “Chị làm nghề gì? Sinh hoạt ra sao?”

Tôi cười khẩy và nói:
– “Cán bộ lại hỏi thừa nữa rồi, Cán bộ đã có hồ sơ cầm trên tay, đã biết tôi làm nghề gì, sinh hoạt ra sao ngoài đời thì có ăn nhằm gì trong chốn ngục tù nầy.”

Hắn ta nhìn tôi trừng trừng:
– “Chị biết tôi có quyền giam án chị nếu chị chấp hành không tốt nội qui trong khu trại của tôi.”

Tôi liền nói:
– “Cán bộ có nói điều nầy thì tôi mới nói. Tôi chưa ra tòa, hồ sơ do Chấp pháp thụ lý. Sự việc của tôi đã lâu, tôi chắc là tôi có tội hay không thì do Sở Nội vụ nắm giữ, còn tôi thì tự xét thấy tôi đã không làm điều gì sai trái vi nội qui cả.”

Hắn nói: “Bây giờ, giấy viết đây, chị hãy thành khẩn khai báo thì tôi tạo điều kiện dễ dàng cho chị sớm về với con chị.”

– Tôi nói: “Tôi không có điều gì để khai báo ở đây! Lòng tôi nung nấu chỉ mong sớm được về với các con tôi mà thôi.”

Hắn ta giận dữ nói:
– “Chị láo khoét che giấu cho chị và cho đồng bọn của chị, chúng tôi đã biết rõ như bàn tay nhưng để xem chị có thành khẩn không, chị quá ngoan cố thì phải dùng biện pháp này.”

Nói rồi hắn ta hất hàm, ra dấu cho tên Quản giáo bước vào, hắn ta còn nói thêm khi tên Quản giáo đưa tôi đi ra khỏi phòng:
– “Chị chống đối chúng tôi không được đâu, cha mẹ ông bà chị còn cãi lại, chứ chúng tôi sắt cũng phải mềm. Thử xem!”

Tên Quản giáo này đưa tôi đi qua các khu ngoằn ngoèo, đi qua những phòng trống, bên ngoài trời đã tối đen. Tôi đi theo hắn một đoạn nữa, nhưng tôi vẫn không thể nhìn ra hướng là dãy nào, khu nào; đến khi hắn đưa tôi xuống thấp một tầng, thì tôi chợt hãi hùng khi nghe tiếng rên la… Ðúng lúc ấy, tên cán bộ dừng lại trước một phòng nhỏ, hắn mở xích sắt và đẩy mạnh tôi vào trong. Tôi kinh khiếp vì nghe chí choé dưới chân mới biết là lũ chuột, tai tôi nghe tiếng nước chảy cùng lúc mùi hôi thối xông lên. Tôi cố bước một bước để tránh lũ chuột thì bị trơn trợt vấp té đành ngồi luôn, mà tôi ngồi cũng không được, vì chân đã chạm nước lạnh. Tôi sợ hãi cố lấy bình tỉnh căng mắt trong bóng đêm để định hình là mình đang ở đâu? Tôi tự nhủ hay là mình ở dưới đường cống? Vì thường ở dưới cống là có chuột. Tôi định tâm rồi thì ngồi co mà nhắm mắt suy nghĩ để có sự bình tĩnh cho qua chứng nhức đầu. Thế nhưng, lũ chuột này không để cho tôi yên đâu, chúng không sợ người, chúng nó biết thân phận người tù không làm gì được nó, nên chúng bò lên người tôi, chúng cắn vào mấy ngón chân, có con thì chạy vào ống quần, có con thì leo lên tóc. Tôi bực quá vừa la hét vừa quần thảo với chúng. Thét rồi, biết là không xong với chúng, tôi cứ mặc kệ để ỳ ra sao thì ra. Ðến sáng mới biết chân mình chảy máu vì bị chúng nó cắn, trong thân mình bị xây xát, có một con bị chết dẹp nằm kế bên. Tôi mới biết hồi đêm vì bản năng sinh tồn tôi đã vùng vẫy hết sức mình và đá vào chúng.

Tôi khóc ngất và thầm cầu xin Chúa trên cao an ủi giúp sức cho tôi trong hoàn cảnh khốn đốn nầy. Giờ đây tôi suy nghĩ không biết có chuyện gì xảy đến cho anh bạn tù đó hay không mà mấy ngày qua tôi không thấy tăm hơi. Tôi nhớ lại thì giờ nầy là lúc đã điểm danh rồi, thì chắc là sẽ đến giờ “làm việc,” linh tính báo cho biết ngày hôm nay sẽ có chuyện. Khoảng gần trưa tôi được kêu ra đi “làm việc.” Khi vào phòng, tôi đã thấy hai tên Quản giáo và tên Trưởng khu.

Tên Trưởng khu nói:
– “Đêm hôm chị đã suy nghĩ tự giác mà khai báo chưa?”

Tôi đanh giọng:
– “Có gì mà suy nghĩ, mà khai báo …”

Tên Quản giáo nạt nộ:
– “Không thành khẩn ông cho mầy chết!”

Hắn vừa nói xong thì cửa mở ra. Bước vào phòng là anh bạn tù ấy. Tôi thoáng ngạc nhiên, nhưng lòng vẫn giữ bình tĩnh. Hắn đứng lên và hỏi tôi:
– “Chị biết anh nầy không?”

Tôi nhìn anh và trả lời cách dửng dưng:
– “Biết chứ, anh nầy là lao động đưa cơm mà.”
– “Anh biết chị nầy chứ?” Hắn ta hỏi. Anh nhìn tôi trong lúc hai tên cán bộ kia theo dõi. Anh nói:
– “Tôi biết chị này ở biệt giam trên tầng ba, thưa Cán bộ.”

Tên Trưởng khu nhìn anh và tôi xong hắn hỏi:
– “Chị và anh Tánh nầy có liên hệ gì, hãy tự giác khai ra. Chúng tôi đã biết tất cả, chỉ cần chị nói thật thôi!”

Tôi nói:
– “Tôi không có liên hệ gì hết với anh nầy…” Vừa nói đến đó, tên Quản giáo đứng sau lưng đá vào thân tôi làm tôi ngã xuống; anh ấy chạy lại đỡ tôi lên thì bị tên Quản giáo dùng cây ma trắc đánh tới tấp lên đầu, trên lưng anh làm anh té xuống.

Anh lấy hai tay ôm đầu và nói:
– “Cán bộ, Cán bộ, tôi không có “quan hệ” gì hết.”

Tên Quản giáo nói:
– “Có đứa khai báo mầy đã liên hệ các phòng, liên lạc giùm cho nó. Mày còn cung cấp giấy viết cho nó là mục đích gì? Mày còn phạm tội ăn cắp tài sản của trại đem cho nó trong khu nầy ai cũng biết mà còn ngoan cố chối cãi hở?”

Tôi xen lời:
– “Cán bộ nói không có bằng cớ, tôi không hề nhờ anh này liên hệ với ai, mà cũng không nhờ anh cung cấp gì hết, mà anh cũng không đem gì hết cho tôi.”
– “Thế sao có lần mày xin thuốc đỏ để làm gì? Để viết truyền đơn hả?” Hắn ta hỏi.

Tôi nói:
– “Tôi bị vết thương làm độc sau lần đi “làm việc” về, anh là lao động thì chuyện y tế trong trại là đương nhiên huống hồ Cán bộ Đủ đã xét.”

Tên trưởng khu phóng tia mắt về anh bạn tù và hỏi:
– “Ngoài cái tội ăn cắp hoa anh còn liên hệ đến việc gì khác? Trước đây anh cải tạo tốt nên cho anh lao động, bây giờ anh đã phạm nội qui trầm trọng, phá hoại sự an ninh trong trại. Anh muốn cấu kết tuyên truyền phản động làm loạn trong trại nầy à. Chà, Thiếu tá Cảnh sát muốn cấu kết với nữ nhạc sĩ làm chuyện phản động à?”

Giờ đây, tôi mới biết anh là Thiếu tá Cảnh sát thì sự lo ngại cho anh càng tăng lên. Tôi lo cho tôi thì ít mà cho anh thì nhiều, vì sau khi họ đưa những bằng cớ anh liên hệ với các tù nhân ở các khu khác. Nhưng anh chối một mực nói không có; vì thế, họ càng điên tiết. Họ lôi anh đi ra ngoài.

Tên Quản giáo kia lôi từ ngăn kéo ra mảnh giấy mà tôi nhớ đã cho chị Tuyết lúc chị ta bị bắt về tội biển thủ công quỹ Nhà nước vào tạm trong biệt giam chung với tôi vài ngày.

Tôi viết bản nhạc trên bao giấy thăm nuôi đó và xếp lại giấu đi để định khi ra tù tôi sẽ viết lại. Có một đêm, chị Tuyết vì lạnh, chị ta xin tôi chút giấy để hút thuốc. Tôi cho chị ấy giấy để quấn thuốc, chị ta còn xin tôi cả bao để khi chuyển phòng chị sẽ có giấy mà quấn hút. Tôi thương chị vì mới vào tù không quen thiếu thốn, và san xẻ với chị. Đâu ngờ ngày hôm nay nó nằm trên bàn giấy của họ. Khi họ hỏi tôi, tôi trả lời trong lúc đi tắm nắng lượm được trong sân giấy viết chứ không ai cung cấp. Sau đó, họ buộc tội tôi có liên lạc các phòng khu bên cạnh với các tên Y, C, và B, và bắt tôi ký giấy thú tội. Tôi vẫn một mực không ký.

Tên Trưởng khu im lặng ký tờ giấy đưa cho tên Quản giáo và ra lệnh đưa tôi ra ngoài. Hắn đưa tôi về phòng biệt giam rồi còng tay chân bảo tôi ngồi đó. Lúc ấy là vào giờ cơm chiều. Loa phóng thanh trong nhà tù thông báo tin tức:
– “Tên phản động Trần Thanh Tánh Thiếu tá Ngụy đã không thành khẩn khai báo mà còn ngoan cố phạm nội qui của trại. Thi hành lệnh của Trưởng khu chiếu theo mười hai điều nội qui của nhà nước và mười bốn điều nội qui của trại, nay hình phạt cách ly ba mươi sáu ngày không được miễn chế.”

– “Tên Lê Linh Phương đã cấu kết với tên phản động Trần Thanh Tánh liên hệ với các cải tạo viên phá hoại an ninh trong trại. Chiếu theo nội qui của nhà nước và của trại, nay thi hành lệnh phạt cách ly hai mươi hai ngày miễn chế. Lệnh nầy thi hành ngày hôm nay.”

Tôi nghe tiếng xầm xì phòng bên cạnh. Có tiếng gõ vào tường tưng tưng hỏi của các thầy và họ trách sao tôi đã tin người để xảy ra cớ sự.

Tôi mệt mỏi với tâm trạng buông trôi. Đã cùi rồi thì đâu còn sợ lở gì nữa! Đến đâu thì đến, tôi đã sẵn sàng; nên khi tên cán bộ đưa tôi vào phòng tối biệt giam tôi vẫn xem thường mà thôi. Lần nầy tôi bị treo tay chân đứng theo lối khỉ để máu bị động, dưới đất mùi phân nước tiểu xông lên nồng nặc. Tôi bị đứng theo lối đó không biết bao lâu, lòng thầm cầu xin cho anh Tánh có can đảm và sức khoẻ qua các hình phạt.

Riêng tôi thì biết sức mình đã yếu, vì qua những trận đòn vừa qua, lại thêm vết thương bị chuột cắn nay đã nhức nhối mà không được chữa trị nay lại càng thêm đau đớn vô cùng. Tai tôi ù, gương mặt đã thấy nặng, đầu óc thì căng thẳng, mắt thì mờ đi không thấy gì hết, cả thân hình đong đưa và tôi ngất đi lúc nào không biết…

Khi tỉnh dậy, chân không đứng vững nên người cứ ngả tới trước, cổ họng tôi đắng và môi khô, tôi thật khát nước. Có tiếng mở cửa tò vò bên cạnh để đưa cơm, tôi biết có người kế bên cũng bị cách ly như tôi. Tên cán bộ mở cửa tháo dây treo tay chân, tôi té ngồi đờ đẫn một lúc. Hắn đưa ca cơm rồi đóng sầm cửa ra đi. Rồi sự im lặng bao trùm suốt đêm. Tôi thiền để lấy sức, cố quên cơn đau nhức đang hành hạ và cả người bị sốt, tôi thầm cầu nguyện xin Ơn Trên cho tôi qua khỏi cảnh ngộ đau thương này. Tôi nhận thức rằng trong hoàn cảnh tận cùng dưới đáy địa ngục có thật này trong ngục tối Cộng sản thì chỉ có sức mạnh tâm linh mới đưa tôi vươn lên khỏi sự tuyệt vọng này.

Sáng ngày hôm sau, cửa xà lim mở. Tên Cán bộ đưa đôi kính mắt của tôi, xong hắn bảo tôi mang vào. Tôi ngạc nhiên, thông thường, họ rất ghét những người mang kính. Họ cho rằng người mang kính không phải vì yếu mắt mà là thuộc thành phần “trí thức không đáng một cục phân” theo lối suy nghĩ ngu đần do tên Mao Chủ tịch tuyên bố như thế! Theo sau tên cán bộ này lại có hai tên lính kèm đi sau, hắn mở cửa xà-lim kêu các tù nhân nam ra ngoài, già có, trẻ có. Có người râu tóc dài ra, tất cả thất thểu tụ trước cửa xà lim tôi. Hắn nói:
– “Các người bị “cách ly” đã lâu ngày, cần tập thể dục cho khỏe, vậy thì hãy biểu diễn màn thể dục theo kiểu Ngụy xem nào!”

Tôi thấy vài người quơ tay chân yếu xìu, đứng không vững, cứ chúi xuống trước. Thình lình! Tôi thấy tên lính đến gần một tù nhân già nhất bắt ông tụt áo quần ra, và tên cán bộ ra lệnh cho những người còn lại phải bỏ áo quần và trần truồng đứng nhảy mà họ gọi là tập thể dục trước mặt tôi.

Tôi quay mặt đi và khóc cảm thương cho các anh ấy, chúng muốn làm nhục tôi cho tôi sờn lòng… Lòng tôi xót xa vì hình ảnh đau thương, sự cắn răng chịu đựng của các người đó làm tôi cảm phục và khi bọn chúng cất tiếng cười hô hố đầy tính thú vật thì chỉ càng làm tôi thêm căm hờn bọn chúng thêm hơn!

Viết đến đây lòng tôi thầm mong cho những tù nhân ngày trước đã trải qua cảnh ngộ đó tại T.30, nếu có vị nào đọc những dòng nầy thì xin hiểu cho lòng tôi. Bởi vì tôi chỉ muốn nói lên cho mọi người biết đến cái dã man khốn nạn của Cộng sản, bọn chúng đã thành con thú mang mặt người. Riêng tôi vẫn không thể nào quên được buổi sáng đau thương đó, trong tôi vẫn còn nỗi uất hận bọn chúng. Bởi thế cho nên giờ đây dù đã ở trên xứ người đã lâu, có biết bao nhiêu thú vui cám dỗ để thụ hưởng nhan nhản chung quanh tôi, nhưng trong tôi đâu còn lòng dạ nào để vui chơi theo lối sống thác loạn trong xã hội mới này.

Sau thời gian bị nhốt biệt giam nói trên, tôi được lệnh chuyển từ T.30 Chí Hòa về Sở Công an Thành phố để bị ăn “bánh hỏi thịt quay” vài lần, và từ đó tôi bặt tin về anh Tánh. Nay đã gần hai thập niên đi qua rồi. Mỗi khi mùa Thu về thì lòng tôi vẫn nhớ về ký ức xưa cũ ở T.30, đỉnh cao chất ngất của đau thương, đọa đày, oan nghiệt mà giấy mực nào có thể tả hết.

Anh Tánh ơi! Nếu anh có đọc được những dòng chữ này thì Phong Linh (cái tên của Linh Phương do anh đặt) luôn mong cho anh được phục hồi sức khỏe, anh tìm được hạnh phúc bên mái ấm gia đình để bù lại những ngày tháng đau thương trong chốn ngục tối. Vì tại bên thềm địa ngục Cộng sản có thật đó, anh đã xả thân giúp cho Phong Linh trong những ngày, giờ, phút khốn khổ… Mỗi khi tháng Tư trở về thì Phong Linh cũng thường tưởng nhớ đến tấm lòng nhân ái của anh. Anh mãi mãi là điểm sáng trong lòng Phong Linh, vì anh đã cho Phong Linh biết được hai chữ Tình Người như là những Giọt Hồng Sương Bên Thềm Ðịa Ngục tăm tối Cộng sản.

Xin tạ ơn anh.

Xin cảm tạ Thượng Đế Yêu Thương.
Linh Phương
*ĐIỆP MỸ LINH: Người Về

Không thể nào Đoàn hiểu được tai sao Ba Mẹ lại bịn rịn/nghẹn ngào khi chia tay tại chân đèo Cả, trên khoảng đường nhựa đã bị Việt Minh đặt mìn phá hoại từ lâu! Chung quanh Đoàn cũng có nhiều người đàn ông dặn dò vợ/vuốt tóc con và những người đàn bà khóc sụt sùi. Ba ôm Đoàn, giọng rất buồn:
-Vào Nam con cố học hành cho nên người, giúp đỡ Mẹ và hai em, nghe, con!
Đoàn không biết gì để nói. Ba quay sang Mẹ, tiếp:
-Vào đến nơi, em nhờ người đưa thư của anh về cho Mẹ anh. Gia đình anh sẽ lo lắng cho Mẹ con em. Anh đi.
Vừa nghe hai tiếng “anh đi”, Đoàn lờ mờ hiểu rằng Đoàn sẽ xa Ba từ nay. Đoàn vội nắm tay Ba, gọi “Ba!” Ngẫng mặt nhìn lên, thấy mắt Ba chớp nhanh, Đoàn tựa vào người Ba, khóc! Nhỏ Lao và cu Động thấy Đoàn khóc, cũng khóc theo. Ba ôm ba đứa con vào vòng tay gầy guộc, giọng bùi ngùi nói với Mẹ:
-Em gắng lo cho các con. Anh sẽ gặp lại em và các con…
Nói chưa dứt câu, Ba vội vàng quay đi, theo toán đàn ông trẻ quay trở lại Tuy Hòa. Đoàn thấy nón cối của nhóm đàn ông trẻ cứ nhấp nhô trong nắng. Quân phục kaki vàng chỉ nhạt hơn màu lúa chín một tý thôi.
Đoàn người còn lại – gồm đàn bà, người già và trẻ con – bồng bế nhau, đi ngược chiều với toán đàn ông trẻ, hướng về Nam.
Chiều xuống, đoàn người chỉ mới tới giữa đèo Cả. Tất cả dừng chân nghỉ qua đêm. Mẹ và ba đứa con trợn mắt nuốt từng nắm cơm khô trong ruột tượng, do Đoàn mang theo.
Ăn xong, bốn Mẹ con theo mọi người xuống suối lấy nước uống. Nơi dòng suối, Đoàn thấy dấu vết của những người đã trốn vào Nam: Những đôi dép Bình Trị Thiên và nhiều bao tiền tín phiếu còn vất bừa bên dòng suối.
Nhìn mấy bao tiền, Đoàn chợt nhớ Ngoại. Ngoại có một “hầm bí mật” dưới chân cầu Ông Chừ để giấu tiền. Mỗi khi Ngoại bán được vật gì, cả nhà phải xuống “hầm bí mật” để đếm tiền. Trong khi đếm tiền, Ba thường cười “nửa miệng”, bảo:
-Đồ xỏ lá! Chính phủ mà cái gì cũng “chú phỉnh”! Dân ăn cơm độn khoai mì năm này qua năm khác mà thằng dân nào cũng cầm trong tay cả bạc triệu, để tưởng mình là triệu phú!
Không thể nào Đoàn hiểu được Ba nói gì và Đoàn cũng không biết triệu phú là gì; nhưng Đoàn lại nhớ những lần Tây đổ bộ, tiếng kẻng trên Tháp Chàm dóng lên rộn rã, bà Ngoại phải gánh theo hai bao bố tiền và cả gia đình “chạy giặc” lên Phú Nhiêu.
Khi Ba được thuyên chuyển lên Phú Nhiêu, Mẹ sinh nhỏ Lao và cu Động “cùng một lần”. Lúc đó Đoàn không biết hai tiếng “sinh đôi”. Ba bảo Ba dự tính sẽ đặt tên đứa em của Đoàn là Trần Lao Động, vì tên của Đoàn là Trần Liên Đoàn! Không ngờ đứa em này lại “đem theo” đứa em gái cho nên Ba phải đặt là Trần Thị Quỳnh Lao và Trần Hữu Động. Mỗi tối, sau khi dạy Đoàn học, Ba thường ôm Mandolin, đàn những tình khúc lạ, Đoàn thích nhưng không thể hiểu.
Nhớ tiếng đàn Mandolin của Ba thì không thể nào Đoàn quên được tiếng hát buồn buồn của Mẹ mỗi khi Mẹ hát ru bé Lao hoặc cu Động ngủ: “…Mais la nuit, dans tes bras Je m’endors dans tes bras et la tendresse et toi, ne font plus qu’un pour moi…” (1) Tiếng hát của Mẹ chơi vơi, lạc lỏng như số vốn Pháp văn Ba Mẹ dạy cho Đoàn!
Kỷ niệm về Ba theo Đoàn vào giấc ngủ, trên lưng đèo Cả, trong chuyến hồi cư về Thành. Những khi chợt thức giấc vì lạnh, nghe gió thì thầm bên rừng thông và tiếng sóng vỗ rì rào, đều đặn bên ghềnh đá chơ vơ, Đoàn chợt cảm thấy nhớ Ngoại. Những lần từ Phú Nhiêu về Tuy Hòa thăm Ngoại, Đoàn thấy Ba thường đứng lặng bên cầu Ông Chừ, nhìn về phương Nam với ánh mắt ngút ngàn nhớ thương!
Ba thương nhớ Bà Nội đến như vậy, tại sao sáng nay Ba không cùng gia đình về với Bà Nội? Đoàn thắc mắc, nằm co cạnh Mẹ, nhưng không dám hỏi và cũng không thể nào tự giải thích được. Vì Ba ít khi về nhà cho nên Đoàn không có nhiều kỷ niệm với Ba; do đó, những gì Ba làm khi Ba ghé nhà Đoàn đều nhớ rõ từng chi tiết. Như sáng hôm qua, ở nhà Ngoại, Ba trao Mẹ một vòng đeo tay bằng “inox”. Mẹ khóc. Giọng Ba bùi ngùi:
-Em cất để kỷ niệm. Anh làm bằng tay đó, khắc tên anh và em.
-Em có các con, đủ an ủi rồi. Còn vòng đeo tay có tên “hai đứa mình”, anh cất đi; sau này mình gặp lại nhau, nếu già, nhìn nhau không ra thì còn vòng đeo tay!
-Vậy cũng được; em đeo vào tay trái cho anh.
Sau đó, Ba Mẹ/Đoàn và hai em quay quần bên nhau suốt buổi.
Đêm nay, theo tiếng sóng rì rào xa xa, Đoàn nghe tiếng Mẹ thở dài, có lẽ Mẹ cũng thương nhớ Ba! Nhớ đến Ba là nhớ những ngày ăn cháo mướp, cháo bí trừ cơm; vì nhà hết gạo, Mẹ không có tiền mua! Những lần đơn vị làm heo/bò “bồi dưỡng”, Ba đem phần thịt đơn vị cấp cho Ba kho khô hoặc rim mặn, đem về cho các con. Nghĩ ngợi miên man một lúc, Đoàn chìm vào giấc ngủ trẻ thơ.
Sáng hôm sau đoàn người tiếp tục hướng về Nam. Vừa qua khỏi đỉnh đèo Cả, Đoàn thấy bãi biển tuyệt đẹp và một chiếc tàu thủy thật to, đang hải hành ngoài khơi.
Qua khỏi bãi biển Đại Lãnh, đoàn người lên một con dốc rồi dừng lại trước đồn có ông Tây cầm súng gác. Một ông Tây khác đứng trên “lô cốt”, “trâm” một tràng tiếng Tây. Không ai hiểu gì cả! Mẹ nói trổng:
-Nó bảo đàn ông ngồi riêng, đàn bà và con nít ngồi riêng.
Mọi người làm theo lời Mẹ. Chỉ một chốc sau, một chiếc GMC chạy đến, dừng cạnh đoàn người rồi một ông Việt Nam nhảy xuống. Ông Tây và ông Việt Nam “bi bô” một chốc, ông Việt Nam bảo đàn bà, con nít lên xe trước. Ông Việt Nam soát mấy người đàn ông thật kỹ rồi cũng cho họ lên xe luôn.
Lần đầu tiên trong đời được đi xe hơi, Đoàn cảm thấy thích quá! Xe chạy thật lâu rồi dừng trước đồn Vạn Giả. Trong lúc sắp hàng, Đoàn nghe hai ông cãi nhau:
-Thì ông thông ngôn giùm đi. Bà ấy là đàn bà, lại “đèo” ba đứa con, khó khăn lắm!
-Mình không nên để tụi nó biết mình biết tiếng Tây, không tiện. “Elle” có vẻ hiểu biết lắm.
Người kia “hừ” lên một tiếng, có vẻ như nghi ngờ, vừa khi một ông Tây đi ngang, chìa bao thuốc, mời. Thấy bao thuốc màu ngà, có chữ Mic màu đỏ, Đoàn chợt nhớ Ba. Sao ở đây họ sang quá, hút thuốc Mic của Tây; còn Ba phải hút thuốc rê vấn với lá chuối non phơi hơi heo héo một tý!
Tối đến, đoàn người phải ngủ lại Vạn Giả. Sáng hôm sau xe GMC đưa tất cả vào Ninh Hòa. Tại Ninh Hòa, đàn ông bị giam lại để thanh lọc, điều tra. Đàn bà, con nít được đưa thẳng vào Nha Trang. Khi xe qua khỏi cầu Hà Ra, Mẹ bảo:
-Đoàn! Nha Trang đây, con!
Không hiểu có phải vì hình ảnh dễ thương Ba Mẹ thường “vẽ” vào tâm trí của Đoàn từ thời ấu thơ hay không mà khi Mẹ vừa dứt lời, Đoàn hít một hơi dài luồn không khí mát rượi và cảm thấy thương ngay vùng đất lạ, nơi bà Nội vẫn ngóng chờ người con thân yêu của Bà!
Vòng tay già nua của bà Nội giúp Mẹ nuôi Đoàn và các em; nhưng tình thương của bà Nội không thể xóa mờ nỗi buồn khổ thầm lặng của Đoàn và hai em; vì cả ba người cháu của bà Nội ba mang cái tên rất “nặng mùi Đảng” – Liên Đoàn Lao Động! Khi đi học, bị bạn hữu chế nhạo hoài, Quỳnh Lao đổi tên là Quỳnh Giao.
*********
Khi đơn vị của Đoàn tham dự cuộc hành quân hỗn hợp tại Vũng Rô. Trong tiếng đại pháo rền trời từ các chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.) và tiếng súng xối xả của Việt cộng từ các mõm núi bắn ra, Đoàn quên mất dòng suối với những bó tiền tín phiếu mà bé Đoàn đã thấy năm xưa. Đoàn cẩn thận kiểm soát “con cái” của chàng. Tiếng súng phản công của Việt cộng vừa dịu xuống, Đoàn phất tay ra hiệu. Cửa đổ bộ của chiếc hải vận hạm hạ xuống. Đoàn nhảy xuống trước rồi phất tay cho cả đơn vị cùng ùa ra, tiến nhanh vào bờ.
Vì cuộc đổ bộ được thực hiện một cách bất ngờ và chớp nhoáng, Việt cộng bị rơi vào thế bất lợi! Các đơn vị V.N.C.H. phá hủy hoàn toàn mật khu của Việt cộng và tịch thu rất nhiều vũ khí hạng nặng.
Trưa hôm đó, từ chiếc trực thăng tải thương, Đoàn vừa vịn vào vết thương nơi vai vừa nhìn về bên kia đèo Cả, lòng bùi ngùi khi thấy lại chân đèo, nơi năm xưa Ba Mẹ đã bịn rịn chia xa!
Không bao giờ Đoàn có thể tưởng tượng được rằng, sẽ có một ngày – qua chỗ Ba Mẹ chia xa năm xưa – Đoàn bị Việt cộng trói tay/chở trên một chiếc Molotova cùng với những sĩ quan trang lứa với chàng! Tất cả đến với Đoàn quá đột ngột/quá bạo tàn!
Trong trại tù A30, mỗi ngày sắp hàng để đi lao động, Đoàn thấy quân phục của cán bộ, của quản giáo hoặc của vệ binh không có màu vàng dễ thương như màu lúa chín nữa mà Đoàn chỉ thấy màu quân phục xanh vàng giống màu cứt ngựa.
Khi bất ngờ được tha, trở về chốn cũ, Đoàn thấy ngôi nhà của Mẹ được dùng làm trụ sở xã! Bước vào hỏi thăm, cán bộ cho biết Mẹ và Quỳnh Giao ở trong cái chòi cuối vườn cam. Trước khi Đoàn trình diện và đem theo tiền ăn cho mười ngày – đúng như lời “cách mạng” kêu gọi “Ngụy” quân “Ngụy” quyền – cái chòi đó là nơi Mẹ chứa than, củi và những vật dụng ít dùng.
*******
Chiếc xe Lam vừa trờ tới, Đoàn đưa tay trái đón, tay phải vẫn vịn nửa tấm ván ép. Xe dừng. Tài xế nhìn Đoàn rồi ngạc nhiên reo lên:
-Trời, Thiếu tá! Để tôi phụ với. Thiếu tá mua ván ép chi vậy? Để tấm ván ép lên sàn xe, Thiếu Tá ngồi phía trước với tôi, nhen!
Mấy người trên xe lam vừa co chân lên, có ý nhường chỗ cho tấm ván ép vừa nhìn Đoàn với ánh nhìn đầy thiện cảm. Đoàn đáp:
-Không được, chú Tư à! Để tấm ván lên mui xe đi, chú Tư.
Nghe giọng nghiêm nghị và thấy gương mặt đau buồn của Đoàn, chú Tư bảo người lơ xe phụ với chú để tấm ván lên mui xe, cột lại. Xe chạy được một đoạn ngắn, liết ngang, thấy nét mặt của Đoàn bớt đăm chiêu, chú Tư gợi chuyện:
-Thiếu Tá về hồi nào, Thiếu Tá?
-Gọi tên tôi thôi, tá tướng gì nữa mà tá!
-Dạ, bị quen miệng rồi. Thiếu Tá về luôn hay là…
Chú Tư mới nói ngang đó, Đoàn đáp ngay:
-Về luôn.
-Chà, Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến mà đi tù chưa tới năm năm là hên đó. Tôi thấy nhiều sĩ quan cấp úy, chỉ làm ở Quân Cụ hoặc Trợ Y thôi mà tới giờ chưa được về đó, Thiếu Tá.
-Mẹ tôi ủng hộ “nhà nước” ngôi nhà và vườn cam cho nên tụi nó cho tôi về; thằng Động, em tôi, vẫn còn trong tù!
-Hèn gì nghe lối xóm nói bà Cụ đã dọn ra nhà kho mà tôi chưa rảnh để ghé thăm. Ủa, bà Cụ ủng hộ nhiều vậy mà sao Đại Úy Động chưa được về?
-Ai biết được!
Ngày trước chú Tư là Nghĩa Quân, bị thương trong lần Việt cộng tấn công đồn. Sau khi được giải ngủ, chú Tư chăm sóc vườn cam cho Mẹ. Thấy Đoàn im lặng hơi lâu, chú Tư lại gợi chuyện:
-Thiếu Tá mua ván ép tính sửa nhà kho cho bà Cụ ở, phải không?
-Không, để đóng quan tài cho Quỳnh Giao – em tôi!
-Hả? Trời! Thiệt không, Thiếu Tá?
-Thằng chồng của Quỳnh Giao bị thương nặng trong trận Khánh Dương, được đưa về quân y viện Nguyễn Huệ chữa trị. Khi Việt cộng vô, Việt cộng đuổi tất cả thương binh ra khỏi nhà thương. Nghe tin, Quỳnh Giao vội đến nhà thương Nguyễn Huệ thì thấy, chồng nó – cũng như tất cả thương bệnh binh – kẻ bò, người lết dọc theo hai bên đường! Quỳnh Giao đem chồng nó về. Chỉ vài ngày sau, vì không có thuốc chữa trị, chồng nó bị nhiễm độc, chết! Chưa mãn tang chồng, Quỳnh Giao bị một thằng công an Việt cộng theo đuổi, dụ ngon dụ ngọt là nếu Quỳnh Giao lấy nó thì nó sẽ làm mọi cách để bảo bọc Quỳnh Giao và Mẹ tôi khỏi đi kinh tế mới; ngược lại, nếu Quỳnh Giao không lấy nó thì nó sẽ đề nghị Trên bắt Quỳnh Giao và Mẹ tôi phải đi kinh tế mới ngay. Quỳnh Giao quẩn trí, mua thuốc giết chuột, uống!
Chú Tư thở dài, im lặng. Đến nơi chú Tư dừng xe ngay đường mòn dẫn vào nhà kho của Mẹ rồi chíp miệng:
-Tội nghiệp cho gia đình của Thiếu Tá quá! Tôi đem xe về trả rồi tôi qua ngay, phụ với Thiếu Tá. À, Thiếu Tá có cưa, đinh, kềm, búa gì không?
-Không. Chú có gì đem cho tôi mượn.
Chú Tư “dạ” rồi rồ xe, chạy. Đoàn ì ạch vác nửa tấm ván ép đi theo đường mòn bên hè nhà cũ của Mẹ, vào sâu trong vườn cam. Những trái cam vàng hườm, bóng lưởng, lủng lẳng trên cành thật tương phản với bao tử lép xẹp và tâm hồn héo khô của Đoàn.
Mẹ bơ phờ ngồi ngang ngạch cửa. Gió lùa từng khóm tóc bạc lòa xòa trên gò má nhăn nheo. Đoàn nhìn Mẹ, thấy nước mắt vẫn còn đọng nơi khóe mắt của Mẹ. Mẹ hỏi:
-Con có mua vàng bạc, đèn cầy cho em không, con?
-Dạ, tiền không đủ mua tấm ván ép, con phải mua nửa tấm. Con chỉ trả trước được một ít, còn lại, dì Bảy cho thiếu chịu, khi nào mình đi kinh tế mới, Dì sẽ gỡ vài tấm “tôn” trừ nợ.
Mẹ thở dài, quẹt nước mắt, trở vào ngồi bên xác Quỳnh Giao. Đoàn dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái “đo” xác của Quỳnh Giao, xong, Đoàn bước ra gốc cam vừa khi chú Tư trở lại với những dụng cụ cần thiết. Thấy Đoàn có vẻ đắn đo, suy nghĩ, chú Tư hỏi:
-Sao? Thiếu Tá tính gì đó?
-Chắc hụt, chú Tư à!
-Chà, hụt nhiều không, Thiếu Tá?
-Thiếu một tấm dọc.
-Cha! Quan tài mà hụt, khổ quá! Hay là Thiếu Tá ra mua nửa tấm nữa.
-Mua nửa tấm này mà còn thiếu chịu; ai bán thêm nữa mà mua!
Chú Tư thở ra, chưa biết cách nào giúp Đoàn thì Đoàn nhìn quanh, vẻ chán nản. Bất ngờ Đoàn chỉ lên vách, tiếp:
-A, cạy tấm ván chỗ đó, cưa ra, chắp lại, chắc đủ đó, chú Tư.
-Ai lại làm vậy! “Nghĩa tử nghĩa tận”, phải có miếng ván đàng hoàn chớ ai lại lấy ván mục. Hơn nữa, lấy miếng ván đó thì chỗ đâu cho bà Cụ và Thiếu Tá che nắng, đụt mưa?
-Chúng tôi không có nguồn lợi tức, được lệnh đi kinh tế mới rồi, sá gì cái chòi này nữa, chú!
Cả hai hì hục đo/cưa xong tấm ván ép, chú Tư hỏi:
-Khăn, áo liệm, Thiếu Tá lo hết rồi, phải không?
-Lấy gì mua vải xé khăn cho nó? Mẹ tôi bảo mua đèn cầy và vàng bạc mà tôi còn không mua nổi! Lúc nãy may mà chú không lấy tiền xe lam, nếu chú lấy tiền có lẽ tôi phải khất, chờ lo đám tang cho em tôi xong, tôi làm lơ xe cho chú, trừ nợ!
Vừa lấy tiền từ túi quần, chú Tư vừa chíp miệng:
-Thiệt, thời bao cấp này còn tệ hơn chính sách “bần cùng hóa nhân dân” thời Việt Minh nữa!
-Chú còn trẻ, làm sao biết chính sách “bần cùng hóa nhân dân” của tụi nó được?
-Ông Già của tôi kể lại.
Đoàn cười buồn. Chú Tư đưa tiền cho Đoàn, thúc:
-Thiếu tá cầm số tiền này để lo hậu sự cho cô Quỳnh Giao. Để tôi đóng quang tài. Thiếu Tá chạy đi mua vải đi. Kệ, mình nghèo thì nghèo từ ngày tụi nó vô đây chứ mới nghèo đây sao mà sợ!
-Cảm ơn chú Tư. Dù trôi dạt chân trời/góc biển nào, tôi cũng nguyện sẽ trả lại chú số tiền này.
Khi trở về, Đoàn bảo:
-Chú Tư! Tôi ghé trụ sở xã, gặp Trung Úy Trụi, xin giấy phép chôn cất. Tên Trụi bắt tôi phải đóng tiền phạt về cái chết của em tôi!
-Trời đất quỹ thần! Từ đâu mà tụi nó bày ra tiền phạt người chết vậy?
-Tên Trụi bảo rằng nước nhà thống nhất, miền Nam được “giải phóng”, mọi điều đều có đảng và nhà nước “no”, tại sao phải tự tử? Sau khi tôi đóng tiền phạt, tên Trụ lại bảo hôm nay có phái đoàn từ Hà Nội vào tham quan, mai mới cấp giấy phép được.
-Cha, sao vậy cà? Hồi xưa giờ mình coi ngày giờ tốt để hạ huyệt; bây giờ phải chờ giấy phép rủi gặp ngày giờ xấu thì sao?
-Tụi vô thần mà, ai biết được!
Đoàn đem vàng bạc/nhan/đèn và miếng vải trắng vào để Mẹ làm khăn tang cho Quỳnh Giao; vì Quỳnh Giao chết trước, chưa kịp để tang cho Mẹ! Lúc trở ra, Đoàn nghe chú Tư than:
-Tội nghiệp, bà Cụ già cả, hiền lành, sao gặp chuyện buồn không hà!
-Trong trái tim của Mẹ tôi có hình bóng ba người đàn ông thân yêu nhất trong đời. Hai người như dòng động mạch, mang dòng máu trong lành đi khắp châu thân của Mẹ; một người như dòng tĩnh mạch, mang lượng máu đen về, làm rã rời tim Mẹ!
Không thể nào chú Tư hiểu được câu nói đầy ý nghĩa của Đoàn. Chú Tư sắp mấy tấm ván ngay ngắn rồi trao Đoàn cái búa:
-Để tôi ráp. Thiếu Tá ra bếp gỡ tấm ván đi; gỡ xong, mình cưa, ráp luôn một thể.
Đoàn lẳng lặng cầm búa bước đi. Nghe tiếng Mẹ khóc tức tưởi bên kia vách, Đoàn chợt nhớ và không hiểu tại sao mấy hôm nay chưa một lần chàng khóc em! Đoàn cố nhẹ tay và lựa thế để tấm ván cũ không bị bể. Vừa nạy xong tấm ván, Đoàn nghe tiếng chân người chạy rồi tiếng hét:
-Phá hoại tài sản nhân dân! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!
Đoàn ngơ ngác nhìn quanh, thấy hai tên công an chạy tới, theo sau là đám trẻ con. Đoàn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì một tên công an chỉ vào mặt Đoàn:
-Anh kia! Ai cho anh phá hoại tài sản của nhân dân, hả?
-Vườn cam Mẹ tôi ủng hộ nhà nước; ngôi nhà lớn Mẹ tôi ủng hộ “cách mạng” làm trụ sở xã, còn cái chòi này…
Tên công an cướp lời Đoàn:
-Anh thật chả hiểu biết gì cả mà còn “ný nuận”! Đã cải tạo mấy năm mà vẫn chưa thấm nhuần tinh thần “cách mạng”! Mai mốt cụ Bà đi kinh tế mới, nhà này không thuộc về nhân dân thì thuộc về ai, hả?
-Nhưng bây giờ tôi cần một tấm ván để ghép quan tài cho em tôi!
Tên công an khác “xía” vô, luận điệu “tam vô”:
-Ôi, chết “nà” hết, chôn bằng gì chả được! Ở trại cải tạo anh thấy có ai chết được chôn bằng chiếu hay không chứ đừng nói đến quan tài!
Đoàn nghiến răng, nhìn hai tên công an rồi bất chợt Đoàn cất tiếng hát – như một người điên – ca khúc mà ngày xưa ở liên khu V chính trị viên thường tập cho trẻ em hát để nuôi căm thù: “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn!… Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành … bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình…”(2) Nhận ra bài ca này là của “bên thắng cuộc”, hai tên công an hơi nhạc nhiên, chưa phản ứng kịp thì chú Tư run quá; vì chú Tư tưởng rằng Đoàn bị điên thật! Đoàn từ từ gục xuống, bậm tay đấm vào thân cây cam, gào lên:
-Anh em tao bị tù đày. Em gái tao, em rể tao chết. Mẹ tao phải ở nơi nhà kho này, đủ cực khổ bần hàn chưa? Bao nhiêu lợi quyền đã qua tay chúng bay rồi, chưa đủ hả?
Lúc này mọi người mới hiểu thâm ý mỉa mai sâu sắc của Đoàn khi chàng hát một phần của bài “cách mạng” để lên án “cách mạng”. Một tên quát:
-Địt mẹ! Câm mồm ngay! Muốn đi cải tạo “nại” hả?
Nghe ai ca mấy câu trong bài hát của Việt Minh rồi lại nghe tiếng cãi nhau, Mẹ che cặp mắt sung vù, bước ra. Thấy dáng Đoàn rũ rượi và đôi mắt đầy thống hận, Mẹ can ngăn:
-Đoàn ơi! Thôi đi, con!
Không để ý đến lời của Mẹ, Đoàn bậm môi, nhìn hai tên công an với thái độ khinh khỉnh, chưa kịp nói gì thì trung úy Trụi cùng toán công an chạy đến, khoát tay cho đám trẻ con và mọi người:
-Im! Phái đoàn của Thượng Tá đang tham quan, sắp đến rồi. Im hết!
Một toán công an và bộ đội ôm súng, đi chầm chậm hai bên xe. Trên xe, cạnh tài xế là một Thượng Tá cao niên, vóc dáng gầy gò, gương mặt khắc khổ, cằn cỗi như lòng mương dẫn thủy ở Phú Nhiêu vào mùa Hạ!
Xe từ từ chạy đến. Trung Úy Trụi và nhóm công an đưa tay chào. Chiếc xe bỗng dừng lại. Thượng Tá bước xuống, đến trước mặt trung úy Trụi khiến chàng ta mất bình tĩnh, mặt xanh mét. Với giọng Trung nhẹ nhàng, Thượng Tá chỉ vườn cam chi chít trái:
-Vườn cam của ai mà sai trái quá! Trung úy về viết giấy khen gửi cho người “sở hữu” vườn cam này. Phải chính trị như vậy nhân dân mới “hồ hởi”, phấn khởi tăng gia sản xuất.
Vừa nói Thượng Tá vừa mỉm cười vừa gật gù ra vẻ rất hài lòng về chuyến tham quan này.
Dù gương mặt của Thượng Tá đã nhuốm phong trần, nhưng giọng nói đó, sóng mũi đó và vừng trán đó khiến Mẹ cảm thấy run tay, mất bình tĩnh! Mẹ chưa biết phản ứng như thế nào thì trung úy Trụi chỉ vào Mẹ:
-Thưa Thượng Tá, vườn cam của cụ Bà đây. Cụ Bà đã “tình nguyện!” ủng hộ “cách mạng” vườn cam và ngôi nhà. Cụ Bà rất xứng đáng được nhận giấy khen của ủy ban nhân dân cách mạng xã.
Thượng Tá nhìn Mẹ. Bốn mắt giao nhau. Mẹ run rẩy cầm tay Đoàn, gọi khẽ “Đoàn ơi!” Đoàn cũng vừa nhận ra nhân dáng và giọng nói của người Cha sau mấy mươi năm xa cách. Vội nhìn vào tay trái của Thượng Tá để xác định, Đoàn thấy chiếc vòng bằng “inox” ngày xưa Mẹ đeo vào tay Ba vẫn còn đó. Thượng Tá, Mẹ và Đoàn đều ngỡ ngàng, bàng hoàng và lúng túng nhìn nhau. Bất ngờ Mẹ kéo tay Đoàn, giọng đanh lại, hét lớn như muốn trút tất cả uất hận/oán hờn:
-Thứ “cõng rắn cắn gà nhà”! Quân cướp nước chứ giải phóng cái gì! Đi, Đoàn! Đem tấm ván tới đóng quan tài cho em!
Đoàn bước theo Mẹ, nhưng quay lui nhìn Ba. Những nhánh cam gai gốc che khuất khuôn măt sững sờ của Thượng Tá!…
ĐIỆP MỸ LINH
***
*KÍNH MỜI GHÉ THĂM WEB MỚI
https://hangoc2020.blogspot.com/
***
*QUÝ THI SĨ GÓP MẶT HÔM NAY:
*PHẠM THIÊN THƯ * TRẦN QUỐC BẢO * TRẦM VÂN * THANH THANH * TÍM * NGUYỄN MINH THANH *
Ý NGA *ĐẶNG QUANG CHÍNH *MAI HUYỀN NGA * KIỀU PHONG * THA HƯƠNG * NGUYỄN PHƯƠNG THÚY * SA CHI LỆ * LƯU HOÀI *
**
*THI SĨ ĐA TÀI PHẠM THIÊN THƯĐố ai nhớ hết hoa vàng
đố ai uống cạn sương tàng canh thâu
đố ai tát cạn mạch sầu
thì ta để tóc lên cầu đón ai

Em về sương đẫm hai vai
Dấu chân là cánh lan đài nở đêm
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
sư về chống gậy trúc qua cầu nầy
ngó bờ suối lạnh hoa bay
thương sao dòng nước trôi hoài thiên thanh

Có con cá mại bờ xanh
bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
nửa dòng cá gặp phù vân
hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi…

*PHẠM THIÊN THƯ
( Động hoa vàng)
***
*THI SĨ & DỊCH GIẢ TRẦN QUỐC BẢO
*Bài Ca Chính Sử

*TRẦN QUỐC BẢO

Này trống đồng, tượng đá
Này tiền tích hoàng kim
Tháp rùa thiêng còn lưa dấu chim
Người vào nét sử Quang Trung cũ
Tinh kỳ vần vũ máu trong tim

Ai xưa quỳ hôn đất
Tia mắt đầu nhang phực lửa long lanh
Hoàng kim, ôi! hoàng kim
Ta uống ly sầu men đắng
Cho hồn quê ảo diệu hiển linh

Ô hay, dáng dấp liêu trai quá
Cuồn cuộn thanh vân đỉnh Vọng phu
Ngàn mây đáy nước còn in dấu
Mà ta cuối trời đi lang thang
Ôm đầy ngực lời Tiền nhân thống trách

Tre vàng, ngựa sắt …
Kiếm thiêng, cung thần lạc mất về đâu?
Chỉ thấy bóng hồng kiều diễm
Mỵ Châu … Mỵ Châu!
Dáng ngọc xanh òa vỡ

Mấy chục năm rồi sầu mênh mang
Sỏi đá rêu hoang
Sương mai nhỏ lệ
Nỗi buồn thuần thục hắt hiu
Như cỏ dại liên sơn

Đóa phù dung nở trên nền tháp cổ
Nhớ gì chăng? biết gì chăng?
Chẳng lẽ đêm dài, đêm hun hút
Cuối đường lịm chết ánh dương quang
Mây biệt Lam sơn về vô định

Nước không trở lại Bạch Đằng giang
Ôm ấp yên dân, mộng lớn chưa đạt
Dông tố phũ phàng
Những lằn chớp hằn trang sử Việt
Sét lưng trời trút hận Cổ loa

Che mặt nhìn ngàn lau hổ thẹn
Đống đa mưa dăng dăng
Thấm lạnh những hồn hoang cô độc
Thôi nhé, thôi đi!
Hãy ngủ vùi mộng nhỏ

Mây trắng che đầu
Sao xanh thắp nến
Ngày mai sông núi chuyển mình
Lấp bờ oan nghiệt
Bốn phương về thắp lửa Trường sơn

Dâng đoá hoa vàng
Trên thềm Quốc Tổ
Để Người cười hoan hỉ dưới mộ hoang
Ta sẽ ca vang trong lòng Văn Miếu
“Việt Nam ơi! Lịch sử đã bừng trang!”
Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của tác giả:
quocbao_30@yahoo.com
***
THI SĨ TRẦM VÂN

***
*THI SĨ ĐA TÀI THANH THANHHÀ-NỘI

Tôi vốn mơ đi khắp nẻo đường
Thăm từng thắng-tích của quê-hương;
Nhưng, từ giới-tuyến1 qua rào trại2,
Tôi khó mong ngày tới Bắc-phương.

1 Vĩ-tuyến 17 (1954-75) phân chia hai Miền Bắc/Nam.
2 Các trại tập-trung “cải-tạo”.

Ấy thế mà tôi bỗng được đi
Ra ngay Hà-Nội – đất “Kinh-Kỳ”
Thoả niềm ao-ước từ thơ-bé,
Tận mắt trông nhìn những biến-di.

Này, chiếc phi-cơ hai quạt quay:
Nhanh năm trăm, và cao năm cây;
Ghế ngồi gọn hẹp kê liền sát;
Người Việt, người Âu, khách đủ đầy.

Chiêu-đãi hai cô nữ-tiếp-viên:
Tóc trần, ống nhựa quấn hai bên,
Vét-can màu trắng, cầu-vai ngược;
Kiến-thức nông+non, sượng dáng-duyên.

Một lát dưa leo, hai miếng ram;
Chả heo nửa lát, lát mì lam;
Chuối chưa chín tới; đường chê bánh;
Trà nhạt… mà ai cũng thoả đàm!

Những vụ An, Trung, Nha, Sơn, Bình3
Bận lòng “chiêu-đãi” lẫn “an-ninh”.
Tôi cười trong bụng: ngày xưa ấy,
Những Viết và Tân4 đã quấy mình!

3 Sau Tháng Tư Đen 1975:
*Vũ Hoàng An, nguyên đại-uý QLVNCH, cướp phi-cơ Việt-Cộng tại Đà-Nẵng, bất-thành, bị xử tử.
*Có tin đồn Nguyễn Thành Trung (cựu trung-uý phi-công VNCH, đem phi-cơ theo VC trước 30-04-75) đã cướp phi-cơ thoát khỏi Việt-Nam.
*Tiêu Khánh Nha, thiếu-tá phi-công VC, gốc Hoa, cướp phi-cơ bay thoát VC nên khỏi bị chúng thanh-trừng sau vụ Hoa-Cộng tấn-công 1979.
*Sơn và Bình là hai trung-uý phi-công VC, thuộc một tổ-chức “bạo-loạn”, cướp trực-thăng bay qua Hoa-Cộng.
4 Trước 1975:
*Nguyễn Cửu Viết toan cướp phi-cơ Air Vietnam, đã nổ một chiếc Dakota tại phi-trường Phú-Bài, Huế.
*Lê Đức Tân toan cướp phi-cơ Air Vietnam, đã nổ một chiếc Boeing gần phi-trường Bửu-Sơn, Ninh-Thuận.
Cả hai chỉ là phần-tử bất-mãn, không phải VC (cf hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” của Lê Xuân Nhuận).

Hà-Nội đây rồi: dưới nắng trưa,
Sông Hồng đỏ đục nước nguồn mưa;
Quanh nhà đất thấp, vườn ngâm nước;
Tường+mái rêu phong nét cổ xưa.

Mấy chiếc hai hay ba quạt quay
Cong đuôi nằm nghỉ cuối sân bay,
Làm như nhớ thuở chồm lưng địch
Bắt bê-năm-hai hạ xuống đây!5

5 VC tuyên-truyền: chúng bay cao hơn B-52, nhảy xuống trên lưng B-52, dùng dao-găm nạy cửa-sổ chui vào, chĩa súng-lục bắt phi-công Mỹ đáp xuống sân bay Gia-Lâm; thế là chúng đã nhiều lần “bắt sống” được cả “giặc lái” lẫn B-52 (!)

Đáp xuống Gia-Lâm, thấy bán-khai:
Tiếng Anh hai bảng cả hai sai6;
Nhà-ga cũ-kỹ từ Tây-thuộc;
Vắng xưởng, im kho, lặng-lẽ đài.

6 Xem Chương “Sân Bay Gia-Lâm” trong cuốn hồi-ký “Cảnh-Sát-Hoá, Quốc-Sách Yểu-Tử của Việt-Nam Cộng-Hoà” của Lê Xuân Nhuận.

Chẳng tiễn-đưa đi, chẳng đón về;
Phi-công, hành-khách: dép mòn lê.
Đầu đường dăm chiếc mô-tô Nhật,
“U-Oát”, “Com-Măng”, vài ba xe.

Xế trước, bên kia, khách xúm đông:
Cộng-đồng ăn-uống cửa-hàng công.
Mấy tay Tây-Cộng dùng bia lạnh:
Trộn đá trong thau, múc uống chung.

Vào phố, này đây cầu Long-Biên;
Giữa: đường xe-lửa; xe: hai bên.
Qua cầu: xe chạy đường bên trái;
Mỗi nhịp cầu rung: răng lão-niên!

Xe đẹp Miền Nam: của “ngoại-giao”!
“Công-trường”, “vận-tải”: của cần-lao!
Xích-lô, xe đạp; xe bò; ngựa;
Gánh, vác, khiêng, mang, kéo, đẩy nhau.

Không “vét”; không giày; không áo hoa,
Dây chuyền, vòng, nhẫn, nơ, trâm, thoa!
Mọi người tất-tả lo làm-lụng;
Sự sống… gian-nan… hiển-hiện ra.

Chẳng khải-hoàn-môn, kỷ-niêm-đài,
Cờ, hoa, tranh, ảnh, tượng, toà, ngai,
Bích-chương, biểu-ngữ, loa, chiêng, trống
(Tội-nghiệp “Đàng Trong” tưởng “Miệt Ngoài”…)!

Vách, mái lâu năm… nứt, dột rồi!
Tróc sơn bảng hiệu, ố màu vôi!
Có nhà xiêu, vẹo: người còn ở
(Nhiều mái: tranh, rơm, mo, lá thôi)!

Hoa chẳng bồn chăm; nhãn chẳng lồng;
Nước vòi đỏ đục tự nguồn sông;
Cá: nguyên vi, vảy, kho không mỡ;
Rau muống quê chàng, có phải không?

Nóng bức, môi khô, mắt đổ quàng;
Inh tai, nhức óc tiếng đài vang;
Bỗng như điện chạm, da-gà nổi:
Có tiếng buồng bên hát “nhạc vàng”!

Có cái gì như ứ nghẹn hơi;
Mây vây, khí uất tự lưng trời…
Người ta chờ đợi cơn giông tới…
Hà-Nội trân mình – Hà-Nội ơi!

Tôi ngó trừng-trừng miếng bánh khô:
Kiến Nam lơ lảng, Bắc chui vô!
– Hôm nay có một tên tù “ngụy”
Tới “thủ-đô” mà… tiếc “thủ-đô”!

Trại Thanh-Liệt (Hà-Nội) 15-7-1981
THANH-THANH

Cơn Ác-Mộng
***
*THI SĨ NGUYỄN MINH THANH
ĐÔI MẮT MẸ HIỀN
Tâm từ ái biển xanh… đôi mắt Mẹ
Bé vừa sinh, âu yếm ngẩng nhìn, xem…
Hằng mong mỏi… con mình cho tròn vẹn
Mắt hân hoan… ngắm bé ngủ ngoan hiền…!!

Mẹ dạy nói… à… ơi… lời cổ tích
Mắt mẹ cười… dìu bé khẽ tập đi
Vào tuổi học sắm đủ điều…vở, sách…
Mắt mẹ mừng con đậu mỗi kỳ thi !

Con dần lớn, Mẹ, cội mai dần cỗi
Mắt mẹ chờ… con trẻ chóng thành đôi
Đời bận rộn… ngược, xuôi đường muôn lối
Mắt Mẹ buồn… trông bóng nhạn nổi trôi…!!

Con đi xa rầu lo… tràn mắt mẹ !
Khi con về, Mẹ, mắt ánh, ấm niềm vui…
Con ốm đau hay có điều hờn tủi…
Trải tâm can, Mẹ, mắt trĩu ngậm ngùi…!!

Ôi, cao cả trời cao… Đôi Mắt Mẹ
Dõi theo con tấm bé…đến thành nhân
Đi chập chững… ngại chim non ngã té
Con trưởng thành lòng mẹ vẫn bâng khuâng…!!

Mãi danh lợi tháng ngày quay… lần lữa
Con hững hờ lơ đãng… mẫu tình thâm
Rồi, một mai… Mẹ yêu không còn nữa
Ôi, tìm đâu dịu mát, rượi mát ánh trăng rằm…?!!
NGUYỄN – MINH – THANH
( Ngày Lễ Mẹ )
**
* BẠCH ĐẰNG GIANG*

Bạch – Đằng hỡi Bạch – Đằng
Ba phen chống giặc xâm lăng dãi dầu
Gương sông chói rạng ngàn sau
Nước sông nuốt trững quân Tàu ngàn xưa

Bờ lau thoang thoảng gió đưa
Xuyên qua kẻ lá lời vừa đổi trao:
Ngô – Vương chém Hán Hoàng – Thao( 938 )
Chiến công hiển hách đi vào sử xanh

Nam quân chủ soái Đại – Hành
Đánh cho quân Tống tan tành cân đai
Lưu – Trừng thục mạng chạy dài( 981 )
Đằng giang lặn sóng chờ ngày huân công

Sau lần chui chạy ống đồng ( 1285 )
Thoát – Hoan phục hận binh rồng Nam xâm
Dương oai sát khí đằng đằng
Lệnh truyền thủy bộ ầm ầm xông pha

Tinh kỳ gươm giáo sáng lòa
Quyết tâm thôn tính san hà Lạc – Long
Quân Nam cắm cọc giữa dòng
Thủy triều vừa rút hợp đồng chống ngăn

Quân Nguyên đại bại Bạch – Đằng ( 1288 )
Thoát – Hoan Vương mộng theo làn khói bay
Đại – Vương Hưng – Đạo kỳ tài
Hai lần đánh đuổi giặc ngoài lao đao

Trời xanh mây trắng giăng cao
Long lanh ánh nước điểm màu thời gian
Tà dương rừng biếc chen vàng
Rừng nghiêng nghiêng lá họa trang sử hùng

Người xưa tăm dạng mịt mùng
Còn đây dòng nước lạnh lùng triền miên …!
Ngang qua cổ sử hiện tiền
Chạnh lòng tưởng niệm hồn thiêng mấy lời …!!

* NGUYỄN – MINH – THANH

* BĐG: phụ lưu của sông Thái Bình,nằm ở 2 tỉnh Quảng Ninh & Hải Phòng,dài 32Km, chiến trường khốc liệt 3 lần thảm bại của giặcTàu.Và ĐẰNG GIANG TỰ CỔ HUYÉT DO HỒNG.
***
*NỮ SĨ Ý NGA  & THI SĨ LƯU HOÀI

*THI SĨ ĐẶNG QUANG CHÍNH*Sao tình trong mắt

Rời cuộc chơi ta đi sâu rừng vắng
Tìm mê cung tình ái cứ đong đầy
Tìm thiên đường một cõi đẹp trong mơ
Tình thanh thoát nơi trần gian ai thấy…!
Đi đi mãi rừng càng sâu hun hút
Tiếng chim kêu vượn hú cảnh hoang vu
Suối róc rách nghe sao xa diệu vợi
Rừng âm u như vây chặt đường về

Em đuổi chim, chim không thèm ngoái cổ
Bướm kia bay như vờn lợn bên anh
Tiếng côn trùng như rên rĩ xung quanh
Tầm nhìn hẹp cây vươn trời cao ngất

Anh chợt thấy em như tiên ẩn hiện
Em trông anh như thể thấy thiên thần
Cả hai ta, xa gần xa như một
Bỗng thiên đường hạ giới nhập vào nhau
Rời cõi lạ ta quay về thực tại
Rừng âm u nguyên thủy vẫn còn đây
Tâm hồn ai thơ thẩn bóng trăng gầy
Ta chỉ thấy tình sao trong ánh mắt…!

Đặng Quang Chính
***
*NỮ SĨ MAI HUYỀN NGA
Hà-mai-Nguyên.

CHIỀU MƯA NHỚ QUÊ.
KHI THẤY CHIỀU MƯA LẠI NHỚ QUÊ,
NỖI BUỒN VÔ CỚ KÉO NHAU VỀ.
HÀNG CÂY KHÉP KÍN CHE ĐAU KHỔ,
GHẾ ĐÁ IM LÌM DẤU TÁI TÊ.
HOA CỎ GỤC ĐẦU ÔM THẤT VỌNG,
THỜI GIAN DÌU GIÓ KÉO LÊ THÊ.

MAI-HUYỀN-NGA.
***
* NỮ SĨ TÍM
Chấp nhận

Xuân, Hạ, Thu, Đông mãi đổi quanh
Già thêm một tuổi chán riêng mình
Dầm mưa đánh cá quần dơ thối
Dãi nắng cào tôm áo bẫn tanh
Mạt lộ ly hương tiêu số tốt
Cùng đường biệt xứ mất duyên lành
Gót hồng sỏi đá thân chùm gởi
Chấp nhận thương đau mộng chẳng thành

Tím August/15/2020
***
*TỨC CẢNH SINH TÌNH

Nhà anh đã mãn nhiệm rồi
Đô la đầy bị, cứ ngồi mà ăn
Ăn rồi giặt váy nâng khăn
Cho Michelle nhé mà nhăn miệng cười
Biết chi ngoài “cái sự đời”
Mà ti toe nói những lời vô duyên !
Chính anh giúp bọn tà quyền
Chính anh ôm mộng xô nghiêng Hoa Kỳ
Biết điều, anh hãy câm đi
Để ông Trump giúp, cứu nguy sơn hà
Nghe chưa hả Obama ?
Bởi lời anh nói toàn là ác ôn !

Bác Tha Hương
***
*NỮ SĨ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY*THI SĨ KIỀU PHONG *SA CHI LỆ*NÓI VỚI MÀU TÍM

Anh xin làm mắt em hoàng hôn
Anh xin làm tóc em dỗi hờn
Anh xin làm áo em buổi sáng
Có mùa xuân bay tình tứ ngập hồn

Đêm đen ngủ trên bao lơn tượng đá
Sao em không về gọi tiếng chim non
Cho anh thức thầm thì trong hang động
Rủ rê em dù nửa giấc mưa hồng

ĐI DẠO

Đường ngang nhà em hương thơm hoa nhài
Phảng phất mùi bình nguyên con gái
Có mặt trời bốc lửa trong mây
Hai đứa xôn xao mùa vú sửa
Trổ nụ mùa đông trái chín má hồng

VÀY VÒ CỦA EM

Rõ ràng trăng cưỡng hiếp em
Giường xuân giãy giụa rồi thiêm thiếp hồng
Bàng hoàng một vũng long đong
Em nhìn sợ hãi mắt ròng ròng đau!

TIỄN MÌNH

Đêm nay trời thấp mù lòa
Guốc ai gõ nhịp ra ga một mình
Quê hương đánh cuộc tử sinh
Rồi đây mộ khói hay bình minh reo
Tay không lần chuỗi mốc meo
Thôi về chốn cũ ta chèo thương vay!

MỘNG DỮ

Hở hang cồn đảo căng buồm
Mùi da ngái ngủ đợi chồng sang khuya
Canh hai nước lụt mưa sa
Cơn đau hấp hối trong nhà mồ côi

Giường rên nhạc điệu giao bôi
Ngửa tay tức tưởi ngậm trời mọt sâu
Con tim đập nát giọt sầu
Chim qua mộng dữ gọi cầu cứu em

NỖI BUỒN XE CÁT

Buồn nhai đôi núm vú ngầu
Chênh vênh dáng nguyệt úa nhầu xiêm y
Tay cong mó máy cửa đời
Sao trèo lên tóc mệt nhoài đôi chân

Bão bùng gãy nhịp cầu ngân
Nước đâu lồng lộng vỡ tràn cô đơn
Hai mươi xe cát tuổi hờn
Xuống sông phận gái gánh buồn sớm khuya!

SA CHI LỆ
*Thơ tình thời chiến
***

*BƯNG BIỀN

Một thời lánh giặc ở trong bưng
Sống giữa ngàn lau ngỡ giữa rừng.
Hừng sáng mặt trời lên rực rỡ
Bình minh chim chóc hót tưng bừng.
Lưa thưa chợ búa gần sông cái
Tấp nập xuồng ghe tận rạch cùng.
Đẹp lắm tình người chia mắm muối
Bồi hồi kỷ niệm mãi không ngưng.
Mailoc
8-13-2020

[2]
BƯNG BIỀN
Cải tạo về quê ở giữa bưng
Mòng ve muỗi vắt ngỡ trong rừng
Chiều nhô ánh nguyệt trời hôn ám
Sáng lố vầng dương mắt mở bừng
Tiệm bán đơn sơ đầu Ấp Miễu
Đò đưa nhộn nhịp bến Ông Cùng
Bà con cám cảnh luôn thương mến
Những mối thâm tình nhớ chẳng ngưng
Gia Cát Mỗ
8-13-2020

[3]
BƯNG BIỀN
Bến chợ Gò Quao tiếp giáp bưng
Con sông Cái Tắc bọc quanh rừng
Chàng hiu ếch nhái kêu inh ỏi
Cúm núm chìa vôi hót dậy bừng
Bần mắm ô rô ken lạch cuối
Cóc kèn, đọt chạy kín vàm cùng
Cò ma sáo sậu xưa hoang vắng
Nay rợp bầy dơi chẳng ngớt ngưng…
Thanh Song Kim Phú
August 13, 2020

[4]
BƯNG BIỀN
Cách chợ Cà Mau một khoảng bưng
Nhà tranh lẫn khuất cạnh ven rừng
Cu chim cò cưỡng đông vang dậy
Cỏ lát bàng năng hạ cháy bừng
Rẽ phía Năm Căn về Đất Mũi
Vòng qua Ngọc Hiển đến Đầm Cùng
Triền sông Ông Đốc biền hoang dã
Vẹt đước um tùm mọc khó ngưng…
Anh Nguyen
August 13, 2020

[5]
BƯNG, RỪNG
Ruộng nơi chỗ trũng ấy là bưng
Nương ở vùng cao gọi rẫy rừng
Tháng bấc cày trâu môi lặp cặp
Mùa nồm cuốc đất má bừng bừng
Cha lên xứ thượng đầu buôn vắng
Mẹ xuống miền xuôi cuối lạch cùng
Con học thành đô hè mới gặp
Cuồn phim ký ức kiếp nào ngưng
SongThanh KimPhú
CA-8/13/2020

[6]
BƯNG BIỀN
Biệt Cách Dù đưaToán nhảy bưng
Trời đêm tối mịt ngỡ trong rừng
Mương bò vũng lội ba lô ướt
Mõ đánh thùng khua ngọn đuốc bừng
Du kích neo ghe Vàm Nước đục
Dân công tải đạn Bến Kinh cùng
Trận này được lệnh về Lôi Hổ
Những buổi quân hành nhớ chẳng ngưng
TDN
8/13/2020

[7]
NÚI RỪNG
Từ ngày thuyên chuyển đã rời bưng
Lôi Hổ thường xuyên lội suối rừng
Đông đến Đam B’ri môi buốt buốt
Hè sang Đạ Tẻh má bừng bừng
Đêm bò thám thính vùng tranh chấp
Sáng rút về ngơi điểm cuối cùng
Đúng hẹn phi cơ rà xuống bốc
Cuộc đời cứ thế chẳng hề ngưng
TDN
August 13/2020

[8]
Lơ đễnh
Rong chơi lơ đễnh lạc trong rừng
Mò mẫm tìm đường ra khỏi bưng
Khỉ đột rung cây la chẳng dứt
Ễnh ương hòa tấu nhạc không ngưng
Băng lùm rách áo thân tơi tả
Vượt suối ướt quần xác khốn cùng
Hên quá bình minh vừa ló dạng
Hết lo rắn cắn bụng vui bừng
Tím August/14/2020

[9]
BƯNG BIỀN
Mấy lượt săn mồi ở giữa bưng
Tin A giặc họp kế bìa rừng
Dăm cô hộ lý mày xanh thắm
Chục trự ngà say mặt đỏ bừng
Rút nhíp xông vô thù ngõ cụt
Vung lê sấn tới địch đường cùng
Yên hùng ngang dọc đời Lôi Hổ
Đến tháng tư buồn nghiệp lính ngưng
TDN
Aug 14, 2020

**********

BẾN MƠ

Ngồi buồn họa vận một bài thơ
Ngó áng mây trời nghĩ vẩn vơ
Dưới biển Tàu xơi tiêu mất xác
Trên rừng Chệt xực chỉ còn xơ
Luồn kim kết nút ta cần chỉ
Dệt vải thì mình phải có tơ
Bỏ nước ra đi từ tấm bé
Ngày về cố quận chỉ nằm mơ
Lâm Hoài Văn
13/08/2020

SÁNG RỪNG-Thơ Xướng Họa SONG QUANG & THI HỮU
Lơ đễnh (thơ cổ phong)
Rong chơi lơ đễnh lạc trong rừng
Mò mẫm tìm đường ra khỏi bưng
Khỉ đột rung cây la chẳng dứt
Ễnh ương hòa tấu nhạc không ngưng
Băng lùm rách áo thân tơi tả
Vượt suối ướt quần xác khốn cùng
Hên quá bình minh vừa ló dạng
Hết lo rắn cắn bụng vui bừng
Tím August/14/2020

SÁNG RỪNG
Hửng sáng chim kêu dậy núi rừng
Ta nghe vượn hú điếc tai bưng
La đà sương sớm lan không dứt
Róc rách suối nguồn chảy chẳng ngưng
Bóng tối còn vương trên cánh nõn
Màn đêm vẫn đọng cuối đường cùng
Vầng dương vừa ló chân trời thẫm
Ánh nắng bình minh thoắt chiếu bừng
Songquang
20200813
Thơ Họa:

RỪNG ĐÊM

Đêm trải màn đen phủ khắp rừng
Tàn cây che kín tối như bưng
Xạc xào ngọn gió không dừng nghỉ
Ra rả côn trùng chẳng dứt ngưng
Một chú nai tơ chùn bước lẻ
Dăm con thỏ trắng sải chân cùng
Lập lòe đom đóm khi mờ tỏ
Mỗi phút từng giây,sức sống bừng….
Sông Thu
(13/08/2020)

ẨN DẬT

Bỏ cả thành đô về mép rừng
Thăm dò đời sống ở trong bưng
Có còn yên ắng ngày liên tục
Hay cứ om xòm tối khỏi ngưng
Cố gắng tìm vui nơi thủy tận
Đua chen trốn lánh chỗ sơn cùng
Thì đây có lẽ niềm mong ước
Đền đáp cho ta ngọn lửa bừng…
Paris, 13/08/2020
TRỊNH CƠ

BƯNG BIỀN

Một thời lánh giặc ở trong bưng
Sống giữa ngàn lau ngỡ giữa rừng.
Hừng sáng mặt trời lên rực rỡ
Bình minh chim chóc hót tưng bừng.
Lưa thưa chợ búa gần sông cái
Tấp nập xuồng ghe tận rạch cùng.
Đẹp lắm tình người chia mắm muối
Bồi hồi kỷ niệm mãi không ngưng.
Mailoc
8-13-2020

LÂM NGOẠN

Dã ngoạn lang thang lạc giữa rừng
Bao điều bí ẩn đợ trong bưng ?
“Bắt cô trói cột” la gào dọa
“Giết nó chôn thây” hét họa cùng (*)
Cảnh đẹp thạch hang,thôi dạ hãi
Mắt huyền sơn nữ,ngỡ tim …ngưng
Suối reo róc rách,mời chân nghỉ
Chào khách,đồi sim tím nở bừng.
CAO BỒI GIÀ
13-08-2020

(*): “Bắt cô trói cột” và “Giết nó chôn thây” là tiếng kêu của hai loại chim rừng.

NÚI RỪNG ĐẤT KHÁCH

Đọc Xuôi :
Màu đen xậm đá núi xanh rừng,
Lượn gió mây trời nắng sáng bưng.
Rào rạt bướm ong hoa nở đợi,
Cạn khô dòng nước suối buồn ngưng.
Nao nao dạ cảm tình thương khổ,
Thảm thảm lòng đau mộng vỡ cùng !
Xao xuyến mãi hờn thân đất khách…
Chao ôi lệ hận tức căm bừng !

Đọc Ngược :
Bừng cắm tức hận lệ ôi chao !
Khách đất thân hờn mãi xuyến xao.
Cùng vỡ mộng đau lòng thảm thảm,
Khổ thương tình cảm dạ nao nao !
Ngưng buồn suối nước dòng khô cạn,
Đợi nở hoa ong bướm rạt rào.
Bưng sáng nắng trời mây gió lượn…
Rừng xanh núi đá xạm đen màu !
Liêu Xuyên

CẮM TRẠI ĐÊM

Cả đêm trằn trọc thức trong rừng
Gai góc chọt đâm đến sáng bưng
Giọng hú u u không chịu dứt
Tiếng kêu xào xạc chẳng khi ngưng
Phố thành sáng rực như ngày hội
Rừng rậm âm u tựa ngõ cùng
Cũng ráng dẫn con đi cắm trại
Chiều nay cuốn gói, dạ tưng bừng
Thúy M
8/13/20

ĐÊM LỬA TRẠI

Bếp lửa hừng đêm đỏ góc rừng
Quây quần họp mặt hát đàn bưng
Cà phê uống tiếp nào ưa nghỉ
Bánh kẹo ăn hoài chẳng muốn ngưng
Đám bạn bày trò chơi nhộn thể
Thầy Cô nhập cuộc giỡn vui cùng
Sương mờ phủ mộng quanh đồi núi
Kỷ niệm trường xưa gợi sống bừng
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 8/13/2020

SAU ĐÊM LŨ LỤT

Vách tây quê Việt toàn là rừng
Tiếng núi gầm khi bão kín bưng
Cứ tưởng vài giờ nguồn nước đổ
Nào hay cả buổi trận mưa ngưng
Nhưng rồi lũ xuống tràn đêm lạnh
Để lại lụt dâng ngập đất cùng
Tảng sáng mặt trời còn ướt sũng
Hoang liêu đồng vỡ nắng san bừng …
Hawthorne 13 – 8 – 2020
CAO MỴ NHÂN

TIẾNG RỪNG

Gặp lúc bão dông ập xuống rừng
Váng đầu chói nhĩ khó mà bưng
Sương rơi bồm bộp buồn khi ngớt
Lá động xạc xào khó lúc ngưng
Vang giọng tắc kè tìm bạn gấp
Rền hơi bíp bịp gọi nhau cùng
Khỉ bầy khèng khẹc trêu nai tác
Ríu rít ngàn chim mỗi sớm bừng.
Trần Như Tùng

BÌNH MINH.

Sớm mai ríu rít tiếng chim rừng,
Trăng lặn sao mờ cảnh tối bưng.
Thác đổ suối đầy trôi bất tận.
Thông reo gió nhẹ thổi không ngừng.
Mây mù bao phủ vùng non đỉnh,
Sương khói vẩn vơ dưới lũng cùng.
Tia sáng đầu tiên vừa ló dạng,
Trời quang đất ấm đẹp tưng bừng.
Mỹ Ngọc.
Aug. 14/2020.

CẮM TRẠI

Chiều nay cắm trại ở ven rừng
Dạ thấy an lòng dẫu tối bưng
Kẻ phụ giăng lều ai cũng thích
Anh đàn trỗi nhạc tiếng nào ngưng
Gạo vo đổ nước, pha trà đượm
Củi nhặt chuyền tay, nhóm lửa cùng
Một bữa sum vầy yêu đám bạn
Ngày sau từ giã chúc tưng bừng!
Như Thu
08/13/2020

MỘT MÌNH-Thơ Hồ Nguyễn và Thơ Họa2
Sông Thu xin góp họa

LÒNG GIÀ

Buổi chiều trời bỗng nổi cơn giông
Nhà vắng mình ta sợ nhói lòng
Cửa nát ngoài sân còn vững nổi ?
Tôn mòn trên mái có yên không ?
Cháu chưa ai đón nơi trường vắng ?
Con vẫn xe ùn giữa phố đông ?
Rét bưốt nhưng tâm dường lửa đốt
Ra vào run rẩy, mắt mờ trông.

Sông Thu
(16/08/2020 )

Đâu ngờ ?! (thơ cổ phong)
Biển động hôm nay nặng gió giông
Làm nghề ngư phủ nhói đau lòng
Ngồi nhìn mưa đổ mờ trời đất
Đứng ngắm mây bay tối khoảng không
Ngộ lạ cuồng phong ngay giửa Hạ ?!
Kỳ ghê bảo tố vẫn chưa Đông ?!
Đổi thay khí hậu đâu ngờ được ?!
“Quải” đợi đại dương lặng ngóng trông
Tím August/16/2020

SQ xin nối tiếp có bài họa cùng bạn Hồ Nguyễn

LỠ DỠ

Chạnh nghĩ cuộc đời trước bão giông
Thân mình đất khách xót xa lòng
Như cây thiếu nước khi vào hạ
Tựa hạt ươm mầm lúc chớm đông
Lặng lẽ ngày qua sao mãi đợi ?
Âm thầm tháng lại cứ hoài trông !
Đã đem chí cả gìn non nước
Hỏi mộng một thời lỡ dỡ không ?

songquang
20200816

Vào 15:43:54 GMT+7, Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020, Xua Ho <ho_xua@yahoo.com> đã viết:

HỌA: ĐÊM MƯA
Thức lắng bên ngoài kéo bão giông,
Mưa rơi nặng hạt buốt se lòng.
Im lìm gối nệm cô đơn bóng,
Quạnh quẽ gian phòng lạnh lẽo đông.
Khoảng nhớ âm thầm anh mất biệt,
Dòng chờ lặng lẽ kẻ hoài không.
Muôn ngàn giọt lệ trời đang khóc,
Quặn buốt tim này nỗi đợi trông.

Minh Thuý Thành Nội
Tháng 7/23/2020
HỌA: TÌNH THƠ
Nghĩa cử nồng nàn chẳng ngại giông…
Vườn thơ nụ nở ngát hương lòng.
Khai nguồn sáng tỏ ngời hoa mộng,
Thả vận tươi cười thắm biển đông.
Quý hữu giao hòa duyên lắng đọng,
Tâm hồn cảm mến bạn chờ trông…
Khung trời kỷ niệm bao hình bóng,
Ước vọng vui vầy chẳng lẽ không!?

Đức Hạnh (16/08/2020)

HỌA: THIÊN TAI.
Đã từng đứng trước một cơn giông,
Khi đó mưa chưa dột ướt lòng.
Bỗng thấy trời gầm loang chớp lửa,
Chợt nghe đất lở sập bờ đông.
Sóng xô biển động tung mù cát,
Người trốn phong cuồng phá cõi không.
Sợ hãi lẻ mình lo bão tới,
Thiên tai ập xuống bốn bề trông…
Hawthorne (15-8-2020)
CAO MỴ NHÂN
**
Bi bắt

Từ ngày bị bắt ở Tri Tôn
Dẫn giải về đem nhốt Thiện ngôn
Phá trảng trồng rau trên xóm bản
Đào hầm thả cá dưới làng thôn
Nhiều anh lựu đạp banh thân xác
Lắm bạn mìn vương lạc vía hồn
Bắp sắn không no người đói lã
Từ ngày bị bắt ở Tri Tôn

Năm Xà Tón
8/15/2020
Biên giới
Rừng Cao Bắc Lạng lối quanh quanh
Chệt chiếm giờ không phải của mình
Trận quánh Việt Trung hồi bảy chín
Tàu phù chó má giống hôi tanh
Chúng quằm phụ nữ điều không khá
Nó bắn em thơ chuyện chẳng lành
Có Nguyễn Văn Linh nhường biên giới
Hai bên ký ở Tứ Xuyên thành

Sáu Thời Sự
8/15/2020
Quánh cá
Tui đi quánh cá ở Hòn Chồng
Có mấy căn nhà bến Rạch Ông
Sóng bạc lăn tăn trên biển vắng
Bên kia Chệt cộng súng dương nòng
Con còn nhỏ xíu thì đang ẳm
Vợ mới mười lăm ngủ phải bồng
Tháng tám trời trong mây lãng đãng
Mưa đêm tầm tã nước ròng ròng

Tám Khỏe
8/15/2020
THƠ MỘT VẦN
Nằm nghe đọc truyện Tám Tình Tang
Chổng cẳng khi mà đã rảnh rang
Quánh trận Khe Sanh thua chẳng đáng
Hành quân Trảng Sụp thắng không màng
Quần tơ áo lụa trông hào nhoáng
Long Khánh Dầu Dây một nẻo đàng
Định Quán Phương Lâm xe hào nhoáng
Ai buồn lặng lẽ đẩy xe tang

Nam Xà Tón
8/15/2020
NGU DẠI (thơ một vần)
Thơ như chó mửa cũng khoe tài
Thú sỉ cho rằng chẳng có ai
Đụng Cụ Cọp Rằn mặt đỏ tái
Chạm Ngài Biệt Động mõm đen phai
Khoe khoang lối đó là ngu dại
Khoác lác thế này quả khôi hài
Họ Đặng nhục vì tên bại hoại
Tổ tiên dẫu chết khó đầu thai

Cụ Cử Cali (Aug 15, 2020)***

https://hangoc2020.blogspot.com/

https://www.facebook.com/1sachile

https://www.facebook.com/Sachile-561905583845573/

sachilchannel:

https://www.youtube.com/channel/UCB2ncWMzJ2-URzgn3wnIfTQ?view_as=subscriber

***